Kategorie-Archiv:Aktuell

Cảnh sát biển Việt Nam – Indonesia ký Bản ghi nhớ về hợp tác an ninh, an toàn hàng hải

Nhằm thúc đẩy hợp tác song phương về tăng cường an ninh, an toàn hàng hải trong khu vực, ngày 28/12/2021, tại Hà Nội, Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển Việt Nam và Cảnh sát biển Indonesia tổ chức Hội nghị trực tuyến ký kết Bản ghi nhớ về hợp tác an ninh, an toàn hàng hải.
Biên bản ghi nhớ về hợp tác an ninh, an toàn hàng hải giữa cảnh sát biển Việt Nam và cảnh sát biển.

Về phía Cảnh sát biển Việt Nam có Thiếu tướng Lê Quang Đạo, Tư lệnh Cảnh sát biển Việt Nam chủ trì cùng đại diện các cơ quan chức năng của Bộ Quốc phòng và Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển Việt Nam. Tại điểm cầu Indonesia có Phó Đô đốc, Tiến sĩ Aan Kunia, Tư lệnh Cảnh sát biển Indonesia cùng đại diện các cơ quan có liên quan của phía Indonesia.

Hội nghị ký kết diễn ra dưới sự chứng kiến của Ngài Denny Abdi, Đại sứ đặc mệnh toàn quyền nước Cộng hòa Indonesia tại điểm cầu Việt Nam và ông Nguyễn Ngọc Vinh, Đại diện lâm thời, Đại sứ quán nước CHXHCN Việt Nam tại điểm cầu Indonesia.

Phát biểu tại Hội nghị ký kết, Thiếu tướng Lê Quang Đạo, Tư lệnh Cảnh sát biển Việt Nam khẳng định tầm quan trọng của quan hệ hợp tác song phương giữa cảnh sát biển hai nước, minh chứng rõ nét cho những nỗ lực cũng như hiệu quả hợp tác giữa hai bên.

Phó Đô đốc Aan Kunia, Tư lệnh Cảnh sát biển Indonesia khẳng định, Cảnh sát biển Việt Nam là đối tác quan trọng trong khu vực Đông Nam Á về đảm bảo an ninh, an toàn hàng hải tại khu vực; đồng thời tin tưởng rằng, trên cơ sở Bản ghi nhớ, hai bên sẽ tăng cường, làm sâu sắc và mở rộng quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa cảnh sát biển Việt Nam và cảnh sát biển Indonesia là hành lang để hai bên tăng cường hiểu biết lẫn nhau, hợp tác thiết thực, hiệu quả, giải quyết tốt các vụ việc trên biển; là dấu mốc quan trọng mở ra một trang hợp tác sâu sắc hơn, toàn diện hơn trong mối quan hệ song phương giữa hai bên, góp phần giữ gìn vùng biển trong khu vực hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển.

BDN

Loading

Views: 0

TQ là kẻ thù của nhiều nước

Theo ANI, Tư lệnh Hải quân Đức, Phó Đô đốc Kay-Achim Schonbach, hôm thứ Sáu (21/1) nói rằng Trung Quốc là kẻ thù của nhiều quốc gia và không phải là một quốc gia tốt đẹp như mọi người vẫn tưởng.

Phát biểu trước các chuyên gia tại New Delhi, Tư lệnh Hải quân Đức nói rằng “Tôi không sợ hãi khi nói rằng Trung Quốc hành động như kẻ thù của nhiều nước nhưng không phải đối với chúng tôi. Đầu tiên có thể thấy đó là những gì Trung Quốc đang làm ở châu Phi hoặc những nơi khác”.

Ông nói thêm, “Trung Quốc không phải là đất nước tốt đẹp như chúng ta tưởng”, và “Trung Quốc còn hơn cả một đối thủ”.

Schonbach nói rằng Bắc Kinh khiến các nước đang phát triển gặp khó khăn khi phải chịu đựng gánh nặng nợ nần phát sinh từ việc vay tiền của Trung Quốc để đầu tư vào các dự án không có khả năng hoàn vốn.

Sau khi đề cập tới những cuộc trao đổi với lãnh đạo các nước châu Phi, Schonbach nói “Ai đang làm việc tại các công trường?, [đó là] công nhân Trung Quốc. Ai đang kiểm soát các cơ sở hạ tầng?, đó là người Trung Quốc, người đang lặp đặt các camera CCTV để kiểm soát xã hội đất nước bạn chính là người Trung Quốc”.

Chỉ huy trưởng Hải quân Đức nói thêm rằng, chính quyền Trung Quốc đang hối lộ tiền cho những kẻ độc tài, những kẻ giết người và cho tội phạm để đổi lấy tài nguyên tại nhiều quốc gia.

Trong chuyến thăm Ấn Độ của mình, Phó Đô đốc Kay-Achim Schonbach hôm thứ Sáu đã có cuộc thảo luận với Tư lệnh Hải quân Ấn Độ, Đô đốc R Hari Kumar. Hải Tư lệnh đã bàn về các biện pháp để tăng cường hợp tác, tương tác giữa Hải quân Đức và Ấn Độ.

BDN

Loading

Views: 0

Wie gefährlich ist Afrikas explosiver See?

Der Kivu-See im Zentrum Afrikas könnte eines Tages eine riesige Gaswolke ausstoßen, an der Millionen Menschen ersticken würden. Momentan ist nicht klar, ob das Risiko steigt.

von Nicola Jones

Am 22. Mai 2021 begann der Nyiragongo, einer der aktivsten Vulkane Afrikas, Lava in Richtung der dicht besiedelten Stadt Goma in der Demokratischen Republik Kongo (DR Kongo) auszustoßen. Der Ausbruch zerstörte mehrere Dörfer, forderte Dutzende Todesopfer und zwang geschätzt etwa 450 000 Menschen zur Flucht.

Seitdem hat sich der Vulkan wieder beruhigt und die direkte humanitäre Krise hat sich gelegt. Behörden und Wissenschaftlern bereitet jedoch noch etwas anderes Sorgen, und das könnte gefährlicher sein als der Nyiragongo.

Goma liegt am Ufer des Kivu-Sees, der eine geologische Besonderheit darstellt: Er enthält 300 Kubikkilometer gelöstes Kohlendioxid, 60 Kubikkilometer Methan und dazu noch giftigen Schwefelwasserstoff. Der zwischen der DR Kongo und Ruanda liegende, malerische See könnte diese Gase in einer so genannten limnischen Eruption, einem seltenen Phänomen, explosionsartig freisetzen. Dadurch würde schlagartig eine riesige Menge an Treibhausgasen in die Atmosphäre gelangen: Der See enthält umgerechnet 2,6 Gigatonnen CO2, was in etwa fünf Prozent der jährlichen globalen Treibhausgasemissionen entspricht. Doch es droht direkt ein noch größeres Unglück: Wird das Tal der Umgebung mit den erstickenden, giftigen Gasen geflutet, könnten dadurch Millionen von Menschen sterben. »Das könnte eine der schlimmsten, wenn nicht die schlimmste, humanitäre Katastrophe der Geschichte auslösen«, sagt der Ingenieur Philip Morkel. Er ist Gründer des in Vancouver ansässigen Unternehmens Hydragas Energy und versucht Gelder einzuwerben, um das Gas aus dem See zu entfernen und nutzbar zu machen.

Der 2021 erfolgte Vulkanausbruch löste keine Massenentgasung des Sees aus und am 1. Juni erklärte die ruandische Umweltbehörde Rwanda Environment Management Authority (REMA), es bestehe keine unmittelbare Gefahr. Man geht jedoch davon aus, dass durch unterirdische Spalten unter der Stadt Goma und dem Kivu-See Lava geflossen ist. Einen Tag nach dem Ausbruch ließ offenbar ein Beben eine Sandbank am See teilweise einbrechen, was dort möglicherweise eine kleine Menge Gas freigesetzt hat. Einigen Berichten zufolge schien es, als würde das Wasser in Ufernähe eines prominenten Hotels kochen.

»Das könnte eine der schlimmsten, wenn nicht die schlimmste, humanitäre Katastrophe der Geschichte auslösen«
(Philip Morkel)

Der See scheint momentan fürs Erste stabil. Er enthält zwar eine Menge Gase, aber im Bereich mit der höchsten Konzentration müsste sich diese Menge noch einmal verdoppeln, um den Sättigungspunkt zu erreichen. Ein starkes Erdbeben oder ein Vulkanausbruch könnte jedoch die geschichtete Struktur des Sees zerstören oder die Gaskonzentrationen erhöhen und so zu einem Ausgasen führen. Einige Forscher fürchten zudem, dass zudem menschliche Aktivitäten eine Katastrophe herbeiführen könnten.

Methan wird auch genutzt

Derzeit wird bereits Methan aus den Tiefen das Sees heraufgepumpt und zur Erzeugung dringend benötigter Elektrizität verbrannt. Die meisten Menschen sind sich einig, dass dies eine sinnvolle Nutzung der natürlichen Ressourcen vor Ort darstellt und gleichzeitig den See durch das Entfernen des Gases sicherer macht. Es geht um viel Geld: Forscher schätzen, das Methan am Grunde des Kivu-Sees könnte über einen Zeitraum von 50 Jahren 36 Milliarden Euro einbringen.

Sie sind sich jedoch nicht darüber einig, mit welcher Methode sich das Gas am besten fördern lässt und ob solche Aktivitäten den See so stören könnten, dass das Risiko steigt und nicht sinkt. Trotz der herrschenden Debatte wird die Methanförderung ausgebaut. Es gibt bereits Pläne, die Stromerzeugung in den kommenden Jahren oder Jahrzehnten um das Fünffache zu steigern.

»Viele Wissenschaftler sind nicht einverstanden«, sagt der Biochemiker Eric Ruhanamirindi Mudakikwa. Er leitete frühere das ruandische Überwachungsprogramm für den Kivu-See, das Lake Kivu Monitoring Program (LKMP), dessen Aufgaben von der Rwanda Environment Management Authority’s Environment Analytics and Lake Kivu Monitoring Division übernommen wurden. »Was wir am See machen, ist noch ganz neu. Wir haben keine Ahnung, wie er reagieren könnte.«

Unter Druck

Der Kivu-See ist der größte einer kleinen Gruppe von Seen weltweit, bei denen man die Möglichkeit einer limnischen Eruption vermutet. Zwei wesentlich kleinere Seen liegen einige tausend Kilometer weiter westlich in Kamerun und ein weiterer, der Albaner See, befindet sich in Italien.

Lava-See im Nyiragongo

 

Lavasee im Nyiragongo | Am Rande des Kivu-Sees liegt der aktive Vulkan Nyiragongo, der regelmäßig Lavaströme in Richtung des Sees und der Großstadt Goma erzeugt.

Diese Seen liegen alle oberhalb von tektonisch aktiven Regionen, in denen vulkanische Gase wie CO2 aus dem Erdinneren aufsteigen. Sie sind tief und ihre Wasserschichten werden nicht durch jahreszeitliche Temperaturschwankungen von oben nach unten durchmischt. Stattdessen sammeln sich die gelösten Gase in den dichteren unteren Schichten und werden durch den von oben herrschenden Wasserdruck wie durch einen Korken gehalten. Wenn sich so viel Gas ansammelt, dass es Blasen bildet, können diese Seen buchstäblich hochgehen wie eine geschüttelte Champagnerflasche. Auch ein externes Ereignis kann den »Korken knallen« lassen. Ein sinkender Wasserspiegel auf Grund einer Dürre könnte den Druck auf die tieferen gasgefüllten Wasserschichten verringern. Durch einen Erdrutsch, ein Erdbeben oder am Grund des Sees ausbrechende Lava könnten die Schichten sich verlagern oder so viel Wärme aufnehmen, dass Gasblasen aufsteigen.

Das schreckliche Potenzial solcher Seen zeigte sich im August 1986, als der Nyos-See in Kamerun mit einem derartigen Schlag ausbrach, dass einige Anwohner einen Atomwaffentest vermuteten. Die umliegenden Regionen wurden mit einem Kubikkilometer Kohlendioxid geflutet. Da es schwerer ist als Luft, erstickten daran über 1700 Menschen und 3500 Nutztiere.

»Wir haben keine Ahnung, wie er reagieren könnte«
(Eric R. Mudakikwa)

Nach diesem Ausbruch startete man ein Projekt, das solche Ereignisse am Nyos-See in Zukunft verhindern soll: 2001 pumpte der Physiker und Ingenieur Michel Halbwachs, der damals an der Université Savoie im französischen Chambéry tätig war, zusammen mit seinem Team gasgefülltes Wasser aus der Tiefe des Sees. Dazu senkten sie von einer schwimmenden Plattform aus ein langes Rohr bis in die tiefen Wasserschichten. So entstand eine selbsterhaltende Fontäne, durch die das Gas in einer kleinen, kontrollierten Version einer limnischen Eruption austreten konnte. 2011 fügte das Team zwei weitere Rohre hinzu und 2019 betrachteten Halbwachs und seine Kollegen den Nyos-See als »so gut wie völlig befreit von riskanten Mengen an gelöstem Kohlendioxid«.

Nach der ersten Installation kümmerte sich Halbwachs um das kleinere Gegenstück zum Nyos-See, den Manoun-See, an dem sich 1984 eine wesentlich kleinere Eruption ereignet hatte. Nach Installation der Entlüftungsrohre gilt dieser See seit 2009 als gasfrei.

Halbwachs‘ Unternehmen Limnological Engineering konnte sich nun einen Auftrag im Wert von knapp 4,5 Millionen Euro sichern. Es geht um die Entgasung des Golfs von Kabuno, einem kleinen nördlichen Ausläufer des Kivu-Sees, der schon in geringer Tiefe eine hohe CO2-Konzentration aufweist. Das Unternehmen arbeitet bereits seit 2017 an einem Pilotprojekt.

Gigant unter den Gas-Seen

Der ungleich größere Kivu-See stellt jedoch ein ganz anderes Problem dar. Der Kivu-See ist geologisch älter als der Nyos-See und der umliegende Boden enthält mehr organische Materie. Dadurch beherbergt er im Gegensatz zum Nyos-See erhebliche Mengen Methan, erklärt der Biogeochemiker George Kling, der an der University of Michigan im US-amerikanischen Ann Arbor limnische Eruptionen untersucht. Mikroorganismen, die organische Substanzen abbauen, erzeugen Methan, und Methan oder Wasserstoff vulkanischen Ursprungs kann direkt aus den unteren Felsschichten in den See gelangen. Die Löslichkeit von Methan liegt weit unter der von Kohlendioxid, so dass es viel schneller zu aufsteigenden Blasen kommt. »Das Methan ist das eigentliche Problem. Das ist anders als beim Nyos-See«, sagt der Seephysiker Alfred John Wüest von der Schweizer Eidgenössischen Anstalt für Wasserversorgung, Abwasserreinigung und Gewässerschutz, kurz Eawag, in Kastanienbaum.

»Das Methan ist das eigentliche Problem«
(Alfred John Wüest)

Der See könnte ohne Sicherheitsrisiko beträchtliche Mengen CO2 beinhalten, würde das Methan nicht zum Gasdruck beitragen. Wissenschaftler gehen davon aus, dass das Kohlendioxid kein Problem mehr ist, wenn man das Methan als Energieträger ausleitet.

Geheimnisvolle Gase

Trotz des Gefahrenpotenzials des Kivu-Sees gibt es bezüglich der Grundlagen beträchtliche Differenzen, etwa darüber, wo das Gas herkommt, ob es mehr wird und sogar, ob der Kivu-See früher bereits ausgebrochen ist. Robert Hecky, im Ruhestand befindlicher Seeökologe der US-amerikanischen University of Minnesota Duluth, hat den Kivu-See untersucht. Er sagt, dass die Sedimente zwar neun braune Schichten aufweisen, die auf Durchmischungen in den letzten 2000 Jahren schließen lassen, dass er aber für die letzten 12 000 Jahre keine Belege für ein so gewaltiges Ereignis wie eine limnische Eruption gefunden habe. Eine andere Deutung der Sachlage besagt, dass es zumindest vor 4000 Jahren zu einer Eruption kam.

Einige Fakten sind eindeutig. Die oberen Wasserschichten des Sees sind relativ kühl und reich an Fischen. Etwa 260 Meter tiefer kommt es zu einer drastischen Änderung. Das Wasser ist dort auf Grund von Hydrothermalquellen viel wärmer und salzhaltiger. Hier liegen die tiefen »ressourcenhaltigen Wasserschichten«, die reich an gelösten Gasen sind.

In einer Untersuchung von 2005 verglichen der Umweltforscher Martin Schmid von Eawag und seine Kollegen, darunter auch Halbwachs, die Gasgehalte in dieser tiefen Schicht mit Messungen von 1975. Sie kamen zu dem Schluss, dass die Methankonzentration um 15 Prozent gestiegen war. Bei einem gleich bleibenden Anstieg wären die tieferen Schichten um 2090 gesättigt und würden eine Eruption auslösen. Eine weitere Veröffentlichung von 2020, bei der Schmid als Mitautor fungierte, besagte jedoch, dass die Gaskonzentrationen gar nicht gestiegen seien.

Widersprüchliche Messungen

Dies beruhigte viele Forscher, aber die Ergebnisse bleiben widersprüchlich. So wurden bei der Datenerhebung zum Beispiel unterschiedliche Gasmessmethoden angewandt. Ob die Gaskonzentrationen nun gestiegen sind oder nicht, ändert jedoch nichts daran, dass die Zukunft ungewiss ist; sie könnten jederzeit ohne Vorwarnung drastisch ansteigen. »Die unterirdischen Verzweigungen im vulkanischen System der Riftzone, die den Kivu-See umgibt, sind weitgehend unbekannt«, sagt Kling. »Es ist gut möglich, dass die Gaszufuhr durch stärkere unterirdische vulkanische oder geologische Aktivitäten drastisch ansteigt.«

Die gleichen Vulkanausbrüche und Erdbeben könnten theoretisch zudem eine Eruption auslösen. »Bei einem gasreichen See in der Nähe eines Vulkans gibt es ein großes Potenzial an Auslösern«, so Hecky. Es fragt sich nur, wie stark sie sein müssten. »Der See ist außergewöhnlich stabil. Eine Umwälzung bedürfte einer riesigen Menge an Energie«, sagt er. Der in Ruanda tätige Vulkanologe Dario Tedesco von der italienischen Hochschule Università degli Studi della Campania Luigi Vanvitelli erklärt, seine Daten über den Vulkanausbruch von 2021 zeigen, dass keine Gase aus Spalten um Goma oder aus dem See ausgetreten seien. Seiner Aussage zufolge gab es entweder kein unterirdisches Magma oder die Ströme waren so klein oder so tief, dass sie keine Auswirkungen hatten.

Die meisten der etwa ein Dutzend von »Nature« angesprochenen Wissenschaftler zeigen sich jedoch angesichts der geologischen Aktivitäten in der Region weiterhin besorgt über den Methangehalt des Sees. Würden über etwa 50 Jahre 90 Prozent des Methans ausgeleitet, argumentiert Morkel, dann könnte dies die Wahrscheinlichkeit einer limnischen Eruption in den ersten zehn Jahren um 90 Prozent senken. »Im besten Fall wird es niemals dazu kommen«, so Morkel.

Das Methan wird angezapft

Seit Jahrzehnten pumpt man bereits in kleinen Mengen Methan aus dem Kivu-See, um damit Energie zu erzeugen. Diese Aktivitäten wurden erheblich verstärkt, als 2016 das Kraftwerk KivuWatt des Londoner Unternehmens ContourGlobal den Betrieb aufnahm. Das 170-Millionen-Euro-Projekt liefert derzeit 26 Megawatt Strom. Vertraglich vereinbart ist eine Steigerung auf 100 Megawatt. Dies wird merklich zur Abdeckung der Grundlast in Ruandas auf 200 Megawatt ausgelegtem Stromnetz beitragen.

Bisher hat KivuWatt den Vorrat im See nur relativ geringfügig verkleinert: Bei der derzeitigen Entnahmerate wird das Unternehmen in 25 Jahren weniger als fünf Prozent des Methans abbauen. »Dieses Tempo reicht mit Sicherheit nicht aus, das Risiko einer limnischen Eruption deutlich zu verringern«, sagt der am KivuWatt tätige Limnologe Francois Darchambeau. »Also müssen wir die Kapazität vergrößern.« Die Erweiterungspläne müssen jedoch warten, bis die Nachfrage nach Strom mit dem Angebot gleichzieht, so das Unternehmen. Bei KivuWatt überlegt man zudem, Kohlendioxid aus dem See zu pumpen und als kommerzielles Produkt zu verkaufen.

In der Zwischenzeit hat das ruandische Unternehmen Shema Power Lake Kivu die kleine Pilotanlage KP-1 aufgekauft, die 2006 begann, Methan aus dem See zu pumpen. Dort errichtet man derzeit eine Anlage, die 56 Megawatt liefern soll. Auf der Website des Unternehmens heißt es, dass die Bauphase Anfang 2022 enden soll. Shema Powers Projektleiter Tony de la Motte wollte »Nature« gegenüber jedoch keine Fragen zum Zeitplan für die Anlage oder zu ihrem Betrieb beantworten.

Lavastrom in Goma
Lavastrom in Goma | Zerstörte Autos in erkalteter Lava: Immer wieder verwüstet der Vulkan Teile der Umgebung. Befürchtet wird, dass durch die vulkanische Aktivität auf die Gasblase im Kivu-See aktiviert werden könnte – mit katastrophalen Folgen.

Alle diese Projekte folgen generell dem Prinzip, dass Wasser aus der Tiefe heraufgefördert wird, so dass sich das Methan aus dem Wasser löst und es gereinigt und zu einem Kraftwerk gepumpt werden kann. Das entgaste Wasser wird dann wieder dem See zugeführt. Die Fragen drehen sich darum, wie man dies am besten erreicht, und die Pläne variieren je nach Firma und Angebot.

Das entgaste Wasser enthält immer noch hohe Konzentrationen an Nährstoffen und giftigem Schwefelwasserstoff. Wird es dem See zu nah an der Oberfläche wieder zugeführt, so könnte das einigen Forschern zufolge zu einem Fischsterben und schädlichen Algenblüten führen. Zudem ist es salzig und reich an CO2, so dass es eine relativ hohe Dichte besitzt. Bei einer Einleitung in zu geringer Tiefe würde das methanfreie Wasser also absinken und könnte dabei womöglich den maßgeblichen Dichtegradienten in 260 Metern Tiefe stören, welcher das gasreiche Wasser in der Ressourcenzone darunter gesichert hält. »Das würde nicht unbedingt zu einem Ausbruch führen«, sagt Morkel, »aber die Gefahr eines Ausbruchs würde steigen.«

Schwierige Förderung

Eine Aufwärtsverlagerung dieses Gradienten könnte ebenfalls problematisch sein, weil dadurch der Druck auf das gasreiche Wasser sinken würde. Und ein Verdünnen der Ressourcenschicht mit entgastem Wasser könnte die Gaskonzentration so weit senken, dass eine kommerzielle Verwertung nicht mehr möglich wäre. In diesem Falle verbliebe eine große Menge des gefährlichen Gases im See, ohne dass man es sinnvoll entfernen könnte. Es gäbe nur noch die Möglichkeit, es an die Oberfläche abzuleiten, doch dadurch würden starke Treibhausgase freigesetzt und das Oberflächenwasser kontaminiert.

2009 veröffentlichte eine Gruppe internationaler Wissenschaftler, darunter auch Morkel, Wüest und Schmid, »Bewirtschaftungsvorschriften« (BV), in denen sie bewährte Methoden zur Extraktion des Methans aus dem See zusammenfassen. Die Mehrzahl der Experten favorisiert die so genannte Methode zur Erhaltung der Dichtezone. Dabei wird die Dichte des entgasten Wassers über den CO2-Gehalt gesteuert, so dass es vorsichtig in den See zurückgeleitet werden kann, ohne eine Durchmischung anzustoßen. Das ist eine technische Herausforderung, würde jedoch die derzeitige Struktur des Sees bewahren.

KivuWatt hat sich für eine andere Strategie entschieden: Das entgaste Wasser wird knapp oberhalb des Hauptgradienten zurückgeleitet. Das ist einfacher zu erreichen und sollte die Ressourcenzone nicht verdünnen, wird aber wohl die Struktur des Sees verändern.

Profil des Sees und geplante Förderung
Profil des Sees und geplante Förderung

Sarchambeau erklärt, dass KivuWatt täglich das Oberflächenwasser überwacht und wöchentliche Analysen erstellt, um zuverlässige Daten über die Stabilität des Sees zu erhalten. Er sagt, dass sich nach fünfjährigem Betrieb erwartungsgemäß eine Schwächung der Stabilität abzeichnet, jedoch nur eine leichte. »Wenn wir die derzeitige Gasentnahme weitere 50 Jahre fortsetzen«, sagt Sarchambeau, »dann verringert das die Stabilität des Sees um ein Prozent.« Dieser Wert liegt deutlich unter den Empfehlungen der BV, die besagen, dass die Stabilität nicht um mehr als 25 Prozent reduziert werden darf, gemessen an der Energie, die für eine vollständige Durchmischung des Sees benötigt würde.

Es gibt jedoch Stimmen, die KivuWatts Ansatz für problematisch halten. »Dieser Weg führt in die Katastrophe«, sagt der Ingenieur Finn Hirslund vom Beratungsunternehmen COWI im dänischen Lyngby. Er gehört zu den Verfassern der BV und hat von Experten geprüfte Arbeiten zum Kivu-See veröffentlicht. Hirslund argumentiert, dieses Projekt werde »den Hauptgradienten zerstören« und ist besorgt, dass Fortsetzung und Ausbau der Gasentnahme aus dem See mit ähnlichen Methoden langfristige Folgen haben können, die erst nach Jahrzehnten deutlich werden.

Auch Morkel steht KivuWatts Ansatz kritisch gegenüber. Er wendet ein, das entgaste Wasser des Unternehmens enthalte zu viel Kohlendioxid und habe eine zu hohe Dichte. Dadurch, so denkt er, werde es den Hauptgradienten durchstoßen. Morkel ist dafür, Wasser zu entnehmen und es in anderen Tiefen als KivuWatt zurückzuführen. Er geht davon aus, dass die Schichtung des Sees dadurch bei der Gasentnahme zur Energiegewinnung besser erhalten bleibt. Daher versucht er Fördergelder für diesen Ansatz einzuwerben.

Goma
Goma | Die Stadt Goma in der Demokratischen Republik Kongo wird vom Vulkan Nyiragongo und dem Kivu-See flankiert, die beide eine Bedrohung darstellen.

Es gibt jedoch auch Wissenschaftler, die nicht besorgt sind. »In Sachen Sicherheit bin ich absolut zuversichtlich«, sagt Wüest, der ebenfalls zu KivuWatts unabhängigem Expertenrat gehört. »Ich sehe das Ganze absolut positiv«, betont der Physiker Bertram Boehrer vom Helmholtz-Zentrum für Umweltforschung in Magdeburg, der an dem See gearbeitet hat. »Bei unerwarteten Entwicklungen bleibt immer noch genug Zeit zum Handeln.«

Was bringt die Zukunft

Der einzige Ausweg aus der Debatte um mögliche Folgen für den See ist wahrscheinlich eine genaue Beobachtung, ob und wie sich die Dichteschichten verändern. Die Lake Kivu Monitoring Division (LKMD) überwacht die Tiefen des Sees und prüft die Gas fördernden Unternehmen. Mudakikwa erklärt, die wöchentlichen Analysen zeigten, dass der See bisher stabil bleibt. »Der Hauptgradient verändert sich nicht«, sagt er. »Sollte der See instabil werden, dann sind wir die Ersten, die es sorgt.«

KivuWatt stellt klar, dass die Richtlinien des LKMD verbindlich seien und man sich daran hält. Zudem habe der unabhängige Expertenrat des Unternehmens, dem auch Hecky und Wüest angehören, Zugriff auf KivuWatts Daten und prüft seinen jährlichen Bericht an die ruandische Regierung. »Wir stehen der Wissenschaft sehr aufgeschlossen gegenüber«, sagt Sarchambeau, obwohl einige Informationen, wie etwa der Aufbau der maßgeschneiderten Sensoren für die Gaskonzentration, geheim bleiben. »Jeder möchte KivuWatts Daten«, sagt der Unternehmensleiter Priysham Nundah. »Ich kann Wettbewerbern nichts zukommen lassen, aber wir geben [dem LKMD] das, wozu wir vertraglich und gemäß Vereinbarung verpflichtet sind.«

»Gegen Mutter Natur kommen wir im Zweifelsfall nicht an«
(Eric R. Mudakikwa)

Einige von »Nature« angesprochene Forscher beklagten, dass sie Schwierigkeiten haben, an solche Daten heranzukommen. »In unseren [BV-]Richtlinien haben wir klar vorgegeben, dass diese Daten öffentlich sein müssen«, so Wüest. »Meines Wissens hat die ruandische Regierung dem nie Folge geleistet.« Mudakikwa erklärt, dass die Daten der Gas fördernden Unternehmen vertraulich seien. Die Analysedaten des Sees können Forscher erhalten, wenn sie dem Generaldirektor der REMA schreiben, was sie benötigen und warum.

Alltag am Ufer
Alltag am Ufer | Ein Gasausbruch im Kivu-See könnte Millionen von Menschen in der Region bedrohen.

Die Kombination aus dem wirtschaftlichen Wert des Kivu-Sees, seinem explosiven Potenzial und der zahlreichen abweichenden Meinungen, wie man am besten damit umgehen solle, erhitzt die Gemüter unter den dort tätigen Wissenschaftlern. »Ich bin geradezu davon besessen, zu verstehen, was in diesem See vor sich geht«, sagt Hirslund. »Am Kivu-See zu arbeiten, ist eine Leidenschaft«, stimmt Augusta Umutoni, Leiterin der LKMP, zu.

Gas aus dem See zu fördern, sollte ihn sicherer machen, sagt Mudakikwa. Aber es gibt Dinge wie etwa Vulkanausbrüche, die weder Wissenschaftler, Unternehmen noch Regulierungsbehörden abwenden oder verhindern können. »Gegen Mutter Natur kommen wir im Zweifelsfall nicht an.«

Quelle:

https://www.spektrum.de/news/geologie-wie-gefaehrlich-ist-afrikas-explosiver-see/1972708?utm_source=pocket-newtab-global-de-DE&fbclid=IwAR2R6pfoiVIpc-SKZJf0xg0rEzb4ERdBtm4HXt4eiNRFoJGqdtiCUSsra7I

Loading

Views: 0

Taiwan: Das harte Training der Eliteeinheit ARP

Nichts für schwache Nerven: Die Aufnahme in die Eliteeinheit der taiwanesischen Marine (ARP) ist ähnlich hart wie bei den Navy Seals der USA. Einblicke in die letzte Trainingswoche.

Schlafen auf Betonboden Insgesamt zehn Wochen dauert die Ausbildung zum Elitekämpfer bei der Marine in Taiwan. 31 Teilnehmer haben sich auf dieses Abenteuer eingelassen. Auf dem Gelände des Marinestützpunkts Zuoying im Süden Taiwans sind Körper und Geist zweieinhalb Monate im Daueralarmzustand. Eine Übung: Schlafen auf kalten Betonboden. Am Ende werden nur 15 Soldaten den Lehrgang erfolgreich beenden.
Kalte Dusche nach Drill im Meer Nachdem die Teilnehmer den ganzen Tag im Meer verbracht haben, werden sie mit kaltem Wasser abgespritzt. Erschöpft und zitternd stehen sie auf der Pier. Ziel des Bootcamps: Die Soldaten sollen sich den eisernen Willen antrainieren. Egal wie schwierig ihr Auftrag auch sein mag, die Loyalität gegenüber Kameraden und dem Militär soll am Ende unerschütterlich sein.
Kein Spaziergang im Sand Yu Guang-Cang nimmt an einer Trainings-Einheit am Strand teil, die nur auf den ersten Blick nach Workout aussieht. Die Soldaten müssen lange Märsche genauso über sich ergehen lassen wie stundenlange Übungen im Wasser. Die Ausbilder gelten als kompromisslos und hart. Pausen sind rar und kurz. Sie reichen oft nur für einen Toilettengang und einen Schluck Wasser.
Den Krieg spüren Ein Soldat der Eliteeinheit wird mit Camouflage angemalt, während er gegen die Müdigkeit kämpft. Alle Männer sind freiwillig hier – nicht wenige suchen die persönliche Herausforderung. Die Ausbildung soll die die Härte des Krieges simulieren. Im Ernstfall, so die Forderung der Armee-Führung, müssen die Männer funktionieren.
Starker Wille zählt Einen Großteil verbringen die Absolventen im Meer oder im Schwimmbad. Sie müssen lernen, über einen längeren Zeitraum die Luft anzuhalten, in voller Kampfausrüstung zu schwimmen und Strände vom Meer aus zu infiltrieren. Oft werden ihnen Hände und Füße dabei zusammengebunden. Don´t try this at home!
Stretching bis der Arzt kommt Nicht nur Kraft- und Ausdauer-Drills gehören zum Trainingsplan, auch hartes Stretching steht auf dem Programm. Dem 25 Jahre alten Ou Zhi-Xuan treiben die Übungen vor Schmerzen Tränen in die Augen. Wer den Ausbildern unter Schmerzen und in Erschöpfung widerspricht, muss den Lehrgang umgehend beenden.
Geschrei und Demütigung Trainiert wird natürlich auch im Kampfanzug. Beschimpfungen und das häufige Anbrüllen durch die Ausbilder der ARP-Eliteeinheit gehören zum Alltag der jungen Soldaten. Alle sechs Stunden habe sie eine einstündige Pause. In dieser Zeit müssen die Männer essen – unter anderem Knoblauchknollen, um ihr Immunsystem zu stärken – ärztliche Hilfe in Anspruch nehmen, auf die Toilette gehen und schlafen.
Straße zum Himmel Die letzte Aufgabe dieses harten Ausbildungskurses nennt sich „Straße zum Himmel“. Die Absolventen werden über einen Hindernis-Parcours gejagt. Mit nackter Haut müssen sie über harte Steine kriechen und Push-ups machen, obwohl alle von den Strapazen der vergangenen Wochen und dem Schlafentzug schon völlig erschöpft sind. „Ich habe keine Angst vor dem Tod“, sagt Fu Yu, 30.
Geschafft – im wahrsten Sinne Xu De-Yu läutet am Ende der Bootcamp-Einheit eine Glocke, um seine Zeit im ARP-Ausbildungslager offiziell zu beenden. Er hat es geschafft. Trainer Chen Shou-lih, 26, resümiert: „Natürlich werden wir niemanden zwingen, jeder ist freiwillig hier. Deshalb sind wir auch so streng mit ihnen.“ An die Soldaten gerichtet sagt er: „Wir werden euch nicht einfach durchwinken, nur weil ihr kommen wolltet.“

https://www.dw.com/de/taiwan-das-harte-training-der-eliteeinheit-arp/g-60555247

Loading

Views: 0

Những phát hiện mới về chủ quyền quần đảo Hoàng Sa

Cách đây 48 năm, ngày 19/01/1974, Trung Quốc đã dùng vũ lực tấn công đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa khi đó đang do chính quyền Việt Nam Cộng hòa ở miền Nam, Việt Nam quản lý theo Hiệp định Geneve năm 1954.

Trong 48 năm qua, Trung Quốc đã tiến hành bồi đắp, mở rộng các cấu trúc thuộc quần đảo Hoàng Sa; xây dựng những sân bay chiến đấu, cầu cảng cho tàu chiến và bố trí nhiều thiết bị trên các cấu trúc này, biến chúng thành những đồn điền quân sự trên Biển Đông.

Tuy nhiên, theo quy định của luật thụ đắc lãnh thổ việc Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa bằng vũ lực cũng như những hoạt động bất hợp pháp của Bắc Kinh thời gian qua không thể tạo ra chủ quyền hay danh nghĩa chủ quyền của họ đối với quần đảo Hoàng Sa bởi trước đó hàng trăm năm, các nhà nước phong kiến Việt Nam đã xác lập và thực thi chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa hàng trăm năm. Các tài liệu lịch sử có giá trị pháp lý đều chứng minh rằng quần đảo Hoàng Sa không thuộc Trung Quốc. Chúng ta cùng nhìn lại một số tài liệu được công bố gần đây để làm sáng tỏ vấn đề này.

Tại Hội thảo Khoa học quốc tế về Biển Đông lần thứ 13 được tổ chức tại Hà Nội tháng 11/2021, từ góc độ lịch sử, các chuyên gia Anh, Pháp, Việt Nam và Trung Quốc đã tranh luận thẳng thắn và thực chất về các sự kiện và bằng chứng lịch sử liên quan đến tranh chấp Biển Đông, cũng như ý nghĩa của các tư liệu lịch sử đối với chủ quyền quần đảo Hoàng Sa.

Một số tài liệu lịch sử mới được công bố qua quá trình nghiên cứu tài liệu lưu trữ cho thấy cho tới năm 1899, triều đình phong kiến Trung Quốc vẫn khẳng định Hoàng Sa không thuộc phạm vi quản lý của nước này. Ghi chép có giá trị chứng minh rất cao của thiền sư nổi tiếng Trung Quốc Xu Shillun được các học giả trao đổi, khẳng định Hoàng Sa thuộc quyền quản lý của triều đình nhà Nguyễn Việt Nam.

Cũng tại Hội thảo, ông Bill Hayton, một nhà nghiên cứu từng là nhà báo, đã cung cấp một tài liệu được sưu tầm tại Cơ quan Lưu trữ quốc gia Anh thể hiện bằng chứng cho thấy cho đến tận cuối thời nhà Thanh, chính quyền nhà nước Trung Quốc vẫn không xem quần đảo Hoàng Sa là một phần lãnh thổ của nước này.

Tài liệu là bản dịch một bức thư năm 1899, trong đó Tổng lý Nha môn của nhà Thanh (tương đương Bộ Ngoại giao) gửi ông Henry Bax-Ironside thuộc Cơ quan đại diện Anh ở Bắc Kinh, thông báo rằng chính quyền Trung Quốc không thể nhận trách nhiệm đối với việc cướp phá hàng hóa của một chiếc tàu xảy ra vào cuối những năm 1890 tại khu vực quần đảo Hoàng Sa.

Bức thư đề cập tới sự kiện được gọi là “Vụ tàu chở đồng Bellona” – một vụ việc liên quan tới tàu Bellona của Đức bị đắm ở khu vực quần đảo Hoàng Sa một vài năm trước đó và khối lượng đồng hàng hóa mà con tàu này vận chuyển đã bị các ngư dân Trung Quốc đánh cắp. Theo bức thư này, Chính quyền nhà Thanh Trung Quốc “từ chối bồi thường” cho khối lượng mặt hàng đồng đã được Anh quốc bảo hiểm bởi vì quần đảo này là thuộc “biển cả” và không thuộc lãnh thổ của Trung Quốc.

Bức thư gốc viết bằng tiếng Trung vẫn chưa được tìm thấy và có nhiều khả năng là nó đã bị thất lạc hoặc bị tiêu hủy. Vì vậy, cho đến nay, bản dịch này được coi là tài liệu bán chính thức bởi đây chính là bản sao đầu tiên và cùng thời với tài liệu bản gốc của Trung Quốc (tiếng Trung).

Trong quá trình tìm kiếm ở các trung tâm lưu trữ, ông Bill Hayton còn tìm thấy một bản phiên âm một bức thư khác của Tổng đốc Lưỡng Quảng gửi tới ông Byron Brenan, lãnh sự Anh quốc tại Quảng Châu vào ngày 14/4/1898 về cùng vụ việc. Tổng đốc Đàm Chung Lân viết rằng chính quyền Trung Quốc không thể bảo vệ các con tàu đắm bởi chúng ở tận nơi “biển xanh sâu thẳm” và vì vậy, Trung Quốc không thể chấp thuận các yêu cầu bồi thường.

Vụ tàu chở đồng Bellona cũng được nhắc tới trong một bức thư của Toàn quyền Đông Dương gửi tới Bộ trưởng phụ trách thuộc địa của Pháp vào năm 1930. Trong bức thư, Phó vương Quảng Đông được trích lời nói rằng quần đảo Hoàng Sa là “những đảo hoang” và “không thuộc về Trung Quốc hay Việt Nam” và “không cơ quan đặc biệt nào chịu trách nhiệm kiểm soát các đảo này”.

Phát hiện của ông Bill Hayton đã thu hút sự chú ý của giới nghiên cứu về Biển Đông, khơi dậy cuộc tranh luận lâu nay xung quanh các tư liệu lịch sử về chủ quyền Hoàng Sa. Ông Stein Tonnesson – nhà sử học Na Uy đồng thời là nhà nghiên cứu Biển Đông nói rằng bức thư “có thể giúp khẳng định các nguồn tin khác cho rằng nhà Thanh khi đó không xem Hoàng Sa là lãnh thổ của Trung Quốc”.

Bức thư mà ông Bill Hayton phát hiện ra trùng khớp với các bản đồ do Trung Quốc phát hành cho đến đầu thế kỷ 20, trong đó lãnh thổ Trung Quốc kết thúc ở đảo Hải Nam. Đây là những bằng chứng khẳng định nhà nước Trung Quốc cho đến đời Thanh không quản lý hay thực thi chủ quyền đối với các quần đảo ở Biển Đông, bao gồm quần đảo Hoàng Sa.

Ông Nguyễn Nhã, một nhà sử học nổi tiếng của Việt Nam, người đã có nhiều năm nghiên cứu các văn bản chính thức của nhà nước phong kiến Việt Nam liên quan đến Hoàng Sa nhìn nhận rằng bức thư mới được ông Bill Hayton phát hiện là văn bản có giá trị khẳng định chủ quyền Hoàng Sa không phải của Trung Quốc. Mặt khác, ông Nguyễn Nhã khẳng định các Châu bản triều Nguyễn (văn bản chính thức của nhà nước phong kiến Việt Nam) đã khẳng định nhà nước Việt Nam đã thực thi chủ quyền trên quần đào Hoàng Sa ít nhất từ thế kỷ 17.

Theo đó, các Châu bản triều Nguyễn có bút phê của nhà vua đã đề cập đến nhiều khía cạnh liên quan đến các hoạt động của đội Hoàng Sa đi thực thi chủ quyền tại quần đảo Hoàng Sa. Các Châu bản này hiện đang được lưu giữ tại Trung tâm lưu trữ quốc gia tại Việt Nam. Điều này cho thấy nhà nước phong kiến Việt Nam đã xác lập và thực thi chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa một cách liên tục, hòa bình thông qua các hoạt động của nhà nước với sự chỉ đạo trực tiếp của nhà vua.

Chẳng hạn như Châu bản ngày 27 tháng 6 năm Minh Mệnh thứ 11 (tức năm 1830) có nội dung dâng trình cứu nạn tàu nước ngoài bị nạn ở quần đảo Hoàng Sa, nội dung đó như sau:

“Thần Nguyễn Văn Ngữ chức Thủ ngự cửa biển Đà Nẵng chắp tay dập đầu trăm lạy kính cẩn tâu việc: Ngày 27 tháng này tiếp nhận được viên Tài phó người nước Pháp và 11 viên Phái viên, thủy thủ lái, lái thuyền cùng đi trên một chiếc thuyền ván nhỏ vào đậu tại bản tấn mà viên Tài phó thưa rằng nguyên thuyền (tức của họ) ngày 20 tháng này rời cảng này ra biển, đến giờ Tuất ngày 21 tháng này mới đến được các xứ sở Hoàng Sa, thì bị sóng cát, thuyền đắm, nước xô vào, viên thuyền trưởng Đô – ô – chi – ly cùng bọn phái viên đem 2 hòm bạc công cùng 15 viên thủy thủ, lái thuyền xuống chiếc thuyền đó đi sau, hiện nay chưa thấy về, vả lại nước ngọt trên chiếc thuyền đó đã hết.

Thần lập tức điều động và sức cho thuyền tuần tiễu ở tấn mang nước ngọt ra biển tìm kiếm bọn Phái viên, bảo vệ và đưa họ về tấn, còn bọn Tài phó cho ở lại tấn. Thần xin soạn tập tâu đầy đủ, kính cẩn tâu trình. Thần khôn xiết run sợ. Kính tâu.”

Có thể khẳng định một điều là trong khi chính quyền triều đại nhà Thanh Trung Quốc vào năm 1898 từ chối nghĩa vụ và trách nhiệm đối với các vụ việc xảy ra ở Hoàng Sa thì Châu bản đã cho thấy hơn 60 năm trước đó, chính quyền triều đình nhà Nguyễn Việt Nam đã rất quan tâm tới công tác cứu hộ, cứu nạn trên biển, bao gồm các tàu nước ngoài bị nạn ở Hoàng Sa. Ngoài ra, hiện còn rất nhiều Châu bản triều đình nhà Nguyễn đang còn được lưu giữ tại các trung tâm lưu trữ Việt Nam viết về các hoạt động của Đội Hoàng Sa do triều đình nhà Nguyễn cử ra thực thi chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa từ thế kỷ 17.

Nội dung các Châu bản cho thấy nhà Nguyễn không chỉ chú trọng đến công tác quản lý, khai thác các sản vật ở Hoàng Sa mà còn quan tâm tới việc thực hiện công tác cứu hộ cứu nạn trên biển đối với các tàu tuyền nước ngoài qua lại vùng biển quần đảo Hoàng Sa. Tiếp nối các hoạt động của triều đình nhà Nguyễn, sau khi đô hộ Đông Dương, chính quyền bảo hộ Pháp đã thay mặt nhà nước Việt Nam tiến hành các hoạt động khai thác, quản lý và thực thi chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa. Nhiều tư liệu liên quan đến các hoạt động của chính quyền bảo hộ Pháp đối với Hoàng Sa vẫn đang được lưu giữ tại các trung tâm lưu trữ của Pháp và Việt Nam.

Đề cập tới những tư liệu lịch sử mới phát hiện cùng với việc nhắc lại một số tư liệu và sự kiện liên quan đến quần đảo Hoàng Sa vào những ngày tháng 1 này để khẳng định lại một điều rằng chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa chưa bao giờ thuộc về Trung Quốc. Việc chính quyền Bắc Kinh dùng vũ lực đánh chiếm Hoàng Sa và tiến hành nhiều hoạt động ở quần đảo này trong những năm qua là bất hợp pháp, trái với các quy định của luật pháp quốc tế, bao gồm Hiến chương Liên hợp quốc và các nguyên tắc về thụ đắc lãnh thổ.

BDN

Loading

Views: 0

Thỏa thuận bí mật giữa TQ và Campuchia nạo vét làm cảng nước sâu tại căn cứ Ream?

Ngày 21-1, Trung tâm Nghiên cứu chiến lược và quốc tế (CSIS) của Mỹ cho biết các tàu nạo vét đã được phát hiện ngoài khơi căn cứ hải quân Ream của Campuchia – nơi Trung Quốc đang giúp nâng cấp.

Theo CSIS, các tàu nạo vét sẽ giúp căn cứ Ream có cảng nước sâu hơn, vốn là điều kiện cần thiết để các tàu quân sự lớn hơn cập cảng.

“Việc nạo vét cảng sâu hơn là cần thiết để các tàu quân sự lớn hơn cập cảng tại Ream, và là một phần thỏa thuận bí mật giữa Trung Quốc và Campuchia mà các quan chức Mỹ báo cáo đã nhìn thấy năm 2019”, Tổ chức Sáng kiến minh bạch hàng hải châu Á thuộc CSIS báo cáo.

Báo cáo dẫn lại một bài viết đăng trên tạp chí Wall Street Journal cho biết thỏa thuận đề cập ở trên cho phép quân đội Trung Quốc tiếp cận căn cứ Ream, đổi lại việc tài trợ cho các nâng cấp căn cứ này.

Báo cáo cũng cho biết các tàu nạo vét có thể được nhìn thấy trong các bức ảnh được Chính phủ Campuchia công bố trong tháng này và trong các ảnh vệ tinh thương mại.

Theo báo cáo, những hình ảnh cho thấy việc xây dựng trên bờ tại Ream vẫn đang được tiếp tục. Việc xây dựng trên bờ và các tàu nạo vét “cho thấy căn cứ đang chuẩn bị cho những nâng cấp hạ tầng quan trọng”, theo CSIS.

Phản ứng trước thông tin của CSIS, như Hãng tin Reuters đưa tin, Bộ Ngoại giao Mỹ đã nhắc lại “những lo ngại nghiêm trọng” về hoạt động xây dựng và sự hiện diện quân sự của Trung Quốc tại căn cứ Ream.

“Những diễn biến này đe dọa lợi ích của Mỹ và các đối tác, an ninh khu vực và chủ quyền của Campuchia”, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Mỹ cho biết.

Mỹ cũng kêu gọi Campuchia “minh bạch hoàn toàn về ý định, bản chất và phạm vi của dự án tại Ream, và vai trò của quân đội Trung Quốc trong việc xây dựng căn cứ”.

Tháng 6-2021, Campuchia xác nhận Trung Quốc đang hỗ trợ quốc gia này nâng cấp căn cứ hải quân Ream, bao gồm việc hiện đại hóa, mở rộng căn cứ và “giúp Campuchia có một địa điểm thích hợp, một xưởng sửa chữa tàu bè và một bến cảng neo đậu”.

Lời xác nhận liên quan tới Trung Quốc và cảng Ream được đưa ra sau khi một số báo, đài Mỹ cáo buộc Phnom Penh cho phép Bắc Kinh lập căn cứ quân sự trên đất Campuchia.

BDN

Loading

Views: 0

Coronavirus: Bill Gates warnt vor neuer, noch schlimmerer Pandemie

Während die Welt noch immer mit der Omikron-Variante des Coronavirus zu kämpfen hat, ist einer in Gedanken schon einen Schritt weiter: Milliardär Bill Gates.
bill gates coronavirus
Microsoft-Gründer Bill Gates. Er steht immer wieder einmal inmitten von Verschwörungstheorien bezüglich des Coronavirus. – Keystone

Experten weltweit hoffen, dass mit der Omikron-Variante des Coronavirus der Anfang vom Ende der Pandemie eingeläutet ist. Nur neue, gefährlichere Varianten könnten einem Abklingen von Corona in die Quere kommen.

Doch da wird bereits vor der nächsten Pandemie gewarnt. Und zwar von niemand geringerem als Microsoft-Gründer Bill Gates.

bill gates coronavirus

Der US-Unternehmer Bill Gates investiert Millionen in die Erforschung von neuen Impfstoffen gegen das Coronavirus. – AFP/Archiv

Er hat mit seiner Stiftung gerade 150 Millionen US-Dollar in die Erforschung und Bereitstellung von Impfstoffen investiert. Im Erklärvideo auf Twitter sagt er: «Um Covid wirklich zu beenden und um sicherzustellen, dass es nie wieder zu einer katastrophalen Pandemie kommt, brauchen wir Innovationen, insbesondere bei den Impfstoffen.»

Er befürchtet laut der Zeitung «Sun», dass eine neue Pandemie mehr Leben kosten könnte als die aktuelle. Seit Ausbruch des Coronavirus in Wuhan (China) sind weltweit über 5,5 Millionen an den Folgen des Virus gestorben.

Coronavirus: Neue Impfstoffe sollen Pandemie verhindern

In einem Blogeintrag erklärt der Multimilliardär weiter: «Die wichtigste Innovation bei dieser Pandemie sind die mRNA-Impfstoffe.» In deren Weiterentwicklung liege der «Schlüssel zur Pandemieprävention und -vorsorge».

Bill Gates mahnt: «Wenn die Welt das nächste Mal mit einem Krankheitserreger konfrontiert wird, der eine Pandemie auslösen könnte, müssen wir es besser machen.»

Man müsse in der Lage sein, binnen weniger Woche einen Impfstoff zum Schutz vor einem neuartigen Coronavirus zu entwickeln. Weiter sei es wichtig, diesen ausreichend und in allen Teilen der Welt zur Verfügung zu stellen.

Gates schliesst: «Ich weiss, dass es schwer ist, an die nächste Pandemie zu denken, während die Omikron-Variante um die Welt schwappt. Aber wir haben die Möglichkeit, dafür zu sorgen, dass die Welt nie wieder eine solche Notlage erlebt.»

Bill Gates warnte bereits 2015 vor Pandemie

Dieser eindringliche Appell weckt böse Einbringungen. 2015 warnte Gates bei einem TED-Talk eindringlich vor einer Jahrhundertpandemie wie der Spanischen Grippe 1918: «Wenn etwas in den nächsten paar Jahrzehnten 10 Millionen Menschen umbringen wird, dann eher ein hochansteckendes Virus.»

Bill Gates

Bill Gates warnte 2015: « Ein Virus wie die Spanische Grippe von 1918 würde sich sehr, sehr schnell über die ganze Welt verbreiten. (…) Wir sollten besorgt sein.» – dpa

Und weiter sagte er hinblickend der Vorkehrungen: «Wir sind nicht vorbereitet für eine nächste Epidemie.»

Quelle:

https://www.nau.ch/news/forschung/coronavirus-bill-gates-warnt-vor-neuer-noch-schlimmerer-pandemie-66090582

Loading

Views: 0

Anh và Australia yêu cầu phán quyết năm 2016 của Tòa Trọng tài phải được tôn trọng

Các Bộ trưởng Ngoại giao và Quốc phòng của Anh và Australia vừa ra tuyên bố chung tái khẳng định sự phản đối mạnh mẽ đối với các hành động làm gia tăng căng thẳng trên Biển Đông, đồng thời hai nước cũng nhấn mạnh rằng mọi hoạt động trên khu vực biển này phải phù hợp với luật pháp quốc tế.

Ngày hôm nay (21/1), tại Australia đã diễn ra Đối thoại thường niên cấp Bộ trưởng Ngoại giao và Quốc phòng của Anh và Australia.

Tại Hội nghị, các Bộ trưởng của Anh và nước chủ nhà Australia đã ra tuyên bố chung nhấn mạnh rằng mọi quốc gia đều có thể thực hiện các quyền của mình ở Biển Đông phù hợp với Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) năm 1982, bao gồm quyền tự do hàng hải và hàng không. Các bộ trưởng tái khẳng định sự phản đối mạnh mẽ của hai nước đối với các hành động làm gia tăng căng thẳng, bao gồm quân sự hóa các khu vực có tranh chấp, sử dụng lực lượng bảo vệ bờ biển, dân quân biển và các nỗ lực cản trở các nước khác trong khu vực khai thác tài nguyên của mình.

Các quan chức ngoại giao và quốc phòng của Anh và Australia lại một lần nữa nhấn mạnh rằng phán quyết năm 2016 của Tòa Trọng tài liên quan đến các tranh chấp trên Biển Đông là cuối cùng và có giá trị ràng buộc các bên. Mọi quy tắc ứng xử đang được xây dựng để giải quyết các tranh chấp trong khu vực phải phù hợp với luật pháp quốc tế, cụ thể là UNCLOS, không làm phương hại đến quyền hoặc lợi ích của các quốc gia theo luật pháp quốc tế hoặc làm suy yếu cấu trúc khu vực bao trùm hiện có.

Đề cập các tuyên bố chủ quyền trên biển của Trung Quốc và việc gần đây nước này ban hành Luật Hải cảnh và Luật An toàn giao thông trên biển, các Bộ trưởng Anh và Australia cho rằng các tuyên bố chủ quyền trên biển và việc thực hiện luật pháp trong nước của Trung Quốc phải phù hợp với UNCLOS. Trong tuyên bố chung, các Bộ trưởng của Anh và Australia cũng khẳng định hai nước tiếp tục ủng hộ khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương rộng mở, bao trùm và có khả năng phục hồi, trong đó quyền chủ quyền của tất cả các quốc gia được tôn trọng. Hai bên cũng cam kết sẽ tiếp tục hợp tác với các đối tác để đảm bảo khu vực này được củng cố bởi các quy tắc và chuẩn mực, không bị ép buộc, các tranh chấp được giải quyết một cách hòa bình và phù hợp với luật pháp quốc tế.

Cũng tại Hội nghị ngày hôm nay, Australia tuyên bố ủng hộ kế hoạch của Anh để triển khai hai tàu tuần dương HMS Spey và HMS Tamar hiện diện lâu dài tại khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương. Việc triển khai các tàu quân sự nhằm tăng cường hợp tác quốc phòng của Anh với các đối tác trong khu vực.

Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao và Quốc phòng giữa Anh và Australia là sự kiện thường niên. Hội nghị gần đây nhất được tổ chức vào năm 2018 và hội nghị lần tiếp theo sẽ được tổ chức tại Anh vào năm 2023

BDN

Loading

Views: 0

Tình báo Anh phát hiện gián điệp TQ

Cơ quan tình báo Anh tiết lộ gián điệp nước ngoài gây chấn động chính trường Anh.
Bà Christine Lee.

Vào ngày 13/1, The Epoch Times đưa tin, MI5 của Anh đã gửi một lá thư tới các nghị sĩ Anh, trong đó nêu tên bà Lý Trinh Câu (còn gọi là Christine Lee), một luật sư Trung Quốc, cho biết bà đã “bí mật can thiệp vào các hoạt động chính trị” ở Vương quốc Anh thay mặt cho Ban Công tác Mặt trận Thống nhất của ĐCSTQ. Điều này đã gây chấn động chính trường Anh, bởi vì các cơ quan tình báo Anh hiếm khi chỉ đích danh gián điệp nước ngoài trực tiếp, và tiết lộ này càng cho thấy rằng chính sách của Anh đối với Bắc Kinh đang đi theo chính sách của Hoa Kỳ.

Điều này phù hợp với thông điệp mà ông Moore, tổng giám đốc MI6, đưa ra vào cuối tháng 11 năm ngoái. Vào thời điểm đó, ông Moore đưa ra nhận xét hiếm hoi rằng chính phủ Trung Quốc đã quá tự tin và có thể đã đánh giá sai tình hình quốc tế. Ông nói: “Chính phủ Trung Quốc tin tưởng tuyên truyền của họ về sự mong manh của các nước phương Tây và đánh giá thấp quyết tâm của chính phủ Mỹ”. “Việc Trung Quốc đối mặt với nguy cơ đánh giá sai do quá tự tin đã trở thành một sự thật không thể chối cãi”. Ông nói: “Thích ứng với một thế giới bị ảnh hưởng sâu sắc bởi sự trỗi dậy của Trung Quốc là ưu tiên hàng đầu của MI6″.

Ông Moore cũng đề cập đến mong muốn của ĐCSTQ là “giải quyết vấn đề Đài Loan bằng vũ lực nếu cần”, cũng như việc ĐCSTQ từ chối các quyền công dân ở Hồng Kông, sự vi phạm nhân quyền với người Duy Ngô Nhĩ ở Tân Cương, và “nỗ lực bóp méo diễn ngôn của công chúng’ và việc ra quyết định chính trị trên toàn thế giới”.

Là một quan chức cấp cao của Cơ quan MI của Anh, ông Moore hiếm khi công khai đưa ra những nhận xét như trên, điều này cho thấy Vương quốc Anh đã nắm được các chuyển động của ĐCSTQ và sự xâm nhập của nó vào Vương quốc Anh. Đồng thời, ngụ ý rằng nguồn lực chính của bộ phận tình báo Anh đã được tập trung vào việc ứng phó với những thách thức mà ĐCSTQ tạo ra trên thế giới, ý nghĩa chuyển hướng chiến lược của Vương quốc Anh là Vương quốc Anh sẽ không ngồi yên nhìn ĐCSTQ tấn công Đài Loan bằng vũ lực.

Hơn một tháng sau khi gửi một thông điệp rõ ràng như vậy, Cục Tình báo Anh đã vạch trần Lý Trinh Câu, thứ nhất là vì mối quan hệ thân thiết của bà với ĐCSTQ, thứ hai là vì bà có ảnh hưởng đáng kể đối với nền chính trị Anh, đặc biệt là các chính trị gia cấp cao. Việc vạch trần danh tính của bà là để cảnh báo các chính trị Anh hãy tránh xa bà.

Theo báo cáo, bà Lý Trinh Câu không chỉ là thành viên của Hiệp hội giao lưu ở nước ngoài của ĐCSTQ, cố vấn pháp lý chính của Đại sứ quán ĐCSTQ tại London, cố vấn pháp lý của Văn phòng các vấn đề Hoa kiều, mà còn là thư ký Nhóm Trung Quốc đa đảng của Quốc hội Anh. Vào năm 2006, bà đã khởi động cái gọi là “Chương trình tham gia chính trị của người Trung Quốc ở Anh”, và đã nhận được lời khen ngợi từ Phố Downing. Công ty luật của bà, Christine Lee & Co Solicitors có văn phòng tại London, Birmingham và Bắc Kinh. Ngoài ra, bà còn thường xuyên có mặt tại Quốc hội Anh, và đã được xuất hiện trên các phương tiện truyền thông ở Anh cùng với cựu Thủ tướng Anh David Cameron, Theresa May, cựu lãnh đạo Lao động Jeremy Corbyn và Tập Cận Bình.

Bà Lý được cho là có mối quan hệ bất thường nhất với nghị sĩ Đảng Lao động Barry Gardiner. Bà đã quyên góp hàng trăm nghìn bảng Anh để hỗ trợ công việc của ông Gardiner, người là thư ký môi trường dưới thời thủ tướng Tony Blair và từng là thư ký thương mại quốc tế trong nội các của cựu lãnh đạo Đảng Lao động Jeremy Corbyn. Con trai của bà Lý sau đó đã làm việc cho ông Gardiner.

Bắc Kinh không hề bình tĩnh trước những tiết lộ từ tình báo Anh. Tại cuộc họp báo thường kỳ của Bộ Ngoại giao ĐCSTQ vào ngày 14/1, một phát ngôn viên đã hỏi một nhà báo Anh rằng: “Liệu bà Lý có phải thay mặt ĐCSTQ tham gia vào các hoạt động nêu trên không?” “Lý Trinh Câu, người đang là tâm điểm của vòng xoáy quyên góp tiền chính trị, có phải là một công dân Trung Quốc?” “Bà ấy đã từng làm việc cho chính phủ Trung Quốc với tư cách nào chưa?”. Thay vì trả lời, chính phủ Trung Quốc lại dùng thủ đoạn thông thường là liên tục đặt câu hỏi để chống trả, và “kêu gọi các quan chức có liên quan ở Anh không đưa ra những nhận xét thiếu căn cứ, chứ đừng nói đến việc thổi phồng ‘lý thuyết về mối đe dọa của Trung Quốc’ để đạt được các mục tiêu chính trị của riêng họ”.

Cho dù ĐCSTQ có miễn cưỡng thừa nhận điều đó như thế nào đi chăng nữa, thì cũng không thể phủ nhận mối quan hệ thân thiết của bà Lý Trinh Câu với ĐCSTQ. Chúng ta hãy cùng xem thêm một vài báo cáo từ các phương tiện truyền thông của ĐCSTQ để làm bằng chứng.

Vào ngày 23/3/2009, ChinaNews.com đưa tin rằng luật sư Lý Trinh Câu, người vừa trở về Anh từ Trung Quốc, nói với các phóng viên rằng bà rất vinh dự được tham gia phiên họp thứ hai của Hội nghị Hiệp thương Chính trị Nhân dân Trung Quốc lần thứ 11 với tư cách đại diện cho Hoa kiều. Bà tiết lộ, bà và các đại diện hải ngoại được mời ngồi hàng ghế đầu trong hội trường. Cũng trong năm này, lần đầu tiên bà được mời tham gia lễ kỷ niệm 60 năm ngày thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa tại Bắc Kinh.

Vào tháng 4 năm 2011, International Online đưa tin rằng Hứa Hựu Thanh, Phó Giám đốc Văn phòng các vấn đề Hoa kiều của Quốc vụ viện ĐCSTQ, đã gặp bà Lý Trinh Câu tại Bắc Kinh vào ngày 12 tháng 4, “ông đánh giá cao việc bà Lý Trinh Câu tích cực bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của người Trung Quốc trong thời gian dài và nỗ lực thúc đẩy trao đổi giữa Trung Quốc và Vương quốc Anh trong các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, luật pháp và các lĩnh vực khác”. Ông hy vọng rằng bà Lý sẽ giới thiệu thêm nhiều doanh nghiệp công nghệ cao để phát triển ở Trung Quốc và Văn phòng các vấn đề Hoa kiều của Quốc vụ viện sẽ hỗ trợ tích cực. Bà Lý Trinh Câu cho biết, bà sẽ tích cực phát triển kinh doanh tại Trung Quốc. Đồng thời, nhiều công ty của Anh cũng hy vọng vào thị trường Trung Quốc thông qua các mối liên hệ của bà.

Có thông tin cho rằng bà rất coi trọng vai trò là đại sứ quan hệ Trung-Anh và thừa nhận rằng bà đã được Hội đồng Xúc tiến Thương mại Quốc tế Trung Quốc và Cục Thương mại thành phố Bắc Kinh bổ nhiệm làm người đồng tổ chức “Chương trình Kinh doanh London 2012 của các nhà cung cấp Trung Quốc” được tổ chức tại Bắc Kinh vào tháng 5. Bà cũng sắp xếp một phái đoàn gồm các chuyên gia năng lượng của Vương quốc Anh đến Trung Quốc để tìm hiểu các cơ hội kinh doanh trong lĩnh vực chính trị và quy hoạch môi trường của Trung Quốc.

Năm 2013, kênh truyền thông đảng People’s Daily Online của Vương quốc Anh đã bắt đầu mở “chuyên mục Lý Trinh Câu”.

Vào tháng 12 năm 2017, bà Lý Trinh Câu được thuê làm thành viên Ban Cố vấn Pháp lý của Văn phòng các vấn đề Hoa kiều của ĐCSTQ. Tại cuộc họp khai mạc có sự tham dự của Cầu Viên Bình (Qiu Yuanping), Giám đốc Văn phòng các vấn đề Hoa kiều của Quốc vụ viện và Quách Quân (Guo Jun), Phó giám đốc văn phòng, bà Lý đã chia sẻ kinh nghiệm bản thân và kinh nghiệm phục vụ Hoa kiều từ vận động hành lang chính trị, cơ hội kinh doanh “Vành đai và Con đường” và luật pháp. Bà nói rằng mục đích vận động hành lang chính trị của bà là để tác động đến hoạt động lập pháp của Anh và bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của Hoa kiều thông qua công luận. Xin lưu ý rằng, bà Lý Trinh Câu đã tự nhận rằng bà là một nhà vận động hành lang chính trị cho ĐCSTQ.

Trước đó, bà Lý Trinh Câu cũng đã được Văn phòng các vấn đề Hoa kiều của chính quyền thành phố Bắc Kinh và Sở Tư pháp thành phố Bắc Kinh bổ nhiệm làm “Tư vấn pháp lý Bắc Kinh cho Hoa kiều”. Khi tham dự Hội nghị Hiệp thương Chính trị Nhân dân Trung Quốc năm 2012 của Ủy ban Nhân dân tỉnh Quảng Đông, bà Lý cũng đã đề xuất lãnh đạo “các doanh nghiệp vừa và nhỏ vươn ra toàn cầu” với Uông Dương, khi đó là Bí thư Tỉnh ủy Quảng Đông.

Vào ngày 17/12/2018, khi bà Lý Trinh Câu đến Bắc Kinh để tham dự lễ kỷ niệm 40 năm cải cách và mở cửa, theo lời mời của Ban Công tác Mặt trận Thống nhất của Thành ủy Bắc Kinh, bà đã đến thăm Trung tâm Triển lãm Khu kiểu mẫu tự chủ sáng tạo Quốc gia Trung Quan Thôn và Công ty Baidu, và tham gia bữa tối.

Vào ngày 30/9/2019, China News đã phỏng vấn bà Lý Trinh Câu, người vừa được mời tham quan “Triển lãm Thành tựu quy mô lớn để kỷ niệm 70 năm Ngày thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa”. Bà Lý nói rằng đối với bà, đây là một “bài học lịch sử” hiếm hoi về sự phát triển của Trung Quốc, nói rằng “sự phát triển của Trung Quốc đã mang lại phẩm giá và sự tự tin cho người Hoa ở nước ngoài”.

Tờ Times đưa tin, vào năm 2020, khi dự tiệc tại Đại sứ quán Trung Quốc, bà Lý Trinh Câu đã công kích người Anh và các nước phương Tây khác vì họ lên án ĐCSTQ vì đã đàn áp quyền dân chủ và tự do của người dân Hồng Kông. Bà Lý nói với các khách mới vào thời điểm đó rằng các cuộc đụng độ đẫm máu giữa người biểu tình và cảnh sát chống bạo động được báo cáo ở phương Tây, bao gồm cả sự tàn bạo của cảnh sát, “không truyền tải được chính xác bức tranh chân thực”.

Nhìn vào bà Lý Trinh Câu, người có quan hệ chặt chẽ với chính quyền ĐCSTQ, đặc biệt là Văn phòng các vấn đề Hoa kiều và Ban Công tác Mặt trận Thống nhất, bà cũng là người đã tự nhận mình vận động hành lang và bảo vệ ĐCSTQ, bạn có thể thấy tại sao người phát ngôn của Bộ Ngoại giao đã tránh trả lời các câu hỏi và việc trao đổi lợi ích trong đó chắc chắn được ĐCSTQ và bà Lý Trinh Câu biết rõ.

Vào ngày 24/8/2018, Ủy ban Đánh giá Kinh tế và An ninh Hoa Kỳ – Trung Quốc (USCC) thuộc Quốc hội Hoa Kỳ đã đưa ra báo cáo về “Công tác Mặt trận Thống nhất ở nước ngoài của Trung Quốc”, nói rằng Công tác Mặt trận Thống nhất của ĐCSTQ đang đóng một vai trò ngày càng lớn trong chính sách đối ngoại của nước này và ĐCSTQ đang sử dụng hoạt động của “Mặt trận thống nhất” để lôi kéo và loại bỏ các lực lượng có thể chống lại các chính sách của ĐCSTQ và chính quyền của nó.

Báo cáo tiết lộ rằng mặc dù Ban Công tác Mặt trận Thống nhất của ĐCSTQ, cơ quan phụ trách công tác Mặt trận Thống nhất, chủ yếu tập trung vào các nhóm đối lập trong nước, nhưng nó cũng có những nhiệm vụ quan trọng ở nước ngoài. Chiến lược Mặt trận Thống nhất sử dụng nhiều phương pháp khác nhau để tác động đến cộng đồng người Hoa ở nước ngoài, chính phủ nước ngoài và các bên khác nhằm hành động hoặc áp dụng các lập trường ủng hộ các chính sách ưu tiên của Bắc Kinh. ĐCSTQ coi hoạt động của Mặt trận Thống nhất là một công cụ quan trọng để tăng cường sự ủng hộ trong nước và quốc tế đối với đảng, tận dụng sự đồng cảm về mặt tư tưởng và tình cảm cá nhân đối với Trung Quốc để cung cấp hỗ trợ tài chính cho các nhóm chủ chốt. Và bà Lý Trinh Câu hẳn phải làm việc cho ĐCSTQ sau khi thống nhất với mặt trận.

Ngay sau khi danh tính của bà Lý Trinh Câu bị Cục Tình báo Anh tiết lộ, con trai của bà, người làm việc cho một thành viên quốc hội đã từ chức, và văn phòng Công ty Luật của bà Lý Trinh Câu ở London đã trống không. Nếu không phải chột dạ, thì phải giải trình như thế nào? Tất nhiên, chính quyền Bắc Kinh là người khó chịu nhất, vì họ không chỉ mất đi một người trợ giúp quan trọng ở Anh, mà việc đảo ngược chính sách của Anh còn khiến nước này bị giáng thêm một đòn nữa. Thế giới đang thực sự thay đổi, và mọi người đồng thuận rằng ĐCSTQ là mối đe dọa lớn nhất đối với thế giới và là ưu tiên hàng đầu. Điều này đang khiến ngày càng nhiều quốc gia đoàn kết để đối phó với những thách thức của ĐCSTQ, và ĐCSTQ cô độc chỉ có thể chờ nhận lấy thất bại.

BDN

Loading

Views: 0

Điểm mặt loạt vũ khí vừa được TQ điều lên Tân Cương

Quân khu Tân Cương của Trung Quốc những ngày gần đây đã tiếp nhận một loạt trang thiết bị quân sự mới.
Xe chở tên lửa phòng không HQ-17A.

Tờ Thời báo Hoàn Cầu cho biết, một trung đoàn thuộc biên chế Quân khu Tân Cương, Trung Quốc gần đây đã cử hành buổi lễ tiếp nhận một loạt khí tài quân sự mới. Những khí tài mới gồm có hệ thống tên lửa phòng không HQ-17A, lựu pháo PCL-181 và hệ thống pháo phản lực đa nòng PHL-11.

Hệ thống tên lửa phòng không HQ-17A

HQ-17A (Hồng Kỳ 17) là tên lửa đất đối không tầm ngắn được Trung Quốc đưa vào biên chế trong quân đội từ năm 2015.

Theo thông tin được giới quân sự Trung Quốc công bố, mỗi tên lửa của HQ-17A nặng 165kg, trong đó đầu tên lửa nặng 15kg thuộc dạng HE-FRAG (Đạn nổ mạnh văng mảnh); dài 2,9m; đường kính 0,23m. Tầm bắn nằm trong khoảng 1,5-15km. Vận tốc bay tối đa HQ-17A có thể đạt Mach 3, tương đương 1 km/giây.

Pháo PCL-181

PCL-181 là lựu pháo đặt trên xe bánh lốp được Trung Quốc chế tạo và đưa vào biên chế quân đội từ năm 2019. PCL-181 có tổng trọng lượng 25 tấn (gồm cả pháo lẫn xe tải); dài 5,5m tính cả nòng, rộng 2,66m, cao 3,6m.

Khả năng nâng góc nòng của PCL-181 nằm trong khoảng 20 đến 60 độ, và kíp vận hành sẽ cần 6 binh sĩ. Tốc độ bắn tối đa đạt 4-6 phát/phút. Pháo sử dụng loại đạn cỡ 155mm với cơ số 52 viên. Tầm bắn của PCL-181 lần lượt đạt 40km với đạn thông thường, và 72km với loại đạn tăng tầm.

Pháo phản lực đa nòng PHL-11

PHL-11 là hệ thống pháo phản lực đa nòng được Tập đoàn công nghiệp phương Bắc (Norinco) nghiên cứu và đưa vào biên chế trong quân đội Trung Quốc từ năm 2013. PHL-11 có tổng trọng lượng 20 tấn; chiều dài 9,5m; chiều rộng 3,6m; cao 2,2m. Kíp chiến đấu gồm 3 người.

PHL-11 có tầm bắn thấp nhất và xa nhất lần lượt ở các cự ly 20km và 50km. Pháo có tốc độ bắn 40 đạn rocket trong vòng 30 giây, nhờ vậy có thể khai hỏa về phía mục tiêu một cách nhanh chóng và rút lui trước khi đối phương kịp đáp trả.

Khung gầm tiêu chuẩn PHL-11 là xe tải việt dã Shaanxi SX2190KA sử dụng động cơ diesel có công suất 350 mã lực, tốc độ cao nhất mà xe đạt được trên địa hình bằng phẳng là 90 km/h, tầm hoạt động 600 km.

Thời báo Hoàn Cầu dẫn lời giới phân tích quân sự nhận định, những loại vũ khí mới trên có thể tăng cường sức chiến đấu của binh sĩ Trung Quốc trong việc đối phó với kẻ thù trong nhiều tình huống khẩn cấp.

BDN

Loading

Views: 0

Thương mại Việt – Mỹ vượt 110 tỷ USD

Năm 2021, xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và Mỹ đạt 111,56 tỷ USD, tăng gần 21 tỷ USD so với năm 2020.
Gỗ và sản phẩm gỗ là một trong 13 nhóm hàng xuất khẩu sang Mỹ đạt kim ngạch trên 1 tỷ USD trong năm 2021.

Theo thông tin Tổng cục Hải quan vừa công bố, năm 2021, xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và Mỹ đạt 111,56 tỷ USD, tăng gần 21 tỷ USD so với năm 2020, với mức thực hiện này, Mỹ là đối tác thương mại thứ hai đạt được mốc trên 100 tỷ USD, sau Trung Quốc.

Năm qua, xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ đạt 96,29 tỷ USD, tăng 24,9% so với năm 2020. Nền kinh tế lớn nhất thế giới tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam khi chiếm đến 28,6% kim ngạch xuất khẩu.

Năm 2021, có tới 13 nhóm hàng xuất khẩu sang Mỹ đạt kim ngạch từ 1 tỷ USD trở lên, trong đó có 3 nhóm đạt hơn 10 tỷ USD.

Nhóm hàng xuất khẩu đạt kim ngạch lớn nhất là máy móc, thiết bị với 17,82 tỷ USD, tiếp đến dệt may 16,1 tỷ USD, máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện đạt 12,76 tỷ USD.

Mỹ cũng là thị trường nhập khẩu nhiều tỷ USD gỗ, nông thủy sản từ Việt Nam, trong đó, xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ sang thị trường này đạt 8,77 tỷ USD, thủy sản hơn 2 tỷ USD, hạt điều hơn 1 tỷ USD.

Chiều ngược lại, năm ngoái Việt Nam chi 15,27 tỷ USD nhập khẩu hàng hóa từ Mỹ, tăng 11,4% so với năm 2020 và chiếm 4,6% kim ngạch cả nước.

2 nhóm hàng nhập khẩu có kim ngạch 1 tỷ USD trở lên là máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện đạt 4,79 tỷ USD; bông 1,17 tỷ USD. Ngoài ra, nhóm hàng máy móc, thiết bị cũng đạt kim ngạch xấp xỉ 1 tỷ USD (992 triệu USD).

Đầu tư và thương mại Việt – Mỹ vẫn sôi động bất chấp tác động tiêu cực của dịch Covid-19 kéo dài suốt 2 năm 2020-2021. Đai biện lâm thời Đại sứ quán Mỹ tại Việt Nam, bà Marie Damour nhấn mạnh tại Diễn đàn Thương mại Việt – Mỹ do Bộ Công thương phối hợp với Phòng Thương mại Mỹ tại Hà Nội (Amcham) hồi cuối năm ngoái rằng, với các lĩnh vực hợp tác đầu tư đa dạng, từ y tế, năng lượng, giáo dục… doanh nghiệp Việt – Mỹ đang duy trì đà phát triển mạnh mẽ kể cả trong đại dịch với các cột mốc quan trọng.

Các nhà đầu tư Mỹ đầu tư vào hơn 20 lĩnh vực kinh tế, đứng thứ 11 trong số các nhà đầu tư hàng đầu vào Việt Nam. Mỹ có 1.134 dự án còn hiệu lực tại Việt Nam với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt 10 tỷ USD. Hầu hết các Tập đoàn lớn nhất của Hoa Kỳ đều đã có mặt tại Việt Nam như Exxon Mobil, Murphy Oil, Chevron, Boeing, Ford, Intel, Wal-Mart, Nike, Amazon và P&G…

Các tập đoàn, doanh nghiệp lớn của Mỹ đều khẳng định vai trò quan trọng của Việt Nam trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Thời điểm tháng 8/2021, khi Việt Nam đang chịu tác động nặng nề của dịch Covid-19, 90 CEO các nhãn hàng hàng đầu của Mỹ như Adidas, Coach, Gap, Hanebrands, Nike, VF, Under Amour… đã kêu gọi Tổng thống Mỹ tăng viện trợ vaccine cho Việt N.

Do tính liên thông trong chuỗi giá trị, ngành sản xuất của Việt Nam trong vai trò cung ứng quan trọng với các ngành sản xuất dệt may, giày dép Mỹ.

Thương vụ Việt Nam tại Mỹ đánh giá, Mỹ là thị trường nhập khẩu lớn nhất thế giới với sức mua cao, đồng thời là thị trường có xu hướng tăng cả về giá cũng như quy mô; môi trường chính sách, quan hệ Việt – Mỹ đang có nhiều thuận lợi; nhu cầu và tập quán tiêu dùng phong phú theo thu nhập, tạo nên dư địa lớn cho các doanh nghiệp Việt Nam khai thác có hiệu quả.

BDN

Loading

Views: 0

Việt Nam ủng hộ Campuchia trong vai trò Chủ tịch ASEAN năm 2022

Nhận lời mời của Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao và Hợp tác quốc tế Campuchia Prak Sokhonn, Bộ trưởng Ngoại giao Bùi Thanh Sơn đã thăm chính thức Campuchia từ 19-20/1.

Bộ trưởng Ngoại giao Bùi Thanh Sơn và Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao và Hợp tác quốc tế Campuchia Prak Sokh.

Sáng 20/1, Bộ trưởng Bùi Thanh Sơn đã có cuộc hội đàm với Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Prak Sokhonn.

Tại cuộc hội đàm, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Prak Sokhonn nhiệt liệt chào mừng Bộ trưởng Bùi Thanh Sơn sang thăm chính thức Campuchia, là hoạt động đối ngoại song phương đầu tiên giữa hai nước trong “Năm Hữu nghị Việt Nam-Campuchia 2022”, năm hai nước kỷ niệm 55 năm Ngày thiết lập quan hệ Ngoại giao (24/6/1967 – 24/6/2022).

Bộ trưởng Bùi Thanh Sơn cảm ơn Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Campuchia về sự đón tiếp trọng thị và khẳng định sẽ nỗ lực góp phần không ngừng củng cố và phát triển mối quan hệ “láng giềng tốt đẹp, hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện, bền vững lâu dài” giữa Việt Nam – Campuchia.

Hai Bộ trưởng vui mừng nhận thấy quan hệ hợp tác giữa các bộ, ngành, địa phương và nhân dân hai nước đang tiếp tục phát triển tích cực. Tuy gặp nhiều khó khăn do dịch bệnh, nhưng hai bên vẫn duy trì trao đổi đoàn và tiếp xúc cấp cao, cũng như ở các cấp dưới nhiều hình thức linh hoạt.

Các cơ chế hợp tác song phương, nhất là các cơ chế quan trọng như Ủy ban hỗn hợp Việt Nam-Campuchia về Hợp tác Kinh tế, Văn hóa, Khoa học và Kỹ thuật hay Hội nghị Hợp tác và Phát triển các tỉnh biên giới Việt Nam-Campuchia được duy trì đều đặn và tiếp tục phát huy hiệu quả tích cực.

Đặc biệt, kim ngạch thương mại hai chiều năm 2021 ước đạt gần 10 tỷ USD, tăng khoảng 80% so với cùng kỳ năm 2020. Trong năm 2021 có thêm 4 dự án mới của Việt Nam đầu tư sang Campuchia với vốn đăng ký 88,936 triệu USD, đưa tổng số dự án đầu tư của Việt Nam còn hiệu lực tại Campuchia lên 188 dự án, với tổng số vốn đăng ký đạt 2,846 tỷ USD, qua đó duy trì vị trí là 1 trong 5 quốc gia, lãnh thổ đầu tư lớn nhất vào Campuchia.

Hai nước cũng hỗ trợ lẫn nhau kịp thời, hiệu quả trong công tác phòng chống dịch Covid-19, đồng thời đã nối lại đường bay thương mại trực tiếp, giúp tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư và du lịch song phương.

Để góp phần tiếp tục củng cố và phát triển quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa Việt Nam-Campuchia, hai bên nhất trí tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành liên quan để triển khai hiệu quả các hiệp định và thỏa thuận giữa hai nước, trong đó có các kết quả quan trọng đạt được trong chuyến thăm cấp Nhà nước tới Campuchia vừa qua của Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc; chuẩn bị phục vụ tốt các chuyến thăm của Lãnh đạo cấp cao hai nước trong Năm Hữu nghị Việt Nam-Campuchia 2022, cũng như phối hợp với các bộ, ngành và địa phương liên quan của hai bên tổ chức tốt các hoạt động kỷ niệm nhân dịp này để tuyên truyền sâu rộng về mối quan hệ hữu nghị giữa hai nước.

Hai bên cũng nhất trí cùng các cơ quan liên quan của hai nước tiếp tục triển khai hiệu quả Biên bản Thỏa thuận của Kỳ họp lần thứ 19 Ủy ban Hỗn hợp Việt Nam-Campuchia, giúp không ngừng tăng cường quan hệ hợp tác song phương trên tất cả các lĩnh vực an ninh, quốc phòng, kinh tế, thương mại, đầu tư, giáo dục đào tạo, văn hóa, du lịch, khoa học và kỹ thuật.

Hai Bộ trưởng nhất trí tăng cường phối hợp, tích cực triển khai thỏa thuận của Lãnh đạo cấp cao hai nước đối với công tác phân giới cắm mốc biên giới trên đất liền Việt Nam-Campuchia, trong đó tổ chức thực hiện hiệu quả hai văn kiện pháp lý ký năm 2019 và tổ chức quản lý tốt khoảng 84% đã hoàn thành phân giới cắm mốc; tiếp tục tiến hành đàm phán phân giới cắm mốc 16% còn lại.

Bộ trưởng Bùi Thanh Sơn cũng bày tỏ cảm ơn và đề nghị phía Campuchia tiếp tục phối hợp giải quyết vấn đề giấy tờ pháp lý cho người gốc Việt ở Campuchia, cũng như giải quyết các vấn đề phát sinh khác trên tinh thần hữu nghị và hợp tác.

Bộ trưởng Ngoại giao Bùi Thanh Sơn hội đàm với Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao và Hợp tác quốc tế Campuchia Prak Sokh.

Hai bên đánh giá cao hợp tác tốt đẹp giữa Việt Nam và Campuchia tại các diễn đàn khu vực và quốc tế; khẳng định tầm quan trọng của việc củng cố đoàn kết, đồng thuận, uy tín và vai trò trung tâm của ASEAN; nhất trí tăng cường phối hợp trong khuôn khổ hợp tác Tiểu vùng Mekong và Tam giác phát triển Campuchia-Lào-Việt Nam nhằm thúc đẩy kết nối kinh tế, thu hẹp khoảng cách phát triển, quản lý và sử dụng bền vững nguồn nước sông Mekongg.

Bộ trưởng Ngoại giao Bùi Thanh Sơn khẳng định Việt Nam ủng hộ Campuchia trong vai trò Chủ tịch ASEAN năm 2022, sẵn sàng cùng Campuchia và các nước ASEAN khác thúc đẩy triển khai các chương trình nghị sự của ASEAN, trong đó có thúc đẩy thực hiện đồng thuận 5 điểm của ASEAN về Myanmar.

Về vấn đề Biển Đông, Bộ trưởng Bùi Thanh Sơn khẳng định tầm quan trọng của việc giữ gìn hòa bình, an ninh, ổn định ở khu vực, bảo đảm tự do và an toàn hàng hải, hàng không; giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế và Công ước Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982), thúc đẩy đàm phán và phấn đấu đạt COC hiệu quả, thực chất và phù hợp với luật pháp quốc tế, trong đó có UNCLOS 1982.

Hai bên cũng nhất trí triển khai định kỳ các cơ chế trao đổi, hợp tác giữa hai Bộ Ngoại giao nhằm tăng cường chia sẻ thông tin và phối hợp công tác; đồng thời tăng cường hợp tác đào tạo, sớm ký Bản ghi nhớ hợp tác giữa Học viện Ngoại giao Việt Nam và Viện Ngoại giao và Quan hệ quốc tế Campuchia.

Nhân dịp này, Bộ trưởng Bùi Thanh Sơn trân trọng đề nghị Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Prak Sokhonn giúp chuyển lời thăm hỏi và lời mời của Lãnh đạo cấp cao Việt Nam mời Quốc vương Norodom Sihamoni, Chủ tịch Thượng viện Say Chhum, Chủ tịch Quốc hội Heng Samrin và Thủ tướng Hun Sen sang thăm chính thức Việt Nam trong năm 2022 – “Năm Hữu nghị Việt Nam-Campuchia”; đồng thời trân trọng mời Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao và Hợp tác quốc tế Prak Sokhonn sang thăm Việt Nam. Ngài Prak Sokhonn đã cảm ơn và vui vẻ nhận lời.

TG&VN

Loading

Views: 0

Mỹ bác bỏ “các quyền lịch sử” và “chủ quyền” của TQ với hơn 100 thực thể ở vùng biển này

Vừa qua, Bộ Ngoại giao Mỹ công bố báo cáo “Limits in the Seas” (Giới hạn trên các vùng biển) bác bỏ yêu sách chủ quyền của Trung Quốc ở Biển Đông. Báo cáo phủ định cái gọi là “các quyền lịch sử” và “chủ quyền” của Trung Quốc với hơn 100 thực thể ở vùng biển này.

Dựa trên Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 và phán quyết của Toà trọng tài quốc tế ở The Hague (Hà Lan) năm 2016 trong vụ kiện giữa Trung Quốc và Philippines, báo cáo của Bộ Ngoại giao Mỹ khẳng định các yêu sách của Bắc Kinh ở Biển Đông “phá ngoại nghiêm trọng quy tắc của luật biển”.

Bắc Kinh tuyên bố rằng họ có “quyền lịch sử” với hơn 80% diện tích Biển Đông, phần diện tích này được bao trong một “đường 9 đoạn” do họ tự vẽ ra.
Báo cáo của Bộ Ngoại giao Mỹ viết rằng không có điều khoản nào của UNCLOS có thuật ngữ “quyền lịch sử”, cũng như không có cách hiểu được thống nhất về thuật ngữ này trong luật pháp quốc tế.

Báo cáo nói rằng, bất kỳ yêu sách nào đối với các quyền như vậy sẽ cần phải tuân theo các quy định của UNCLOS, bao gồm cả đối với các khu vực vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa và vùng biển.

Bên cạnh đó, báo cáo cũng bác bỏ các tuyên bố chủ quyền của chính quyền Trung Quốc đối với hơn 100 thực thể ở Biển Đông là bãi đá chìm dưới mặt nước khi thuỷ triều dâng.

Báo cáo chỉ ra rằng tình trạng pháp lý của bất kỳ thực thể địa lý nào phải được xác định dựa trên “trạng thái tự nhiên” của nó chứ không phải là thông qua việc nạo vét, xây dựng đảo nhân tạo như Trung Quốc đã làm ở quần đảo Trường Sa trong thời gian qua.

Báo cáo khẳng định việc cải tạo đất hoặc tiến hành các hoạt động nhân tạo khác làm thay đổi trạng thái tự nhiên của thực thể khi thuỷ triều lên xuống không thể biến thực thể đó thành đảo.

Vào tháng 7 năm ngoái, chính quyền Biden đã tán thành quyết định của chính quyền tiền nhiệm rằng các yêu sách hàng hải của Trung Quốc ở Biển Đông là trái với luật pháp quốc tế. Chính quyền ông Biden tuyên bố sẽ dùng biện pháp quân sự nếu Trung Quốc tấn công bất kỳ tàu hoặc máy bay nào của Philippines trong khu vực biển tranh chấp ở Biển Đông.

BDN

Loading

Views: 0

Ý đồ của Mỹ khi đưa đội tàu mạnh nhất tới gần TQ

Sự xuất hiện của tàu ngầm hạt nhân USS Nevada ở đảo Guam được cho là gửi thông điệp tới các đối thủ về năng lực vượt trội của Mỹ, giữa lúc căng thẳng leo thang ở Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương.
Tàu ngầm USS Nevada của Mỹ đến Guam hôm 15/1.

USS Nevada, tàu ngầm chạy bằng năng lượng hạt nhân lớp Ohio của Hải quân Mỹ, hôm 15/1 đã cập cảng ở đảo Guam. Đây là chuyến thăm đầu tiên tới đảo Guam của tàu ngầm này kể từ năm 2016 và cũng là chuyến thăm thứ hai kể từ những năm 1980.

“Chuyến thăm nhằm củng cố hợp tác giữa Mỹ và các đồng minh ở khu vực, thể hiện năng lực, sự linh hoạt, sự sẵn sàng và cam kết vững chắc của Mỹ đối với an ninh và ổn định của khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương”, thông cáo của Hải quân Mỹ cho biết.

Tàu ngầm hạt nhân USS Nevada được coi là một trong những vũ khí uy lực nhất của Hải quân Mỹ. Con tàu có thể mang 20 tên lửa đạn đạo Trident, hàng chục đầu đạn hạt nhân. Tàu chạy bằng năng lượng hạt nhân, cho phép nó hoạt động liên tục nhiều tháng dưới biển mà không cần nạp năng lượng. Trung bình, mỗi tàu ngầm hạt nhân lớp Ohio có thể hoạt động dưới biển 77 ngày với thủy thủ đoàn khoảng hơn 150 người.

Lịch trình của các tàu ngầm hạt nhân trong hạm đội của Hải quân Mỹ thường được giữ bí mật. Sự bí mật xung quanh các tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo khiến chúng trở thành “thành phần quan trọng nhất trong bộ ba hạt nhân” của Mỹ, bao gồm các tên lửa đạn đạo phóng từ đất liền và các máy bay ném bom có khả năng mang hạt nhân như B-2 và B-52.

Các nhà phân tích cho rằng, trong bối cảnh căng thẳng leo thang giữa Mỹ và Trung Quốc về vấn đề Đài Loan, cùng với việc Triều Tiên tăng cường các vụ phóng thử tên lửa gần đây, Washington đã công khai hoạt động của tàu ngầm hạt nhân ở Guam – điều mà cả Bắc Kinh và Bình Nhưỡng đều không thể lường trước.

“Động thái (của Mỹ) gửi một thông điệp rằng, dù có chủ ý hay không, chúng tôi có thể đặt hơn 100 đầu đạn hạt nhân trước cửa ngõ của bạn mà bạn thậm chí còn không biết hoặc không thể hành động gì”, Thomas Shugart, nhà phân tích tại Trung tâm An ninh Mỹ mới, cho biết.

Chương trình tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo của Triều Tiên vẫn đang trong giai đoạn sơ khai, trong khi hạm đội tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo ước tính gồm 6 chiếc của Trung Quốc vẫn “lép vế” so với Mỹ. Theo phân tích vào năm 2021 của các chuyên gia tại Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế, các tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo của Trung Quốc không có năng lực như các tàu của Mỹ. Tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo Type 094 của Trung Quốc gây tiếng ồn gấp đôi so với tàu ngầm của Mỹ, do vậy dễ bị phát hiện hơn. Ngoài ra, tàu này cũng mang số lượng tên lửa và đầu đạn ít hơn.

Giáo sư Alessio Patalano tại Đại học King ở London, cho biết bên cạnh thông điệp chính trị, sự hiện diện của USS Nevada trong khu vực còn cho thấy một ý nghĩa khác.

“Sự hiện diện của loại tàu này, nhất là trong các cuộc huấn luyện và tập trận, tạo thêm cơ hội quan trọng để học cách bắt sóng tàu của các nước khác trong khu vực. Triều Tiên đang nỗ lực chế tạo loại tàu như vậy, còn Trung Quốc đã đưa một số tàu vào hoạt động. Việc (Mỹ) trau dồi các kỹ năng để săn tìm tàu nước khác cũng quan trọng không kém việc triển khai chúng như một biện pháp răn đe chiến lược”, chuyên gia Patalano nói.

Lần gần đây nhất một tàu ngầm hạt nhân Mỹ thăm Guam là vào năm 2016, với chuyến thăm của tàu USS Pennsylvania.

Các nhà phân tích cho rằng, căng thẳng trên khắp khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương đã gia tăng đáng kể từ thời điểm đó và Washington sẽ còn có thêm nhiều màn phô diễn sức mạnh quân sự như vậy trong môi trường hiện nay.

BDN

Loading

Views: 0

Tàu ngầm mang tên lửa hạt nhân Mỹ đến đảo Guam

Đây là chuyến thăm đầu tiên của một tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo đến Guam kể từ năm 2016 và là chuyến thăm thứ 2 được công bố kể từ thập niên 1980.
Tàu ngầm USS Nevada (lớp Ohio) đến đảo Guam ngày 15.1

Một trong những vũ khí mạnh mẽ nhất của Hải quân Mỹ vừa có chuyến thăm hiếm hoi đến đảo Guam, gửi thông điệp đến các đồng minh cũng như đối phương giữa bối cảnh cạnh tranh ảnh hưởng gia tăng ở Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương (Indo-Pacific).

Thông tin trên được Đài CNN dẫn lời giới phân tích cho hay vào ngày 17.1. Theo đó, tàu ngầm USS Nevada (lớp Ohio) chạy bằng năng lượng hạt nhân, mang theo 20 tên lửa đạn đạo Trident và hàng chục đầu đạn hạt nhân đã đến căn cứ Hải quân Mỹ ở đảo Guam vào ngày 15.1.

Đây là chuyến thăm đầu tiên của một tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo đến Guam kể từ năm 2016 và là chuyến thăm thứ 2 được công bố kể từ thập niên 1980.

“Chuyến thăm cảng củng cố hợp tác giữa Mỹ và các đồng minh trong khu vực, thể hiện năng lực, sự linh hoạt, sẵn sàng và cam kết tiếp tục đối với an ninh và ổn định trong khu vực Indo-Pacific”, theo thông cáo của Hải quân Mỹ.

BDN

Loading

Views: 0

Thái Lan đầu tư 413 triệu USD cho máy bay chiến đấu

Nội các Thái Lan mới đây phê chuẩn kế hoạch mua 4 chiến đấu cơ, với ngân sách dành cho kế hoạch mua sắm này lên tới 13,8 tỉ baht (hơn 413 triệu USD).

Nội các Thái Lan phê chuẩn ngân sách cho việc mua 4 chiến đấu cơ nói trên trong thời hạn 4 năm, bắt đầu từ tài khóa 2023, để thay thế một số chiếc trong phi đội F-16 đang lão hóa của nước này, theo Reuters ngày 12.1 dẫn lời phát ngôn viên không quân Thái Lan Prapas Sornchaidee.

Thái Lan hiện có 12 chiến đấu cơ JAS-39 Gripen do công ty Saab (Thụy Điển) sản xuất và hàng chục chiếc F-16 và F-5 do Mỹ chế tạo, trong đó có vài chiếc hoạt động từ cuối thập niên 1980.
Việc phê chuẩn kế hoạch mua chiến đấu cơ nói trên diễn ra không lâu sau khi chỉ huy Không quân Thái Lan Napadej Dhupatemiya bày tỏ mong muốn mua 8 chiến đấu cơ tàng hình F-35 từ tập đoàn quốc phòng Mỹ Lockheed Martin, sau khi giá của loại chiến đấu cơ này giảm.

Chiếc F-35A đầu tiên có giá 221 triệu USD trong năm 2007, nhưng khi sản lượng gia tăng, giá giảm xuống còn 79 triệu USD/chiếc, kể từ tháng 7.2021, theo Reuters. Đến khi đó, Lockheed Martin đã có khách hàng mua F-35 ở hơn 12 quốc gia.

Phát ngôn viên Prapas cho hay loại chiến đấu cơ Thái Lan định mua sẽ được quyết định bởi hai ủy ban được giao nhiệm vụ đánh giá về sự phù hợp của các loại máy bay khác nhau đối với nước này.

BDN

Loading

Views: 0

China droht die Überalterung der Bevölkerung

Die Chinesen bringen immer weniger Babys zur Welt – und das trotz Lockerung der Ein-Kind-Politik. Der Rückgang der Geburtenrate könnte auch zur Gefahr für die Wirtschaft werden.

Chinas Bevölkerung ist 2021 erneut nur noch sehr langsam gewachsen. Wie das Pekinger Statistikamt berichtete, wuchs die chinesische Bevölkerung im abgelaufenen Jahr um 480.000 Menschen. Die Gesamtbevölkerung wurde mit 1,4 Milliarden angegeben. Die Zahl der Geburten ging damit erneut drastisch um 11,5 Prozent auf 10,62 Millionen zurück. Damit liegt auch die Geburtenrate im bevölkerungsreichsten Land so niedrig wie seit mindestens 1978 nicht mehr.

Das Statistikamt gab unter anderem die Corona-Pandemie als Ursache für den erneuten Rückgang bei Geburten an. Doch auch die Gewohnheiten von Frauen hätten sich verändert. Experten weisen schon lange auf die hohen Kosten für Wohnraum, Ausbildung und Gesundheit sowie die schwindende Bereitschaft zur Heirat hin.

Chinesen werden weniger

Die Prognosen für die Demografie in China sehen nicht rosig aus. Offensichtlich altere die chinesische Bevölkerung schneller als erwartet, sagte der Ökonom Zhiwei Zhang von Pinpoint Asset Management zu den Daten. „Das deutet darauf hin, dass Chinas Gesamtbevölkerung 2021 ihren Höchststand erreicht haben könnte.“

Es gibt auch weitere Signale für kommende Probleme. Chinas Wirtschaft ist vergangenes Jahr zwar noch stark gewachsen – um 8,1 Prozent gegenüber dem Krisenjahr 2020 -, doch das Wachstum hat sich zum Jahresende deutlich verlangsamt. Dabei werden auch die Folgen der Bevölkerungsentwicklung kritisch gesehen. Obwohl die Behörden 2016 die Ein-Kind-Politik gelockert hatten, und es Paaren vergangenes Jahr sogar erlaubten, drei Kinder zu bekommen, haben die Änderungen keinen Babyboom ausgelöst. In der chinesischen Führung mehren sich die Sorgen vor einer Überalterung des Gesellschaft sowie eines Arbeitskräftemangels.

dw.com

Loading

Views: 0

Tàu sân bay và tàu tấn công đổ bộ của Mỹ vào Biển Đông

Tàu sân bay USS Carl Vinson mang theo tiêm kích tàng hình F-35C cùng tàu tấn công đổ bộ USS Essex và các khu trục hạm hộ tống đã tiến vào phía nam Biển Đông. Hai nhóm tàu dự kiến sẽ hội quân và tập trận tại khu vực trong vài ngày tới.

Tổ chức “Sáng kiến theo dõi tình hình chiến lược Biển Đông” (SCSPI), một tổ chức nghiên cứu của Trung Quốc, cho biết hai nhóm tàu chiến Mỹ tiến vào Biển Đông tối 11-1 từ hai hướng khác nhau.

Hải quân Mỹ vẫn chưa công bố kế hoạch của hai nhóm tàu trên nhưng theo báo South China Morning Post, các tàu sân bay và tàu tấn công đổ bộ của Mỹ sẽ hội quân và có các hoạt động chung trong thời gian trên Biển Đông.

Dựa trên tín hiệu AIS và các thông tin tình báo mở (ONI), SCSPI cho biết nhóm tàu USS Essex gồm tàu đổ bộ 40.000 tấn cùng tên, các tàu đổ bộ USS Portland và USS Pearl Habor. Nhóm này được hai tàu khu trục USS O’Kane và USS Michael Murphy hộ tống tiến vào Biển Đông qua eo biển Malacca.

Tàu sân bay USS Carl Vinson thì tiến vào Biển Đông từ phía đông sau thời gian hoạt động trên biển Philippines.

Hình ảnh được Hải quân Mỹ công bố ngày 12-1 cho thấy sau khi vào khu vực, tàu sân bay Mỹ đã tiến hành một số hoạt động vào ban ngày và ban đêm.

Nếu hai nhóm tàu này gặp nhau, đây sẽ là lần Mỹ tập trung nhiều tàu đổ bộ nhất tại Biển Đông trong vài năm trở lại đây.

Động thái diễn ra không lâu sau khi tàu sân bay Sơn Đông của Trung Quốc tiến xuống Biển Đông “diễn tập định hướng chiến đấu thực tế” vào cuối tháng 12 năm ngoái.

Cùng thời gian này, tàu sân bay Liêu Ninh cũng băng qua eo biển nằm giữa các đảo do Nhật kiểm soát để tiến ra tây Thái Bình Dương. Hình ảnh do phía Trung Quốc công bố cho thấy tàu sân bay trực thăng JS Izumo của Nhật xuất hiện gần nhóm tàu Liêu Ninh như đang giám sát.

Hồi tháng 7-2020 và tháng 2-2021, hai nhóm tàu sân bay Mỹ đã hội quân và phô diễn sức mạnh trên Biển Đông vào thời điểm căng thẳng dâng cao vì các hoạt động tập trận của Trung Quốc.

USS Carl Vinson không xa lạ với Biển Đông và đã từng nhiều lần đi vào khu vực, bao gồm lần tập trận chống tàu ngầm chung với tàu sân bay trực thăng JS Kaga của Nhật vào tháng 11 năm ngoái.

Theo SCMP, chỉ còn 3 tuần nữa là tới Thế vận hội mùa đông Bắc Kinh và Tết Nguyên đán nên Trung Quốc dường như đang hy vọng sẽ không có căng thẳng quân sự tại khu vực Biển Đông.

Bắc Kinh luôn đổ lỗi cho những căng thẳng ở khu vực là do các nước bên ngoài như Mỹ đưa tàu chiến đến.

Đáp trả luận điệu này, Washington và nhiều nước tuyên bố đảm bảo tự do hàng hải ở Biển Đông là vấn đề quan trọng, nằm trong lợi ích của các nước vì đây là nơi tập trung nhiều tuyến giao thương quốc tế.

BDN

Loading

Views: 0

Những điều mới trong báo cáo mới nhất của Mỹ về Biển Đông?

Báo cáo mới của một văn phòng thuộc Bộ Ngoại giao Mỹ phản ánh quan điểm của Chính phủ Mỹ và bác bỏ rộng hơn, cụ thể hơn những yêu sách phi lý của Trung Quốc trên Biển Đông so với báo cáo cách đây hơn 7 năm.

Trong báo cáo số 143 công bố tháng 12-2014, phía Mỹ chỉ đặt câu hỏi về tính hợp pháp của “đường 9 đoạn” mà Trung Quốc đưa ra vào năm 2009 và yêu cầu Bắc Kinh làm rõ “đường 9 đoạn” này dựa trên cơ sở pháp lý nào.

Báo cáo số 150 công bố ngày 12-1-2022 là sự tiếp nối báo cáo 143, với cơ sở lập luận vững chắc hơn là phán quyết năm 2016 của Tòa trọng tài thành lập theo phụ lục VII Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển (UNCLOS).

Trong vụ việc do Philippines đệ trình, Tòa trọng tài bác bỏ cái gọi là quyền lịch sử mà Trung Quốc đưa ra trên Biển Đông. Bất chấp điều này, Trung Quốc vẫn tiếp tục cải tạo và bồi đắp phi pháp các thực thể nhân tạo tại quần đảo Trường Sa của Việt Nam.

Bắc Kinh cũng thúc đẩy luận điệu UNCLOS thiếu sót và cần được bổ sung dựa trên luật quốc tế nói chung để bảo vệ các yêu sách hàng hải vô lý ở Trường Sa.

Trong báo cáo số 150, nhóm tác giả của Bộ Ngoại giao Mỹ khẳng định UNCLOS vẫn điều chỉnh được các tranh chấp tại khu vực và việc Trung Quốc nói công ước này thiếu sót là sự coi thường tính toàn diện của UNCLOS.
Dựa trên UNCLOS, phía Mỹ nhấn mạnh trong báo cáo số 150:

Thứ nhất, việc Trung Quốc đưa ra yêu sách chủ quyền với các thực thể không đáp ứng được định nghĩa về đảo và nằm ngoài lãnh hải hợp pháp là trái với luật pháp quốc tế.

Mỹ và các nước sẽ không công nhận các yêu sách chủ quyền của Trung Quốc, đặc biệt tại Bãi ngầm James, Bãi Tư Chính và Bãi Cỏ Mây.
Thứ hai, các đường cơ sở thẳng mà Trung Quốc tự vẽ ở quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam là trái với luật quốc tế. Mọi ý định hay hành động áp dụng điều tương tự ở các nhóm đảo khác, bao gồm quần đảo Trường Sa, đều phi pháp.

Phía Mỹ khẳng định không có quần đảo nào trong số yêu sách 4 quần đảo mà Trung Quốc gộp chung là “Nam Hải chư đảo” đáp ứng được điều 7 của UNCLOS về đường cơ sở thẳng.

Chính vì điều này, mọi yêu sách hàng hải của Trung Quốc dựa trên “Nam Hải chư đảo” là không phù hợp với luật quốc tế.

“Trong các vùng biển đưa ra yêu sách hàng hải ở Biển Đông, CHND Trung Hoa đã đưa ra nhiều yêu sách về quyền tài phán không phù hợp với luật pháp quốc tế”, phía Mỹ khẳng định.

Chẳng hạn, Trung Quốc yêu cầu sự cho phép trước đối với các tàu chiến thực hiện việc đi lại vô hại trong lãnh hải. Bằng cách đặt ra các luật hàng hải mới, Bắc Kinh tự cho mình thẩm quyền ngăn chặn, xử lý các hành vi mà nước này cho là vi phạm luật quốc gia Trung Quốc trên Biển Đông.

Cuối cùng, giống như báo cáo số 143, nhóm tác giả khẳng định cái gọi là “quyền lịch sử” mà Trung Quốc nêu ra trong “đường 9 đoạn” không dựa trên bất kỳ cơ sở pháp lý nào được quy định trong UNCLOS.

“Ảnh hưởng tổng thể của các yêu sách hàng hải này là việc Trung Quốc đưa ra yêu sách chủ quyền hoặc một số loại đặc quyền tài phán đối với gần như toàn bộ Biển Đông một cách bất hợp pháp.

Những yêu sách này làm suy yếu nghiêm trọng thượng tôn pháp luật trên biển và nhiều điều khoản của luật quốc tế được công nhận rộng rãi như được phản ánh trong UNCLOS.

Vì lý do này, Mỹ và nhiều quốc gia khác đã bác bỏ những yêu sách này của Trung Quốc nhằm ủng hộ trật tự hàng hải quốc tế dựa trên luật lệ ở Biển Đông và trên toàn thế giới”, phía Mỹ nhấn mạnh.

BDN

Loading

Views: 0

Tàu săn ngầm mệnh danh “kẻ hủy diệt”: Nga sẽ nhận thêm một chiến hạm mang tên lửa hành trình

Trang bị vũ khí mạnh mẽ, thiết bị điện tử hiện đại và khả năng đi biển được cải thiện: Nga tiết lộ những chi tiết về quá trình hiện đại hóa tàu chống ngầm cỡ lớn Đô đốc Chabanenko.
Sau khi được nâng cấp, chiến hạm có tuổi đời cao thuộc biên chế Hạm đội Phương Bắc sẽ trở thành một „chiến sĩ vạn năng“ có khả năng tiêu diệt mọi mục tiêu trên bộ và trên biển. Các tàu chiến khác cùng loại cũng sẽ được hiện đại hóa.
© Sputnik / Sputnik / Chuyển đến ngân hàng ảnh

Trang bị vũ khí tên lửa tăng cường

Đô đốc Chabanenko là đại diện duy nhất của dự án cải tiến 1155.1. Các “anh trai” của nó – các chiến hạm săn ngầm cỡ lớn thuộc dự án 1155 – là những tàu hạng nhất đã được đóng ở Liên Xô nhiều nhất. Hóa ra, dự án này cực kỳ thành công: hiệu suất lái xuất sắc, vũ khí chống tàu ngầm, hai trực thăng Ka-27PL trên boong tàu. Trong số các thiếu sót: không có vũ khí chống hạm và hệ thống phòng không yếu. Bây giờ Hạm đội của Nga có bảy chiến hạm săn ngầm như vậy, đây là những con tàu chủ lực ở vùng biển xa.
Điểm khác biệt của khu trục hạm chống ngầm Đô đốc Chabanenko so với những người tiền nhiệm: trọng lượng rẽ nước lớn hơn, các thiết bị thủy lực tốt hơn, có tên lửa chống hạm Moskit, hệ thống phòng thủ chống ngư lôi RBU-12000 Udav, hệ thống pháo – tên lửa phòng không Kortik, tên lửa chống tàu ngầm Vodopad-NK. Năm 1999, khi chiến hạm gia nhập hạm đội Nga, đây là một con tàu mạnh mẽ không chỉ có khả năng săn tàu ngầm đối phương mà còn có thể tấn công các mục tiêu trên mặt nước.
Tuy nhiên, vào năm 2014, tàu đã được đưa vào xưởng nâng cấp, sau đó các chuyên gia đã thông qua quyết định bắt đầu quá trình hiện đại hóa sâu.
Theo nguồn tin trong ngành công nghiệp quốc phòng, ở đây nói chủ yếu về vũ khí. Ví dụ, Đô đốc Chabanenko sẽ được trang bị bốn dàn phóng tên lửa Uran và một bệ phóng đa năng ZS14 có thể phóng 16 tên lửa hành trình Kalibr, Onyx hoặc Zircon, loại tên lửa đầy hứa hẹn có tầm hoạt động xa hơn và độ chính xác cao hơn so với Moskit.
Tổng cộng, khinh hạm Đô đốc Chabanenko được nâng cấp có khả năng mang theo 32 tên lửa hành trình. Tất nhiên, đây là ít hơn so với các tàu khu trục Mỹ lớp Arleigh Burke, tương tự như Đô Đốc Chabanenko về lượng rẽ nước, nhưng, nhiều hơn đáng kể so với các tàu khu trục khác trong biên chế của Hạm đội Phương Bắc.
Nói về hệ thống phòng không, nguồn tin cho biết, thay vì các hệ thống phòng không Kortik lỗi thời, con tàu sẽ được trang bị hệ thống tên lửa và pháo phòng không trên biển Pantsir-M, hệ thống phòng không Shtil (48 tên lửa), cũng như hệ thống tên lửa chống ngầm mới nhất Otvet có tầm bắn lên tới 50 km.
Chiến hạm Đô đốc Chabanenko sẽ được trang bị trạm định vị radar, thiết bị điện tử, thông tin liên lạc và điều khiển chiến đấu thế hệ mới nhất. Vỏ tàu cũng sẽ được sửa chữa. Những thay đổi lớn đến mức chiếc tàu chống ngầm cỡ lớn (BOD) sẽ được phân loại lại thành tàu khu trục hạng 1. Dự kiến ​​Đô đốc Chabanenko sẽ quay trở lại Hạm đội Phương Bắc vào cuối năm 2022 – đầu năm 2023.

Bổ sung những tính năng mới

Chương trình hiện đại hóa không chỉ bao gồm chiến hạm Đô đốc Chabanenko mà còn có các tàu khác thuộc dự án 1155. Ví dụ, vào tháng 4 năm 2021, khinh hạm Nguyên soái Shaposhnikov đã được đưa vào biên chế Hạm đội Thái Bình Dương sau 5 năm sửa chữa. Trong quá trình nâng cấp, hơn 40% kết cấu thân tàu đã được tháo dỡ và sản xuất lại theo bản vẽ của nhà thiết kế, đồng thời 80% các tuyến cáp chính được thay thế. Con tàu được trang bị trạm radar hiện đại MP-760 Fregat-MA và hệ thống xử lý thông tin 5P-30N2 Fregat-N2, cũng như hệ thống liên lạc R-779-28 và hệ thống radar điều khiển và kiểm soát hỏa lực pháo MR-123-02 Bagira.
cuộc phóng tên lửa Onyx © Ảnh : The Ministry of Defence of the Russian Federation
Các chuyên gia đã thông qua quyết định không loại bỏ bốn khẩu pháo phòng không AK-630M, hai bệ phóng ngư lôi bốn ống và hai bệ phóng tên lửa RBU-6000. Các bệ phóng của hệ thống phòng không Kinzhal cũng vẫn ở trong mũi tàu. Phía sau, thay vì khẩu AK-100 đã lỗi thời, họ đặt một pháo hạm A-190-01 cỡ nòng 100mm. Còn có các bệ phóng có thể phóng 16 tên lửa hành trình Kalibr, Onyx hoặc Zircon. Và ở hai bên của cấu trúc thượng tầng, nơi trước đây đặt tổ hợp Rastrub-B, có hai tổ hợp chống hạm 3S24 với bốn tên lửa Uran.
Lần đầu tiên phóng tên lửa siêu thanh Zircon từ tàu “Đô đốc Gorshkov © Ảnh : Russian Defence Ministry/Chuyển đến ngân hàng ảnh
Các loại vũ khí sẽ được trang bị cho tàu khu trục chống ngầm cỡ lớn Đô đốc Vinogradov thuộc biên chế của Hạm đội Thái Bình Dương sẽ còn ấn tượng hơn nữa. Thông tin về việc nâng cấp và trang bị nhiều vũ khí mới cho chiếc tàu này đã được công bố vào cuối năm ngoái. Theo Công ty Cổ phần Trung tâm Sửa chữa Tàu Dalzavod, họ sẽ thay thế hầu hết các hệ thống chiến đấu, ngoại trừ pháo tự động AK-630. Tàu khu trục sẽ được trang bị hệ thống tên lửa Kalibr-NK và hệ thống tên lửa chống ngầm Paket-NK. Thân tàu và các tuyến cáp sẽ được sửa chữa.
Trên tàu sẽ có không phải là hai mà là bốn bệ phóng thẳng đứng, mỗi bệ tám ô, không kể bốn tên lửa chống hạm Uran. Nhờ đó, Đô đốc Vinogradov sẽ trở thành nhà vô địch của hạm đội Nga về số lượng tên lửa hành trình – lên đến 48 chiếc. Giống như tàu Đô đốc Chabanenko, nó sẽ nhận được hệ thống phòng không mạnh hơn dựa trên hệ thống phòng không Shtil. Theo kế hoạch, tàu khu trục sẽ hoạt động trở lại vào năm 2024.
Hai chiến hạm khác thuộc dự án 1155 cũng đang được hiện đại hóa – Đô đốc Tributs (được biên chế vào năm 1985) và Đô đốc Panteleev (được biên chế vào năm 1991). Như vậy, trong tương lai gần, các chiến hạm này sẽ củng cố thêm sức mạnh của Hải quân Nga.

Trang bị các loại vũ khí mạnh nhất

Các tàu săn ngầm thuộc dự án 1155 và 1155.1 không phải là những con tàu duy nhất do Liên Xô đóng sẽ được nâng cấp lên cấp độ hiện đại. Ví dụ, kể từ năm 2013, Nhà máy đóng tàu Sevmash sửa chữa và nâng cấp tuần dương hạm mang tên lửa chạy bằng năng lượng hạt nhân Đô đốc Nakhimov thuộc dự án 1144.2M Orlan. Tàu tuần dương hạng nặng này sẽ trở thành tàu chiến được trang bị mạnh nhất của Hải quân Nga nhờ các bệ phóng thẳng đứng Kalibr, Onyx và Zircon với 80 ô. Và hệ thống phòng không sẽ được bổ sung tổ hợp tên lửa phòng không S-400 với 96 tên lửa.
Hệ thống phòng không tầm ngắn Kortik sẽ được thay thế bằng Pantsir-M, pháo phòng không Osa-M bằng Redut mới, và tổ hợp Paket-NK sẽ bảo vệ tàu tuần dương khỏi ngư lôi và tàu ngầm ở cự ly gần.
Tất nhiên, chiến hạm sẽ được trang bị các thiết bị điện tử tiên tiến nhất, điều này sẽ giúp tăng khả năng nhận biết tình huống của thủy thủ đoàn và sẽ mở rộng đáng kể khả năng sử dụng vũ khí trên tàu.
Đô đốc Nakhimov sẽ được trang bị các hệ thống thông tin liên lạc và định vị tiên tiến, hệ thống tác chiến điện tử, cũng như một nhóm không quân gồm ba trực thăng săn ngầm Ka-27M. Các công việc tại nhà máy sẽ được hoàn thành vào năm 2022-2023.
nguồn:
https://vn.sputniknews.com/20220113/tau-san-ngam-menh-danh-ke-huy-diet-nga-se-nhan-them-mot-chien-ham-mang-ten-lua-hanh-trinh–13304598.html

Loading

Views: 0