Kategorie-Archiv:Aktuell

Việt Nam sẽ thành lập Nhóm đối tác kinh tế biển xanh

Việc thành lập Nhóm Kinh tế biển xanh sẽ cải thiện phúc lợi của con người và công bằng xã hội, đồng thời giảm thiểu đáng kể rủi ro về môi trường và sự khan hiếm sinh thái.

Mới đây, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã giao Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam nghiên cứu, đề xuất thành lập Nhóm đối tác kinh tế biển xanh của Việt Nam.

Việc xây dựng Nhóm đối tác nhằm thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Quyết định số 647/QĐ-TTg phê duyệt Đề án Hợp tác quốc tế về phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030; thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22 tháng 10 năm 2018 của Hội nghị Trung ương 8 Khóa XII về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Hiện đang tổ chức tham vấn ý kiến các Bộ ngành, cơ quan, tổ chức liên quan về Báo cáo đề xuất thành lập Nhóm đối tác kinh tế biển xanh nhằm huy động sự tham gia của các bên liên quan, góp phần hướng tới quản lý hiệu quả và thúc đẩy sự phát triển bền vững của nền kinh tế biển Việt Nam.

Dự kiến Nhóm đối tác sẽ thực hiện các nhiệm vụ như xây dựng các văn bản pháp luật về kinh tế biển xanh; Điều phối các đối tác; Chia sẻ thông tin; Huy động nguồn lực và thúc đẩy hợp tác trong và ngoài nước.

Đối tác dự kiến với các chức năng:

Xây dựng các văn bản pháp luật về kinh tế biển xanh: Đóng góp vào việc xây dựng, sửa đổi và thực hiện pháp luật về kinh tế biển xanh thông qua các cuộc đối thoại chính sách và các cuộc họp cấp cao.

Điều phối: Góp phần điều phối các đối tác liên quan đến phát triển kinh tế biển xanh bao gồm các cơ quan Chính phủ, cộng đồng doanh nghiệp, các ngành, tỉnh, tổ chức nghiên cứu và các NGO về các hoạt động kinh tế biển xanh đang diễn ra, phân bổ và huy động nguồn lực thông qua các cuộc họp cấp cao, chia sẻ thông tin, bài học kinh nghiệm và trang thông tin điện tử.

Chia sẻ thông tin: Tăng cường chia sẻ thông tin, kiến thức, các thực hành tốt; bài học kinh nghiệm thông qua cuộc họp, trang thông tin điện tử và các hoạt động dựa trên dự án cụ thể.

Huy động nguồn lực: Đẩy mạnh huy động các nguồn lực kỹ thuật, vật chất, tài chính từ các nhà tài trợ, các học viện, cơ quan nghiên cứu và cộng đồng doanh nghiệp.

Hợp tác: Thúc đẩy sự hợp tác giữa các cơ quan Chính phủ, các đối tác phát triển, cộng đồng doanh nghiệp, các ngành, các tỉnh, cơ quan nghiên cứu và các NGO về phát triển kinh tế biển để phát triển nền kinh tế biển xanh bền vững ở Việt Nam.

Theo đó, khuôn khổ Nhóm đối tác sẽ tăng cường điều phối và hợp tác giữa các đối tác tham gia phát triển kinh tế biển xanh tại Việt Nam, đồng thời góp phần tăng cường chia sẻ thông tin và liên lạc giữa các cơ quan Chính phủ và các đối tác phát triển, cộng đồng doanh nghiệp, ngành, học viện, các tỉnh ven biển và các tổ chức phi Chính phủ (NGO). Thông qua các trao đổi nhiều lần giữa các bên, Chính phủ Việt Nam và các đối tác liên quan bày tỏ ủng hộ việc thiết lập quan hệ đối tác dưới hình thức khuôn khổ mở và linh hoạt…

Vì vậy, Chính phủ Việt Nam, đại diện là Bộ TN&MT là cơ quan thường trực Ủy ban Chỉ đạo quốc gia (UBCĐQG), các đối tác phát triển, các ngành, các tỉnh, các ngành, các NGO và các cơ quan nghiên cứu, học viện tìm cách tăng cường quản lý kinh tế biển xanh thông qua đẩy mạnh chia sẻ thông tin, huy động nguồn lực, điều phối và cộng tác.

Hiện Bộ TN&MT đang tổ chức tham vấn ý kiến các Bộ ngành, cơ quan, tổ chức liên quan về Báo cáo đề xuất thành lập Nhóm đối tác kinh tế biển xanh nhằm huy động sự tham gia của các bên liên quan, góp phần hướng tới quản lý hiệu quả và thúc đẩy sự phát triển bền vững của nền kinh tế biển Việt Nam.

BDN

Loading

Views: 0

Những ẩn số ở thượng nguồn sông Hồng bên kia biên giới

Sông Hồng dài 1.149 km, bắt nguồn từ Vân Nam, Trung Quốc, chảy qua miền Bắc Việt Nam và đổ ra biển Đông. Đoạn trên đất Việt Nam dài 510 km.

Được mệnh danh là một trong những dòng sông quan trọng nhất của nước ta, sông Hồng vừa đóng vai trò tưới tiêu cho nông nghiệp, vừa là nguồn nước sinh hoạt quan trọng của các đô thị, trong đó có Hà Nội.

Sông Hồng có vai trò quan trọng đối với đời sống và hoạt động sản xuất của nhiều tỉnh miền Bắc Việt Nam

“Khoảng mờ” thông tin

Thạc sĩ Trần Văn Minh, nguyên Phó Giám đốc Ban quản lý đầu tư và xây dựng thủy lợi 4 (Bộ NN&PTNT) cho rằng, chúng ta đang khai thác nước sông Hồng với số lượng nước tạm đáp ứng nhu cầu trước mắt. Tuy nhiên sông Hồng bắt nguồn từ Vân Nam, chiều dài sông và lưu vực cấp nước nằm phần lớn trên lãnh thổ Trung Quốc.

Trong khi, nguồn nước ngọt trên trái đất ngày càng trở nên khan hiếm do nhu cầu sử dụng tăng rất nhanh mà lượng mưa bình quân hàng năm có xu hướng giảm do biến đổi khí hậu, “Mà Trung Quốc đang có kế hoạch xây dựng tuyến dẫn nước từ Tây Tạng đi Tân Cương với chiều dài 1.000km và có một chương trình dẫn nước từ Tây Nam lên Đông Bắc. Trước mắt họ đã xây dựng tuyến dẫn nước đi Bắc Kinh dài 1.100 km, chuyển nước từ Tây Nam lên phía Bắc, với kinh phí 28 tỷ USD. Tất cả vì sự ổn định nguồn nước của thủ đô Bắc Kinh”, ông Minh nói.

Theo vị thành viên Hội Thủy lợi Việt Nam, nguồn nước khu vực Vân Nam cũng được Trung Quốc sử dụng mà sông Hồng là một đối tượng cấp nước. Sự phát triển về phía Tây Nam của Trung Quốc dẫn tới việc nguồn nước, được sử dụng ngày càng triệt để, sẽ cạn kiệt, hoặc “họ sẽ sử dụng nguồn nước này cấp cho khu vực khác trên đất nước họ”.

Sự phát triển rầm rộ các nhà máy thủy điện trên thượng lưu sông Hồng, sản xuất nông nghiệp, mở rộng dân cư sẽ dẫn đến nguy cơ sử dụng cạn kiệt nguồn nước sông Hồng. Hơn nữa chất thải từ các hoạt động sản xuất có thể được xả xuống dòng sông, gây ô nhiễm.

Trong khi đó, các chuyên gia nói việc chia sẻ thông tin xuyên biên giới “chưa được bao nhiêu”, hay nói cách khác là vẫn còn nhiều “khoảng mờ”.

Theo ông Hồ Cao Khải, giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Lào Cai, hiện nay, việc điều tiết nước sông Hồng phụ thuộc vào Trung Quốc bởi những năm gần đây ở đầu nguồn, họ đã gia tăng tốc độ xây dựng các công trình thuỷ điện lớn và các hồ tích nước.

“Nói cách khác, đây được xem là “vũ khí nước”, quyền điều tiết. Khi mình không cần thì họ xả, ngược lại lúc mình cần thì họ lại không xả”, ông Khải nói.

Ông Khải nói Lào Cai cũng đã có các chương trình hợp tác với phía Trung Quốc về đảm bảo an ninh nguồn nước. “Nhưng khi nào mình cần thì phải có công hàm đề nghị, phía Trung Quốc mới xem xét”.

Trả lời câu hỏi đã có dịp nào tham quan, khảo sát các đập thuỷ điện đầu nguồn sông Hồng của Trung Quốc chưa, ông Khải đáp: “Những năm trước đây, theo đề nghị, qua đoàn liên ngành của tỉnh Lào Cai, họ cũng tạo điều kiện cho mình qua. Nhưng mình cũng không được đi vào hết các địa điểm đó, chủ yếu là nắm bắt thông tin qua hệ thống bản đồ”.

Mới đây, một phó tổng giám đốc của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) cũng nói về việc khó tiếp cận thông tin về các công trình đầu nguồn các con sông từ Trung Quốc chảy qua Việt Nam: “Trước khi lập dự án thuỷ điện Lai Châu, EVN thông qua con đường ngoại giao, thông qua con đường chính phủ, rất nhiều lần có văn bản đề nghị họ (Trung Quốc-PV) cấp cho mình số liệu cũng như hiện trạng các công trình ở thượng nguồn sông Đà nhưng họ từ chối”.

GS.TS Vũ Trọng Hồng, nguyên thứ trưởng Bộ NG&PTNT, nguyên chủ tịch Hội Thủy lợi nói, ông “không có quá nhiều thông tin về thượng nguồn sông Hồng” và phía Trung Quốc cũng không công khai họ có bao nhiều nhà máy, bao nhiêu nhà máy thải hoá chất.

“Chúng ta không biết được phía Trung Quốc sẽ tận dụng nguồn nước sông Hồng như thế nào, vì họ kiểm soát hoàn toàn thượng nguồn”, ông Hồng nói.

Theo vị cựu chủ tịch Hội Thủy lợi Việt Nam, điều cần làm lúc này là vùng biên giới Lào Cai, tuy đã có mốc thuỷ chí hàng ngày, hàng tháng rồi, nhưng phải xây dựng được đường biểu đồ để chứng minh rằng có những thời điểm Trung Quốc lấy rất nhiều nước. Điều này có thể sẽ là một trong những minh chứng cho việc họ dẫn nguồn nước lên miền Bắc là đúng hay không.

“Nhờ vào đó mà chúng ta có thể làm việc với Trung Quốc để tìm ra phương án giải quyết phù hợp”, ông nói.

“Lâu rồi tôi cũng không thấy thông tin nào của Bộ Tài nguyên và Môi trường nói về việc mực nước sông Hồng ở khu biên giới tự nhiên giảm. Nhưng bây giờ phải đo để biết xuống thấp bao nhiêu thì hạ nguồn bị thiếu. Ví dụ nếu như mực nước ở cống Xuân Quan dưới 2m thì nước không thể đổ vào hệ thống thủy nông Bắc Hưng Hải được”.

TS. Đào Trọng Tứ, trưởng ban điều hành Mạng lưới Sông ngòi Việt Nam cho rằng chắc chắn Trung Quốc sẽ thực hiện khai thác nước sông Hồng phục vụ các công trình dẫn chuyển nước lên phía Bắc, nhưng lấy nước từ sông Hồng bao nhiêu, lấy như thế nào thì phải theo dõi. “Liệu họ có xây dựng các hồ chứa và chuyển nước từ đó lên không?”, ông Tứ đặt vấn đề. Theo ông Tứ, việc Trung Quốc sử dụng nước sông Hồng để cấp cho khu vực khác nằm ngoài lưu vực thông qua việc xây dựng các tuyến dẫn nước là hoàn toàn có thể xảy ra.

Tuy nhiên theo TS Tứ, cần có sự theo dõi và trao đổi giữa hai bên để xem xét sự biến động của nguồn nước. Nước sẽ chảy sang nước ta bao nhiêu? Điều này có thể quan sát được. Chúng ta có hệ thống đo đạc rất rõ ràng tại tỉnh Lào Cai, biết được lượng nước hàng năm thay đổi ra sao, kể cả số lượng lẫn chất lượng. “Rất tiếc là hiện nay liên quan đến sông Hồng thì chúng ta có rất ít sự hợp tác với Trung Quốc”, TS. Đào Trọng Tứ nói.

Cơn khát kinh niên

Lo ngại của các nhà khoa học trong nước là hoàn toàn có cơ sở, khi “căn bệnh trầm kha” thiếu nước ngọt ở Trung Quốc vẫn chưa có hồi kết.

Nghiên cứu của hai học giả Zhang Hongzhou và Li Mingjiang (Đại học Công nghệ Nanyang, Singapore) chỉ ra rằng, mặc dù chiếm 19% dân số thế giới (1,38 tỷ người), Trung Quốc chỉ có 6% nguồn cung nước ngọt toàn cầu. Và dù Trung Quốc là một trong 5 quốc gia có nguồn nước ngọt lớn nhất, nguồn cấp nước tính theo đầu người chỉ bằng 1/4 mức trung bình toàn cầu, khiến họ trở thành một trong những quốc gia khan hiếm nước nhất thế giới. Thách thức về nước của Trung Quốc còn trở nên trầm trọng hơn do sự phân bố không gian rất không đồng đều.

Bắc Trung Quốc, với 65 % diện tích và 45 % dân số của đất nước, chỉ có 17% tổng tài nguyên nước ngọt của đất nước, trong khi Nam Trung Quốc chiếm tới 83% tài nguyên nước ngọt. Có lượng mưa rất thấp, Bắc Trung Quốc chủ yếu dựa vào nguồn cung cấp nước ngầm, chỉ chiếm 18,3% tổng lượng nước ngọt.

Tệ hơn nữa, ô nhiễm nước đã nổi lên như một trong những thách thức lớn nhất đối với Trung Quốc. Một báo cáo của tổ chức Hòa bình xanh vào năm 2017 đã chỉ ra rằng, ở Bắc Kinh, 40% các vùng nước quá ô nhiễm không thể sử dụng được. Tại Thiên Tân, 95% nguồn nước không đủ tiêu chuẩn để phục vụ sinh hoạt.

Để ngăn chặn cuộc khủng hoảng nước đang rình rập, Trung Quốc đã chi hàng chục tỷ đô la cho các dự án chuyển nước sinh hoạt, ví dụ siêu dự án Nam thủy Bắc đảo, (chuyển nước từ Tây Nam về Đông Bắc), nắn dòng chảy, xây dựng hệ thống kênh dẫn nước và trạm bơm đưa nước từ miền Nam lên miền Bắc khô cằn. Ngoài chi tiền bảo tồn nguồn nước và giảm thiểu ô nhiễm, Trung Quốc đã tìm cách tận dụng nguồn nước của các con sông lớn chảy xuyên biên giới, theo hai học giả Zhang và Li.

Có hơn 60 đập và hồ chứa – 41 đập thủy điện, hai đập đa chức năng và 25 đập thủy lợi – ở phần lưu vực sông Hồng trên đất Trung Quốc, theo Chương trình Nghiên cứu CGIAR về nước, đất và hệ sinh thái, do chính phủ Australia tài trợ.

Ngoài chuyện tận dùng vị thế đầu nguồn để khai thác tài nguyên nước, Trung Quốc cũng được cho là có thể biến lợi thế này thành “vũ khí chính trị – ngoại giao”. Tempa Gyaltsen Zamlha, người đứng đầu bộ phận Môi trường và Phát triển tại Học viện Chính sách Tây Tạng, nói với tờ Al Jazeera rằng Trung Quốc có thể sử dụng lợi thế là đầu nguồn của nhiều dòng sông lớn xuyên quốc gia như một công cụ chính trị.

BDN

Loading

Views: 0

Ukraine kauft deutsche Panzerfäuste für 25 Millionen Euro, die jeden russischen Panzer durchdringen

  • Die ukrainische Regierung hat nach Informationen der „Bild“-Zeitung 5100 deutsche Panzerfäuste gekauft.
  • Hersteller ist das nordrhein-westfälische Unternehmen Dynamit Nobel Defence. Gekostet hätten sie 25 Millionen Euro.
  • Um die Ausfuhr zu genehmigen, habe das Bundesamt für Wirtschaft eine Wochenendschicht eingelegt.
Symbolbild picture alliance/dpa | Philipp Schulze

Die Regierung der Ukraine hat 5100 Panzerabwehr-Handwaffen des Typs RGW90 HH Matador bei Dynamit Nobel Defence gekauft, einem deutschen Rüstungsunternehmen aus Nordrhein-Westfalen. Das berichtet die „Bild„. 25 Millionen Euro hätten sie gekostet.

2650 der Waffen seien bereits am Samstagnachmittag in der Ukraine angekommen. Die übrigen Waffen sollen in wöchentlichen Tranchen bis Ende Mai geliefert werden. Bei den Waffen handele es sich um schultergestütze Panzerfäuste, die sowohl gegen nicht gepanzerte als auch gegen gepanzerte Ziele eingesetzt werden könne. Sie könnten, so „Bild“, die Panzerung jedes russischen Panzers – je nach Einschlagsort – durchdringen.

Bundesamt für Wirtschaft legte Wochenendschicht für Genehmigung ein

Laut Informationen der Zeitung hat das Bundesamt für Wirtschaft und Ausfuhrkontrolle, das beim Bundeswirtschaftsministerium angesiedelt ist, für die Genehmigung der Waffenausfuhr eine Wochenendschicht eingelegt. Der Antrag sei erst am Freitag, den 18.3, eingegangen und bereits am vergangenen Montag genehmigt worden. Dabei habe Robert Habeck, der Bundeswirtschaftsminister, eine „entscheidende Rolle“ gespielt. Nach Genehmigung des Bundesamts für Wirtschaft habe auch der Bundessicherheitsrat binnen weniger Stunden zugestimmt.

Quelle:

https://www.businessinsider.de/politik/welt/ukraine-kauft-deutsche-panzerfaeuste-fuer-25-millionen-euro-die-jeden-russischen-panzer-durchdringen/

Loading

Views: 0

Những hình ảnh về vụ thử nghiệm tên lửa đạn đạo lớn nhất từ trước tới nay của Triều Tiên

Hwasong-17 là hệ thống tên lửa đạn đạo liên lục địa di động lớn nhất từng được Triều Tiên chế tạo, với tầm bắn có thể lên đến hơn 13.000 km.
Hãng thông tấn trung ương Triều Tiên (KCNA) hôm 24/3 đưa tin, Chủ tịch Triều Tiên Kim Jong-un đã trực tiếp chỉ đạo vụ phóng thử tên lửa đạn đạo xuyên lục địa (ICBM) thế hệ mới Hwasong-17 do nước này tự phát triển. (Ảnh: KCNA)
Cũng theo KCNA, Hwasong-17 được phóng tại Sân bay Quốc tế Bình Nhưỡng, bay tới độ cao 6.248 km với quãng đường 1.090 km trong 4.052 giây trước khi rơi xuống khu vực chỉ định trên vùng biển mở ở Biển Nhật Bản. (Ảnh: KCNA)
Phát biểu tại buổi thử nghiệm Chủ tịch Kim Jong-un nói Hwasong-17 sẽ “thực hiện sứ mệnh một cách đáng tin cậy là trở thành biện pháp răn đe hạt nhân mạnh mẽ”, đồng thời cũng tự hào nhận xét rằng sự xuất hiện vũ khí chiến lược mới của Triều Tiên sẽ khiến cả thế giới một lần nữa nhận thức rõ ràng sức mạnh các lực lượng tên lửa chiến lược của nước này. (Ảnh: KCNA)
Hwasong-17 được mệnh danh là “tên lửa quái vật”, từng xuất hiện tại một cuộc duyệt binh hồi tháng 10/2020. Tên lửa này chưa bao giờ được thử nghiệm thành công trước đây. Hình ảnh tên lửa Hwasong-17 được đặt trên bệ phóng di động đặc chủng. (Ảnh: KCNA)
Giới phân tích quân sự cho rằng Hwasong-17 có kích thước lớn hơn đáng kể so với Hwasong-15. Nó có đường kính khoảng 2,5 m, khối lượng ước tính 80-110 tấn và được đặt trên xe chở đạn 11 trục, khiến Hwasong-17 được xếp vào nhóm ICBM di động trên mặt đất lớn nhất thế giới. (Ảnh: KCNA)
Hwasong-17 sử dụng động cơ đẩy nhiên liệu lỏng, có tầm bắn ước tính lên đến 13.000 km. (Ảnh: KCNA)
Dựa trên kích thước của Hwasong-17, các nhà phân tích dự đoán tên lửa được thiết kế nhằm mang nhiều đầu đạn hạt nhân và “mồi nhử” để đánh lạc hướng, nhằm dễ dàng xuyên thủng các hệ thống phòng thủ tên lửa. (Ảnh: KCNA)
Vụ phóng hôm qua là lần thử nghiệm vũ khí thứ 13 của Triều Tiên kể từ đầu năm, trong đó có hai vụ được nước này mô tả là thử “vệ tinh trinh sát”. Đây là tần suất thử nghiệm vũ khí chưa từng có. (Ảnh: KCNA)
Chủ tịch Kim Jong-un quan sát Hwasong-17 thời điểm tên lửa được phóng lên. (Ảnh: KCNA)
Vụ thử nghiệm được cho đã diễn ra thành công, khi tên lửa đạt được độ cao cần thiết và quay trở theo đúng tính toán của phía Triều Tiên. (Ảnh: KCNA)
Chủ tịch Kim Jong-un nói chuyện với các sĩ quan tham gia vụ thử nghiệm Hwasong-17 ngày 24/3. (Ảnh: KCNA)
BDN

Loading

Views: 0

Sự phối hợp tình báo Mỹ, Nhật, Đài Loan như thế nào?

Bài giới thiệu sơ lược về hoạt động phối hợp giữa tình báo Mỹ, Nhật Bản và Đài Loan.

Từ rất sớm, Mỹ, Nhật Bản và đảo Đài Loan đã thiết lập mạng trinh sát tổng hợp, có khả năng giám sát các mục tiêu trên không, mặt đất, trên biển và dưới biển.

Trinh sát trên biển

Hạm đội Thái Bình Dương, Mỹ và Lực lượng Phòng vệ trên biển Nhật Bản có vài chục tàu trinh sát, trang bị hiện đại, có tính năng tàng hình cao. Trong đó, gần một nửa số tàu trinh sát của Mỹ bố trí ở Đông Nam Á, trọng điểm thu thập thông tin tình báo là khu vực châu Á – Thái Bình Dương.

Lực lượng Phòng vệ trên biển Nhật Bản bố trí hệ thống giám sát trên mặt nước, dưới nước ở những tuyến giao thông quan trọng trên biển như eo biển Tsugaru.

Hệ thống chống ngầm ở châu Á-Thái Bình Dương của Mỹ gồm hệ thống sonar cố định dưới đáy biển được hình thành trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh đến nay vẫn còn sử dụng. Mỹ từng thu thập nhiều thông tin tình báo về hoạt động của tàu ngầm hải quân các nước ở Biển Đông thông qua hệ thống này.

Trinh sát đường không

Trinh sát đường không là biện pháp trinh sát được sử dụng rộng rãi nhất của Mỹ, Nhật Bản và Đài Loan. Bộ Tư lệnh không quân Mỹ ở Thái Bình Dương có vài chục máy bay trinh sát, bao gồm 6 loại, chủ yếu bố trí ở căn cứ không quân Osan, Hàn Quốc và các căn cứ không quân Kadena, Misawa ở Nhật Bản.

Không quân Nhật Bản có lực lượng trinh sát trên không gồm máy bay tuần tiễu chống ngầm P-3C, máy bay trực thăng trinh sát cảnh báo sớm trên biển MH-53, máy bay cảnh báo sớm tầm xa E-767…

Trong đó, bán kính hoạt động của máy bay cảnh báo sớm tầm xa E-767 là 1.850km, cự ly do thám của radar trên máy bay đối với mục tiêu trên cao là 780km, cự ly do thám đối với mục tiêu tầm thấp và mặt nước là 400km.

Đài Loan đã đưa vào sử dụng đầy đủ 6 máy bay báo động sớm E-2 do Mỹ chế tạo, đảm bảo hoạt động trong mọi điều kiện thời tiết, phối hợp chặt chẽ với các trạm radar mặt đất và hệ thống phòng không tự động để nâng cao khả năng giám sát, cảnh giới trên không.

Trinh sát vệ tinh

Trinh sát vệ tinh không bị hạn chế bởi biên giới quốc gia, mức độ bao phủ rộng, tính cập nhật cao. Hiện Mỹ có ít nhất 50 vệ tinh các loại trực tiếp hoặc gián tiếp đảm nhận nhiệm vụ trinh sát, trung bình cứ 6 tiếng đồng hồ lại có một vệ tinh trinh sát của Mỹ quét qua khu vực châu Á-Thái Bình Dương, thu thập và cung cấp tin tình báo về các động thái liên quan.

Với Nhật Bản, nước này đã sở hữu số lượng đáng kể vệ tinh quang học, hình thành một hệ thống thu thập tình báo không gian hoàn chỉnh. Đài Loan, với sự trợ giúp của Mỹ, cũng đã phóng loạt vệ tinh Huawei, bước đầu tạo khả năng trinh sát vũ trụ khá quy mô.

Trinh sát tín hiệu

Từ lâu, Mỹ đã thiết lập một số trạm trinh sát tín hiệu ở Nhật Bản và Hàn Quốc. Mỹ cũng tận dụng cơ hội bố trí lực lượng và tiến hành diễn tập quân sự liên hợp với các quốc gia Trung Á để thiết lập rộng rãi các trạm radar và giám sát điện tử để thu các loại tình báo tín hiệu.

Nhật Bản và Đài Loan cũng là những cơ sở tình báo vô tuyến điện quan trọng. Nhật Bản có 6 trạm thông tin, trong khi Đài Loan thiết lập một trạm trinh sát điện tử lớn và đang xây dựng trạm radar cảnh báo tầm xa mới.

Tăng cường quan hệ tình báo

Theo Thỏa thuận hợp tác tình báo giữa Mỹ và Đài Loan, hàng năm cơ quan tình báo hai bên tiến hành hội nghị, trao đổi tin tình báo và bàn các vấn đề hợp tác.

Từ năm 2002, Đài Loan đã thiết lập đường dây nóng quân sự với Mỹ. Cũng năm 2002, Hạ viện Mỹ thông qua dự luật với nội dung tăng cường hợp tác quân sự Mỹ- Đài, trong đó bao gồm hợp tác trong các lĩnh vực phân tích mối đe doạ, hỗ trợ hậu cần, thu thập và phân tích tin tình báo.

Từ năm 2003, Nhật Bản và Đài Loan định kỳ tiến hành cuộc gặp giữa các quan chức tình báo quân sự hai bên. Các quan chức tình báo Mỹ và Nhật Bản cũng định kì gặp nhau theo tinh thần Hiệp ước Bảo vệ an ninh Mỹ-Nhật. Gần đây, để đảm bảo tính thời sự của tin tức, các cơ quan tình báo Mỹ, Nhật và Đài Loan đã điều chỉnh từ gặp gỡ định kỳ sang cung cấp thường xuyên.

Mỹ còn giúp đỡ Đài Loan xây dựng hệ thống tình báo, điển hình là giúp xây dựng cơ sở tác chiến điện tử cho máy bay C-130 HE, xây dựng mạng số liệu máy bay báo động sớm E-2T và máy bay chiến đấu F-16, xây dựng hệ thống trinh sát điện tử hải, lục, không quân. Mỹ cũng đào tạo nhân viên tình báo cho Đài Loan; giúp xây dựng quy trình thu thập, nghiên cứu, xử lý tin tình báo; tối ưu hoá quy trình hoạt động của hệ thống an ninh và tình báo.

Mặt khác, cùng với việc tăng cường hợp tác, các cơ quan tình báo Mỹ, Nhật Bản và Đài Loan cũng thâm nhập lẫn nhau để thu thập tình báo, qua đó nhằm nắm bắt kịp thời, toàn diện về chính trị, quân sự của các đối tác.

BDN

Loading

Views: 0

Sau cuộc điện đàm với Hoa Kỳ, áp lực lên ông Tập Cận Bình gia tăng

Các nhà lãnh đạo của Hoa Kỳ và Trung Quốc đã tổ chức một cuộc điện đàm cách đây vài ngày, trong đó Hoa Kỳ cảnh báo ĐCSTQ rằng việc cung cấp hỗ trợ đáng kể cho Nga sẽ gây ra những hậu quả nghiêm trọng. Một số nhà phân tích tin rằng áp lực đối với ĐCSTQ sẽ gia tăng.

Ông Biden và ông Tập Cận Bình đã có cuộc điện đàm kéo dài khoảng 2 giờ vào thứ Sáu (18/3), sau đó các quan chức Mỹ và Trung Quốc đã đưa ra những tuyên bố riêng biệt, cho thấy nhiều bất đồng và đối đầu về vấn đề Ukraina và Đài Loan.

Cuộc điện đàm lần này được thực hiện vào thời điểm quan trọng trong cuộc chiến Nga-Ukraina. Trước đây, một quan chức Hoa Kỳ tiết lộ rằng Nga đang tìm kiếm sự hỗ trợ quân sự hoặc kinh tế từ ĐCSTQ do tình hình chiến sự bất lợi và các lệnh trừng phạt toàn diện từ Châu Âu và Hoa Kỳ, và Bắc Kinh cho biết họ có thái độ cởi mở về điều này.

Sau cuộc điện đàm với ông Tập, Toà Bạch Ốc ra thông cáo cho biết ông Biden đã nói rõ ràng với ông Tập Cận Bình về “những tác động và hậu quả nếu Trung Quốc (ĐCSTQ) hỗ trợ đáng kể cho Nga khi nước này tiếp tục các cuộc tấn công tàn bạo vào các thành phố và dân thường Ukraina” .

Ông Phùng Sùng Nghĩa (Feng Chongyi), một chuyên gia về Trung Quốc tại Đại học Công nghệ Sydney, nói với Epoch Times rằng: “Chính sách hiện tại của chính quyền Biden là sử dụng các biện pháp trừng phạt kinh tế để hạ bệ Nga và buộc Nga phải rút quân. Nếu sự tham gia sâu rộng của ĐCSTQ mang lại cho Nga nhiều hỗ trợ, thì điều đó sẽ giúp Nga có thêm sức mạnh để tiếp tục cuộc chiến. Hiện tại, chưa có dấu hiệu nào cho thấy ĐCSTQ đã công khai giúp đỡ”.

“Ngoài mặt thì ĐCSTQ trung lập, nhưng bí mật cố gắng hỗ trợ Nga theo những cách khác nhau. Điều mà Nga muốn là sự ủng hộ công khai từ ĐCSTQ và đó là sự ủng hộ quy mô lớn. Vì vậy, lập trường hiện tại của ĐCSTQ là đều không lấy lòng cả hai bên”, ông nói.

Ông Đổng Tư Tề (Dong Siqi), Phó giám đốc điều hành của một trung tâm nghiên cứu Đài Loan, cho biết: “Ý định của Hoa Kỳ là đạt được cam kết rõ ràng từ Trung Quốc và không giúp Nga về mặt quân sự hoặc theo những cách khác. Cuộc điện đàm với ông Tập Cận Bình là cách Hoa Kỳ hy vọng có thể hiểu được ý đồ của Trung Quốc, đồng thời hy vọng Trung Quốc sẽ rõ ràng hơn về thái độ của mình đối với Nga và các nước láng giềng”.

Ông Đổng Tư Tề cho rằng đây mới chỉ là bước khởi đầu. Khi chiến tranh tiếp diễn, các lệnh trừng phạt của cộng đồng quốc tế đối với Nga ngày càng mạnh mẽ hơn và cắt đứt quan hệ với Nga, thậm chí áp đặt cả cái gọi là các lệnh trừng phạt thứ cấp, tức là trừng phạt sâu hơn và toàn diện hơn các quốc gia viện trợ cho Nga, áp lực lên ĐCSTQ sẽ gia tăng.

Tại một cuộc họp báo tại Toà Bạch Ốc hôm thứ Sáu, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Jen Psaki không nói rõ về những hậu quả mà Trung Quốc sẽ phải đối mặt nếu nước này giúp Nga, nhưng bà nói rằng các biện pháp trừng phạt chắc chắn là một trong những công cụ và dòng chảy thương mại khổng lồ của Trung Quốc có thể bị ảnh hưởng.

Khi tiến trình của cuộc xâm lược Ukraina của Nga đã chậm lại, đã có một sự thay đổi nhỏ trong lập trường của các nhà ngoại giao và truyền thông nhà nước Trung Quốc về cuộc chiến Nga-Ukraina. Các chuyên gia cho rằng, nhận thấy tình hình không ổn, ĐCSTQ đã vội vàng gặp gió bẻ lái, đánh cược cả đôi bên.

Ông Phùng Sùng Nghĩa chỉ rõ: “Kế hoạch ban đầu của ĐCSTQ và Nga là giương súng về phía phương Tây. Trước chiến tranh Nga-Ukraina, Trung Quốc và Nga đã đưa ra một thông cáo chung, tương đương với việc ĐCSTQ bật đèn xanh cho ông Putin. ĐCSTQ đã sử dụng Nga để phát động cuộc chiến tranh ở Châu Âu (làm mẫu), tính toán tấn công Đài Loan. Và cuộc chiến này đã thúc đẩy tình đoàn kết giữa Châu Âu và Hoa Kỳ, và giữa các thành viên NATO. Điều này nằm ngoài dự tính của ĐCSTQ”.

Ông nói: “Mục tiêu lớn nhất của ông Tập Cận Bình lúc này là tìm cách tái tranh cử. Hiện tại, tình hình kinh tế tổng thể của Trung Quốc rất tồi tệ. Mục tiêu lớn nhất của ông ấy lúc này là ổn định tình hình, để nền kinh tế không bị sụp đổ trước Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 20” hoặc sẽ không để các nhà lãnh đạo cao nhất của ĐCSTQ công khai chia rẽ vì chính quyền ủng hộ Nga, ảnh hưởng đến việc ông ấy tái đắc cử vào Đại hội 20. Vì vậy, ông Tập Cận Bình sẽ nhượng bộ Hoa Kỳ, đó là để tạm thời ổn định tình hình và thực hiện ước mơ tái đắc cử của ông ấy”.

BDN

Loading

Views: 0

Tranh chấp trên… trời

Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình luôn tuyên bố, Trung Quốc không bao giờ có những hành động gia tăng quân sự, gây căng thẳng, không biến các đảo trong khu vực Biển Đông thành các căn cứ quân sự. Thế nhưng trên thực tế, gần như nước này đã tiến hành xong việc xây dựng các căn cứ phục vụ cho yêu cầu chiến tranh.

Các căn cứ quân sự mà quân đội Trung Quốc xây dựng trái phép chủ yếu trên các đảo thuộc hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Đó là các đá Vành Khăn, đá ngầm Subi và đá Chữ Thập. Cơ sở quân sự bao gồm các tòa nhà cao tầng, nhà kho, nhà chứa máy bay, cảng biển, đường băng…. Có thể coi đây là các thành phố nổi phục vụ nhu cầu du dịch và tác chiến.

Những hình ảnh vệ tinh mà Mỹ ghi được đã khiến cho Bắc Kinh khó bề chối cãi. Rất cay cú, Hải quân, Không quân hai nước này đã nhiều lần “va chạm” có chủ đích hòng cảnh báo, đe dọa lẫn nhau. Mỹ cho rằng vùng trời, vùng biển mà họ hoạt động hoàn toàn đúng theo quy định của luật pháp quốc tế. Còn Trung Quốc thì khăng khăng, Wasinghton đã cố tình xâm phạm vùng trời, vùng biển của họ (chiếu theo Đường chín đoạn vô lối do họ tự “vẽ”).

Va chạm, công kích, dọa nạt nhau và chưa có “phiên tòa” nào giải quyết. Nhưng nếu không phản ứng, không cảnh báo thì Trung Quốc sẽ tiếp tục tiến hành các hoạt động phi pháp, cho nên Mỹ và đồng minh cũng như các nước trong khu vực liên tục phải đấu tranh ngoại giao và các hoạt động quân sự trên thực địa, rõ nhất là phối hợp tập trận.

Mới đây, theo tin của AP, đã xảy ra chuyện máy bay Mỹ và trung Quốc xuýt đâm bổ vào nhau. Hôm 20/3, ông Joel Martinez – sĩ quan chỉ huy Hải quân Mỹ, người dẫn đầu phi hành đoàn P-8A Poseidon – cho hay, họ đã bị máy bay phản lực Trung Quốc “áp sát một cách nguy hiểm ở Biển Đông”. Tổ bay P-8A Poseidon đã yêu cầu phía Trung Quốc tuân thủ các quy định về an toàn hàng không.

Nơi xảy ra sự cố là vùng trời khu vực gần các thực thể do Trung Quốc chiếm giữ trái phép thuộc quần đảo Trường Sa (thuộc chủ quyền của Việt Nam). Tư lệnh Bộ Chỉ huy Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương của Mỹ, Đô đốc John C. Aquilino, cho biết, Bộ Chỉ huy đã kiên quyết phản bác cảnh báo từ Trung Quốc khi máy bay P-8A Poseidon đang bay ở độ cao khoảng 4500 mét.

Cụ thể, khi phát hiện máy bay do thám của Mỹ, các phi công Trung Quốc đã “ngứa mắt”, đe nẹt: “tránh xa ngay lập tức để tránh sự cố”. Lúc đó, P-8A Poseidon đang tiến gần các tiền đồn mà Trung Quốc chiếm đóng trái phép. Đáp lại, các phi công Mỹ tuyên bố: “Máy bay của Hải quân Mỹ đang tiến hành các hoạt động quân sự hợp pháp ngoài không phận của bất kỳ quốc gia ven biển nào. Không một ai có thể ngăn cản chúng tôi!”.

Theo các bức ảnh mà máy bay Mỹ ghi lại gần các rạn san hô mà Trung Quốc chiếm đóng trái phép, có thể nhận rõ các căn cứ quân sự, nhà xưởng, kho tàng, nhà chứa máy bay và sân bay…. Đến nay các căn cứ quân sự này đã hoàn thành và có thể đi vào hoạt động. Gần Đá Chữ Thập, một rạn san hô thuộc cụm Nam Yết của quần đảo Trường Sa, có hơn 40 tàu đang neo đậu.

Trong suốt 20 năm qua, Trung Quốc đã dốc toàn lực xây dựng, hiện đại hóa quân đội, tiếp tục vũ trang hóa trên Biển Đông, gây căng thẳng trong khu vực. Họ coi đây là những hành động để “đảm bảo sự phòng thủ”. Sau nhiều năm tăng chi tiêu quân sự, Trung Quốc hiện có ngân sách quốc phòng lớn thứ hai thế giới, sau Mỹ.

Không còn nghi ngờ gì nữa, Trung Quốc đã cố tình áp dụng một chính sách quyết đoán hơn ở Biển Đông. Họ tìm mọi cách duy trì nguyên trạng bất chấp các tuyên bố chủ quyền của các nước láng giềng, với một tuyên bố đầy màu sắc lừa đảo “gác tranh chấp cùng khai thác”.

Sự hung hăng của Trung Quốc là nguyên nhân gây nên những căng thẳng hiện nay. Mặc dù Trung Quốc chỉ quản lý 6 hòn đảo ở Trường Sa (so với 29 đảo do Việt Nam quản lý), mặc dù hòn đảo lớn nhất của quần đảo Trường Sa (đảo Ba Bình) do Đài Loan chiếm đóng, nhưng Trung Quốc vẫn nghiễm nhiên coi mình là “ông chủ” trên Biển Đông. Họ bám chắc vào cái “Đường lưỡi bò” để ngụy biện, làm tấm mộc che đỡ.

Câu trả lời ngắn nhất là: chính sách của Trung Quốc ở Biển Đông chủ yếu là thể hiện tính lập lờ, nói một đằng làm một nẻo. Tranh chấp trên biển nhiều rồi, giờ là đến tranh chấp trên… trời. Gọi là hung hăng cũng không lột tả hết hành động của kẻ gây hấn!

BDN

Loading

Views: 0

Tàu sân bay TQ lại đi qua eo biển Đài Loan

Cơ quan phòng vệ Đài Loan nói một tàu sân bay của Trung Quốc đi qua eo biển Đài Loan, ngay trước cuộc điện đàm giữa tổng thống Mỹ và chủ tịch Trung Quốc. Một số quan chức giấu tên nói với Hãng tin Reuters đó là tàu Sơn Đông.

“Chúng tôi nhấn mạnh rằng chúng tôi biết và giám sát tất cả các máy bay và tàu của PLA (Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc) hoạt động ở các khu vực xung quanh eo biển Đài Loan“, thông cáo của Cơ quan phòng vệ Đài Loan viết.

Một quan chức nói “khoảng 10h30, chiếc CV-17 xuất hiện cách đảo Kim Môn 30 hải lý về phía tây nam và đã được hành khách trên một chuyến bay dân sự chụp lại”. CV-17 là mã hiệu của tàu sân bay Sơn Đông của Trung Quốc.

Theo nguồn tin trên, tàu khu trục USS Ralph Johnson của Mỹ đã bám đuôi tàu Sơn Đông trên một phần hành trình. Chiếc tàu Trung Quốc di chuyển qua eo biển Đài Loan theo hướng bắc và không có máy bay trên boong tàu.

Người phát ngôn Mark Langford của Hải quân Mỹ cho biết tàu USS Ralph Johnson “thực hiện hành trình bình thường qua vùng biển quốc tế ở eo biển Đài Loan ngày 17-3”, nhưng không cung cấp thêm chi tiết.

Vụ việc diễn ra khoảng 12 giờ trước cuộc điện đàm giữa Tổng thống Mỹ Joe Biden và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình.

Còn người phát ngôn Triệu Lập Kiên của Bộ Ngoại giao Trung Quốc nói rằng tàu sân bay Sơn Đông đang làm “nhiệm vụ huấn luyện theo kế hoạch định kỳ”.

“Chúng ta không nên liên hệ điều này với cuộc điện đàm giữa nguyên thủ Trung Quốc và Mỹ. Các vị có thể nghĩ đó là điều quá nhạy cảm. Các vị mới nhạy cảm chứ không phải eo biển Đài Loan”, người phát ngôn Trung Quốc cho biết.

Đây không phải lần đầu tiên Trung Quốc đưa tàu sân bay qua eo biển Đài Loan. Lần gần nhất tàu Sơn Đông đi qua eo biển này là vào tháng 12-2020.

BDN

Loading

Views: 0

Trung Quốc tiếp tục tập trận ở Biển Đông gần Huế

Trung Quốc tập trận

Cục Hải sự tỉnh Hải Nam ngày 19.3 tiếp tục đưa ra cảnh báo hàng hải về một cuộc tập trận của Trung Quốc ở ngoài cửa vịnh Bắc Bộ.

Cuộc tập trận này kéo dài hơn 20 ngày từ 19.3 đến 9.4. Phạm vi vẫn như cuộc tập trận từ ngày 4.3 đến 15.3.

Như đã đưa tin trước đó, một phần mục đích của Trung Quốc khi tiến hành cuộc tập trận ở khu vực này là tìm kiếm chiếc máy bay Y-8 bị rơi ngày 1.3.

Việc Trung Quốc tiếp tục kéo dài tập trận cho thấy công việc tìm kiếm vẫn chưa kết thúc. Hiện tại, các tàu Thám Tác 1, Thám Tác 2 và Hải Dương Địa Chất 6 vẫn lượn lờ tại khu vực này.

Có một điều thú vị là tàu nghiên cứu của hải quân Mỹ USNS Bowditch đã được triển khai đến khu vực. Nó hiện hoạt động ở ngay phía dưới khu vực tập trận của Trung Quốc.

Tàu nghiên cứu lớp Pathfinder này có thể triển khai các thiết bị lặn. Vào tháng 12.2016, nó từng bị một tàu hải quân Trung Quốc vớt thiết bị lặn khi hoạt động ở Biển Đông. Trung Quốc sau đó đã giao trả sau khi Mỹ chính thức phản đối.

Tuy Trung Quốc đến nay vẫn chưa lên tiếng về vụ tai nạn của máy bay Y-8, nhưng phương tiện truyền thông và mạng xã hội Trung Quốc đã đưa tin về tang lễ của ít nhất 2 phi công trong những ngày gần đây.

Một người là phi công Trịnh Phúc Hạo và một người khác là phi công Chu Hưng Ngọc. Trong đó, Chu Hưng Ngọc được tường thuật là tử nạn ngày 1.3.

Tàu sân bay

Ngày 18.3, tàu sân bay Sơn Đông của Trung Quốc đã băng qua eo biển Đài Loan hướng lên phía bắc. Tàu này bị bám theo bởi tàu khu trục USS Ralph Johnson (DDG-114) khi băng qua eo biển.

Trước đó, hình ảnh vệ tinh cho thấy tàu này đang di chuyển về eo biển Đài Loan vào sáng ngày 17.3. Trên tàu không có chiến đấu cơ. Nhiều khả năng nó qua về Đại Liên để bảo dưỡng định kỳ.

Trong khi đó, tàu sân bay USS Abraham Lincoln vẫn đang hoạt động tại Biển Philippines, theo thông tin từ Hải quân Mỹ. Tuy nhiên, tàu tuần dương lớp Ticonderoga USS Mobile Bay (CG 53) được tiếp tế ở Biển Đông trong ngày 17.3.

USS Mobile Bay (CG 53) là tàu dương trong nhóm tác chiến của tàu sân bay USS Abraham Lincoln. Thông thường nó luôn đi theo hộ tống tàu sân bay. Vì thế, sự xuất hiện của nó ở Biển Đông trong ngày 17.3 cho thấy tàu USS Abraham Lincoln ít nhất đang hoạt động ở rất gần eo biển Ba Sỹ.

Hải cảnh Trung Quốc

Tàu Hải cảnh 5901 của Trung Quốc tiếp tục áp sát khu vực khai thác của Việt Nam ở mỏ Hải Thạch – Mộc Tinh vào sáng 20.3.

Đặng Duân

Loading

Views: 0

Tưởng niệm những binh phu có công ra Hoàng Sa cắm mốc, dựng bia chủ quyền của Việt Nam

Sáng 18/3, Ban tế tự và Ban quản lý di tích đình làng An Hải, huyện Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi đã tổ chức lễ khao lề thế lính Hoàng Sa nhằm tri ân, tưởng niệm những binh phu năm xưa đã có công ra quần đảo Hoàng Sa cắm mốc, dựng bia khẳng định chủ quyền của Việt Nam từ hàng trăm năm trước.
Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa là nghi lễ gắn liền với tâm thức của người dân đảo Lý Sơn, nhằm tưởng nhớ những người con ưu tú của quê hương Lý Sơn năm xưa tuân lời vua đi ra Hoàng Sa, Trường Sa dựng bia cắm mốc, xác lập, bảo vệ chủ quyền tại 2 quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam.
Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa năm nay được các tộc họ xã An Hải tổ chức trang nghiêm, thành kính với những nghi thức cúng lễ như lễ yết, lễ cung nghinh, lễ thả thuyền…

Theo sử liệu ghi chép lại, vào thế kỷ 17, triều đình nhà Nguyễn đã tổ chức tuyển chọn những trai tráng khỏe mạnh, giỏi bơi lội của đảo Lý Sơn để sung vào Đội Hoàng Sa kiêm quản Bắc Hải nhằm ra quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa thu lượm sản vật, đo đạc hải trình, vẽ bản đồ, cắm mốc khẳng định chủ quyền.

Sách Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn (năm 1776) có ghi chép rằng: Trước họ Nguyễn đặt đội Hoàng Sa gồm 70 suất, lấy người xã An Vĩnh sung vào, đi bằng những chiếc thuyền câu nhỏ ra biển…

Tương truyền rằng do mỗi chuyến đi dài sáu tháng trên biển đầy rủi ro, bất trắc nên mỗi người lính trước khi đi ra Hoàng Sa phải chuẩn bị sẵn cho mình một đôi chiếu, mấy sợi dây mây, bảy cái đòn tre và một thẻ tre. Nếu gặp chuyện chẳng lành thì chiếu dùng để bó xác, đòn tre dùng để làm nẹp và lấy dây mây bó lại. Chiếc thẻ tre ghi rõ tên tuổi, quê quán, phiên hiệu đơn vị của người xấu số được cài kỹ trong bó xác, thi thể được thả xuống biển để trôi về bờ tìm về nơi bản quán.

Đội Hoàng Sa sau này được củng cố thành Thủy quân Hoàng Sa (kiêm quản “đội Bắc Hải”, có nhiệm vụ khai thác vùng biển Hoàng Sa và Trường Sa).

Trong suốt mấy trăm năm hoạt động, đã có hàng vạn người lính thủy quân Hoàng Sa vượt qua biết bao sóng gió, bão tố để thực thi nhiệm vụ giữ gìn chủ quyền lãnh thổ ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Và không phải ai cũng có may mắn trở về.

Từ mất mát hy sinh của nhiều lớp người đi làm nhiệm vụ tại hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, người dân Lý Sơn đã hình thành một nghi lễ mang đậm tính nhân văn – Lễ Khao lề thế lính – cúng thế cho người sống để cầu mong người đi được bình an trở về quê hương, bản quán.

Ngay sau lễ khao lề thế lính Hoàng Sa, nhân dân Lý Sơn đã tổ chức lễ hội đua thuyền truyền thống Tứ linh để cầu cho một năm mưa thuận gió hòa, tôm cá đầy khoang.

BDN

Loading

Views: 0

Geheime Milliardendeals: Schweizer Rohstoffhandel füllt Putins Kriegskasse

Der Krieg in der Ukraine bringt ein Schweizer Geschäftsmodell ins Blickfeld, das auf dem Prinzip des „Wegschauens“ basiert. Den Rohstoffhandel. Mit ihm werden Milliarden umgesetzt – woran auch Russland verdient.

Russland Ölpumpen in Tatarstan

Die Schweiz ist dafür bekannt, ein wichtiges Finanzzentrum zu sein. Weniger im Blickpunkt, aber viel bedeutender ist jedoch der Rohstoffhandel. Gerade die Schweiz – ein Land fernab großer Handelsrouten, ohne Zugang zum Meer, ohne ehemalige Kolonialgebiete und ohne nennenswerte eigene Rohstoffe – ist eines der weltweit wichtigsten Handelszentren für Rohstoffe. „Die Branche hat in der Schweiz deutlich mehr Anteil am Bruttoinlandsprodukt als der Tourismus oder die Maschinenindustrie,“ sagt Oliver Classen von der Nichtregierungsorganisation Public Eye.

Ganz im Verborgenen werden hier gewaltige Umsätze gemacht. Das über die Schweiz abgewickelte Handelsvolumen wird auf knapp 1000 Milliarden Dollar geschätzt, so ein Bericht der Regierung in Bern von 2018. Die fünf nach Umsatz größten Schweizer Firmen sind nicht Banken oder Pharmafirmen, sondern Rohstoffhändler. Die meisten der 900 Unternehmen, die im Rohstoffhandel aktiv sind, sitzen in Genf, Zug oder Lugano.

Russische Rohstoffe werden über die Schweiz gehandelt

Rund ein Drittel des weltweit gehandelten Erdöls wird in Genf ge- und verkauft. Ebenso werden in der Schweiz zwei Drittel des weltweiten Handels mit sogenannten unedlen Metallen wie Zink, Kupfer oder Aluminium und zwei Drittel des international gehandelten Getreides abgewickelt. Davon profitiert auch Russland. Etwa 80 Prozent der russischen Rohstoffe werden über die Schweiz vertrieben, so ein Bericht der Schweizer Botschaft in Moskau. Damit fließt auch russisches Öl und Gas quasi über Schweizer Schreibtische.

Die Öl- und Gasexporte sind die Haupteinnahmequelle Putins. Sie machen zwischen 30 und 40 Prozent des russischen Staatshaushalts aus. Allein mit Ölexporten haben russische Staatskonzerne 2021 rund 180 Milliarden Dollar verdient. Geld, dass nun in den Krieg fließen kann.

Die Schweizer Rohstoffhändler würden weiterhin wegschauen, was der russische Staat mit diesem Geld macht, beklagte Angela Mattli von der Nichtregierungsorganisation Public Eye in einer Rede anlässlich der Friedensdemo in Bern. Und das „ganz legal im Rahmen der Schweizer Gesetzgebung, deren Lücken für Rohstoffhändler sperrangelweit offenstehen.“

Auch in der Politik regt sich Kritik. „Die Schweiz muss jetzt der russischen Kriegsfinanzierung den Hahn zudrehen“, fordert Cedric Wermuth von den Schweizer Sozialdemokraten, im Rundfunk SRF. Sie halte wirkungsvollste Hebel in der Hand – den Rohstoffhandel und die Vermögen der reichen Russen. Bislang betreffen die Sanktionen der EU und der USA aber nicht den Handel mit Rohstoffen, auch wenn die USA selbst inzwischen kein russisches Öl mehr importieren wollen.

Die Schweiz pflegt geschichtstreu ihren Neutralitätsstatus und erlässt nicht eigenmächtig Sanktionen. Nach dem Schweizer Embargogesetz schließt sie sich nur Sanktionen anderer an. Das heißt, es passiert nur etwas, wenn Haupthandelspartner oder der UN-Sicherheitsrat wirtschaftliche Einschränkungen beschließen.

Zudem fasst die Schweiz ihr goldenes Kalb, den Rohstoffhandel, bislang mit Samthandschuhen an.

Schweiz Demonstrationen gegen den Ukraine-KriegAuch in der Schweiz wird gegen Putin demonstriert. Bislang wird der Rohstoffhandel aber nicht angetastet und er gewinnt an Bedeutung. Allein in den Jahren 2003 bis 2011 haben sich die Nettoerträge aus dem Schweizer Rohstoffhandels von 2 auf 20 Milliarden Schweizer Franken verzehnfacht.

Finanzplatz ist die Basis des Rohstoff-Handelsplatzes

Dazu muss man wissen, dass Rohstoffe oft direkt zwischen Regierungen gehandelt werden und über Rohstoffbörsen. Außerdem werden sie im freien Handel vertrieben. Auf diesen Direktverkauf haben sich die Unternehmen in der Schweiz spezialisiert. Ein wichtiger Grund: Hier gibt es genug vom wichtigsten Rohstoff für den Rohstoffhandel: Kapital.

Allein für eine Tankerladung Rohöl müssen je nach aktuellem Preis schnell mal 100 Millionen Dollar aufgebracht werden. Geld, dass Unternehmen nicht in der Portokasse haben. Die richtigen Finanzierungsinstrumente für solche Geschäfte wurden in der Schweiz entwickelt.

Häufig werden dabei sogenannte Akkreditive genutzt. Dabei gibt die Bank dem Händler einen Kredit und bekommt als Sicherheit ein Dokument, mit dem sie zum Inhaber der Ware wird. Sobald der Käufer die Rohstoffe bei der Bank bezahlt hat, wird ihm im Gegenzug dieses Dokument und damit der Besitz an den Rohstoffen übergeben. Dadurch hat der Händler einen großen Kreditrahmen, ohne auf Kreditwürdigkeit geprüft zu werden – und die Bank hat als Sicherheit den Warenwert.

Glencore I SchweizTrotz UNO-Handelsembargo verkaufte der Schweizer Rohstoffhändler Marc Rich südafrikanisches Öl des geächteten Apartheidregimes. Völlig legal, denn die Schweiz hatte sich dem UNO-Boykott nicht angeschlossen. Damit legte der den Grundstein zum späteren Rohstoffhandelsriesen Glencore.

Kaum jemand weiß Genaues

Es handelt sich um einen sogenannten Transithandel, bei dem nur das Geld über die Schweiz fließt. Die gehandelten Rohstoffe berühren in der Regel nie Eidgenössischen Boden, sondern gehen vom Herkunftsland direkt ins Empfängerland. Entsprechend landen keine Informationen über den Umfang des Handels bei der Schweizer Zollverwaltung. Lediglich die Schweizerische Nationalbank veröffentlicht einige Daten, die aber den Rohstofffluss nicht genau erfassen. Damit ist nur eines klar: Alles ist unklar.

„Der ganze Rohstoffhandel ist untererfasst und unterreguliert,“ sagt Elisabeth Bürgi Bonanomi von der Universität in Bern. „Sie müssen sich Daten ziemlich zusammensuchen, und nicht alle Informationen sind erhältlich.“ Wer kauft von wem welche Rohstoffe zu welchen Preisen – das bleibt somit im Dunkeln. Auch die Eigentümer der nicht börsennotierten Rohstoffhändler in der Schweiz sind meist nicht bekannt. Sie befinden sich, abgesehen von der börsennotierten Glencore, alle in privater Hand. „Da gibt es eine ganze Reihe von Firmen, die unter dem Radar der Behörden fliegen und deren eigentliche Nutznießer nicht bekannt sind, weil sie beispielsweise in undurchsichtigen Offshore-Holdings verwaltet werden“, sagt Classen. Eine gute Investitionsmöglichkeit also auch für russische Oligarchen.

Ohne Regulierung laufen schmutzige Geschäfte leichter

Die mangelnde Regulierung ist für Rohstoffhändler sehr reizvoll – zumal viele Rohstoffe in nicht-demokratischen Ländern abgebaut werden. „Im Unterschied zum Finanzmarkt, wo Regeln bestehen zur Bekämpfung von Geldwäsche, zur Bekämpfung von illegalen oder illegitimen Finanzflüssen und eine Finanzmarktaufsichtsbehörde existiert, gibt es das für den Rohstoffhandel aktuell nicht“, sagte David Mühlemann von Public Eye gegenüber der ARD.

„Es braucht eine Regulierung des Rohstoffhandels. Man braucht Transparenz über die Zahlungen von Rohstoffhändlern an Regierungen, insbesondere an autokratische Regime, die diese Gelder in ihre eigenen Taschen umleiten oder im schlimmsten Fall auch Kriege finanzieren“, so Mühlemann. „Dabei geht es nicht nur um Russland.“

Die Rohstoffhändler seien inzwischen auch häufig Kreditgeber für ganze Länder, erklärt Oliver Classen von Public Eye. So habe beispielsweise Glencore dem Tschad über eine Milliarde Dollar als Kreditlinie gegeben und dafür den Zugriff auf deren Rohöl-Vorkommen bekommen.

Kindheit im TschadSeit langem fördern Großkonzerne im Tschad Erdöl. Die Milliardeninvestitionen wurden als Projekt zur Armutsbekämpfung verkauft. Beim Volk angekommen ist von dem Ölsegen aber wenig.

Reicht die Finanzmarktaufsicht?

Obwohl der Schweizer Bundesrat das Problem anerkennt, vertraut er weiterhin auf eine indirekte Aufsicht der Rohstoffhändler durch die Banken selbst,“ heißt es bei Amnesty International. Diese seien jedoch nicht verpflichtet, sich dafür zu interessieren, mit wem ihre Kunden Geschäfte machen – wohin ihr Geld also letztendlich geht. „Der Regierung scheint das auszureichen. In ihren Augen besteht keine Notwendigkeit für ein Rohstoffgesetz oder eine spezielle Aufsichtsbehörde.“

Die Nichtregierungsorganisation Public Eye fordert schon seit Jahren, dass in der Schweiz eine Rohstoffmarktaufsicht eingeführt werden müsse – eine unabhängige Behörde nach dem Vorbild der Finanzmarktaufsicht.

Vor Jahren hatten die Schweizer Grünen eine Regulierung des Rohstoffhandels angestoßen, die 2015 im Schweizer Parlament scheiterte. Nun wollen sie erneut vorschlagen, dass es eine entsprechende Regulierungsbehörde eingerichtet wird.

Thomas Matterm, für die Schweizerische Volkspartei (SVP) im Nationalrat, pocht dagegen auf die Neutralität der Schweiz und äußert sich gegen eine neue Aufsichtsbehörde: „Wir brauchen nicht noch mehr Regulierung, auch nicht im Rohstoffbereich.“

Solange aber in der Politik diskutiert wird und andere westlichen Länder nicht den Handel mit Rohstoffen sanktionieren, so lange können Schweizer Rohstoffhändler weiter mit russischen Rohstoffen verdienen und Putins Kriegskasse auffüllen.

Quelle: https://www.dw.com/de/geheime-milliardendeals-schweizer-rohstoffhandel-füllt-putins-kriegskasse/a-61157572

 

Loading

Views: 0

Điều gì sẽ xảy ra nếu Nga thua ở Ukraine?

Thất bại của Moscow không phải là chiến thắng rõ ràng của phương Tây.

Tổng thống Nga Vladimir Putin đã mắc sai lầm chiến lược khi xâm lược Ukraine. Ông đã đánh giá sai kỳ vọng chính trị của người Ukraine, vốn không chờ đợi được giải phóng bởi những người lính Nga. Ông cũng đánh giá sai về Mỹ, Liên minh Châu Âu, và một số quốc gia – gồm Australia, Nhật Bản, Singapore, và Hàn Quốc – tất cả đều có khả năng hành động tập thể khi đứng trước chiến tranh, và tất cả đều đang chờ đợi thất bại của Nga tại Ukraine. Mỹ cùng các đồng minh và đối tác đang áp đặt những lệnh trừng phạt khắc nghiệt lên Moscow. Mỗi cuộc chiến đều là một trận đánh nhằm định hướng dư luận, và cuộc chiến của Putin ở Ukraine – trong thời đại hình ảnh truyền thông đại chúng – đã gắn nước Nga với một cuộc tấn công vô cớ, nhắm vào một láng giềng hòa bình, gây ra thương vong lớn cho dân thường, cùng hàng loạt những tội ác chiến tranh. Dù ở bất cứ đâu, sự phẫn nộ sẽ là một trở ngại cho chính sách đối ngoại của Nga trong tương lai.

Không kém phần quan trọng so với sai lầm chiến lược của Putin là sai lầm chiến thuật của quân đội Nga. Dù biết rằng khó có thể đánh giá tình hình trong giai đoạn đầu của một cuộc chiến, nhưng chắc chắn chúng ta vẫn có thể kết luận rằng công tác lập kế hoạch và hậu cần của Nga là không đầy đủ, và việc binh lính, thậm chí cả các sĩ quan cấp cao, bị thiếu thông tin đã khiến tinh thần họ càng sa sút. Cuộc chiến được cho là sẽ sớm kết thúc, khi một cuộc tấn công chớp nhoáng nhanh chóng hạ gục hoặc buộc chính phủ Ukraine phải đầu hàng, sau đó Moscow sẽ áp đặt tình trạng trung lập lên Ukraine, hoặc thiết lập quyền cai trị (suzerainty) của Nga tại Ukraine. Bạo lực tối thiểu có thể dẫn đến trừng phạt tối thiểu. Nếu chính phủ Ukraine sụp đổ nhanh chóng, Putin có thể tuyên bố rằng mình đã đúng: bởi vì Ukraine đã không sẵn sàng, hoặc không thể tự vệ, nên nước này không phải là một quốc gia thực sự – như lời Tổng thống Nga từng nói.

Nhưng Putin sẽ không thể giành chiến thắng trong cuộc chiến này như ông muốn. Thật vậy, có một số kịch bản mà trong đó cuối cùng người Nga sẽ thua. Putin có thể đẩy quân đội của mình sa lầy trong một cuộc chiếm đóng vô ích và tốn kém ở Ukraine, bào mòn tinh thần binh lính Nga, tiêu tốn tài nguyên, và không mang lại lợi ích gì ngoài danh hiệu “nước Nga vĩ đại” rỗng tuếch, đồng thời khiến quốc gia láng giềng rơi vào cảnh nghèo đói và hỗn loạn. Ông ta có thể kiểm soát, ở mức độ nhất định, các khu vực miền đông và miền nam Ukraine, nhiều khả năng là cả Kyiv, trong khi chiến đấu với lực lượng kháng chiến Ukraine hoạt động ở miền tây, và tham gia chiến tranh du kích trên khắp đất nước – một kịch bản sẽ gợi nhớ đến xung đột giữa các phe phái diễn ra ở Ukraine trong Thế chiến 2. Cùng lúc đó, ông sẽ chứng kiến nền kinh tế Nga dần suy thoái, đất nước Nga ngày càng bị cô lập, và ngày càng không có khả năng tạo ra của cải vốn là chỗ dựa cho các cường quốc. Kết quả là, Putin có thể đánh mất sự ủng hộ của người dân và giới tinh hoa Nga, những người mà ông phụ thuộc vào để có thể tiến hành chiến tranh và duy trì quyền lực của mình, dù Nga không phải là một nền dân chủ.

Putin như thể đang cố gắng thiết lập lại một số hình thức của chủ nghĩa đế quốc Nga. Nhưng trong canh bạc lớn này, dường như ông đã quên mất những sự kiện đã đặt ra dấu chấm hết cho Đế chế Nga. Sa hoàng cuối cùng của Nga, Nicholas II, đã thua trong cuộc chiến với Nhật Bản vào năm 1905. Sau đó, ông trở thành nạn nhân của Cách mạng Bolshevik, không chỉ mất đi vương miện, mà còn mất cả mạng sống. Bài học rút ra: nhà cầm quyền chuyên chế không thể thua trong các cuộc chiến mà vẫn có thể ngồi yên trên ngai vàng được.

Trong cuộc chiến này, không có người chiến thắng

Putin khó có thể thua trên chiến trường Ukraine. Nhưng ông có thể thua khi cuộc chiến đi đến hồi kết và mở ra câu hỏi: ‘Tiếp theo là gì?’ Những hậu quả khôn lường và bị đánh giá thấp của cuộc chiến vô nghĩa này sẽ khiến Nga khó mà chấp nhận nổi. Và việc thiếu kế hoạch chính trị cho tương lai – có thể so sánh với những thất bại về kế hoạch trong cuộc xâm lược Iraq của Mỹ – sẽ góp phần khiến nó trở thành một cuộc chiến không thể thắng được.

Người Ukraine sẽ không thể đẩy lùi quân đội Nga trên đất Ukraine. Quân đội Nga ở một đẳng cấp khác với Ukraine, và hơn nữa, Nga còn là một cường quốc hạt nhân, trong khi Ukraine thì không. Cho đến nay, quân đội Ukraine đã chiến đấu với quyết tâm và kỹ năng đáng ngưỡng mộ, nhưng trở ngại thực sự đối với bước tiến của Nga chính là bản chất của cuộc chiến. Qua các đợt tấn công bằng tên lửa và bom từ trên không, Nga có thể san bằng các thành phố của Ukraine, từ đó đạt được ưu thế trên chiến trường. Họ cũng có thể thử sử dụng vũ khí hạt nhân ở quy mô nhỏ để đạt được hiệu quả tương tự. Nếu Putin đưa ra quyết định này, không có gì trong hệ thống Nga có thể ngăn cản ông ta. “Họ tạo ra sa mạc, và gọi đó là hòa bình”, nhà sử học Tacitus từng viết về nghệ thuật chiến tranh của La Mã, và gán những lời này cho nhà lãnh đạo chiến tranh người Anh Calgacus. Đó cũng là một lựa chọn cho Putin ở Ukraine.

Dù vậy, ông sẽ không thể đơn giản thoát khỏi sa mạc. Putin đã gây chiến để bảo vệ vùng đệm do Nga kiểm soát, nằm giữa đất nước của ông và trật tự an ninh do Mỹ đứng đầu ở châu Âu. Ông ta sẽ không thể tránh khỏi việc xây dựng một cấu trúc chính trị để đạt được mục đích của mình và duy trì một mức độ trật tự nào đó ở Ukraine. Nhưng người dân Ukraine đã thể hiện rằng họ không muốn bị chiếm đóng. Họ sẽ chống trả quyết liệt – thông qua các hành động kháng chiến diễn ra mỗi ngày, và thông qua một cuộc nổi dậy bên trong Ukraine, hoặc chống lại chế độ bù nhìn ở Đông Ukraine do quân đội Nga thiết lập. Có thể tìm thấy điểm tương tự trong cuộc chiến chống Pháp 1954-1962 của Algeria. Pháp là cường quốc quân sự vượt trội. Tuy nhiên, người Algeria đã tìm ra cách để nghiền nát quân đội Pháp và chặn đường tiếp tế từ Paris.

Putin cũng có thể dựng lên một chính phủ bù nhìn, với Kyiv là thủ đô, một chính phủ Vichy của Ukraine. Hoặc ông có thể dùng đến sự hỗ trợ cần thiết từ lực lượng cảnh sát mật để khuất phục người dân của thuộc địa Nga này. Belarus là ví dụ về một quốc gia vận hành theo chế độ chuyên chế, cộng với sự đàn áp của cảnh sát, và sự hậu thuẫn của quân đội Nga. Đây là một mô hình khả thi cho một miền đông Ukraine do Nga cai trị. Tuy nhiên, trên thực tế, nó chẳng khác gì một mô hình giấy. Một Ukraine Nga hóa có thể tồn tại như một ảo tưởng hành chính đối với Moscow, và các chính phủ chắc chắn có khả năng hành động theo những ảo tưởng hành chính của họ. Nhưng nó không bao giờ có thể hoạt động trong thực tế, đơn giản là vì quy mô và lịch sử gần đây của Ukraine.

Trong các bài phát biểu của mình về Ukraine, Putin dường như bị ám ảnh về giai đoạn giữa thế kỷ 20. Ông ta bận tâm về chủ nghĩa dân tộc Ukraine thân Đức của những năm 1940. Do đó, ông nhiều lần đề cập đến Ukraine Quốc xã, và khẳng định mục tiêu của mình là “phi phát xít hóa” Ukraine. Ukraine đúng là có các yếu tố chính trị cực hữu. Tuy nhiên, điều mà Putin không nhìn thấy, hoặc bỏ qua, là tâm lý dân tộc (national belonging) phổ biến hơn và mạnh mẽ hơn nhiều đã xuất hiện ở Ukraine kể từ khi nước này tuyên bố độc lập khỏi Liên Xô vào năm 1991. Phản ứng quân sự của Nga đối với Cách mạng Maidan năm 2014 ở Ukraine, vốn quét sạch một chính phủ thân Nga tham nhũng, là một động lực bổ sung cho tâm lý dân tộc này. Kể từ khi cuộc xâm lược của Nga bắt đầu, Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky đã vô cùng khéo léo trong việc khơi gợi chủ nghĩa dân tộc Ukraine. Sự chiếm đóng của Nga sẽ mở rộng ý thức về tổ quốc (nationhood) của người dân Ukraine, một phần bằng cách tạo ra nhiều “thánh tử đạo”, những người hy sinh vì dân tộc – giống như những gì mà hành động chiếm đóng Ba Lan của Đế quốc Nga vào thế kỷ 19 đã tạo ra với người dân Ba Lan.

Vì vậy, để thực sự hiệu quả, chiến dịch chiếm đóng sẽ phải là một hoạt động chính trị lớn, diễn ra trên ít nhất một nửa lãnh thổ của Ukraine. Nó sẽ là một cuộc chiến tốn kém khôn tả. Hoặc có thể Putin đã nghĩ đến điều gì đó giống như Hiệp ước Warsaw, từng giúp Liên Xô cai trị nhiều quốc gia-dân tộc châu Âu. Phương án này cũng đắt đỏ – nhưng nó không đắt bằng việc kiểm soát một khu vực nổi loạn, được nhiều đối tác nước ngoài trang bị tận răng, và chỉ chực chờ đánh vào bất kỳ điểm yếu nào của Nga. Một nỗ lực như vậy sẽ chỉ làm cạn kiệt ngân khố của Nga.

Trong khi đó, các biện pháp trừng phạt mà Mỹ và các nước châu Âu áp đặt lên Nga sẽ dẫn đến việc tách Nga ra khỏi nền kinh tế toàn cầu. Đầu tư nước ngoài sẽ giảm. Vốn sẽ phải khó khăn lắm mới có được. Chuyển giao công nghệ sẽ ngưng trệ. Các thị trường sẽ đóng cửa với Nga, có thể bao gồm cả thị trường khí đốt và dầu, mà doanh số từ các thị trường này lại đóng vai trò quan trọng trong việc hiện đại hóa nền kinh tế của Putin. Dòng chảy chất xám kinh doanh và khởi nghiệp sẽ chảy ra khỏi Nga. Hậu quả lâu dài của những chuyển đổi này là có thể dự đoán được. Như nhà sử học Paul Kennedy đã lập luận trong The Rise and Fall of the Great Powers (Sự Hưng thịnh và Suy vong của các Cường quốc), những quốc gia như vậy có xu hướng tham gia vào các cuộc chiến tranh sai lầm, gánh thêm gánh nặng tài chính, và do đó tự tước đi tăng trưởng kinh tế – huyết mạch của một cường quốc. Trong trường hợp giả định Nga có thể khuất phục được Ukraine, thì Nga cũng có thể tự hủy hoại chính mình trong quá trình đó.

Một biến số quan trọng trong hồi kết của cuộc chiến này là công chúng Nga. Chính sách đối ngoại của Putin đã được ủng hộ trong quá khứ. Ở Nga, sáp nhập Crimea là sự kiện nổi tiếng. Tính quyết đoán của Putin không hấp dẫn tất cả người Nga, nhưng nó vẫn hấp dẫn nhiều người. Điều này có thể sẽ được duy trì trong những tháng đầu cuộc chiến của Putin ở Ukraine. Thương vong của lính Nga sẽ được tưởng nhớ, và nó cũng sẽ tạo ra một động cơ, như trong tất cả các cuộc chiến tranh khác, là biến thương vong thành hành động có mục đích, từ đó tăng cường chiến tranh và chiến dịch tuyên truyền. Một nỗ lực toàn cầu nhằm cô lập Nga có thể phản tác dụng, nếu thế giới bên ngoài bị chặn đứng, khiến người Nga phải gắn căn tính dân tộc mình với sự bất bình và phẫn nộ.

Tuy nhiên, kịch bản khả dĩ hơn là nỗi kinh hoàng của cuộc chiến này sẽ phản tác dụng với chính Putin. Người Nga đã không xuống đường để phản đối các vụ đánh bom của Nga vào Aleppo, Syria, hồi năm 2016, cũng như thảm họa nhân đạo mà các lực lượng Nga đã tiếp tay trong cuộc nội chiến tại đây. Nhưng Ukraine mang một ý nghĩa hoàn toàn khác đối với người Nga. Hàng triệu gia đình Nga-Ukraine có liên kết với nhau. Hai nước chia sẻ văn hóa, ngôn ngữ, và tôn giáo. Thông tin về những gì đang xảy ra ở Ukraine sẽ tràn vào Nga qua mạng xã hội và các kênh khác, từ đó bác bỏ và làm mất uy tín của các tuyên truyền viên. Đây là một tình huống lưỡng nan về đạo đức mà Putin không thể giải quyết chỉ bằng đàn áp. Sự đàn áp chính nó cũng có thể phản tác dụng. Đây nào phải chuyện lạ trong lịch sử Nga: chỉ cần hỏi người Liên Xô thì biết.

Hậu quả cho tương lai

Hậu quả của việc Nga thua tại Ukraine sẽ khiến châu Âu và Mỹ phải đối mặt với những thách thức mang tính nền tảng. Giả sử một ngày nào đó Nga buộc phải rút quân, thì việc xây dựng lại Ukraine, với mục tiêu chính trị là chào đón nước này gia nhập EU và NATO, sẽ là một nhiệm vụ nặng nề. Và phương Tây không được để Ukraine thất bại một lần nữa. Mặt khác, một hình thức kiểm soát yếu của Nga đối với Ukraine có thể đồng nghĩa với việc xuất hiện một khu vực giao tranh liên tục, có nhiều rạn nứt, bất ổn, với cơ cấu quản lý hạn chế hoặc không có, nằm ngay phía đông biên giới của NATO. Thảm họa nhân đạo sẽ không giống như bất cứ điều gì mà châu Âu từng chứng kiến suốt hàng thập niên qua.

Đáng lo ngại không kém là viễn cảnh về một nước Nga bị suy yếu và bị sỉ nhục, âm thầm dồn nén những cảm xúc phục thù giống như những gì đã nổi lên ở Đức sau Thế chiến 1. Nếu Putin duy trì quyền lực của mình, Nga sẽ trở thành một quốc gia bị bài xích, một siêu cường bất hảo với một đội quân bị hạ cấp, nhưng kho vũ khí hạt nhân thì vẫn còn nguyên. Tội lỗi và vết nhơ của cuộc chiến Ukraine sẽ ở lại với chính trường Nga thêm vài chục năm, hiếm khi nào một quốc gia thu được lợi ích từ một cuộc chiến họ đã thua. Sự vô ích của những chi phí bỏ ra cho cuộc chiến đó, thương vong nhân mạng, và sự suy giảm vị thế địa chính trị sẽ xác định con đường cho nước Nga và cho chính sách đối ngoại Nga trong nhiều năm tới, và sẽ rất khó để hình dung một nước Nga tự do trỗi dậy sau những gì khủng khiếp của cuộc chiến này.

Ngay cả khi Putin mất đi quyền lực ở Nga, nước này cũng khó có thể trở thành một nền dân chủ thân phương Tây. Họ có thể bị chia tách, đặc biệt là ở Bắc Caucasus. Hoặc cũng có thể trở thành một chế độ độc tài quân sự sở hữu vũ khí hạt nhân. Các nhà hoạch định chính sách sẽ không sai khi hy vọng về một nước Nga tốt đẹp hơn, và về cái ngày mà một nước Nga thời hậu Putin có thể thực sự hội nhập vào châu Âu. Họ nên làm những gì có thể để tạo điều kiện cho khả năng này, ngay cả khi họ chống lại cuộc chiến của Putin. Tuy nhiên, họ sẽ thật sai lầm nếu không chuẩn bị cho những kịch bản đen tối hơn.

Lịch sử đã chỉ ra rằng việc xây dựng một trật tự quốc tế ổn định là vô cùng khó khăn, nếu có một cường quốc theo khuynh hướng phục thù, bị sỉ nhục ở vị trí trung tâm của nó, đặc biệt là một cường quốc với tầm cỡ của Nga. Để xây dựng trật tự, phương Tây sẽ phải áp dụng cách tiếp cận liên tục cô lập và ngăn chặn. Giữ Nga ở thế yếu, và giữ Mỹ ở lại cùng mình sẽ trở thành ưu tiên đối với châu Âu trong một kịch bản như vậy, bởi châu Âu phải gánh trọng trách chính trong việc quản lý một nước Nga bị cô lập sau cuộc chiến thất bại ở Ukraine. Về phần mình, Washington muốn tập trung vào Trung Quốc. Còn Trung Quốc có thể cố gắng tăng cường ảnh hưởng của mình đối với một nước Nga đang suy yếu – từ đó dẫn đến việc hình thành một liên minh cùng sự thống trị của Trung Quốc mà phương Tây muốn ngăn chặn vào đầu những năm 2020.

Trả bất cứ cái giá nào?

Không ai trong hay ngoài nước Nga muốn Putin chiến thắng trong cuộc chiến ở Ukraine. Tốt hơn hết là ông ta thua trận. Tuy nhiên, một thất bại của Nga sẽ không phải là lý do để ăn mừng. Nếu Nga ngừng xâm lược, thì bạo lực đã gây ra cho Ukraine vẫn là một vết thương hằn sâu nhiều thế hệ, nhưng vấn đề là Nga sẽ không sớm chấm dứt xâm lược. Mỹ và châu Âu nên tập trung vào việc khai thác những sai lầm của Putin, không chỉ bằng cách củng cố liên minh xuyên Đại Tây Dương, và khuyến khích người châu Âu hành động theo mong muốn lâu dài của họ về chủ quyền chiến lược, mà còn bằng cách làm cho Trung Quốc thấy rõ bài học thất bại của Nga: hành động thách thức các chuẩn mực quốc tế, chẳng hạn như chủ quyền quốc gia, sẽ đi kèm với chi phí thực tế, và chủ nghĩa phiêu lưu quân sự sẽ làm suy yếu các quốc gia lựa chọn đi theo con đường đó.

Nếu một ngày nào đó, Mỹ và châu Âu có thể giúp Ukraine khôi phục chủ quyền và đồng thời, nếu họ có thể thúc đẩy Nga cùng Trung Quốc chia sẻ nhận thức về trật tự quốc tế, thì sai lầm lớn nhất của Putin sẽ trở thành một cơ hội cho phương Tây. Nhưng để đạt được điều đó, cái giá phải trả sẽ là cực kỳ đắt.

BDN

Loading

Views: 0

Khi văn kiện COC còn nhiều lỗ hổng

Chưa có khi nào mà ASEAN có vị thế như hiện nay. Đây là dịp tốt nhất để các nước trong khối tăng cường vai trò trung tâm của mình, tạo lợi thế đàm phán về Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC).

Năm 2022 là năm đánh dấu 20 năm ký kết Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC). Theo tinh thần của Tuyên bố này, các quốc gia Đông Nam Á và Trung Quốc sẽ tiếp tục bàn thảo, đi đến thống nhất Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông. Thế nhưng 20 năm ấy, Trung Quốc chính là nước đã cố tình dây dưa, không muốn hoàn thành Bộ quy tắc quan trọng này.

Lý do mà Bắc Kinh nại ra đủ can cớ, tìm cách trì hoãn là vì nước này có quá nhiều vi phạm luật pháp quốc tế. Nếu COC được thông qua chính là cái dây trói tay Trung Quốc thực hiện âm mưu biến Biển Đông thành ao nhà.

Thế nhưng năm 2020, khi Campuchia làm Chủ tịch ASEAN sẽ rất thuận lợi cho Trung Quốc trong việc đàm phán Bộ quy tắc ứng xử. Bởi Phnompenh ngày càng lộ rõ sự lệ thuộc của một nước chư hầu đối với Trung Quốc. Thuận lợi như thế, Bắc Kinh muốn áp đặt âm mưu của mình trong việc đàm phán, nhưng xem ra các thành viên trong ASEAN tỏ ra cứng rắn đối với những điều kiện mà Bắc Kinh nêu ra.

Khi chưa chín muồi thì tốt nhất chưa nên đem ra đàm phán. Quan thầy cho ý chỉ và nhược tiểu răm rắp thực hiện. Năm 2021 và 2022 hai cuộc họp dự kiến diễn ra tại Campuchia đều bị trì hoãn bởi một lý do lãng xẹt: Một số nhà lãnh đạo ASEAN chưa sẵn sàng (!).

Bạn đọc còn nhớ, từ năm 2017, ASEAN đã chính thức thông qua dự thảo khung COC sau bốn năm đàm phán với Trung Quốc. Vậy mà từ cái “khung” đến cái tổng thể cứ kéo dài bất tận. Đúng ra thỏa thuận này cần phải ra đời sớm hơn rất nhiều, góp phần duy trì ổn định trong khu vực.

Trong suốt 5 năm qua, khi COC chưa được ban hành thì Trung Quốc tiếp tục quân sự hóa Biển Đông, nhằm tạo tình thế đã rồi khi bước vào đàm phán chính thức. Bắc Kinh ngang ngược nêu ra “tầm nhìn ba bước” khi đối thoại với ASEAN. Trong cái gọi là tầm nhìn này, một nội dung được họ đặt ra là: chỉ chính thức thông báo việc khởi động tiến trình đàm phán COC tiếp theo “nếu không có can thiệp nước ngoài nghiêm trọng nào và tình hình Biển Đông ổn định”.

Cụm từ “can thiệp bên ngoài” là rất mơ hồ. Nhà cầm quyền Bắc Kinh nêu ra mà không kèm theo bất kỳ diễn giải cụ thể nào. Nó đích thực là công cụ họ kiểm soát tiến trình đàm phán theo ý muốn.

Là vùng biển quốc tế, Biển Đông đóng vai trò chiến lược khi là cầu nối cho một lượng rất lớn tàu bè các nước di chuyển qua lại hai khu vực Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương. Do vậy, ngoài tranh chấp chủ quyền giữa Trung Quốc với một số nước ASEAN thì tồn tại song song đó là mâu thuẫn lợi ích với nhiều bên khác ngoài khu vực như Mỹ, châu Âu, Nhật Bản, Ấn Độ… Việc Bắc Kinh đòi hỏi “không có can thiệp nước ngoài” là gần như không thể. Biển Đông đâu có phải là sân nhà của Trung Quốc để nước này đặt ra điều kiện phi lí đó.

Cần phải nói thẳng, sự dây dưa, bất chấp luật pháp quốc tế của Trung Quốc là tiền lệ rất xấu. Tuy đã tham gia DOC, nhưng Trung Quốc không tôn trọng các nguyên tắc mà chính nước này đã thống nhất với các nước thành viên ASEAN. “Đường chín đoạn” mà Bắc Kinh viện dẫn để lý giải cho các hành động ngang ngược ở Biển Đông đã bị Tòa Trọng tài thường trực LHQ (PCA) vất vào sọt rác, nhưng Trung Quốc vẫn tai lành tai điếc làm mọi điều ngang ngược trên Biển Đông.

Cụ thể là, trong nhiều năm qua, lực lượng hải cảnh và dân quân biển Trung Quốc ở Biển Đông vẫn tiếp tục gây rối, cản trở hoạt động khai thác dầu khí, tấn công tàu cá Việt Nam và khiêu khích nhiều quốc gia ASEAN khác.

Thủ tướng Campuchia Hun Sen từng sốt sắng nêu ra tham vọng hoàn tất COC ngay trong năm 2022, khi nước này đảm nhận vai trò chủ tịch luân phiên của Hiệp hội Các quốc gia Đông Nam Á. Và Bắc Kinh đã nhiệt thành cổ vũ.

Tuy nhiên, ASEAN không dễ dàng sa bẫy Trung Quốc. Tầm quan trọng ngày càng tăng của các quốc gia ASEAN về an ninh kinh tế, an ninh hàng hải, môi trường, các mục tiêu phát triển bền vững ngày càng được thể hiện. Thêm nữa, các nước ngoài khu vực như Mỹ, Anh, Nhật, Úc cùng Liên minh châu Âu (EU) đang cố gắng “làm sâu sắc hơn nữa quan hệ hợp tác với các nước ASEAN”.

Thái độ nhất quán của các nước ASEAN là, khi văn kiện vẫn còn những lỗ hổng thì dứt khoát không vội vàng thỏa hiệp.

Các lỗ hổng đó tập trung ở mấy điểm: một, bản dự thảo hiện tại đã không đưa ra khái niệm rõ ràng mặt địa lý liên quan phạm vi áp dụng COC; hai, các bên vẫn chưa thống nhất được COC sẽ là một văn kiện có tính ràng buộc pháp lý hay chỉ đơn thuần là một “tuyên bố chính trị”; ba, không nêu ra “các quy tắc, cơ chế giải quyết tranh chấp hay chế tài rõ ràng”. Dự thảo cũng không thống nhất quy định liên quan tới các quốc gia bên ngoài khu vực. Bắc Kinh mong muốn loại bỏ sự tham gia của các cường quốc không giáp Biển Đông, trong khi các nước ASEAN coi sự tham gia như vậy sẽ là nhân tố dung hòa tầm ảnh hưởng của Trung Quốc.

Theo các chuyên gia quốc tế, để đạt được các mục tiêu liên quan COC, cần có sự phối hợp với Indonesia, Chủ tịch ASEAN năm 2023. Không nên để Campuchia dịp này cố “gò” cho bằng được thể hiện sự trung thành với quan thầy.

Cần thiết phải tiếp tục đối thoại một cách thật sự để thể hiện với Trung Quốc rằng ASEAN là một phần của khu vực. ASEAN không phải con rối để Bắc Kinh giật dây.

BDN

Loading

Views: 0

Trường Sa 1988 – Hồ sơ một sự kiện lịch sử: Bùng nổ trận chiến truyền thông và ngoại giao

Tại Việt Nam một trận chiến ngoại giao, báo chí bày tỏ sự phẫn nộ trước những “tội ác mới” của Trung Quốc đã diễn ra.
Tuyên bố của Bộ Ngoại giao VN ngày 14.3.1988 (Báo Quân đội nhân dân ngày 15.3.1988).

Lên án mạnh mẽ

Trong cuộc thảm sát Gạc Ma ngày 14.3.1988 đã có 64 cán bộ chiến sĩ hải quân Việt Nam hy sinh, 3 tàu của hải quân Việt Nam bị bắn chìm và 9 chiến sĩ bị bắt giữ. Những chiến sĩ bị bắt giữ đa số bị thương nặng, phía Trung Quốc vớt và nhốt trong hầm tàu, không băng bó, không cho ăn uống… Họ bị đối xử như những tù binh chiến tranh. Mãi đến 3 năm sau, với nhiều nỗ lực ngoại giao từ phía Việt Nam, phía Trung Quốc mới chịu trao trả họ qua cửa khẩu Hữu Nghị – Lạng Sơn.

Sự căm phẫn trước sự ngang ngược và tàn bạo cũng được các tờ báo lớn lúc bấy giờ như Nhân Dân, Quân đội nhân dân thể hiện qua các bản tin, các bài xã luận và tường thuật vạch rõ chân tướng quân xâm lược Trung Quốc. Cuộc chiến truyền thông và ngoại giao được đẩy mạnh trong ít hôm sau cuộc thảm sát nổ ra.

Báo Nhân Dân, số 12310 ra ngày 26.3.1988 đăng nguyên văn Tuyên bố chính thức của Bộ Ngoại giao Việt Nam với dòng tựa lớn ở trang nhất: Nhân dân và Chính phủ Việt Nam cực lực lên án và tố cáo tội ác mới của nhà cầm quyền Trung Quốc ở khu vực quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Bài báo trên đăng văn bản chính thức của Bộ Ngoại giao Việt Nam chỉ rõ “tội ác mới”, “dã tâm”, “mưu toan” của Trung Quốc sẽ có ảnh hưởng đến hòa bình khu vực: “Trong khi chưa đáp ứng đề nghị của Chính phủ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về việc đàm phán để giải quyết những bất đồng liên quan đến quần đảo Trường Sa và trong khi chờ đợi hai bên cam kết không dùng vũ lực để giải quyết vấn đề tranh chấp thì hành động nói trên của nhà cầm quyền Trung Quốc đang phơi bày dã tâm của họ, mưu toan dùng vũ lực mở rộng quy mô và cường độ xung đột ở vùng biển quần đảo Trường Sa, lấn chiếm lâu dài lãnh thổ Việt Nam, thực hiện âm mưu bành trướng ở Biển Đông”.

Báo Nhân Dân cũng đăng nhiều tài liệu chứng minh chủ quyền quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam một cách liền lạc, liên tục, kể cả các sử liệu quý trong thời nhà Nguyễn và thời Việt Nam Cộng hòa.

Trong bài Chủ quyền Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là không thể tranh cãi được đăng trên Nhân Dân ngày 26.3.1988, đã có phần kết luận khá đanh thép về việc Trung Quốc từ chối đàm phán hòa bình: “Cái lý của chủ nghĩa bành trướng bá quyền là thế đó. Nhưng điều đó không thể làm nao núng quyết tâm sắt đá của nhân dân ta bảo vệ chủ quyền của mình đối với hai quần đảo. Nhưng sự biến thiên của lịch sử loài người đã chứng minh chính nghĩa cuối cùng bao giờ cũng thắng”.

Ngày 1.4.1988, Vụ trưởng Vụ Trung Quốc, Bộ Ngoại giao Nguyễn Phượng Vũ đã tiếp và trao cho ông Lý Thế Thuân (Đại sứ Trung Quốc tại Việt Nam) một bản ghi nhớ, yêu cầu Trung Quốc cung cấp thuốc men chăm sóc, đảm bảo tính mạng và nhanh chóng trao trả các chiến sĩ đang bị bắt giữ trở về Việt Nam và không cản trở việc cứu hộ trên biển của phía Việt Nam. Mặc dù phía Trung Quốc đã đồng thuận về việc tôn trọng cứu hộ, nhưng vấn đề là lúc bấy giờ ngay trên vùng biển Trường Sa, Trung Quốc vẫn không thôi hung hăng, sẵn sàng dùng vũ lực với các tàu cứu hộ và trục vớt tàu bị bắn chìm.

Như “ánh sáng và bóng tối”

Báo Nhân Dân đưa tin: “Ngày 4.4.1988, trong khi đang làm nhiệm vụ cứu hộ các thủy thủ và tàu Việt Nam bị Trung Quốc bắn chìm vào ngày 14.3.1988 tại cụm đảo Sinh Tồn thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam, các tàu cứu hộ Việt Nam là Đại Lãnh 462 và 614 đã bị các tàu Trung Quốc mang biển số 854, 511, 513 vây quanh và uy hiếp” (số ngày 6.4.1988).

Báo Quân đội nhân dân ngày 8.4.1988 thì khẳng định sự kiện Trường Sa một lần nữa nổi lên trước dư luận Đông Nam Á và thế giới “về hai chính sách trái ngược nhau như ánh sáng và bóng tối”.

Nhưng mặc cho làn sóng phản ứng của nhân dân và Chính phủ Việt Nam, ngày 13.4.1988, Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc khóa 7 của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã thông qua nghị quyết thành lập tỉnh Hải Nam bao gồm các đảo, bãi đá ngầm và vùng biển thuộc hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam (mà họ gọi là Tây Sa và Nam Sa).

Bộ Ngoại giao Việt Nam ra thông báo phản đối ngay sau đó: “Việc quốc hội Trung Quốc sáp nhập quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vào tỉnh Hải Nam của Trung Quốc là hoàn toàn bất hợp pháp và không có giá trị”.

BDN

Loading

Views: 0

Thủ tướng: Xây dựng Trường Sa là thành trì bảo vệ chủ quyền biển đảo

Thủ tướng lưu ý việc quy hoạch xây dựng huyện đảo Trường Sa trở thành trung tâm kinh tế, văn hóa, xã hội trên biển của cả nước và là thành trì vững chắc, bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc.
Thủ tướng yêu cầu Khánh Hòa tập trung nhiều hơn nữa và dứt điểm cho công tác quy hoạch.

Ngày 13/3, Thủ tướng Phạm Minh Chính làm việc với Ban Thường vụ Tỉnh ủy Khánh Hòa về tình hình thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội, công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị năm 2021, phương hướng, nhiệm vụ năm 2022.

Các ý kiến tại cuộc họp đều đánh giá tiềm năng, thế mạnh, cơ hội rất lớn của Khánh Hòa trong phát triển kinh tế – xã hội, nhất là về điều kiện địa lý, tài nguyên thiên nhiên, truyền thống lịch sử – văn hóa, đặc biệt là biển và tài nguyên biển.

Cụ thể, tỉnh Khánh Hòa nằm ở trung tâm các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ, có 3 vịnh lớn, thềm lục địa và vùng lãnh hải rộng lớn, có quần đảo Trường Sa có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng về quốc phòng, bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của đất nước. Tỉnh Khánh Hòa là tâm điểm kết nối vùng giữa Tây Nguyên với Nam Trung bộ, là cửa ngõ giao thương quốc tế cho cả khu vực Nam Trung bộ và Tây Nguyên.

Phát biểu kết luận cuộc họp, Thủ tướng nêu rõ, ngoài các thành phố lớn trực thuộc Trung ương, Khánh Hòa là một trong số ít tỉnh được Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết riêng về định hướng xây dựng và phát triển.

Thủ tướng nhấn mạnh, Khánh Hòa có những điều kiện thuận lợi không địa phương nào tại Việt Nam có được, cụ thể là điều kiện tự nhiên (có rừng, có núi, có biển, có đảo), điều kiện kinh tế – xã hội (các tuyến giao thông của cả nước đều đi qua đây)…

Người đứng đầu Chính phủ đánh giá, trong năm 2021, Khánh Hòa đã có đóng góp quan trọng vào thành tựu, kết quả chung cả nước, nhất là phòng, chống dịch có hiệu quả, thu ngân sách vượt chỉ tiêu và tăng so năm 2020.

Về nhiệm vụ trong năm 2022 và năm 2023, Thủ tướng yêu cầu tỉnh Khánh Hòa tổng kết thực tiễn, phân tích kỹ, mổ xẻ những tồn tại, hạn chế, bất cập, phát huy những kết quả, rút ra kinh nghiệm để làm tốt hơn nhiệm vụ thời gian tới.

Thủ tướng yêu cầu tỉnh Khánh Hòa phát huy mạnh mẽ tiềm năng khác biệt, cơ hội nổi trội, lợi thế cạnh tranh; mặt khác, phải tự tạo cơ hội mới để thu hút nguồn lực bên ngoài, từ thế giới cho phát triển. Với vị trí chiến lược, tỉnh Khánh Hòa phải kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa phát triển kinh tế – xã hội với bảo vệ quốc phòng, an ninh.

Người đứng đầu Chính phủ lưu ý tỉnh Khánh Hòa cần quan tâm đầu tư cho công tác bồi dưỡng, đào tạo, nâng cao năng lực, trình độ, bản lĩnh cán bộ, theo tinh thần đây là khâu “then chốt của then chốt” và đầu tư cho nhân lực là đầu tư cho phát triển; xây dựng đội ngũ cán bộ năng động, chủ động, sáng tạo, thích ứng tình hình, chuyên nghiệp, tận tụy, đam mê, trách nhiệm, vì nhân dân phục vụ.

Về nhiệm vụ cụ thể, Thủ tướng đặc biệt lưu ý việc quy hoạch xây dựng huyện đảo Trường Sa trở thành trung tâm kinh tế, văn hóa, xã hội trên biển của cả nước và là thành trì vững chắc bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc.

“Việc này cần làm càng sớm càng tốt và ngay sau quy hoạch phải dành nguồn lực để thực hiện, trước mắt ưu tiên nguồn lực xây dựng trung tâm hậu cần nghề cá tại đây; tiếp tục vận động người dân tham gia phát triển kinh tế – xã hội, văn hóa, ổn định cuộc sống lâu dài trên huyện đảo, theo đúng đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, trên cơ sở luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên Hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) năm 1982”, Thủ tướng lưu ý.

Cùng với đó, tỉnh Khánh Hòa cần tập trung nghiên cứu, đề xuất một số cơ chế, chính sách để thực hiện Nghị quyết 09 của Bộ Chính trị; xây dựng chương trình, kế hoạch để cụ thể hóa và triển khai ngay các chủ trương, định hướng, nhiệm vụ, giải pháp nêu trong Nghị quyết.

Một nhiệm vụ khác là tỉnh Khánh Hòa cần kiểm soát hiệu quả dịch bệnh, hoàn thành việc tiêm vaccine cho người dân theo yêu cầu của Chính phủ, nâng cao năng lực y tế dự phòng, y tế cơ sở đáp ứng yêu cầu phòng, chống dịch trong điều kiện hiện nay.

Thủ tướng yêu cầu tỉnh Khánh Hòa dứt khoát rà soát lại, cơ cấu lại, nâng cao hiệu quả đầu tư công, mạnh dạn cắt bỏ những dự án chưa cần thiết, tránh dàn trải, chia cắt, manh mún gây kéo dài, lãng phí, bảo đảm có trọng tâm, trọng điểm, dồn nguồn vốn tập trung cho các dự án lớn có tác động lan tỏa, lâu dài.

Cho ý kiến cụ thể về các đề xuất, kiến nghị của tỉnh, Thủ tướng một lần nữa nhấn mạnh yêu cầu phát huy tinh thần tự lực, tự cường, không trông chờ, ỷ lại, đi lên từ “bàn tay, khối óc, chân trời, cửa biển” của mình; đồng thời tự tạo cơ hội mới để thu hút nguồn lực bên ngoài, đặc biệt là nguồn lực đổi mới sáng tạo, khoa học công nghệ, nguồn vốn và cách quản trị.

BDN

Loading

Views: 0

Trả lại sự thật lịch sử bằng đúng tên gọi của nó !

Gần đây các nhà đạo cao nhất của Việt Nam đã tới thắp hương tại Nghĩa trang Liệt sĩ Vị Xuyên, Hà Giang và mới nhất là Khu tưởng niệm các Liệt sĩ hi sinh ngày 14/3/1988 tại đảo Gạc Ma (quần đảo Trường Sa).

Tuy không tuyên bố ồn ào về việc Hà Nội lên án hành động xâm lược của Nhà cầm quyền Bắc Kinh hồi tháng 2/1979 và tháng 3/1988, nhưng rõ ràng việc làm của các nhà lãnh đạo thay mặt Đảng, Nhà nước Việt Nam đã khẳng định: Việt Nam luôn tôn trọng sự thật lịch sử, quyết tâm giữ vững chủ quyền, lãnh thổ, lãnh hải trong bất kỳ tình huống nào. Hành động này được người dân Việt Nam hết sức hoan nghênh, nhất là những bậc cha mẹ, người thân có con em hi sinh trong các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc.

Truyền thông Việt Nam đưa tin, chiều 12/3 Thủ tướng Việt Nam Phạm Minh Chính đã đến khu tưởng niệm chiến sĩ Gạc Ma dâng hương tưởng niệm 64 cán bộ, chiến sĩ quân đội đã ngã xuống trong vụ Trung Quốc đánh chiếm nhóm đảo Gạc Ma- Cô Lin- Len Đao thuộc quần đảoTrường Sa.

34 năm trước, ngày 14/3/1988, lính Trung Quốc bất ngờ đổ bộ lên đá Gạc Ma thảm sát 64 chiến sĩ hải quân (chủ yếu là công binh hải quân) Việt Nam và chiếm đảo. Trong số họ có 56 người đã hòa lẫn vào đại dương, tám người được đồng đội đưa thi thể về đất liền và chỉ có chín người sống sót.

Gạc Ma -một trận hải chiến bi hùng tưởng đã bị lãng quên, nhưng gần đây đã được báo chí Việt Nam nhắc đến.

Điều này cũng tương tự cuộc chiến đấu dũng cảm bảo vệ biên giới phía Bắc Tổ quốc từng bị im lặng trong suốt mấy chục năm. Hãy trả lại lịch sử bằng đúng tên gọi của nó ! Hôm 26/1/2022, ông Phạm Minh Chính cũng đã đến Đài tưởng niệm Pò Hèn (Móng Cái, Quảng Ninh) để thắp hương tưởng niệm các quân nhân hi sinh trong cuộc chiến tranh biên giới với Trung Quốc năm 1979.

Trước ông Chính, hồi tháng 12/2021, ông Nguyễn Xuân Phúc, Chủ tịch nước, cũng đến thăm và dâng hương tại Nghĩa trang này.

Sự thật đã rõ ràng. Thái độ của các nhà lãnh đạo Việt Nam đã được thể hiện nhất quán trong đường lối, chính sách ngoại giao của họ. Khép lại quá khứ nhưng không có nghĩa là quên quá khứ, không để cho phía Trung Quốc xuyên tạc lịch sử. Chính sách ngoại giao của Hà Nội luôn nhất quán, kiên trì, mềm dẻo, nhưng phải kiên quyết bảo vệ, giữ vững chủ quyền, không để một tấc đất nào của tiền nhân để lại mất vào tay giặc.

Riêng về chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa (Trung Quốc gọi là Tây Sa) và Trường Sa (Trung Quốc gọi là Nam Sa) Việt Nam tuyên bố họ có đầy đủ cơ sở pháp lý và bằng chứng lịch sử để chứng minh thuộc chủ quyền Việt Nam. Nói chính xác là các Nhà nước Việt Nam trong lịch sử và cho tới nay đã thực thi chủ quyền ở đây ít ra từ thế kỷ XVII khi hai quần đảo chưa hề thuộc chủ quyền của bất cứ nước nào. Từ đó Việt Nam đã thực hiện việc xác lập và thực thi chủ quyền của mình đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa một cách liên tục và hòa bình.

Vào năm 1951, tại Hội nghị San Francisco (Hoa Kỳ) có một đề nghị bổ sung bản dự thảo Hòa ước yêu cầu trao trả cho Trung Quốc hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Nhưng Hội nghị đã bác bỏ đề nghị này với số phiếu áp đảo là 46 phiếu thuận, 3 phiếu chống và 1 phiếu trắng. Tại Hội nghị, Ngoại trưởng Trần Văn Hữu dẫn đầu phái đoàn Chính phủ Quốc gia Việt Nam đã tuyên bố khẳng định chủ quyền lâu đời của người Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà không gặp sự phản đối hay bảo lưu của nước nào.

Năm 1956 Pháp chuyển giao lãnh thổ miền Nam Việt Nam cho Chính quyền Việt Nam Cộng Hòa (VNCH). Sau đó chính quyền này đã đưa quân ra tiếp quản, tổ chức hai quần đảo về mặt hành chính (lập ở mỗi quần đảo một xã thuộc một huyện ở đất liền), xây các bia chủ quyền, duy trì các trạm khí tượng.

Lợi dụng tình hình rối ren khi Pháp rút khỏi Đông Dương theo Hiệp định Genève năm 1954, Trung Quốc đã bí mật chiếm đóng trái phép nhóm đảo phía đông của quần đảo Hoàng Sa vào năm 1956. Chính quyền VNCH đã kịch liệt phản đối. Năm 1959 quân Trung Quốc giả làm ngư dân đổ bộ lên nhóm đảo phía tây quần đảo Hoàng Sa. Quân đội VNCH đã phát hiện ngăn chặn và bắt giữ 82 “ngư dân” trá hình Trung Quốc. Và chính quyền VNCH tiếp tục quản lý cho đến năm 1974.

Năm 1974, Trung Quốc dùng không quân, hải quân chiếm luôn phần phía tây của quần đảo Hoàng Sa. Chính quyền VNCH đã kịch liệt phản đối hành động xâm lược này của Trung Quốc. Năm 1975, chính quyền VNCH sụp đổ, Hải quân Việt Nam tiếp quản đầy đủ các đảo do quân đội VNCH cai quản trên Biển Đông. Nhà nước Việt Nam thống nhất sau đó tiếp tục khẳng định chủ quyền của người Việt Nam trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, ban hành nhiều văn bản hành chính nhà nước thành lập các huyện đảo Hoàng Sa và huyện đảo Trường Sa cũng như hoàn thiện việc quản lý hành chính trên các quần đảo này.

Thế nhưng “cây muốn lặng gió chẳng đừng”, Bắc Kinh vẫn liên tục đòi hỏi chủ quyền phi lý tại hai quần đảo của Việt Nam. Họ liên tục gây căng thẳng, gia tăng các hoạt động quân sự gây mất an toàn, an ninh trên biển. Họ cố tình trì hoãn việc xây dựng Bộ quy tắc ứng xử trên Biển Đông (COC). Họ ca ngợi “chiến thắng” năm 1979 và năm 1988 đã “dạy cho Việt Nam một bài học” và “đòi” được mấy hòn đảo ở… Nam Sa (!)

Cộng đồng quốc tế không ai có thể tin được sự dối lừa trắng trợn và bất lương.

Thái độ của lãnh đạo Hà Nội đối với những người đã dũng cảm hi sinh vì Tổ quốc tại biên giới phía Bắc và tại quần đảo Trường Sa là bước khởi đầu rất đáng ghi nhận.

BDN

Loading

Views: 0

Raketenangriffe auf US-Konsulat in Kurdenregion im Irak – dahinter soll mutmaßlich der Iran stecken

  • Am frühen Sonntagmorgen ist die Hauptstadt der autonomen Kurdenregion im Nordirak, Erbil, ist mit zwölf Raketen beschossen worden.
  • Kurdischen Regierungsangaben und Videos in den sozialen Medien zufolge soll der Angriff der US-Basis in der Stadt gegolten haben.
  • Die Explosionen detonierten unweit neben des Konsulats in Wohngebieten, eine Person sei laut dem derzeitigen Stand leicht verletzt.
Die irakische Stadt Erbil
Die irakische Stadt Erbil picture alliance/dpa/MAXPPP | Sadak Souici / Le Pictorium

Die Hauptstadt der autonomen Kurdenregion im Nordirak, Erbil, ist am frühen Sonntagmorgen mit zwölf Raketen beschossen worden. Das kurdische Innenministerium erklärte, die Raketen seien auf das US-Konsulat gezielt worden und hätten in einem Wohngebiet eingeschlagen. Der kurdische TV-Sender Rudaw und die „Jerusalem Post“ berichteten, einige Raketen seien in der Nähe des neuen Konsulats zu Boden gegangen, das sich derzeit noch im Bau befinde. Mehrere Gebäude seien beschädigt worden. Nach Angaben des Innenministeriums wurde ein Mensch leicht verletzt.

Kurdische Sicherheitskräfte erklärten, die Raketen seien von außerhalb des Iraks abgeschossen worden, und zwar aus Richtung Osten. Dort liegt der Iran. Mit dem Iran verbündete irakische Milizen hatten in der Vergangenheit mehrfach Raketen auf Ziele abgefeuert, die von den USA genutzt worden. Auch Erbil wurde bereits früher angegriffen. Die Raketen wurden aber immer von irakischem Boden abgefeuert.

Die mit dem Irak verbündeten Milizen hatten den Abzug der US-Truppen gefordert, die zur Unterstützung des Kampfes gegen die Terrormiliz Islamischer Staat (IS) im Land waren. Der US-Kampfeinsatz ist seit Ende des vergangenen Jahres offiziell beendet. Nach dem Abzug der Kampftruppen der von den USA angeführten internationalen Anti-IS-Koalition sollten noch Militärberater im Irak bleiben.

Der irakische Ministerpräsident Mustafa al-Kasimi erklärte auf Twitter, bei dem Beschuss handele es sich um einen Angriff auf die Sicherheit des irakischen Volkes. Der Präsidenten der kurdischen Autonomiegebiete, Masrur Barsani, sprach von einem „Terrorangriff“. Wie die Nachrichtenagentur AP meldete, habe die USA den Angriff in einer Erklärung als „unerhörten Angriff auf die irakische Souveränität und einer Demonstration von Gewalt“ verurteilt.

In den sozialen Medien wurden Videos gepostet, auf denen mehrere Explosionen zu sehen sind. Die Videos lassen sich unabhängig nicht überprüfen.

https://twitter.com/evacool_/status/1502774306748706820?ref_src=twsrc%5Etfw%7Ctwcamp%5Etweetembed%7Ctwterm%5E1502774306748706820%7Ctwgr%5E%7Ctwcon%5Es1_&ref_url=https%3A%2F%2Fwww.businessinsider.de%2Fpolitik%2Fwelt%2Fraketenangriff-auf-us-konsulat-in-kurdenregion-im-irak-war-es-der-iran%2F

Quelle:

https://www.businessinsider.de/politik/welt/raketenangriff-auf-us-konsulat-in-kurdenregion-im-irak-war-es-der-iran/

Loading

Views: 0

Tại sao Bắc Kinh cho rằng Đài Loan khác với Ukraine?

Việc Nga phát động chiến dịch quân sự đặc biệt nhằm vào Ukraine khiến nhiều người đặt ra câu hỏi, liệu Trung Quốc có mở cuộc tấn công tương tự nhằm vào Đài Loan?

Chính quyền Bắc Kinh từ lâu nay đã nhận thấy rằng Washington đang sử dụng hòn đảo tự trị này như một phần trong chiến lược nhằm kìm hãm đối thủ của họ, và cáo buộc Mỹ không tôn trọng chủ quyền của Trung Quốc khi ủng hộ phong trào độc lập ở Đài Loan.

Trung Quốc coi Đài Loan là một phần lãnh thổ không thể tách rời và cần được tái thống nhất dù có phải sử dụng vũ lực. Và câu nói “Hôm nay Ukraine, Ngày mai Đài Loan” nhanh chóng trở thành câu phổ biến ở Đài Loan sau khi Nga mở chiến dịch quân sự nhằm vào Ukraine hồi cuối tháng trước.

Tuy nhiên, nhiều nhà phân tích cho rằng có những sự khác biệt rõ ràng giữa Ukraine và Đài Loan – và chủ quyền chính là yếu tố quan trọng để chỉ ra sự khác biệt giữa ý định của Bắc Kinh với Đài Loan với chiến dịch quân sự của Nga ở Ukraine.

Ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị trong buổi họp báo hôm đầu tuần này đã nhấn mạnh rằng tình hình ở Đài Loan và Ukraine không thể đem ra so sánh – vấn đề Đài Loan hoàn toàn là vấn đề nội bộ của Trung Quốc, trong khi cuộc xung đột hiện tại ở Ukraine là xung đột giữa hai quốc gia.

Nhưng dường như Washington lại rất quan tâm tới sự tương đồng này nên đã nhanh chóng cử một phái đoàn cấp cao bao gồm nhiều cựu quan chức an ninh tới Đài Loan, ngay sau khi Nga phát động chiến dịch quân sự ở Ukraine.

Mặc dù không trực tiếp nhắc tới chuyến thăm đó – trưởng đoàn là cựu Chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng liên quân Mỹ Michael Mullen – nhưng ông Vương Nghị nói rằng Mỹ đang đẩy hòn đảo tự trị vào tình huống nguy hiểm. Ông cũng nhấn mạnh rằng Mỹ và Trung Quốc cần phải hòa thuận và tránh xung đột.

Hiện trạng của Đài Loan là kết quả của cuộc nội chiến giữa Đảng Cộng sản Trung Quốc và Kuomintang (Quốc dân đảng, KMT). Sự kiện này ngừng lại vào năm 1949 với sự thành lập của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Đến năm 1979 Washington mới cắt đứt quan hệ với Đài Bắc và chuyển sang thiết lập quan hệ chính thức với Bắc Kinh.

Tổng thống Mỹ lúc bấy giờ, Jimmy Carter, đã ký Đạo luật Quan hệ Đài Loan, công nhận “nguyên tắc một Trung Quốc” nhưng không làm rõ Bắc Kinh hay Đài Bắc đại diện cho “Trung Quốc”. Thời điểm hiện tại, chỉ có 13 trên tổng số 193 thành viên LHQ công nhận Đài Loan là một nước có chủ quyền. Phần còn lại, giống Mỹ, công nhận Bắc Kinh. Còn Ukraine, một nước từng thuộc Liên bang Xô viết, là một đất nước chủ quyền độc lập, là thành viên của LHQ.

Nga chỉ ra tham vọng gia nhập NATO và EU của Ukraine là hành động vượt “lằn ranh đỏ” của họ. Trong khi đó, Mặc dù Bắc Kinh hết sức phẫn nộ trước việc Washington thách thức hiện trạng của Đài Loan nhưng lại không có lằn ranh đỏ nào bị xâm phạm.

Theo chuyên gia về các vấn đề Đài Loan, Wang Jianmin, đến từ ĐH Sư phạm Mân Nam, Phúc Kiến, vẫn còn cơ hội để Bắc Kinh và Washington xử lý vấn đề Đài Loan “một cách thông thái hơn”.

Ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương, chưa từng có ai vượt qua “lằn ranh đỏ” của Bắc Kinh – đó là tuyên bố độc lập chính thức của Đài Loan hay việc thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Đài Bắc và Washington, ông Wang nói.

“Người Mỹ luôn khuyến khích người Đài Loan thách thức giới hạn của Bắc Kinh, nhưng Đài Bắc đến nay vẫn chưa dám sửa đổi hiến pháp của họ, trong khi Washington vẫn hay nhắc lại chính sách một Trung Quốc của họ” – ông Wang nhấn mạnh.

Nhiều chuyên gia phân tích cho rằng Mỹ đang áp dụng chiến thuật đa diện trong vấn đề Đài Loan, duy trì chính sách “mơ hồ chiến lược” cùng lúc hỗ trợ hòn đảo này tăng cường phòng thủ và khuyến khích quan hệ thương mại chặt chẽ hơn giữa hai bên.

Đạo luật Quan hệ Đài Loan cho phép Mỹ bán vũ khí cho hòn đảo này nhưng lại không chỉ rõ rằng liệu Mỹ có đến trực tiếp bảo vệ Đài Loan trong trường hợp hòn đảo này bị tấn công hay không. Các thương vụ vũ khí với Đài Loan đã tăng mạnh dưới thời Tổng thống Donald Trump – lên tổng giá trị lên tới mức kỷ lục là gần 20 tỉ USD.

Tính tổng cộng, Nhà Trắng đã phê duyệt 13 thương vụ vũ khí cho Đài Bắc kể từ khi chính quyền Trump bắt đầu, 2 trong số này được duyệt dưới thời Tổng thống Joe Biden. Những trang thiết bị mà Mỹ bán cho Đài Loan bao gồm chiến đấu cơ F-16, tên lửa chống hạm, tên lửa tấn công mặt đất tầm xa và các bộ cảm biến trinh sát lắp đặt trên máy bay.

Mỹ cũng liên tục gây sức ép với “lằn ranh đỏ” của Bắc Kinh bằng các chuyến thăm Đài Loan, trong đó bao gồm nhiều quan chức và cựu quan chức – như Bộ trưởng Y tế dưới thời chính quyền Trump, ông Alex Azar, trong năm 2020 đã trở thành quan chức đương nhiệm cấp cao nhất đến thăm Đài Loan kể từ năm 1979.

Đối với Bắc Kinh, những nỗ lực tăng cường quan hệ với Đài Loan của Mỹ bị coi là chệch hướng với hiện trạng, với mục đích là làm suy yếu vị thế chiến lược của Trung Quốc bằng cách khuyến khích hòn đảo tự trị này đi theo con đường độc lập.

“Nhưng cách mà Bắc Kinh phản ứng sẽ khác với Nga” – Ngoại trưởng Vương Nghị nói.

Theo Zhou Chenming, nhà nghiên cứu đến từ Viện nghiên cứu khoa học và công nghệ quân sự Yuan Wang ở Bắc Kinh, giới lãnh đạo Trung Quốc có đầy đủ năng lực và tự tin hơn so với đối tác Moscow khi phải đối phó với những vấn đề liên quan tới lợi ích cốt lõi của quốc gia.

“Bắc Kinh hiểu rõ rằng chính sách “mơ hồ chiến lược” mà Washington áp dụng ở Đài Loan có lợi cho cả Mỹ lẫn Trung Quốc đại lục” – ông nói – “Nhưng Trung Quốc mạnh mẽ hơn Nga xét về tiềm lực kinh tế và sức mạnh quân sự.”

Là một thế lực đang trỗi dậy, Bắc Kinh tin rằng “thời gian và động lực” nằm ở phía của họ, và điều đó sẽ giúp Trung Quốc bắt kịp sức mạnh của Mỹ nhờ vào các nỗ lực to lớn trong phát triển kinh tế và quốc phòng, ông Zhou nói.

Quân đội Trung Quốc đang trải qua quá trình hiện đại hóa quy mô lớn, trong đó bao gồm 2 tàu sân bay – một trong số đó được phát triển trong nước – và chiếc thứ ba dự kiến ra mắt trong năm nay. Họ cũng đang phát triển chiến đấu cơ thế hệ thứ 6. Chi tiêu quốc phòng của Trung Quốc cũng tăng dần – với mức tăng 7,1% đã được công bố – từ mức tăng 6,8% trong năm ngoái.

Bắc Kinh cũng đang sử dụng các công cụ pháp lý để chống lại phong trào độc lập của Đài Loan. Một quan chức cấp cao đã đề xuất một bộ luật mới để trừng phạt bất cứ ai làm sai trách nhiệm khuyến khích tái thống nhất Đài Loan – và trước đó là Luật Chống ly khai, cung cấp nền tảng pháp lý để tái thống nhất hòn đảo này bằng vũ lực.

Một danh sách đen gồm những “người ly khai Đài Loan” và những người ủng hộ tài chính cho họ cũng đã được soạn thảo, trong đó Bắc Kinh tuyên bố sẽ khởi tố họ và cấm họ đặt chân tới đại lục, Hong Kong và Macau.

Zhu Feng, Hiệu trưởng Trường Nghiên cứu Quốc tế thuộc ĐH Nam Kinh, nói rằng Bắc Kinh đang vạch ra hàng loạt viễn cảnh để đối phó với những thách thức khác nhau.

“Người Trung Quốc không ngu ngốc đến nỗi bị những chiêu trò địa chính của Mỹ thao túng. Bắc Kinh nêu rất rõ rằng điều chủ chốt là phải tránh bất kỳ một cuộc xung đột vũ trang nào” – ông Zhu nói.

Chuyên gia quân sự Ni Lexiong đến từ Thượng Hải cho rằng Bắc Kinh sẽ đưa ra những tính toán hết sức thận trọng về cách phản ứng với Mỹ và Đài Bắc, nhưng các chiến thuật chiến đấu không cân xứng mà Ukraine đang áp dụng cũng rất đáng lưu ý.

“Chi phí chiến tranh trong trường hợp xung đột với Đài Loan sẽ cao hơn nhiều so với chiến dịch của Nga ở Ukraine. Có nhiều sự bất trắc một khi chiến tranh bùng nổ” – ông nói – “Ví dụ, Tổng thống Putin nhận ra rằng lực lượng lính dù không còn là một lực lượng tinh nhuệ nữa, bởi họ mất hơn 2 ngày mới kiểm soát được một sân bay ở Kiev.”

Trong khi Ukraine có đường biên giới chung với Nga nên một đòn tấn công là trực diện, thì tấn công Đài Loan sẽ cần có một chiến dịch phức tạp hơn nhiều bao gồm lực lượng không quân, hải quân và lính thủy đánh bộ…do eo biển Đài Loan là một hàng rào tự nhiên, ông Ni nói.

Giới chuyên gia cho rằng Bắc Kinh sẽ không tấn công Đài Loan trong lúc phương Tây đang dành sự quan tâm cho Ukraine, nhưng do cuộc cạnh tranh khốc liệt giữa Trung Quốc và Mỹ nên cuộc khủng hoảng ở Đài Loan sẽ còn tiếp tục trở nên trầm trọng.

“Các cuộc xung đột quân sự ở Đài Loan sẽ xảy ra vào bất cứ lúc nào một khi Mỹ muốn nối lại quan hệ ngoại giao, hay có bất kỳ tín hiệu nào cho thấy họ có các thỏa thuận hỗ trợ quân sự với Đài Loan” – ông Wang Jianmin cảnh báo.

Lu Li-shih, cựu quan chức tại Học viện Hải quân Đài Loan ở Kaohsiung, nói rằng quân đội Trung Quốc sẽ cập nhật “kế hoạch chiến dịch tái thống nhất Đài Loan” của họ dựa trên những chiến thuật mà binh sĩ Ukraine đang áp dụng, nhờ vào các vũ khí mà Mỹ cung cấp.

“Quân đội Trung Quốc là đội quân chăm chỉ nhất thế giới, họ luôn nỗ lực hết mình để học mọi thứ từ các đối tác Mỹ” – ông Lu nói – “Tôi từng dự đoán rằng quân đội Trung Quốc sẽ không tấn công Đài Loan cho đến khi họ trở thành một lực lượng hải quân biển xanh thực thụ khoảng 5 năm tới, nhưng giờ tôi tin rằng kế hoạch của họ có thể đã thay đổi thành khoảng 1 thập kỷ.”

BDN

Loading

Views: 0

Cuộc khủng hoảng Ukraine của TQ

Tập được gì — và mất gì — từ việc hậu thuẫn cho Putin?
Chinese President Xi Jinping, right, and Russian President Vladimir Putin pose for a photo prior to their talks in Beijing, China, Friday, Feb. 4, 2022. Putin on Friday arrived in Beijing for the opening of the Winter Olympic Games and talks with his Chinese counterpart Xi Jinping, as the two leaders look to project themselves as a counterweight to the U.S. and its allies. (Alexei Druzhinin, Sputnik, Kremlin Pool Photo via AP)

Khủng hoảng Ukraine chủ yếu là cuộc đối đầu giữa Nga và phương Tây, nhưng bên cạnh đó, còn có một người chơi khác đang lúng túng bên lề: Trung Quốc. Bắc Kinh đã cố gắng duy trì thế cân bằng trong vấn đề Ukraine. Một mặt, họ đứng về phía Nga, đổ lỗi rằng chính sự bành trướng của NATO đã gây ra khủng hoảng, và cáo buộc rằng những dự đoán của Mỹ về một cuộc xâm lược chỉ làm trầm trọng thêm vấn đề. Mặt khác, đặc biệt là khi nguy cơ xung đột quân sự ngày càng gia tăng, nước này đã kêu gọi sử dụng con đường ngoại giao thay cho chiến tranh.

Nếu Bắc Kinh biết chơi đúng cách, họ sẽ duy trì quan hệ chặt chẽ với Moscow, bảo vệ quan hệ thương mại với Ukraine, giữ EU trong quỹ đạo kinh tế của mình, và tránh được hệ quả từ các lệnh trừng phạt của Mỹ và EU lên Moscow – cùng lúc đó ngăn cản quan hệ với Mỹ xấu đi đáng kể. Tuy nhiên, việc đạt được bất kỳ một trong những mục tiêu này là khả thi, còn đạt được tất cả lại là điều bất khả.

Nếu Nga xâm lược Ukraine, Bắc Kinh có thể trở thành cứu cánh cho Moscow: cứu trợ kinh tế để xoa dịu tác động từ các lệnh trừng phạt của Mỹ. Nhưng làm như vậy sẽ gây tổn hại cho mối quan hệ của Trung Quốc với châu Âu, kích động những hậu quả nghiêm trọng từ phía Washington, và khiến các quốc gia không liên kết truyền thống như Ấn Độ ngày càng sa vào vòng tay của phương Tây. Ngược lại, nếu Bắc Kinh từ chối Moscow, thì nước này có thể làm suy yếu quan hệ đối tác chiến lược thân thiết nhất vào thời điểm mà tình hình an ninh đang xấu đi ở châu Á, và bản thân họ đang rất cần sự trợ giúp từ bên ngoài.

Cuộc khủng hoảng ở Ukraine đang phơi bày những giới hạn trong chính sách đối ngoại của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình. Các khát vọng toàn cầu của Bắc Kinh hiện đang mâu thuẫn với mong muốn duy trì sự mơ hồ có chọn lọc trong một số chính sách của mình. Dù các nhà lãnh đạo Trung Quốc có thể không nhận ra điều đó, nhưng sự liên kết chặt chẽ hơn của họ với Nga không hẳn là nước đi thận trọng. Lợi ích của động thái này chỉ là giả định và về dài hạn: một ngày nào đó, Nga có thể đáp lại bằng cách ủng hộ nguyện vọng lãnh thổ của Trung Quốc, hoặc hợp tác để sửa đổi cấu trúc quản trị toàn cầu. Tuy nhiên, cái giá đối với chiến lược toàn cầu nói chung của Trung Quốc là thực tế và tức thời.

Trục Bắc Kinh-Moscow chặt chẽ hơn sẽ khuyến khích các đối thủ của Trung Quốc cân bằng chống lại nó, giúp họ có thêm lý do để thiết lập các quan hệ kinh tế và quân sự chặt chẽ hơn nhằm tự vệ trước sự hung hăng của Trung Quốc. Ở các thủ đô của châu Âu, nơi mà sức hấp dẫn từ thị trường Trung Quốc khổng lồ trước đó đã làm thui chột những nỗ lực chống lại nước này, Bắc Kinh đang phải đối mặt với sóng gió chính trị mạnh mẽ. Ở Mỹ, cảm xúc dành cho Trung Quốc thậm chí còn u ám hơn. Nếu chiến tranh nổ ra ở Ukraine, nhiều chính trị gia Mỹ sẽ cáo buộc Bắc Kinh đã để tay mình dính máu. Ở Ukraine, Trung Quốc đang chơi một trò chơi nguy hiểm, có thể khiến họ phải hối hận.

Một cuộc khủng hoảng không mong muốn

Bắc Kinh chắc chắn muốn khủng hoảng lần này không tồn tại. Trước tiên, Ukraine là một đối tác thương mại quan trọng của Trung Quốc, với hơn 15 tỷ USD trao đổi thương mại song phương vào năm 2020. Quốc gia này cũng là cửa ngõ quan trọng vào châu Âu, và là đối tác chính thức của Sáng kiến Vành đai và Con đường, nỗ lực địa chính trị hàng đầu của Tập. Tháng trước, Tập đã gửi lời chào tới Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky, lưu ý rằng “Kể từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao cách đây 30 năm, quan hệ Trung Quốc-Ukraine luôn duy trì đà phát triển ổn định và chắc chắn.” Khi nói chuyện riêng, nhiều chuyên gia Trung Quốc đã than thở rằng Bắc Kinh, vì ngại làm phật lòng Moscow, đã không làm nhiều hơn để hỗ trợ một đối tác quan trọng trong Sáng kiến Vành đai và Con đường.

Bắc Kinh cũng không muốn công khai ủng hộ việc chiếm đất của Nga, vì lo ngại sâu sắc rằng những nước khác có thể sử dụng logic tương tự để làm suy yếu chủ quyền lãnh thổ của Trung Quốc. Tất nhiên, Trung Quốc cũng không phải luôn phản đối chủ nghĩa xét lại về lãnh thổ, mà ví dụ nhãn tiền là các hành động của họ ở Biển Hoa Đông và Biển Đông, lối cư xử của họ ở biên giới Ấn Độ, và sự thèm muốn của họ đối với Đài Loan. Tuy nhiên, điều mà nước này phản đối là chủ nghĩa xét lại do các cường quốc khác thực hiện, bao gồm cả Nga. Cho đến hôm nay, nước này vẫn chưa công nhận việc Nga sáp nhập Crimea vào năm 2014.

Các nhà lãnh đạo Trung Quốc chắc chắn nhận thức được rằng bất kỳ sự ủng hộ nào đối với Nga tại Ukraine cũng sẽ làm trầm trọng thêm quan hệ với EU và Mỹ. Các chiến lược gia Trung Quốc coi Nga, Mỹ, và châu Âu là những nhân tố quan trọng nhất đối với cân bằng quyền lực toàn cầu. Từ lâu, họ đã xem ước mơ của châu Âu về một thế giới đa cực là phù hợp với giấc mơ của chính họ. Bằng cách làm trầm trọng hơn chia rẽ giữa Nga và châu Âu, một cuộc xâm lược của Nga vào Ukraine do đó sẽ có nguy cơ phân chia các cường quốc mạnh nhất thành hai khối – một bên là Nga và Trung Quốc, bên kia là Mỹ và châu Âu – tái tạo các thỏa thuận an ninh thời Chiến tranh Lạnh vốn bị Trung Quốc công khai phản đối kịch liệt. Tệ hơn, Trung Quốc lại còn liên kết với quốc gia yếu nhất trong ba cường quốc còn lại.

Do đó, rất khó xảy ra việc Tập bật đèn xanh cho Tổng thống Nga Putin xâm lược, như một số tuyên bố. Thông qua thông điệp ngoại giao cực kỳ cẩn trọng, Bắc Kinh đã công khai ủng hộ lập trường của Moscow chống lại sự bành trướng của NATO, nhưng vẫn nhấn mạnh hy vọng có thể tìm được một giải pháp ngoại giao. Như Tập đã nói trong cuộc điện đàm ngày 16/02 với Tổng thống Pháp Emmanuel Macron, “Tất cả các bên liên quan nên tuân thủ hướng dàn xếp chính trị chung, tận dụng tối đa các nền tảng đa phương, … và tìm kiếm một giải pháp toàn diện cho vấn đề Ukraine thông qua đối thoại và tham vấn.” Ba ngày sau, Ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị lặp lại thông điệp đó, gọi Thỏa thuận Minsk, hai hiệp ước ký năm 2014 và 2015, là “lối thoát duy nhất cho vấn đề Ukraine”. Ông nhắc lại sự ủng hộ đối với “chủ quyền, độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của bất kỳ quốc gia nào” và lưu ý rằng “Ukraine không phải là ngoại lệ.”

Đi cả hai con đường

Đây là lúc mà lập trường của Bắc Kinh bắt đầu trở nên thiếu mạch lạc. Họ đang kêu gọi xuống thang căng thẳng, nhưng cùng lúc lại dung túng cho sự hiếu chiến của Moscow, bằng cách công khai ủng hộ các yêu cầu của Nga, và nỗ lực giảm bớt những hậu quả từ chính sách răn đe của phương Tây. Việc Bắc Kinh mua thêm năng lượng của Nga và tăng cường sử dụng đồng Nhân dân tệ (thay vì đô la Mỹ) trong các giao dịch song phương có thể cách ly Nga khỏi các lệnh trừng phạt của Mỹ. Tuyên bố của Bộ Ngoại giao Trung Quốc, rằng những cảnh báo của Mỹ về một cuộc xâm lược có thể xảy ra do Nga là “thông tin sai lệch” đã làm suy yếu chính lời kêu gọi đối thoại của Bắc Kinh, vì những cảnh báo của Mỹ trên thực tế là một lời kêu gọi tiến hành ngoại giao khẩn cấp.

Dù cố ý hay không, Bắc Kinh đã tự gán mình vào chủ nghĩa xét lại của Moscow. Trong một tuyên bố chung đáng chú ý với Putin, được đưa ra vào ngày 04/02, Tập không chỉ khẳng định một thế giới quan ý thức hệ chung giữa hai cường quốc độc tài, mà còn liên hệ sự mở rộng của NATO với nhu cầu của Nga và Trung Quốc nhằm “chống lại những nỗ lực của các thế lực bên ngoài, nhằm phá hoại an ninh và ổn định ở miền ngoại vi chung” của hai nước này. Hai nhà lãnh đạo tuyên bố “phản đối việc NATO mở rộng hơn nữa, và kêu gọi Liên minh Bắc Đại Tây Dương từ bỏ các phương pháp tiếp cận Chiến tranh Lạnh bị ý thức hệ hóa của mình.” Họ tiếp tục: “Hai bên chống lại việc hình thành các cấu trúc khối khép kín và các phe đối lập ở khu vực Châu Á -Thái Bình Dương, và luôn cảnh giác cao độ về tác động tiêu cực của chiến lược Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương của Mỹ đối với hòa bình và ổn định trong khu vực.”

Việc xóa mờ những lo ngại của Nga về NATO, cùng những lo ngại của Trung Quốc về hoạt động của Mỹ ở châu Á, có thể mang lại cho Tập tình đồng chí nhất thời với Putin, nhưng ông sẽ phải trả giá bằng mối quan hệ với phương Tây, với những phản ứng mà người ta có thể dự đoán. Như Jens Stoltenberg, Tổng thư ký NATO, nói với báo chí vào ngày 15/02, “Về cơ bản, những gì chúng ta thấy là hai cường quốc độc tài, Nga và Trung Quốc, đang hoạt động cùng nhau.” Dù Bắc Kinh công khai than phiền về tâm lý Chiến tranh Lạnh, mà họ cho là động cơ thúc đẩy chính sách của phương Tây, mối quan hệ ngày càng ấm áp của họ với Moscow không thể không nhắc nhở các nhà quan sát về quan hệ Trung-Xô đầu những năm 1950.

Không chỉ mối quan hệ của Trung Quốc với Mỹ và châu Âu sẽ bị ảnh hưởng. Thật vậy, sự ủng hộ của nước này cho ván cờ của Putin đang làm dấy lên nỗi sợ hãi ở sân sau của chính họ. Thủ tướng Nhật Bản Fumio Kishida đã tuyên bố: “Phải xem xét khả năng, nếu chúng ta dung túng cho việc sử dụng vũ lực để thay đổi hiện trạng, thì điều đó cũng sẽ có tác động đến châu Á” – một cách nói bóng gió, gợi ý rằng Bắc Kinh có thể sẽ được khuyến khích bởi tính phiêu lưu của Putin. Bộ trưởng Quốc phòng Australia, Peter Dutton, đã cảnh báo rằng một cuộc xâm lược của Nga sẽ khuyến khích Trung Quốc đi bước nữa trong cưỡng chế Đài Loan. Hiện tại, Ấn Độ đã cố gắng giữ thái độ trung lập, khi T. S. Tirumurti, đại sứ của nước này tại Liên Hợp Quốc, kêu gọi “ngoại giao trong yên lặng và mang tính xây dựng.” Nhưng với sự đối kháng ngày càng tăng giữa Ấn Độ và Trung Quốc, một cuộc xâm lược Ukraine do Trung Quốc hậu thuẫn chắc chắn sẽ đẩy New Delhi ra xa Moscow, về phía Australia, Nhật Bản và Mỹ.

Quan điểm từ Bắc Kinh

Với những cái giá phải trả này, tại sao Trung Quốc lại chọn về phe Nga? Chắc chắn nước này nhận thức được rằng động thái của họ sẽ làm trầm trọng thêm căng thẳng với phương Tây và với các nước xung quanh khu vực ngoại vi của mình.

Có thể Tập thực sự tin rằng Putin sẽ không xâm lược Ukraine, điều đó có nghĩa là việc ủng hộ ông ta bằng lời nói sẽ không gây hại gì. Có lẽ Putin đã cho Tập những lời đảm bảo riêng, rằng hành động của ông chỉ nhằm đưa Mỹ và NATO vào bàn thương lượng. Tập cũng có thể đã không cập nhật quan điểm của mình dựa trên những gì đang diễn ra trên thực địa ở Ukraine. Sự ủng hộ của ông đối với việc Moscow phản đối NATO bành trướng chỉ bắt đầu từ tháng 12/2021, theo lời kể từ phía Nga về hội nghị thượng đỉnh trực tuyến giữa hai nhà lãnh đạo. Vào lúc đó, một cuộc xâm lược của Nga dường như không có khả năng xảy ra. Tuy nhiên, trong quãng thời gian sau đó, bức tranh đã dần thay đổi – và Trung Quốc có thể cảm thấy mình đang bị khóa vào một lập trường mà họ không còn muốn lựa chọn nữa.

Cũng có thể Tập tin rằng, nếu một cuộc xâm lược trở thành hiện thực, nó sẽ gây tổn hại cho Nga, châu Âu và Mỹ, hơn là gây tổn hại cho Trung Quốc. Chừng nào Trung Quốc còn kiềm chế không cung cấp bất kỳ viện trợ quân sự trực tiếp nào cho Nga, thì nước này nhiều nhất chỉ phải chịu các biện pháp trừng phạt thứ cấp, vì đã hỗ trợ kinh tế và chính trị. Lo ngại về Ukraine và Nga, Mỹ và châu Âu sẽ chuyển hướng khỏi châu Á, giúp Trung Quốc tự do hơn trong khu vực lân cận của mình. Nói tóm lại, dù một cuộc xung đột ở Ukraine là có hại cho tất cả mọi người, nhưng Trung Quốc có thể ít ảnh hưởng bằng phần còn lại.

Đây là một lối suy nghĩ quá đơn giản và nguy hiểm. Hậu quả của chiến tranh ở Ukraine là quá khó đoán để biện minh cho việc đặt cược vào xung đột. Hơn nữa, gần như không có lý do để tin rằng Washington sẽ bị vùi dập bởi một cuộc chiến ở Ukraine. Dù các chiến dịch của Mỹ ở Afghanistan và Iraq có thể đã mở ra cơ hội chiến lược cho Trung Quốc hơn một thập niên trước, nhưng người Trung Quốc nên nhận ra rằng cách tiếp cận của chính quyền Biden đối với Ukraine được thiết kế chính xác là để tránh sa lầy vào một cuộc xung đột.

Động lực thực sự sau hành động của Trung Quốc trong vấn đề Ukraine có thể liên quan đến một điều gì đó lâu dài hơn: sự hấp dẫn từ quan hệ hợp tác chặt chẽ hơn với Nga. Tập xem quan hệ này là phản ứng tốt nhất trong một môi trường an ninh ảm đạm, đặc trưng chủ yếu là quan hệ xấu đi với Mỹ. Bất chấp các lập luận của Bắc Kinh về sự suy tàn của phương Tây, Trung Quốc vẫn coi Mỹ và các đồng minh của họ đủ mạnh, khiến xích mích với nhóm này sẽ định hình thập niên tới. Họ cho rằng châu Âu đang ngày càng nghiêng về quan điểm của Mỹ, và cảm thấy căng thẳng ngày càng tăng với các quốc gia lân cận, bao gồm Australia và Ấn Độ.

Mặt khác, quan hệ với Moscow đã được cải thiện đều đặn trong hơn 30 năm, với sự thống nhất chặt chẽ hơn trong nhiều vấn đề, bao gồm ý thức hệ, an ninh, không gian mạng, và quản trị toàn cầu. Căng thẳng vẫn tồn tại, đặc biệt là về khoảng cách quyền lực ngày càng gia tăng giữa hai quốc gia. Nhưng hai bên đã quản lý sự khác biệt của họ rất tốt. Mối quan hệ cá nhân thân thiết giữa Tập và Putin, sự thù địch chung đối với Mỹ, và sự gần gũi (dù không đồng nhất) trong tầm nhìn về trật tự thế giới nhiều khả năng là đủ để củng cố mối quan hệ trong ít nhất một thập niên tới.

Khi không có cường quốc hàng đầu nào khác ngoài Nga sẵn sàng hợp tác, Tập có thể đã đặt cược có tính toán, rằng mối quan hệ bền chặt với Moscow có thể trở thành ‘tài sản ròng’ cho Bắc Kinh. Khi Trung Quốc gia tăng các yêu sách lãnh thổ dọc vùng ngoại vi của mình, họ tìm đến Nga để chống lại các biện pháp kiềm chế. Nga cũng có thể trở thành cứu cánh cần thiết, nếu có những nỗ lực quốc tế nhằm làm gián đoạn dòng chảy hàng hóa quan trọng đến Trung Quốc. Nga cũng sẽ ủng hộ lập trường của Trung Quốc đối với Đài Loan, và trong trường hợp xảy ra chiến tranh giữa Mỹ và Trung Quốc về hòn đảo này, Bắc Kinh có thể trông đợi sự giúp đỡ về kinh tế và ngoại giao của Nga.

Sự liên kết ngày càng tăng của Tập với Moscow đang tạo ra tình thế khó khăn cho Trung Quốc. Trong cuộc cạnh tranh với phương Tây về trật tự toàn cầu, Nga trở thành một đối tác an ninh hấp dẫn. Nhưng bằng cách nâng cao mối quan hệ với Nga – và chọn làm vậy ngay giữa cuộc khủng hoảng do Putin gây ra – Bắc Kinh đang mời gọi sự đáp trả mà mình không đủ khả năng chống đỡ.

BDN

Loading

Views: 0

Lo ngại TQ ‘thừa nước đục thả câu’ ở Biển Đông

Việc Trung Quốc tiến hành tập trận ở Biển Đông khiến một số chuyên gia quốc tế lo ngại nước này nhân lúc tình hình giao tranh ở Ukraine căng thẳng để gây áp lực ở các vùng biển trong khu vực.
Chiến hạm Trung Quốc trong một cuộc tập trận ở Biển Đông vào tháng 8.2021.

Như Thanh Niên đã thông tin, Cục Hải sự Trung Quốc (MSA) vừa qua đăng tải thông báo quân đội Trung Quốc tiến hành cuộc tập trận diễn ra ở Biển Đông từ ngày 4 – 15.3. Cuộc tập trận diễn ra trong bối cảnh dư luận thế giới đang bị thu hút về Ukraine – nơi đang diễn ra các cuộc giao tranh căng thẳng do Nga tiến hành chiến dịch quân sự đặc biệt.

“Thử lửa” Washington

Nhận định về cuộc tập trận của Trung Quốc khi trả lời Thanh Niên ngày 7.3, PGS Stephen Robert Nagy (Đại học Cơ Đốc giáo quốc tế – Nhật Bản, học giả tại Viện Nghiên cứu các vấn đề quốc tế của Nhật): “Đó là cách Trung Quốc “ăn miếng trả miếng” hành động đáp trả Mỹ cùng các đồng minh và đối tác ở Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương (Indo-Pacific). Mới đây, Mỹ đã thực hiện tự do hàng hải (FONOP) ở Biển Đông và nhấn mạnh vấn đề này trong cuộc họp của “bộ tứ an ninh” (gồm Mỹ – Nhật Bản – Úc – Ấn Độ) ở Úc hồi tháng 2. Qua đó, Washington muốn chứng minh sự tập trung và nguồn lực để đối phó với các thách thức địa chính trị ở cả 2 khu vực Indo-Pacific và châu Âu”.

“Trong khi đó, Trung Quốc muốn thể hiện sức mạnh quân sự để gây ảnh hưởng lên các nước Đông Nam Á, đồng thời chứng minh vị thế để củng cố tinh thần dân tộc trong nước. Không những vậy, Bắc Kinh còn muốn “thử lửa” khả năng của Washington trong bối cảnh Nga vẫn tiếp tục chiến dịch quân sử ở Ukraine. Rõ ràng, khi Mỹ bị phân tâm bởi xung đột ở Ukraine, thì việc chuyển hướng các nguồn lực của Washington ở Biển Đông, biển Hoa Đông, eo biển Đài Loan trở thành cơ hội chiến lược để Trung Quốc thúc đẩy các lợi ích cốt lõi mà nước này đề ra ở khu vực. Qua đó, Bắc Kinh có thể đang tìm kiếm những điểm yếu của Washington để chiếm ưu thế trong tương lai”, PGS Nagy phân tích và cho rằng: “Ngoài ra, các áp lực nội bộ đang thúc đẩy Trung Quốc theo đuổi các mục tiêu bá quyền trong khu vực khi có cơ hội”.

Trung – Nga thách thức Mỹ

Tương tự, GS Yoichiro Sato (chuyên gia về quan hệ quốc tế, Đại học Ritsumeikan châu Á – Thái Bình Dương, Nhật Bản) cho biết có thông tin chưa được xác nhận là Trung Quốc triển khai tập trận để giải quyết một vụ tai nạn máy bay quân sự tại khu vực tập trận.

“Khi Trung Quốc đang thắt chặt với Nga, cuộc tập trận có thể nhằm nhân cơ hội để phản ứng việc Mỹ điều động tàu chiến hiện diện ở eo biển Đài Loan gần đây. Cũng có thể, Trung Quốc cũng không có ý định leo thang thêm”, GS Sato nhận định, đồng thời đề cập khả năng cuộc tập trận được tiến hành nhằm thúc đẩy cơ hội để Bắc Kinh đạt được các tham vọng ở Biển Đông.

Đầu tháng 2, Tổng thống Nga Vladimir Putin công du đến Trung Quốc và có cuộc hội đàm với ông Tập Cận Bình – Chủ tịch nước chủ nhà, ngay trước thềm lễ khai mạc Thế vận hội mùa đông diễn ra tại Bắc Kinh từ ngày 4 – 20.2. Sau cuộc hội đàm, hai bên đưa ra tuyên bố chung nhấn mạnh lời kêu gọi phương Tây “từ bỏ các phương pháp tiếp cận theo ý thức hệ của Chiến tranh lạnh”. Khi đó, giới quan sát quốc tế đã nhìn nhận việc Nga và Trung Quốc phối hợp thách thức Mỹ nhằm phân tán nguồn lực của Washington. Như lời nhận xét của ông Carl O.Schuster (cựu Giám đốc bộ phận điều hành của Trung tâm tình báo hỗn hợp – Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương của hải quân Mỹ và đang giảng dạy tại Đại học Hawaii về quan hệ quốc tế, lịch sử) là: “Tuyên bố chung Trung – Nga không nằm ngoài dự đoán khi hai bên phản đối mạnh mẽ Mỹ và cho rằng Washington là chướng ngại vật chính đối với nỗ lực của Bắc Kinh trong việc thống trị châu Á cũng như Moscow giữ vai trò kiểm soát châu Âu”.

Thủ tướng Úc Scott Morrison ngày 7.3 tuyên bố chính phủ nước này sẽ chi ít nhất 10 tỉ AUD (gần 170.000 tỉ đồng) để xây dựng căn cứ cho hạm đội tàu ngầm chạy bằng năng lượng hạt nhân trong tương lai. Đây sẽ là căn cứ quan trọng đầu tiên được xây dựng ở Úc kể từ thập niên 1990, theo Bloomberg. Bộ Quốc phòng Úc đã chọn 3 địa điểm có thể làm nơi xây dựng căn cứ mới: Newcastle và Port Kembla ở bang New South Wales, và thủ phủ Brisbane của bang Queensland. Úc đang có kế hoạch xây dựng một hạm đội tàu ngầm hạt nhân trong những thập niên tới với sự hỗ trợ của Mỹ và Anh. Úc vẫn chưa quyết định sẽ sử dụng thiết kế của Anh hay Mỹ cho hạm đội tàu ngầm của mình. Hạm đội tàu ngầm mới có thể giúp Úc tăng khả năng triển khai lực lượng trên khắp khu vực châu Á – Thái Bình Dương.

BDN

Loading

Views: 0