Autor-Archiv:East Sea

Russland, USA und China: wessen Panzer sind besser? – Experten-Vergleich

Die amerikanische Zeitschrift „The National Interest“ (NI) hat eine Vergleichsanalyse des amerikanischen Panzers M1Abrams mit dem russischen Panzer T-90 MS und dem chinesischen Type 99 veröffentlicht.

 

Mit der Geschwindigkeit von bis zu 80 Kilometern pro Stunde auf der Straße ist der chinesische Type 99 der schnellste von den drei Panzern, schreibt NI. Der russische Panzer könne 72 Kilometer pro Stunde fahren, der amerikanische erreiche eine maximale Geschwindigkeit von nur 68 Kilometern pro Stunde.

Vollgetankt habe der Abrams eine Reichweite von 390 Kilometern, sein russischer und sein chinesischer Kontrahent sind ihm mit zusätzlichen 90 Kilometern auch hier überlegen. Gleichzeitig sei das Gewicht des US-Panzers von 61 Tonnen sein Vorteil und mit der 120-mm-Glattrohrkanone könne der Panzer bei Verwendung von Wuchtgeschossen aus abgereichertem Uran als Munition um 15 bis 20 Prozent mehr Panzerung durchbrechen, im Vergleich zu den Kanonen von T-90 MS und Type 99 (beide haben eine 125-mm-Glattrohrkanone).

Insgesamt verfüge der Abrams unter einigen Bedingungen über die stärkste Feuerkraft, während der Type 99 wahrscheinlich besser von seiner Panzerung geschützt sei. Außerdem sei der chinesische Panzer schneller und habe eine längere Fahrstrecke, sagt der Militärexperte Sebastien Roblin.

Zu den Vorteilen des russischen T-90 MS gehöre das Schutzsystem Relikt, das ein Unschädlichmachen des gegnerischen Geschosses vor dem Einschlag ermögliche, die verbesserte optische Visiereinrichtung sowie das leistungsstärkere Triebwerk./.

(SPUTNIK – de.sputniknews.com/panorama)

Loading

Views: 0

Ảnh hưởng của hoạt động “tự do hàng hải” của Mỹ trên Biển Đông đối với việc xây dựng “Vành đai và Con đường”

Xây dựng đất nước từ sức mạnh trên biển là truyền thống của Mỹ, khi bắt đầu lập quốc, họ đã rất coi trọng tự do đi lại trên biển. Ngay từ năm 1776, Mỹ đã đưa ra nguyên tắc tàu thuyền được tự do chở hàng hóa, đây cũng là tuyên bố chính thức đầu tiên về nguyên tắc tự do đi lại trên biển của Mỹ. Một trong những sứ mệnh ban đầu sau khi hải quân Mỹ được xây dựng vào tháng 10/1775 là bảo vệ quyền tự do đi lại trên biển, bảo vệ tàu thương mại của Mỹ đi lại ở Đại Tây Dương tránh mối đe dọa cướp biển.

Ngoài ra, hai cuộc chiến tranh thế giới có Mỹ tham gia trong lịch sử nước này đều liên quan chặt chẽ đến tự do đi lại trên biển mà Mỹ luôn cổ súy. Trong kế hoạch 14 điểm gửi đến quốc hội vào tháng 1/1918, Tổng thống Mỹ Thomas Woodrow Wilson nêu rõ một trong những nguyên tắc phổ biến mà Mỹ giành được khi tham gia Chiến tranh thế giới thứ nhất chính là tự do đi lại tuyệt đối trên biển. Tương tự, ngày 11/9/1941, sau khi tàu khu trục của Mỹ bị tàu ngầm của Đức tấn công, bài phát biểu của Tổng thống Franklin Roosevelt trong chương trình “Đối thoại bên lò sưởi” tiếp tục tuyên bố: “Biển cực kỳ quan trọng trong công việc phòng thủ an ninh của Mỹ, cho dù chúng ta phải bỏ ra những gì, dù trả giá như thế nào, chúng ta cũng nhất định phải có được tự do thương mại hợp pháp trên vùng biển quốc tế”.

Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Mỹ đã tiếp tục chính sách “tự do hàng hải”, đồng thời lần lượt công bố rất nhiều văn bản mang tính cương lĩnh về “tự do hàng hải”. Năm 1983, Mỹ đã công bố “Báo cáo chính sách biển”, báo cáo này tuyên bố lấy phương thức cùng nhất trí cân bằng lợi ích thể hiện trong Công ước Liên hợp quốc về Luật biển (UNCLOS), thực hiện và đảm bảo quyền lợi, tự do cùng việc sử dụng biển của Mỹ trên phạm vi toàn thế giới. Năm 2005, Chính quyền George W.Bush đã đánh giá lại tình hình an ninh mà Mỹ phải đối mặt, đã công bố “Chiến lược an ninh trên biển quốc gia” và 8 văn bản phụ lục của chiến lược này, nhằm xây dựng phương châm chỉ đạo và khuôn khổ cơ chế cho chính sách “tự do hàng hải” của Mỹ.
Trong quá trình hình thành và phát triển chính sách “tự do hàng hải” của Mỹ, năm 1979, Chính quyền Carter bắt đầu xây dựng và thực thi chương trình “tự do hàng hải”. Chương trình này chủ yếu thông qua đối ngoại để thể hiện Mỹ không thừa nhận chủ trương lãnh hải quá mức của các quốc gia ven biển, từ đó đi đến mục đích bảo vệ quyền “tự do hàng hải” của Mỹ. Chương trình “tự do hàng hải” của Mỹ thực hiện cơ chế “ba quỹ đạo”, đó là các tổ chức đại diện ngoại giao (chủ yếu là Bộ Ngoại giao) và quân đội (chủ yếu là Bộ Quốc phòng Mỹ) lần lượt thông qua can thiệp ngoại giao, thực hiện ba phương thức hoạt động như cùng với các quốc gia và tổ chức khu vực khác như ASEAN, Tổ chức hàng hải quốc tế (IMO)… đàm phán song phương, đa phương, cùng với hoạt động tự do hàng hải để bảo vệ tự do đi lại trên biển do Mỹ chủ trương.

Tuyên bố chung tại Hội nghị cấp cao Mỹ-ASEAN đặc biệt tổ chức từ ngày 15 đến 16/2/2016 nhấn mạnh hai bên cùng cam kết căn cứ vào nguyên tắc của luật quốc tế được quốc tế thừa nhận và UNCLOS năm 1982 để giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, cùng nỗ lực bảo vệ hòa bình, an ninh và ổn định khu vực, đảm bảo an ninh trên biển bao gồm tự do đi lại trên biển, trên không, đồng thời thực thi các điều khoản khác do UNCLOS quy định về sử dụng hợp pháp biển và lưu thông thương mại trên biển. Trên thực tế, đây chính là hình thức thể hiện điển hình trong các chương trình “tự do hàng hải” của Mỹ thông qua đàm phán ngoại giao song phương và đa phương để quán triệt chính sách “tự do hàng hải” của Mỹ.

Hoạt động “tự do hàng hải” của Mỹ ở Biển Đông

Ngoài kết nối ngoại giao song phương và cơ chế đàm phán đa phương trực tiếp, một biện pháp quan trọng khác để Mỹ thúc đẩy chương trình tự do đi lại trên biển chính là hoạt động “tự do hàng hải” (FONOP) do Bộ Quốc phòng Mỹ nắm vai trò chủ đạo.
Từ năm 1983 đến nayMỹ đều lấy danh nghĩa bảo vệ tự do đi lại trên biển để bắt đầu triển khai định kỳ cái gọi là hoạt động tự do đi lại trên phạm vi toàn cầu, bao gồm các hoạt động tự do đi lại ở các vùng biển như vịnh Sidra ở phía Bắc Libya vào thập niên 1980, eo biển Gibraltar, eo biển Hormuz, eo biển Malacca… Hoạt động “tự do hàng hải” của Mỹ do Bộ Quốc phòng Mỹ hoạch định và chỉ huy, lực lượng không quân, hải quân và lực lượng phòng vệ bờ biển của Mỹ phụ trách thực thi cụ thể, đã bao trùm tất cả các quốc gia theo luật quốc tế quy định, đồng thời cũng bao gồm một số đồng minh truyền thống của Mỹ như Nhật Bản, Hàn Quốc, Philippines… Do đó, Mỹ thường tự khoe khoang rằng hoạt động “tự do hàng hải” của Mỹ là “toàn diện, khách quan và công bằng”. Mục đích căn bản của hoạt động “tự do hàng hải” của Mỹ là thách thức đối với đòi hỏi về lãnh thổ “quá nhiều” và “quá mức” của Trung Quốc nhằm duy trì và bảo vệ quyền “tự do hàng hải” do Mỹ cổ súy.

Khu vực Biển Đông tập trung nhiều tuyến đường biển quốc tế quan trọng như eo biển Malacca, eo biển Sunda, eo biển Lombok…, là tuyến đường quan trọng kết nối Ấn Độ Dương với Thái Bình Dương, đảm nhận tới 1/3 kim ngạch thương mại trên biển của thế giới, mỗi năm lên tới hơn 5000 tỷ USD, trong đó 1200 tỷ USD hàng hóa nhập khẩu vào Mỹ. Biển Đông còn là ngư trường thiên nhiên phong phú, chiếm 12% tổng lượng hải sản đánh bắt trên toàn thế giới. Do đó, trọng điểm của hoạt động “tự do hàng hải” của Mỹ những năm gần đây cũng chuyển dịch đến khu vực Biển Đông, trong đó Trung Quốc đã trở thành mục tiêu chủ yếu thách thức hoạt động “tự do hàng hải” của Mỹ ở Biển Đông. Bắt đầu từ tháng 10/2007, Trung Quốc hàng năm đều có thể trở thành đối tượng thách thức hoạt động “tự do hàng hải” của Mỹ, hơn nữa chủ trương lãnh hải quá mức của Trung Quốc thách thức hoạt động “tự do hàng hải” của Mỹ cũng không ngừng gia tăng. Từ ban đầu là tàu thuyền nước ngoài đi qua không gây hại trong lãnh hải 12 hải lý của Trung Quốc phải được sự cho phép của Trung Quốc, phát triển đến sau này: quyền quản lý vùng trời trên vùng đặc quyền kinh tế của Trung Quốc, quyền quản lý vùng tiếp giáp lãnh hải của Trung Quốc, luật pháp trong nước Trung Quốc định nghĩa hoạt động tuần tra của nước ngoài trong vùng đặc quyền kinh tế là phạm pháp, Trung Quốc hạn chế máy bay nước ngoài “không có ý đồ” xâm phạm vùng trời của Trung Quốc tiến vào Vùng nhận dạng phòng không (ADIZ) … đều được coi là nội dung thách thức đối với hoạt động tự do qua lại trên không của Mỹ.

Ngày 6/3/2017, Bộ Quốc phòng Mỹ đã công bố “Báo cáo tự do hàng hải” của năm tài khóa 2016. Theo thống kê của báo cáo này, từ ngày 1/10/2015 đến ngày 30/9/2016, chủ trương lãnh hải quá mức của 22 quốc gia trên thế giới bị thách thức bởi lực lượng vũ trang của Mỹ. Trong thời gian này, hoạt động “tự do hàng hải” của Mỹ nhằm vào Biển Đôngbao gồm: Ngày 26/10/2015, tàu khu trục mang tên lửa USS Lassen cùng với sự hộ tống của tàu chiến P-8 Poseidon và máy bay P-3 Orion đã tiến vào vùng biển 12 hải lý ở đảo Chử Bích (Subi) thuộc quần đảo Trường Sa. Đây cũng là hoạt động “tự do hàng hải” đầu tiên của Mỹ ở khu vực này kể từ năm 2012. Tháng 1/2016, tàu USS Curtis Wilbur của hải quân Mỹ đã tiến vào vùng biển 12 hải lý xung quanh đảo Tri Tôn thuộc quần đảo Hoàng Sa. Tháng 5/2016, tàu USS James E.Williams của hải quân Mỹ tiến vào vùng biển 12 hải lý của đảo đá Chữ Thập.

Sau khi lên cầm quyền, Chính quyền Trump trong thời kỳ đầu đã có lúc ngừng hoạt động “tự do hàng hải” ở Biển Đôngđể được Trung Quốc gia tăng sức ép với Triều Tiên, nhưng sau đó bắt đầu thực hiện trở lại hoạt động này. Ngày 25/5/2017, tàu khu trục mang tên lửa USS Dewey đã tiến vào vùng biển 12 hải lý xung quanh đá Vành Khănthuộc quần đảo Trường Sa. Ngày 2/7, tàu khu trục mang tên lửa USS Stethem của hải quân Mỹ lại tiến vào vùng biển 12 hải lý xung quanh đảo Tri Tôn. Ngày 10/8, tàu khu trục USS John S.McCain của hải quân Mỹ tiếp tục giương cao khẩu hiệu duy trì và bảo vệ quyền “tự do hàng hải” để tiến vào phạm vi 12 hải lý xung quanh Đá vành Khăn.

Ảnh hưởng của hoạt động “tự do hàng hải” của Mỹ ở Biển Đông đối với “Vành đai và Con đường”của Trung Quốc 

Những năm gần đây, với sự nỗ lực chung của các quốc gia trong khu vực, Biển Đông đã có phần dịu bớt căng thẳng vốn dễ dẫn đến xung đột: Quan hệ Trung Quốc-Philippines cải thiện rõ rệt;tháng 8/2017, các nước ASEAN đã ký “Hiệp định khung về xây dựng ‘Quy tắc ứng xử Biển Đông’(COC)”, cột mốc đánh dấu nhận thức chung quan trọng về mặt xây dựng hòa bình và bảo vệ ổn định khu vực, cũng tạo điều kiện để cuối cùng hoàn thành đàm phán COC.

Sau khi Trump lên nắm quyền,hoạt động“tự do hàng hải” của Mỹ ở Biển Đông không ngừng gia tăng về mức độ và cường độ. Theo tin tức của The Washington Times, Bộ Chỉ huy Thái Bình Dương của Mỹ còn xây dựng kế hoạch hoạt động hàng hải, nhằm gia tăng sự thách thức của Mỹ đối với tuyên bố chủ quyền Biển Đôngcủa Trung Quốc.Hoạt động “tự do hàng hải” ở Biển Đôngcủa Mỹ đãgây khó khăn lớn cho việc thực hiện thành công sáng kiến “Vành đai và Con đường”.

Thứ hai, Mỹ giương cao ngọn cờ “tự do hàng hải”, cũng làm tăng thêm rất nhiều nhân tố khó lường cho tình hình khu vực

Việt Nam và Philippines từng là những quốc gia có thái độ cứng rắn nhất đối với Trung Quốc trong số các nước có tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông, cùng với sự kiện Duterte lên làm Tổng thống Philippines, quan hệ Mỹ-Philippines rơi xuống mức thấp nhất, nhưng quan hệ Trung Quốc-Philippines lại không ngừng được cải thiện với nỗ lực chung của hai nước. Trong thời gian Duterte thăm Trung Quốc vào tháng 10/2016, Trung Quốc đã tiếp đón với nghi thức cao nhất, hai nước đã ký 13 văn bản hợp tác song phương trên nhiều lĩnh vực. Hai bên đã khẳng định lại không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực ở Biển Đông, các quốc gia có chủ quyền liên quan trực tiếp thông qua đàm phán hữu nghị, giải quyết tranh chấp lãnh thổ và quyền quản lý lãnh thổ bằng phương thức hòa bình. Sau đó, trong nhiều diễn đàn đa phương, Philippines không còn tiếp tục chủ động đề cập đến phán quyết của Tòa Trọng tài về Biển Đôngcó lợi cho họ, Duterte trực tiếp tạm ngưng tuần tra chung giữa Mỹ và Philippines.
Sau khi Trump lên nắm quyền, Mỹ từng bước điều chỉnh quan hệ với Philippines, quan hệ Mỹ-Philippines xuất hiện dấu hiện cải thiện. Trump giảm bớt những chỉ trích về tình trạng nhân quyền ở Philippines, Duterte cũng có hành động hiếm thấy là gửi điện mừng sau khi Trump đắc cử Tổng thống. Từ ngày 23 đến 24/8/2017, Tư lệnh Bộ Chỉ huy Thái Bình Dương của Mỹ Harry Harris thăm Philippines, được Tổng thống Duterte tiếp. Duterte cho rằng Philippines ủng hộ hoạt động “tự do hàng hải” mà Mỹ tiến hành để bảo vệ an ninh khu vực. Cùng với việc cải thiện quan hệ Mỹ-Philippines và tăng cường hoạt động “tự do hàng hải” của Mỹ ở Biển Đông, việc khôi phục và cải thiện quan hệ Trung Quốc-Philippines và thực hiện sáng kiến “Vành đai và Con đường” có thể chịu tác động và ảnh hưởng như thế nào đều rất đáng quan tâm.
Thứ ba, hoạt động “tự do hàng hải” của Mỹ ở Biển Đôngcũng làm cho nhiều nước ngoài khu vực đua nhau can dự vào tranh chấp Biển Đông, trở thành nhân tố bất ổn mới trong khu vực.

Mỹ không ngừng khuyến khích hoạt động “tự do hàng hải” ở Biển Đông, rất nhiều đồng minh của Mỹ như Australia, Anh… đã bắt đầu có biểu hiện theo Mỹ tham gia hoạt động “tự do hàng hải” ở Biển Đông. Theo tin tức của BBC, ngày 15/12/2015, Australia đã triển khai hoạt động tự do bay qua bầu trời trên vùng biển nhạy cảm ở Biển Đông. Ngoại trưởng Anh Boris Johnson cũng từng cao giọng phải điều động tàu sân bay của Anh đến Biển Đôngđể tiến hành hoạt động “tự do hàng hải”.

Nhật Bản những năm gần đây đã tăng cường quan hệ cấp cao và hợp tác an ninh trên biển với các nước có tuyên bố chủ quyền ở Biển Đôngnhư Việt Nam, Philippines và Indonesia, ý đồ làm đối trọng và kiềm chế Trung Quốc hết sức rõ ràng. Từ ngày 12 đến 17/1/2017, Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe đã tiến hành chuyến thăm “kiểu gió xoáy” tới bốn nước thuộc khu vực châu Á-Thái Bình Dương trong đó có Philippines, Indonesia và Việt Nam. Trong chuyến thăm Việt Nam, Abe cam kết cung cấp cho Việt Nam viện trợ phát triển (ODA) trị giá 120 tỷ yên (tương đương 105 triệu USD) và 6 tàu tuần tra mới đóng nhằm tăng cường khả năng thực thi pháp luật trên biển của Việt Nam. Trong thời gian thăm Philippines, Nhật Bản cam kết trong vòng 5 năm tới sẽ viện trợ 1000 tỷ yên (khoảng 880 triệu USD) bao gồm ODA và đầu tư dân sự, đây cũng là số tiền viện trợ lớn nhất của Nhật Bản đối với một quốc gia. Ngoài ra, hai bên còn tổ chức lễ trao văn bản đã ký về việc Nhật Bản cung cấp tàu cao tốc cỡ nhỏ cho lực lượng bảo vệ bờ biển Philippines. Trong thời gian thăm Indonesia, Shinzo Abe bày tỏ mong muốn sớm ký hiệp định thúc đẩy chuyển giao thiết bị phòng thủ và kỹ thuật với Indonesia, nhằm tăng cường hợp tác song phương trong các lĩnh vực an ninh và quốc phòng. Trong buổi họp báo sau hội đàm, hai bên cũng tuyên bố Nhật Bản sẽ thúc đẩy phát triển đảo xa bao gồm quần đảo Natuna và hợp tác ninh trên biển.

Thứ tư, hoạt động “tự do hàng hải” mà Mỹ không ngừng tiến hành ở Biển Đônglàm tăng thêm tâm lý phòng ngừa của những quốc gia vốn lo ngại đối với “Vành đai và Con đường” của Trung Quốc, từ đó cũng làm tăng thêm khó khăn cho việc thực hiện “Vành đai và Con đường” ở các quốc gia này.

Chẳng hạn, trong vấn đề Biển Đông, Indonesia vốn không phải là quốc gia có tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông, không có xung đột lợi ích trực tiếp và tranh chấp lãnh thổ lớn với Trung Quốc ở Biển Đông. Điều này giúp Indonesia đóng vai trò đặc biệt trong vấn đề Biển Đông, đã hình thành lập trường riêng của họ về vấn đề Biển Đông. Một mặt, Indonesia là nước không có tuyên bố chủ quyền ở Biển Đôngnên được coi là lực lượng nước lớn khu vực cân bằng các bên, đóng vai trò người hòa giải. Mặt khác, Indonesia nhấn mạnh địa vị trung lập của họ, từng có thời điểm từ chối đề nghị tuần tra chung ở Biển Đôngcủa Mỹ, chủ trương vấn đề Biển Đôngcần được giải quyết trong khuôn khổ ASEAN. Do đó, Indonesia và Trung Quốc tồn tại điều kiện có lợi để kết nối chiến lược.

Do tác động thường xuyên của hoạt động “tự do hàng hải” và về“mối đe dọa từ Trung Quốc”, nên Indonesiađang có sự thay đổi thái độ đối với Trung Quốc. Tháng 10/2015, Tổng thống Indonesia Joko Widodo lần đầu thăm Mỹ. Trong tuyên bố chung sau khi hội kiến với Tổng thống Mỹ Obama, Mỹ và Indonesia tuyên bố nâng cấp quan hệ đối tác toàn diện lên thành quan hệ đối tác chiến lược. Tuyên bố chung còn đề cập đến vấn đề Biển Đông, nêu rõ hai nước lo ngại trước cục diện Biển Đông căng thẳng, lòng tin bị sứt mẻ và sự phát triển hòa bình, an ninh và phồn vinh kinh tế khu vực gần đây bị phá hoại. Hai nước khẳng định lại tầm quan trọng của việc bảo vệ an ninh trên biển và quyền tự do đi lại trên biển, trên không được quốc tế công nhận ở Biển Đông. Ngày 27/10/2016, tại Hội nghị Bộ trưởng 2+2 (Bộ trưởng Quốc phòng và Bộ trưởng Ngoại giao) giữa Indonesia và Australia tại đảo Bali (Indonesia), Indonesia đã bất ngờ chủ động đề xuất tuần tra chung với Australia ở Biển Đông./.

Phan Nam

Loading

Views: 0

Biển Đông có căng thẳng trở lại vào năm 2018?

Năm 2018 dự báo sẽ là năm Trung Quốc củng cố và có thể mở rộng thêm quyền kiểm soát, trong bối cảnh các nỗ lực ngoại giao nhằm tìm giải pháp cho cuộc tranh chấp vẫn tiếp diễn. Đó là nhận định của chuyên gia Bonnie Glaser, thuộc Trung Tâm Nghiên Cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS) tại Washington.

Trung Quốc xây dựng trái phép đường băng trên các đảo ở Biển Đông

Sau một năm tương đối tĩnh lặng nếu chỉ nhìn bề ngoài, Biển Đông sẽ có thể căng thẳng trở lại. Lý do dễ thấy là do những yêu cầu tự kiềm chế và không quân sự hoá không được chú ý đầy đủ, làm cho những nỗ lực ngoại giao không mang lại kết quả như mong muốn.

Trong năm 2018, Mỹ và Trung Quốc sẽ tiếp tục kịch bản của nửa cuối năm 2017. Hải quân Mỹ dự kiến sẽ tiếp tục thách thức “các yêu sách hàng hải quá đáng” của Trung Quốc trên Biển Đông. Lực lượng này sẽ tiến hành các chiến dịch bảo vệ quyền tự do đi lại trên biển (FONOP) một cách thường xuyên, khoảng từ sáu đến tám tuần một lần, và luân phiên giữa hai khu vực Trường Sa và Hoàng Sa.

Trung Quốc sẽ tiếp tục phái máy bay chiến đấu và chiến hạm ra đối phó, nhưng tuân thủ thỏa thuận song phương Mỹ-Trung về “các Quy tắc ứng xử an toàn” trên không và trên biển, nhằm tránh xung đột quân sự với quân đội Mỹ.

Năm 2018 cũng sẽ là năm nhóm “Bộ tứ” (Quad), bao gồm bốn quốc gia Úc, Nhật, Ấn và Mỹ gia tăng các hoạt động để triển khai chiến lươc “Ấn Thái Dương”. Theo như những nội dung hợp tác hợp thì trong năm 2018, thế giới có thể chứng kiến một cuộc tập trận hải quân chung của bốn nước tại vùng biển quốc tế với mục tiêu thực thi quyền tự do hàng hải.

Đáp lại, Trung Quốc, sẽ tính tới việc triển khai những chiếc máy bay quân sự đầu tiên trên một hoặc nhiều tiền đồn mới xây dựng ở Vành Khăn, Chữ Thập hay Xu Bi trên Trường Sa. Hoạt động này có thể được tiến hành dưới dạng một cuộc tập trận, hoặc một kế hoạch luân phiên triển khai ngắn hạn, tương tự như điều mà Bắc Kinh đã làm ở quần đảo Hoàng Sa.

Bộ Ngoại giao và Quốc phòng Trung Quốc chắc chắn sẽ lại nhấn mạnh các khẩu hiệu “hòa bình”, nhưng luôn cao giọng khẳng định “quyền của Trung Quốc”. Và họ sẽ tiếp tục các hành động quân sự hóa ngay trên các đảo đá đã từng cưỡng chiếm. Hẳn nhiên, các hành động ấy sẽ gây nên những mối lo ngại trong khu vực.

Trong năm nay hợp tác giữa Trung Quốc và Philippines nhằm thăm dò dầu khí tại Biển Đông sẽ được xúc tiến. Dự kiến việc thăm dò diễn ra tại một khu vực rộng 2.700 dặm vuông, nằm hoàn toàn trong vùng kinh tế đặc quyền 200 hải lý của Philippines và bên ngoài đường lưỡi bò của Trung Quốc.

Việt Nam và các nước trong khu vực cần xem xét có dấu hiệu nào về việc các bên tranh chấp đồng ý hợp tác trên một khu vực nằm ngoài vùng đặc quyền kinh tế của các quốc gia ven biển nhưng bên trong đường lưỡi bò mà Bắc Kinh vẽ ra.

Đồng thời cần chuẩn bị cho các cuộc đàm phán chính thức giữa Trung Quốc và ASEAN về Bộ Quy tắc Ứng xử (COC), dự kiến vào đầu năm nay. Tuy nhiên, COC không thể đạt được một cách nhanh chóng, vì rất nhiều khả năng Bắc Kinh sẽ trì hoãn việc hoàn thiện thỏa thuận cuối cùng. COC chỉ hoàn thiện một khi Bắc Kinh   đạt được yêu cầu vẫn duy trì quyền tự do hành động để thúc đẩy các yêu sách chủ quyền của họ.

Thái độ của Mỹ ra sao? Ngay từ đầu năm, chính quyền Trump có những động thái họ sẽ cứng rắn hơn với các động thái trên Biển Đông. “Trung Quốc xây đảo và triển khai các thiết bị quân sự tại đây không khác gì việc Nga chiếm Crimea”, Ngoại trưởng Mỹ Rex Tillerson nói trong phiên điều trần để được Thượng viện phê chuẩn vào chức ngoại trưởng hồi tháng 1.

Ông khẳng định dứt khoát: “Chúng tôi sẽ phải gửi đến Trung Quốc một tín hiệu rõ ràng rằng trước hết, hãy dừng việc xây đảo, và thứ hai, họ không được phép đưa các thiết bị đến đảo”.

Tuy nhiên, căng thẳng leo thang trên bán đảo Triều Tiên. Cuộc khủng hoảng hạt nhân, tên lửa Triều Tiên trở thành ưu tiên hàng đầu trong chính sách đối ngoại của chính quyền Trump. Mỹ xem chương trình hạt nhân, tên lửa của Bình Nhưỡng là mối đe dọa rõ ràng và hiển hiện đối với đất liền của họ. Và có lẽ họ phải ưu tiên cho các kế sách với Triều Tiên trước khi ra tay ở Biển Đông./.

Phan Nam

Loading

Views: 0

Wichtige internationale Beziehungsachsen im Jahr 2017

Im vergangenen Jahr waren rasante Änderungen im internationalen politischen Leben zu sehen. In wichtigen Beziehungsachsen gab es überraschende Situationen und sogar einige grundlegende Umschwunge. Internationale Beziehungen sind damit durcheinander gebracht worden. Dies beeinflusst teilweise die Zukunft der Welt. 

Chinas Staatschef Xin Jinping und US-Präsident Donald Trump. (Foto: sky) 

2017 war eines der besonderen Jahre, in denen sich internationale Beziehungen besonders rasant veränderten. Die Situationen im letzten Halbjahr war bereits ganz anders, als noch im ersten Halbjahr. Zu den rasantesten Änderungen gehörten die Beziehungen zwischen den USA und Russland, zwischen den USA und China sowie zwischen den USA und der EU.

Umschwung bei Beziehungen zwischen den USA und Russland, zwischen den USA und China

Nach der Vereidigung des US-Präsidenten Donald Trump dachten viele politische Beobachter, dass sich die Beziehungen zwischen Russland und den USA im Jahr 2017 verbessern würden. Im Gegenteil zeigte sich allerdings sehr schnell eine kontinuierliche Konfrontation zwischen den beiden Ländern. In seinem Wahlkampf sendete Trump mehrmals die Botschaft, die Beziehungen mit Russland verbessern zu wollen. Diese Erklärung wurde gleich danach von einer Untersuchung über die möglichen Einmischungsversuche Russlands in die US-Präsidentenwahl im Jahr 2016 überschattet.

In der Folge kam es zu Konfrontationen zwischen Russland und den USA in der Diplomatie. Der Höhepunkt der Spannungen war die Billigung eines Gesetzes zur Verschärfung der Sanktionen gegen Russland durch den US-Kongress. Präsident Donald Trump musste dieses Gesetz nach langem Zögern unterzeichnen. Russland betrachtete dies als Provokation und wies im Gegenzug 755 US-Diplomaten aus. Die US-Botschaft in Russland wurde es verboten, einige Gebäude in Moskau zu nutzen. Als Reaktion forderten die USA Russland dazu auf, das russische Generalkonsulat in der US-Stadt San Francisco und zwei Handelsvertretungsbüros Russlands in Washington und New York zu schließen.

Auch die Spannungen zwischen Russland und den USA in der Wirtschaft spitzten sich zu. Beide Seiten verlängerten gegenseitige Sanktionen. Die USA setzen zahlreiche neue Sanktionen gegen Unternehmen in wichtigen Bereichen Russlands in Kraft, wie beispielsweise im Energiebereich und dem Waffenexport.

Während die Beziehungen zwischen Russland und den USA in eine Sackgasse geraten ist, erlebten die Beziehungen zwischen den USA und China im vergangenen Jahr Höhen und Tiefen. Dass Donald Trump zum US-Präsident wurde, übte Druck auf China sowohl in Wirtschaft, Handel und Politik aus. In der neuen nationalen Sicherheitsstrategie der USA wurde China explizit als Bedrohung für die USA genannt. Angesichts der gegenseitigen Interessen mussten Washington und Peking allerdings die konstruktiven Beziehungen aufrechterhalten. Nach gegenseitigen Besuchen der Spitzenpolitiker beider Länder im Jahr 2017 haben sich die Beziehungen zwischen den USA und China schrittweise stabilisiert. Als die Großmächte mit dem weltweit größten Einfluss, müssen die USA und China, Analysten zufolge, sicherlich die Kooperationen aufrechterhalten. Demnach werden beide Länder zukünftig sowohl stärker zusammenarbeiten, als auch stärker konkurrieren. Die Parteien sind jedoch auch dazu aufgerufen stärkere Konfrontation und Konflikte zu vermeiden.

Herausforderung für Allianzbeziehungen zwischen den USA und der EU

Zahlreiche europäische Politiker zeigen sich besorgt über das Trumps Wahlkampf-Motto “America first”. Die Befürchtung der Spitzenpolitiker war, dass dieses die Zukunft die transatlantischen Beziehungen beeinträchtigen könnte. Nach der US-Präsidentschaftswahl erklärte Trump öffentlich, dass neben Großbritannien auch zahlreiche europäische Länder aus der EU austreten wollten, ohne dies konkret zu belegen. Er drückte seine Hoffnung aus, dass Brexit erfolgreichen sein werde.

Ferner drohten die USA, die Verteidigungs-Beziehungen zur EU im Rahmen des Nordatlantikvertrages, der NATO, aufzukündigen. Der US-Präsident kündigte die Verhandlungen zum transatlantischen Freihandelsabkommen (TTIP) zwischen der EU und den USA auf und kündigte an, zukünftig auf Protektionismus setzten zu wollen. Außerdem erklärte Washington seinen Austritt aus dem Pariser Klimavertrag. Ferner zeigte sich Trump offen fuer ein Austreten der USA aus der historischen Atomvereinbarung mit dem Iran, die im Jahr 2015 von Großbritannien, Frankreich, Russland, den USA, China, Deutschland und dem Iran unterzeichnet wurde. Währenddessen beharrt die EU darauf, diese Vereinbarung zu schützen.

Als Vorreiter der EU warnte die deutsche Bundeskanzlerin Angela Merkel, dass die transatlantische Beziehung schwächer werden. Europa solle sein eigenes Schicksal bestimmen.

Die Beziehungen zwischen der EU und den USA, zwischen den USA und China sowie zwischen den USA und Russland sind im vergangenen Jahr heftig angespannt gewesen. Gründe dafür kamen vor allem aus der US-Politik. Dennoch spielen diese Beziehungsachsen eine wichtige Rolle bei der Aufrechterhaltung der internationalen Sicherheit sowie der politischen und wirtschaftlichen Stabilität in der Welt. Deswegen ist zu hoffen, diese Länder Maßnahmen ergreifen werden, um Kompromisse zu erreichen sowie eine Eskalation und weitere Konfrontationen zu vermeiden./.

(Hong Van – VOV)

 

Loading

Views: 0

Chính sách của Trung Quốc tại Biển Đông 2017

Trong bối cảnh chính quyền Mỹ tập trung đối phó với vấn đề hạt nhân & tên lửa Triều Tiên và đang định hình lại chính sách đối ngoại kiểu mới dưới thời Tổng thống Donald Trump, Trung Quốc đã tranh thủ thời cơ có những tiến triển đáng kể trong việc củng cố thêm sự kiểm soát đối với hầu hết Biển Đông. Theo đó, Trung Quốc đã thực hiện 5 nội dung để kiểm soát Biển Đông trên thực địa:

1. Hoàn thành việc lắp đặt trang thiết bị quân, dân sự tại các thực thể thuộc quần đảo Trường Sa Biển Đông. Trong báo cáo gửi Quốc hội Mỹ tháng 6/2017, Lầu Năm Góc cho biết Trung Quốc hiện không còn mở rộng các bãi đá trên Biển Đông, thay vào đó Bắc Kinh đang nỗ lực bổ sung thêm các cơ sở hạ tầng quân sự trên các đá này. Các cơ sở mới của Trung Quốc bao gồm các sân bay với đường băng dài, kho chứa nước và nhiên liệu, các cầu cảng lớn, nhà chứa máy bay chiến đấu, các cơ sở thông tin liên lạc, kho chứa vũ khí, các doanh trại quân đội và các tòa nhà hành chính.

Lầu Năm Góc đã lần đầu tiên chính thức đề cập tới việc Trung Quốc triển khai các tên lửa và xây dựng các nhà chứa máy bay trên các đảo nhân tạo. Báo cáo của Lầu Năm Góc cho biết thêm Trung Quốc có thể sớm đưa các máy bay chiến đấu mới và hiện đại lên các đảo nhân tạo phi pháp này, trong đó, hai mẫu máy bay tàng hình mới là J-20 và FC-31 có thể sẵn sàng đi vào hoạt động trong năm tới. Theo Bonnie Glaser, một chuyên gia thuộc  Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS) của Mỹ,  Trung Quốc “đã xây dựng các cơ sở quy mô lớn và cả các chuyên gia về dân sự và quân sự Trung Quốc luôn khẳng định rằng khi thời điểm chiến lược tới thì họ sẽ bắt đầu sử dụng chúng triệt để hơn”.

Việc Trung Quốc hoàn thiện các cơ sở hạ tầng quân sự quy mô lớn như trên cho thấy ý đồ chiến lược của nước này trong việc tiến tới kiểm soát hoàn toàn Biển Đông trong tương lai, trong đó kịch bản mà Trung Quốc tính tới còn có thể là việc xây dựng đủ „thế và lực“ để chuẩn bị cho một „cuộc xung đột quân sự giả định“ với Mỹ ở Biển Đông hoặc xa hơn là ở khu vực Thái Bình Dương (trong trường hợp cần giải quyết vấn đề Đài Loan hoặc quần đảo Điếu Ngư/Senkaku).

2.Tại Hoàng Sa, các cơ sở mới của Trung Quốc đã được phát hiện tại Đảo Cây (Triệu Thuật) thuộc nhóm đảo An Vĩnh (Thất Liên).

Trong tháng 11/2017, Trung Quốc đã lần đầu tiên công khai hóa việc bố trí máy bay chiến đấu J-11B có bán kính tác chiến 1500 km bao phủ trung tâm Biển Đông và Đông Nam Á hải đảo. Để thường trú máy bay chiến đấu thường trực, trong điều kiện độ nắng nóng, độ mặn, độ ẩm cao không thích hợp cho đồn trú máy bay chiến đấu, Trung Quốc đã hoàn thành lắp đặt hệ thống gara kín có điều hòa nhiệt độ. Các hệ thống này có thể sẽ được xây dựng tại Đá Xubi, Đá Chữ Thập và Vành Khăn thuộc Trường Sa.

Mỹ là đối tượng đối phó chủ yếu của Trung Quốc tại Biển Đông. Năm nay, Trung Quốc tiếp tục gây khó khăn cho các phương tiện quân sự Mỹ tuần tra, trinh sát và giám sát Biển Đông. Mục tiêu của Trung Quốc là đẩy Mỹ ra khỏi Biển Đông, khởi đầu bằng việc ngày 8/3/2009, khi các tàu thuyền Trung Quốc chèn ép tàu trinh sát đáy biển của hải quân Mỹ Imppeccable hoạt động 70km ngoài khơi Hải Nam. Hiện nay, Trung Quốc đã có hệ thống các căn cứ quân sự để gây khó khăn cho tàu thuyền và máy bay của Mỹ, nhằm đẩy Mỹ ra khỏi Biển Đông.

3. Tăng cường lực lượng hải quân; một số loại tàu đổ bộ tấn công đời mới của Trung Quốc đã được trang bị cho hạm đội Nam Hải. Trung Quốc đã đưa vào hoạt động “máy xây đảo thần kỳ”, với việc hạ thủy tàu Thiên Côn dài 140 mét đã được hạ thủy. Lượng choán nước của nó là 17.000 tấn. Là con tàu lớn nhất thuộc loại này ở châu Á, Thiên Côn có thể dùng cho giai đoạn vun đắp đảo, với sức khoan cắt và bơm công suất mạnh, lấy từ đáy biển sâu 35m đưa lên trên bề mặt khoảng 6.000 m3 đất cát.

Đến nay, Trung Quốc đã xây dựng 5 ngọn hải đăng trên các đảo, đá ở Biển Đông.

4. Trung Quốc đang phát triển kỹ thuật nuôi trồng san hô và các nhuyễn thể trên Biển Đông. Viện nghiên cứu biển Hoa Nam thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc. Các chuyên gia của Viện này đã bắt đầu gây trồng và nhân san hô trên đáy biển, nuôi tảo, thực vật biển, các loài nhuyễn thể và động thực vật khác trong hệ sinh thái này. Với san hô, giới khoa học Trung Quốc tiến hành y như với cây trên mặt đất, đầu tiên trồng san hô non, còn khi các đốm san hô đạt độ tuổi cần thiết, người ta bứng đi trồng vào môi trường sống tự nhiên của chúng. Bằng cách như vậy, các nhà khoa học Trung Quốc đã trồng khoảng 100.000 m2 san hô.

Điều cần đặc biệt lưu tâm, đó là các thành tựu khoa học và kỹ thuật này có thể được sử dụng để mở rộng hiện diện thực tế của Trung Quốc trên Biển Đông. Ngoài mục tiêu phục hồi toàn bộ hệ sinh thái của các hệ sinh vật biển, Trung Quốc nhằm xây dựng những vùng biển mới mà Bắc Kinh sẽ công bố là sở hữu riêng của Trung Quốc, bất chấp luật biển quốc tế.

5.Tiến một bước đáng kể chia rẽ ASEAN trong vấn đề Biển Đông; đưa đàm phán COC vào quỹ đạo mà Bắc Kinh mong muốn, trong đó, mục tiêu là bình thường hóa tình hình trên  Biển Đông và chấp nhận nguyên trạng mới. Với sự thỏa hiệp của chính quyền Philippines và Malaysia (sau khi Thủ tướng Najib thăm Bắc Kinh tháng 11/2016), Trung Quốc tìm cách gây sức ép với Việt Nam trong vấn đề Biển Đông, trước hết để đạt thỏa thuận khung COC không mang tính ràng buộc.

Trong khi cản trở Việt Nam thăm dò dầu khí ngoài khơi, Bắc Kinh tìm kiếm đột phá trong vấn đề khai thác chung tại các khu vực tranh chấp, trước hết là với Philippines./.

 

Loading

Views: 0

In China startet das größte Amphibienflugzeug der Welt

Das weltweit größte chinesische Amphibienflugzeug AG600 hat am 24. Dezember seinen ersten Testflug vom Flughafen Zhuhai in der Provinz Guangdong erfolgreich durchgeführt. Das AG600 flog vom Flughafen Zhuhai und hatte einen einstündigen Flug, bevor es zurückkehrte.

Das chinesische Amphibienflugzeug AG600 (Foto: Sina)

Laut Xinhua ist das von der „Aviation Industry Group“ (AVIC) seit acht Jahren, genauso groß wie ein Boeing 737, mit einer Spannweite von 38,8 Metern, einer Höhe von 12,1 Metern, einem Maximalgewicht von 53,5 Tonnen hergestellt. Die Höchstgeschwindigkeit des AG600 erreicht 500 km/h, kann 12 Stunden ununterbrochen fliegen; die längste Reise erreicht 4,500 km. Das AG600 ist mit vier Motoren ausgestattet und kann bis zu 50 Personen in Such- und Rettungseinsätzen auf See befördern. Es kann auch 20 Tonnen Wasser für 20 Sekunden saugen, um eine Waldbrandrettung durchzuführen.
Das AG600 ist für die Brandbekämpfung in der Luft, die Meeresrettung, die Meeresüberwachung und den Meeresschutz konzipiert. Chinesische Regierungsbehörden haben 17 Flugzeuge für militärische und zivile Zwecke bestellt./.

Loading

Views: 0

Trung Quốc bay thử thuỷ phi cơ lớn nhất thế giới

Thủy phi cơ lớn nhất thế giới của Trung Quốc đã có chuyến bay đầu tiên từ sân bay Chu Hải ở tỉnh Quảng Đông trong ngày 24/12.

Thủy phi cơ loại AG600 này đã cất cánh từ sân bay Chu Hải và có chuyến bay kéo dài khoảng một tiếng trước khi quay trở lại trong sự chào đón nhiệt liệt của đám đông.

Thủy phi cơ AG600 của Trung Quốc

Theo Tân Hoa xã, thủy phi cơ AG600 do Tập đoàn Công nghiệp Hàng không (AVIC) nghiên cứu và chế tạo trong 8 năm với kích cỡ tương đương một chiếc máy bay Boeing 737, có sải cánh tới 38.8m, cao 12.1m, trọng lượng lớn nhất đạt 53,5 tấn, tốc độ bay tìm kiếm lớn nhất đạt 500 km/h, có thể bay liên tục 12 giờ, hành trình bay lớn nhất đạt 4.500km. AG600 được trang bị 4 động cơ và có khả năng chuyên chở 50 người trong các cuộc tìm kiếm, cứu hộ trên biển. Nó cũng có thể hút 12 tấn nước trong 20 giây nhằm triển khai các cuộc cứu hộ cháy rừng.

AG600 được thiết kế cho nhiệm vụ chữa cháy trên không, cứu nạn hàng hải, giám sát và bảo vệ môi trường biển. Các cơ quan trong chính phủ Trung Quốc đã đặt hàng 17 chiếc nhằm sử dụng cho mục đích quân sự và dân sự.

Trong khi đó, hãng tin AFP cho rằng, chiếc AG600 sẽ được sử dụng phục vụ triển khai các dự án của Trung Quốc ở Biển Đông/.

 

 

Loading

Views: 0

Zankapfel Südchinesisches Meer: Europäische Erfahrungen zur Konfliktlösung

Der Konflikt im Südchinesischen Meer hat nichts an Brisanz verloren. Zu seiner Eindämmung könnte die EU ihre Erfahrungen mit supranationalem Ressourcenmanagement und asymmetrischen Konfliktkonstellationen beisteuern, meint Dr. Gerhard Will.

Angesichts der unverhohlenen Drohungen Nordkoreas mit atomarem Potenzial und den lautstark geführten Auseinandersetzungen zwischen China und Japan über Besitzansprüche in der ostchinesischen See sind die Konflikte in der südchinesischen See etwas aus dem internationalen Blickfeld geraten. Dies ändert nichts an ihrer Brisanz. Der Streit um Ressourcen, die Wahrung nationaler Legitimität sowie um geostrategische Interessen hält an.

Konflikttreiber Ressourcenreichtum, nationale Legitimität und geostrategische Interessen

Es ist ein Konflikt unter ungleichen Parteien. Auf der einen Seite steht das wirtschaftlich mächtige und hoch gerüstete China, das aufgrund „historischer Rechte“ – ein Begriff, den das internationale Seerecht nicht kennt – etwa achtzig Prozent der südchinesischen See für sich beansprucht. Auf der anderen Seite stehen Vietnam, die Philippinen, Malaysia und Brunei, die gemäß internationalem Seerecht „exklusive Wirtschaftszonen“ geltend machen. Die übrigen Mitgliedsländer der südostasiatischen Staatengemeinschaft (ASEAN) erheben keine mit China konfligierenden Gebietsansprüche, da sie das Land als wichtigen Wirtschaftspartner sehen, den sie ungern herausfordern möchten.

Den Konfliktparteien geht es zum einen um die Frage, wer die Erdöl- und Erdgasvorkommen, über deren tatsächliches Ausmaß weit auseinander liegende Schätzungen vorliegen, sowie die reichen Fischgründe ausbeuten darf. Letztere haben die Anrainerstaaten veranlasst, immer größere und technisch gut ausgerüstete Fischfangflotten zu entsenden. Um diese zu schützen und die Flotten anderer Nationen am Fischfang zu hindern, werden sie von bewaffneten Schutzflotten begleitet, die neben den regulären Marineverbänden operieren. Zahlreiche Fischerboote gerieten bereits mit den Sicherheitskräften der anderen Anrainer aneinander und wurden mit Waffengewalt gekapert, die Boote und der Fang beschlagnahmt, die Besatzung verhaftet; nicht selten waren dabei auch Todesopfer zu beklagen.

Zum anderen müssen hauptsächlich die Regierungen Chinas, Vietnams und der Philippinen ihren Bevölkerungen beweisen, dass sie willens und in der Lage sind, die „nationalen Interessen“ ihrer Länder uneingeschränkt zu verteidigen. Die Erfüllung nationalistischer Forderungen, die von der Bevölkerung vor allem im Internet wenig diplomatisch erhoben werden, ist Bedingung für die Legitimität der Regierungen. Für Kompromisse in Fragen von Gebietsansprüchen bleibt hier wenig Raum.

„Nationale Interessen“ in der geostrategisch bedeutsamen südchinesischen See melden auch die USA an, die die Aufrüstung der chinesischen Marine- und Luftwaffenverbände misstrauisch verfolgen. Mit ihrer Forderung nach „Freedom of Navigation“ beziehen sich die USA nicht nur auf die ungehinderte Fahrt von Handelsschiffen, sondern auch auf das ungehinderte Operieren von Aufklärungsschiffen. Obgleich amerikanische Regierungsvertreter betonen, dass diese Strategie nicht gegen China gerichtet sei, wird dies in Peking anders gesehen. Zumal Hanoi und Singapur das neue Engagement der USA in Asien und dem Pazifik begrüßen, da sie sich davon ein neues Austarieren des regionalen Kräftegleichgewichts versprechen. Die südchinesische See ist somit auch zum Schauplatz der chinesisch-amerikanischen Rivalität geworden, die die Auseinandersetzungen um natürliche Ressourcen sowie das Ringen um nationale Legitimität überlagert und verstärkt.

Das militärische Machtgebaren konterkariert diplomatische Bemühungen

Alle Anrainerstaaten haben zwar die „UN Convention on the Law of the Sea“ (UNCLOS) unterzeichnet, um eine friedlichen Beilegung der Konflikte herbeizuführen. Sie interpretieren diese Vereinbarung jedoch höchst unterschiedlich. Während China auf seinen „historischen Rechten“ und auf einer bilateralen Lösung mit den einzelnen Konfliktparteien besteht, versucht die Mehrheit der ASEAN-Staaten einen gemeinsamen „Code of Conduct“ zu formulieren, der Prinzipien der Konfliktvermeidung und Deeskalation festlegt. Es mangelt nicht an gemeinsamen Gesprächsforen, Verhandlungsinitiativen sowie an Beteuerungen aller Parteien, die bestehenden Differenzen ausschließlich mit friedlichen Mitteln beilegen zu wollen. Doch die manifeste Aufrüstung Chinas wie der anderen Anrainer und der Einsatz dieser militärischen Machtmittel – wenn auch bislang nur für begrenzte Aktionen – konterkarieren die diplomatischen Bemühungen.

Die Interessen der EU in der Region

In der Überzeugung, dass regionale Integration eine wesentliche Voraussetzung für politischen und wirtschaftlichen Erfolg ist, hat die EU die regionale Integration in Südostasien nach Kräften gefördert. Die wachsenden Spannungen in der südchinesischen See bedrohen die Integration. Zudem verfolgt die EU ganz konkrete Wirtschaftsinteressen: Sie ist der größte Investor in der Region, gefolgt von der USA und der VR China. Die Länder der südchinesischen See sind wichtige Handelspartner der EU. Die Schifffahrtslinien, die durch die südchinesische See führen, sind unverzichtbar für den Handel der europäischen Länder mit China, Japan und Korea. Nur durch regionale Kooperation und eine tragfähige Sicherheitsarchitektur können diese Interessen gewahrt werden.

Europäische Erfahrungen könnten zur Konfliktlösung beitragen

Damit die EU zur Konfliktlösung beitragen kann, muss zunächst einmal die Bedeutung dieses Teils der Welt für Europa stärker in ihr Bewusstsein rücken. Im vergangenen Jahr sind hier einige bemerkenswerte Fortschritte erzielt worden, auch wenn man von der Formulierung einer entsprechenden außenpolitischen Strategie noch weit entfernt ist. Es wäre allerdings naiv zu glauben, dass eine solche Strategie am grünen Tisch entworfen werden kann. Vielmehr bedarf es neben den wirtschaftlichen Beziehungen eines aktiven politischen Dialogs sowie eines lebendigen Austauschs von historischen Erfahrungen und aktuellen Konzepten mit den Staaten der Region. Hier hat Europa Einiges zu bieten, wie z.B. Erfahrungen – positive wie negative – mit dem supranationalen Ressourcenmanagement von Energie oder Fisch. Ebenso kennt Europa aus den Zeiten des Kalten Krieges Probleme einer asymmetrischen Konfliktkonstellation und die Chancen, die vertrauensbildende Maßnahmen eröffnen. Der Wert dieser Erfahrungen sollte nicht überschätzt werden, aber sie könnten eine Gesprächsgrundlage bilden. Auch hier gilt der Satz des früheren Generalsekretärs der ASEAN Surin Pitsuwan: „Europa ist kein Modell, aber eine Inspiration“./.

Dr. phil. Gerhard Will ist  Politikwissenschaftler in Deutschland. Seine Forschungsgebiete sind Transformationsprozesse sozialistischer Länder Asiens; Sicherheitspolitik, wirtschaftliche Entwicklung und Integrationsprozesse in Südostasien; Südostasiens Rolle in der internationalen Politik.

 

Loading

Views: 0

Một số khái niệm cơ bản trong Công ước của LHQ về Luật Biển 1982

Ngày 10/12/1982, Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 (gọi tắt là Công ước Luật biển 1982), tên tiếng Anh là United Nations Convention on the Law of the Sea, hay thường được gọi tắt là UNCLOS 1982, được 107 quốc gia, trong đó có Việt Nam, ký tại Montego Bay, Jamaica (tính đến nay, số quốc gia ký là 157).

 Một số khái niệm cơ bản trong Công ước của LHQ về Luật Biển 1982:

1.Đường cơ sở: Là đường ranh giới phía trong của lãnh hải và phía ngoài của nội thủy, do quốc gia ven biển hay quốc gia quần đảo định ra phù hợp với Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 để làm cơ sở xác định phạm vi của các vùng biển thuộc chủ quyền và quyền tài phán quốc gia gồm (lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa).

2.Lãnh hải hay hải phận là vùng biển ven bờ nằm giữa vùng nước nội thủy và các vùng biển thuộc quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia. Lãnh hải có chiều rộng 12 hải lý tính từ đường cơ sở. Chủ quyền của quốc gia đối với vùng lãnh hải không phải là tuyệt đối như đối với các vùng nước nội thủy, do có sự thừa nhận quyền qua lại vô hại của tàu thuyền nước ngoài trong lãnh hải.

Cũng lưu ý rằng chủ quyền của quốc gia ven biển được mở rộng hoàn toàn và riêng biệt đối với vùng trời trên lãnh hải cũng như đối với đáy biển và lòng đất dưới đáy biển của vùng lãnh hải này. Trong vùng trời phía trên lãnh hải, các quốc gia khác không có quyền tự do qua lại vô hại đối với các phương tiện bay (máy bay chẳng hạn). Đối với đáy biển và lòng đất dưới đáy biển, quốc gia ven biển cũng có toàn quyền định đoạt.

3.Vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) là vùng biển mở rộng từ các quốc gia ven biển. Đây là vùng biển rộng 200 hải lý tính từ đường cơ sở. Quốc gia ven biển có quyền về chủ quyền, quyền tài phán và quyền kinh tế ở vùng biển này.

Quyền chủ quyền về kinh tế bao gồm các quyền đối với khai thác tài nguyên sinh vật, tài nguyên không sinh vật của cột nước bên trên đáy biển, của đáy biển và lòng đất dưới đáy biển. Hoạt động khai thác tài nguyên trên vùng đặc quyền kinh tế đem lại lợi ích cho quốc gia ven biển như khai thác năng lượng nước, hải lưu, gió… Mọi tổ chức, cá nhân nước ngoài muốn khai thác tài nguyên trên vùng đặc quyền kinh tế phải có sự xin phép và đồng ý của quốc gia ven biển.

Quyền tài phán trên vùng đặc quyền kinh tế của quốc gia ven biển bao gồm quyền lắp đặt, sửa chữa các đảo nhân tạo, công trình, thiết bị trên biển; quyền nghiên cứu khoa học biển; quyền bảo vệ môi trường. Các nước khác có quyền tự do bay, tự do hàng hải và đặt dây cáp, ống dẫn ngầm tại vùng đặc quyền kinh tế.

4.Thềm lục địa:

Thềm lục địa là vùng đáy biển và lòng đất dưới đáy biển nằm bên ngoài lãnh hải của Quốc gia ven biển, trên phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền của quốc gia này cho đến bở ngoài của rìa lục địa, hoặc đến cách đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải 200 hải lý, khi bờ ngoài của rìa lục địa của quốc gia này ở khoảng cách gần hơn 200 hải lý. Trong trường hợp bờ ngoài của rìa lục địa của quốc gia ven biển kéo dài tự nhiên vượt quá 200 hải lý tính từ đường cơ sở, quốc gia ven biển có thể mở rộng ranh giới ngoài của thềm lục địa của mình tới một khoảng cách không vượt quá 350 hải lý tính từ đường cơ sở hoặc cách đường đẳng sâu 2.500 m một khoảng cách không vượt quá 100 hải lý.

Quốc gia ven biển thực hiện các quyền thuộc chủ quyền đối với thềm lục địa về mặt thăm dò và khai thác tài nguyên thiên nhiên của mình. Đây là những đặc quyền, nghĩa là nếu quốc gia ven biển này không thăm dò thềm lục địa hay không khai thác tài nguyên thiên nhiên của thềm lục địa (bao gồm các tài nguyên phi sinh vật và các tài nguyên sinh vật thuộc loài định cư), thì không ai có quyền tiến hành các hoạt động như vậy, nếu không có sự thỏa thuận rõ ràng của các quốc gia ven biển. Các quyền của quốc gia ven biển đối với thềm lục địa tồn tại một cách “nghiễm nhiên”, không phụ thuộc vào sự chiếm hữu thật sự hay danh nghĩa, cũng như vào bất cứ tuyên bố rõ ràng nào.

Tuy nhiên, khi tiến hành khai thác thềm lục địa ngoài 200 hải lý, quốc gia ven biển có nghĩa vụ đóng góp tài chính theo quy định của Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982. Việc quốc gia ven biển thực hiện các quyền của mình đối với thềm lục địa không được gây thiệt hại đến hàng hải hay các quyền tự do của các quốc gia đều có quyền lắp đặt cáp và ống dẫn ngầm ở thểm lục địa. Quốc gia đặt cáp hoặc ống dẫn ngầm phải thỏa thuận với quốc gia ven biển về tuyến đường đi của cáp hoặc ống dẫn ngầm./.

Loading

Views: 0

Một số nội dung quan trọng trong Công ước Luật biển 1982

Ngày 10/12/1982, Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 (gọi tắt là Công ước Luật biển 1982), tên tiếng Anh là United Nations Convention on the Law of the Sea, hay thường được gọi tắt là UNCLOS 1982, được 107 quốc gia, trong đó có Việt Nam, ký tại Montego Bay, Jamaica (tính đến nay, số quốc gia ký là 157).

Sau Hiến chương LHQ, Công ước Luật biển 1982 được đánh giá là văn kiện pháp lý quốc tế quan trọng nhất kể từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, được nhiều quốc gia ký kết và tham gia. Công ước Luật biển 1982 có hiệu lực từ ngày 16/11/1994 (12 tháng kể từ ngày Guyana, nước thứ 60 phê chuẩn Công ước ngày 16/11/1993). Công ước Luật biển 1982 là một văn kiện pháp lý đa phương đồ sộ, bao gồm 320 điều khoản và 9 Phụ lục, với hơn 1000 quy phạm pháp luật.

Một số nội dung quan trọng đã được quy định trong Công ước Luật biển 1982 như dưới đây:

  1. Quốc gia ven biển thực hiện chủ quyền đầy đủ đối với vùng lãnh hải mà họ có quyền thiết lập với chiều rộng không quá 12 hải lý. Tuy vậy, chủ quyền  này không phải là tuyệt đối vì tầu thuyền nước ngoài được phép “đi qua vô hại” trong vùng lãnh hải. Tầu thuyền và máy bay được phép “đi quá cảnh” qua các dải hẹp, eo biển được sử dụng cho hàng hải quốc tế.
  2. Ranh giới lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế (ĐQKT) và thềm lục địa được xác định dựa trên các quy tắc áp dụng cho lãnh thổ đất liền, nhưng đối với đá không thể có con người sinh sống hoặc không có đời sống kinh tế sẽ không có vùng ĐQKT hoặc thềm lục địa. Quốc gia có biên giới với eo biển có thể điều tiết lưu thông hàng hải và các khía cạnh khác liên quan đến đi lại, lưu thông..
  3. Quốc gia quần đảo, được tạo thành bởi nhóm hoặc các nhóm đảo liên quan gần gũi và những vùng nước tiếp liền, sẽ có chủ quyền đối với vùng biển nằm trong các đường thẳng được vẽ bởi các điểm xa nhất của các đảo, vùng nước bên trong các đảo được gọi là vùng nước quần đảo, và các quốc gia này có thể thiết lập các đường đi lại cho tầu thuyền và hàng không, trong đó các quốc gia khác có thể được hưởng quyền qua lại các quần đảo bằng các tuyến đường biển đã định.
  4. Quốc gia ven biển có quyền chủ quyền đối với vùng ĐQKT rộng tối đa 200 hải lý, đối với tài nguyên thiên nhiên và một số hoạt động kinh tế, và thực hiện quyền tài phán đối với các hoạt động nghiên cứu khoa học và bảo vệ môi trường. Các quốc gia khác có quyền tự do hàng hải và tự do hàng không và tự do đặt dây cáp ngầm và đường ống.
  5. Quốc gia không có biển hoặc bất lợi về địa lý có quyền tham gia trên cơ sở công bằng trong việc khai thác một phần thích hợp trong số phần dư dôi của các tài nguyên sống trong vùng ĐQKT của quốc gia ven biển trong cùng khu vực hoặc tiểu khu vực; các loài di cư như cá hoặc sinh vật biển được bảo vệ đặc biệt.
  6. Quốc gia ven biển có quyền chủ quyền đối với thềm lục địa (khu vực đáy biển của quốc gia) trong việc việc thăm dò và khai thác tài nguyên thiên nhiên của thềm lục địa. Thềm lục địa có thể kéo dài ít nhất là 200 hải lý từ bờ biển, và có thể  kéo dài không quá 350 hải lý trong những điều kiện cụ thể. Quốc gia ven biển chia sẻ với cộng đồng quốc tế phần lợi tức thu được do khai thác tài nguyên từ bất cứ khu vực nào trong thềm lục địa của quốc gia đó khi nó kéo dài quá 200 hải lý. Uỷ ban Ranh giới thềm lục địa (được thành lập theo Phụ lục II trong Công ước Luật biển 1982) sẽ có ý kiến đối với quốc gia liên quan về ranh giới ngoài của thềm lục địa khi nó kéo dài quá 200 hải lý.
  7. Tất cả các quốc gia đều có quyền tự do truyền thống về hàng hải, bay qua, nghiên cứu khoa học và đánh cá trên vùng biển quốc tế. Các quốc gia có trách nhiệm hợp tác với nhau trong việc thông qua các biện pháp để quản lý và bảo tồn các tài nguyên sống trên biển.
  8. Các quốc gia có chung biên giới với biển kín hoặc nửa kín cần hợp tác với nhau trong việc quản lý tài nguyên sống, có chính sách và hoạt động về môi trường cũng như nghiên cứu khoa học. Các quốc gia không có biển có quyền tiếp cận với biển và được tự do quá cảnh thông qua nước quá cảnh để ra biển.Các quốc gia phải ngăn chặn và kiểm soát ô nhiểm môi trường biển và phải chịu trách nhiệm đối với những thiệt hại gây ra do sự vi phạm nghĩa vụ quốc tế của mình để kiềm chế những sự ô nhiễm đó.
  9. Tất cả các nghiên cứu khoa học trong vùng ĐQKT và thềm lục địa phải có sự đồng ý của quốc gia ven biển. Tuy vậy, hầu như trong tất cả mọi trường hợp, quốc gia ven biển có trách nhiệm đồng ý với đề nghị của các quốc gia khác khi việc nghiên cứu được tiến hành vì mục đích hoà bình và đã thực hiện một số yêu cầu chi tiết. Các quốc gia cam kết tăng cường phát triển và chuyển giao kỹ thuật biển trong những điều kiện “ công bằng và hợp lý” có tính đến đầy đủ những lợi ích hợp pháp.
  10. Các quốc gia thành viên phải giải quyết bằng biện pháp hoà bình các tranh chấp liên quan đến việc hiểu và áp dụng Công ước. Các tranh chấp cần được trình lên Toà án quốc tế về luật biển ( được thành lập theo Công ước), trình lên Toà án công lý quốc tế hoặc trọng tài. Toà án có quyền tài phán riêng biệt đối với những tranh chấp liên quan đến khai thác ở đáy biển.

Sau khi Công ước Luật biển 1982 ra đời và có hiệu lực, các quốc gia ven biển đã ra các tuyên bố để khẳng định chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của mình đối với những vùng biển được mở rộng theo quy định của Công ước. Quy chế pháp lý đối với lãnh hải đã trở thành biện pháp giải toả cho các yêu sách xung đột giữa các quốc gia với nhau. Lưu thông hàng hải qua vùng lãnh hải và các dải hẹp giờ đây dựa trên các nguyên tắc pháp lý. Các quốc gia ven biển đã tận dụng các điều khoản lợi thế cho phép mở rộng vùng ĐQKT ra tới 200 hải lý dọc theo bờ biển. Các quốc gia không có biển được quyền tiếp xúc với biển hoặc từ biển cũng được quy định một cách rõ ràng. Quyền được tiến hành các nghiên cứu khoa học biển giờ đây được dựa trên các nguyên tắc mà không thể vì lý do gì để từ chối. Cơ quan quyền lực quốc tế về đáy đại dương đã được thành lập năm 1994, đang thực hiện chức năng tổ chức và kiểm soát các hoạt động dưới biển sâu ngoài vùng thuộc quyền tài phán quốc gia, nhằm điều hành việc khai thác và bảo tồn các nguồn tài nguyên của biển.Toà án Luật biển quốc tế cũng đã được thành lập năm 1996 và có quyền lực để giải quyết các tranh chấp liên quan đến biển phát sinh từ việc áp dụng hay hiểu biết về Công ước.

Tuy nhiên, cần phải nói thêm rằng, phần XI của Công ước Luật biển 1982 liên quan đến quy chế pháp lý đối với đáy biển và lòng đất dưới đáy biển nằm ngoài giới hạn quyền tài phán quốc gia (Công ước gọi chung là “Vùng”), đặc biệt là việc khai thác các quặng nằm sâu dưới đáy đại dương, đã làm dấy lên nhiều lo ngại từ các nước công nghiệp phát triển, đặc biệt là Mỹ. Để đạt được sự tham gia rộng rãi hơn của các nước đối với Công ước, Tổng thư ký LHQ đã chủ động tiến hành một loạt các cuộc tham vấn không chính thức giữa các quốc gia để giải quyết các lo ngại này. Sự tham vấn đã kết thúc bằng việc các nước đạt được thoả thuận vào tháng 7/1994, gọi là “ Thoả thuận liên quan đến việc thực hiện phần XI của Công ước Luật biển 1982”. Thoả thuận này được coi là một bộ phận của Công ước và đã mở đường cho tất cả các nước tham gia ký hoặc phê chuẩn để trở thành thành viên của Công ước.

Sau khi Công ước Luật biển 1982 được thông qua ngày 30/4/1982, Việt Nam là một trong 107 quốc gia tham gia ký Công ước tại Montego Bay. Ngày 23/6/1994, Quốc hội nước ta đã ra Nghị quyết  về việc phê chuẩn văn kiện pháp lý quan trọng này. Điểm 1 trong Nghị quyết nêu rõ: “ Bằng việc phê chuẩn Công ước của LHQ về Luật biển 1982, nước CH XHCN Việt Nam biểu thị quyết tâm cùng cộng đồng quốc tế xây dựng một trật tự pháp lý công bằng, khuyến khích sự phát triển và hợp tác trên biển”. Quốc hội khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với các vùng nội thủy, lãnh hải. Quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng ĐQKT và thềm lục địa Việt Nam trên cơ sở các quy định của Công ước và các nguyên tắc của pháp luật quốc tế, yêu cầu các nước khác tôn trọng các quyền nói trên của Việt Nam. Quốc hội một lần nữa khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, đồng thời cũng tuyên bố rõ lập trường của Nhà nước ta là giải quyết hòa bình các bất đồng liên quan đến Biển Ðông trên tinh thần bình đẳng, hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau, tôn trọng pháp luật quốc tế, đặc biệt là Công ước Luật Biển năm 1982, tôn trọng chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của các nước ven biển Ðông đối với vùng ĐQKT và thềm lục địa; Trong khi nỗ lực thúc đẩy đàm phán để tìm giải pháp cơ bản lâu dài, các bên liên quan cần duy trì hòa bình, ổn định trên cơ sở giữ nguyên hiện trạng, không có hành động làm phức tạp thêm tình hình, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực.

Tham gia Công ước Luật biển 1982, Việt Nam, quốc gia ven biển, được thừa nhận có vùng lãnh hải rộng 12 hải lý, vùng ĐQKT rộng 200 hải lý, thềm lục địa rộng ít nhất 200 hải lý và có thể mở rộng tới 350 hải lý tính từ đường cơ sở. Diện tích các vùng biển và thềm lục địa mà nước ta được hưởng theo quy định của Công ước, khoảng gần một triệu Km2, rộng gấp ba lần diện tích lãnh thổ đất liền.

 Công ước Luật biển 1982 đã trở thành cơ sở pháp lý quốc tế vững chắc, quan trọng, được thừa nhận và luôn được viện dẫn trong cuộc đấu tranh cam go, phức tạp để bảo vệ các vùng biển và thềm lục địa và các quyền và lợi ích chính đáng của nước ta trên biển. Trong cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, bên cạnh những những chứng cứ lịch sử, pháp lý chứng minh chủ quyền của Việt Nam đã được xác lập liên tục, hoà bình từ lâu đời đối với hai quần đảo, Công ước là công cụ pháp lý để phản bác những yêu sách phi lý, ngang ngược của Trung Quốc đối với cái gọi là “đường lưỡi bò” chiếm đến 80% diện tích Biển Đông, vốn là vùng biển nửa kín được bao bọc bởi 9 quốc gia, trong đó có Việt Nam.

Công ước Luật biển 1982 cũng là cơ sở pháp lý chung cho việc phân định vùng biển và thềm lục địa chồng lấn giữa nước ta với các nước xung quanh Biển Đông như Cămpuchia, Thái lan, Trung Quốc, Indonesia, Malaysia…góp phần tạo dựng sự hiểu biết, tin cậy lẫn nhau, tạo môi trường ổn định, hoà bình, hợp tác và phát triển trong Biển Đông.

Sau 30 năm kể từ khi ra đời, không thể phủ nhận tầm quan trọng và vị trí pháp lý của Công ước Luật biển 1982 trong đời sống luật pháp quốc tế. Tại Hội nghị lần thứ 22 các quốc gia thành viên của Công ước, tổ chức tại NewYork  tháng 6/2012, một lần nữa Công ước được khẳng định là thành tựu của nhân loại bởi những quy định của nó là kết quả của sự hợp tác – đấu tranh – xây dựng nhiều năm giữa các quốc gia trên thế giới với các chế độ chính trị, trình độ phát triển kinh tế, quan điểm luật pháp… khác nhau; là sự thoả hiệp giữa các quốc gia vì một nhận thức chung đối với tầm quan trọng sống còn của biển và đại dương đối với sự phát triển của nhân loại.Khi trở thành thành viên của Công ước, các quốc gia có trách nhiệm tuân thủ đầy đủ các quy định trong Công ước, không có ngoại lệ, và không có bảo lưu. Do đó, không thể có quốc gia nào, khi tham gia sân chơi luật pháp chung này, lại chỉ viện dẫn và áp dụng những quy định trong Công ước có lợi cho quốc gia mình, hoặc không tuân thủ, thậm chí phủ nhận, những quy định không có lợi cho quốc gia mình./.

(Nghiencuubiendong)

Loading

Views: 0

THẬN TRỌNG VỚI THỎA THUẬN MỚI VỀ BIỂN ĐÔNG GIỮA TRUNG QUỐC VÀ PHILIPPINES

Ngày 14/8, Ngoại trưởng Philippines Delfin Lorenzana đã thu hút sự chú ý của truyền thông khi tuyên bố rằng Trung Quốc và Philippines đã đạt được một kiểu “tạm ước” ở biển Nam Trung Hoa (Biển Đông), theo đó Bắc Kinh đã đồng ý không chiếm đóng bất cứ cấu trúc mới nào. Tuyên bố của ông Lorenzana, giống như các tuyên bố tương tự của các quan chức Philippines khác kể từ khi Tổng thống Rodrigo Duterte lên nắm quyền vào tháng 6/2016, là một sự nhắc nhở nữa về quyết tâm của Manila theo đuổi một thỏa thuận với Bắc Kinh bất chấp những nguy cơ đáng kể trong đó. 

Ý tưởng về một kiểu thỏa thuận nào đó giữa Trung Quốc và Philippines ở biển Nam Trung Hoa – dù đó là thỏa thuận không chính thức để tạm thời xuống thang căng thẳng hay một đề xuất để cùng nhau thăm dò và khai thác các tài nguyên – không phải là điều mới và trên thực tế đã được thảo luận theo hình thức này hay hình thức khác kể từ những năm 1980. Và không có gì đáng ngạc nhiên khi 2 chính phủ có thể coi một thỏa thuận như vậy là có lợi cho họ vì các cơ hội nó chứa đựng – cho dù đó là mong muốn của Manila có thêm đầu tư của Trung Quốc hay mong muốn của Bắc Kinh duy trì lập trường không thỏa hiệp của mình về vấn đề chủ quyền trong khi có thể loan báo về một thời kỳ hạ nhiệt căng thẳng nào đó trên biển Nam Trung Hoa, bất chấp bằng chứng cho điều ngược lại.
Tuy nhiên, vấn đề nằm ở việc chính quyền Duterte vẫn chưa chứng minh được rằng các cơ hội mà “những thỏa thuận” như vậy với Bắc Kinh đem lại có tầm quan trọng lớn hơn so với những nguy cơ đáng kể mà chúng chứa đựng. Sau đây, chúng ta hãy lần lượt xem xét từng khía cạnh đã được nêu.

          

Ngoại trưởng Philippines Delfin Lorenzana

          Liệu có thỏa thuận nào có thể tồn tại lâu dài? 

Nguy cơ đầu tiên là Trung Quốc sẽ không thực hiện các nghĩa vụ của mình theo thỏa thuận, vào lúc này hay một thời điểm nào đó trong tương lai. Đây không phải là một câu hỏi vô lý khi xét tới thành tích tồi tệ của Trung Quốc trong việc thực hiện nghĩa vụ của nước này trong các cam kết hay thỏa thuận về biển Nam Trung Hoa. Trong 25 năm qua, kể từ khi các quốc gia Đông Nam Á và Trung Quốc đàm phán trực tiếp về vấn đề biển Nam Trung Hoa, Bắc Kinh đã trắng trợn coi thường các cam kết của chính mình, dù đó là Tuyên bố về ứng xử của các bên trên biển Nam Trung Hoa (DOC) năm 2002 hay cam kết của Chủ tịch Tập Cận Bình không quân sự hóa quần đảo Trường Sa.

Thành tích của Trung Quốc không khiến người ta yên lòng hơn, nhất là khi xem xét cùng với Philippines. Khi một thỏa thuận phát triển chung đạt được vào năm 2005, được gọi là thỏa thuận Hợp tác thăm dò địa chấn (JMSU), bắt đầu hết hiệu lực vài năm sau, Bắc Kinh đã nhanh chóng quay lại cách hành xử quyết đoán đơn phương của mình, gây áp lực về ngoại giao đối với Philippines và thậm chí còn ngăn chặn các tàu khảo sát để ngăn cản Manila thuyết phục được các công ty nước ngoài khác hỗ trợ Philippines thăm dò và khai thác các tài nguyên. Trong phán quyết của Tòa trọng tài về vụ kiện của Philipines chống lại Trung Quốc trên biển Nam Trung Hoa vào năm ngoái, Trung Quốc bị cho là đã vi phạm chủ quyền của Philippines khi cản trở hoạt động khai thác tài nguyên tại Reed Bank (bãi Cỏ Rong).

Khi xét tới ví dụ rõ ràng này của việc Trung Quốc không đếm xỉa tới các cam kết của nước này trên biển Nam Trung Hoa, người ta không rõ tại sao Chính quyền Duterte lại chắc chắn rằng lần này Bắc Kinh sẽ cư xử khác với những lần trước, và tại sao người dân Philippines và những người chỉ trích tại nước này phải có chung quan điểm đó. Quả thực, không có gì đáng ngạc nhiên khi sau các buổi điều trần của cơ quan lập pháp về một thỏa thuận hợp tác thăm dò nữa với Trung Quốc trên biển Nam Trung Hoa vào tháng 8, Chính quyền Duterte đã hứng chịu nhiều chỉ trích.

          Vậy chính xác đây là một thỏa thuận như thế nào? 

Nguy cơ thứ hai là khi theo đuổi một thỏa thuận, Philippines cuối cùng có thể phải từ bỏ nhiều thứ hơn là có thể nhận được. Quan ngại này đã được bày tỏ trong năm đầu tiên Duterte nắm quyền, và không khó để hiểu được lý do cho quan ngại này. Tuy người ta đã công khai đề cập tới một số lợi ích tạm thời, chẳng hạn như khả năng tiếp cận bãi cạn Scarborough của ngư dân và một cam kết của Trung Quốc không cải tạo bãi cạn này, thực tế là những lợi ích này tương đối nhỏ khi so sánh với những nhượng bộ lớn mà Philippines đã đưa ra, bao gồm gác lại một phán quyết quốc tế có tính ràng buộc có lợi cho nước này và làm suy yếu sự đồng thuận của khu vực về vấn đề biển Nam Trung Hoa với tư cách Chủ tịch ASEAN.
Gần đây, các nhà hoạch định chính sách đã bày tỏ những quan ngại rằng Chính quyền Duterte, nôn nóng muốn đi đến một thỏa thuận với Trung Quốc, có thể sẽ không đưa ra một lập trường cứng rắn về sự quyết đoán liên tục của Bắc Kinh, cho dù đó là sự quấy rối của các tàu thương mại và tàu chính phủ hay sự triển khai gần đây các tài sản gần đảo Pag-asa (đảo Thị Tứ). Mặc dù người ta không phải suy tính để đưa ra các lý lẽ biện minh cho mức độ tồi tệ của một thỏa thuận mà Manila thực sự đang tiến đến, nhưng những bình luận dối trá như vậy đơn giản là không thể bác bỏ bởi thực tế rằng thỏa thuận cuối cùng với Bắc Kinh, JMSU, đã chấm dứt bằng việc bị lôi kéo vào một trong những vụ bê bối tham nhũng lớn nhất trong lịch sử Philippines.
          Thỏa thuận của „quỷ“? 

Rủi ro thứ ba và cuối cùng là chính quyền Duterte, trong khi tham gia tiến hành một thỏa thuận như vậy với Trung Quốc, có thể sẽ củng cố những xu hướng đang tồn tại giữa các nước yêu sách ở Đông Nam Á và các bên quan tâm nhằm đầu tư nhiều hơn nữa vào một cách tiếp cận đơn thương độc mã ở biển Nam Trung Hoa thay vì một cách tiếp cận mang tính hợp tác hơn, thậm chí cho dù cách tiếp cận đơn thương độc mã trên thực tế có lợi hơn cho cách tiếp cận chia rẽ và xâm chiếm của Bắc Kinh.

Chắc chắn Philippines không phải là nước yêu sách duy nhất ở Đông Nam Á đã nỗ lực đạt đến một thỏa thuận theo kiểu nào đó với Trung Quốc. Và, như các nhà ngoại giao Philippines sẽ nhanh chóng tuyên bố rằng, các nước ASEAN khác đã có lỗi là không ủng hộ Philipines một cách thỏa đáng khi nước này thúc đẩy một cách tiếp cận mang tính hợp tác hơn trong các giai đoạn trước đó, dù là ở phạm vi khu vực trong nội bộ ASEAN hay trên phạm vi quốc tế với việc khởi tố vụ kiện mang tính lịch sử chống lại Bắc Kinh. Chính quyền Duterte đang làm xói mòn những nỗ lực đã có trước đó nhằm thúc đẩy một cách tiếp cận mang tính hợp tác hơn và đầu tư quá nhiều vào một cách tiếp cận đơn phương.

Cho dù là các nước Đông Nam Á khác đã đưa ra đường lối mềm mỏng hơn về vấn đề biển Nam Trung Hoa kể từ khi Chính quyền Duterte lên nắm quyền hay có sự cắt giảm những nỗ lực toàn cầu nhằm chống lại sự quyết đoán của Bắc Kinh, thì những phí tổn trước mắt của sự thụ động của Manila đều đã khá rõ. Nhưng có lẽ hệ quả đáng lo ngại nhất của điều này không đơn giản chỉ là sự thiếu vắng một chiến dịch tự do hàng hải chung giữa Mỹ và Philippines (FONOP) hay một tuyên bố mạnh mẽ hơn của ASEAN, mà là cái mà điều này nói với Bắc Kinh. Sự trở mặt của Philippines trên biển Nam Trung Hoa chỉ khẳng định điều mà một số tiếng nói theo tư tưởng cứng rắn ở Trung Quốc đã nghi ngờ: rằng trong khi sự quyết đoán của Bắc Kinh có thể dẫn đến việc họ phải gánh chịu một số phí tổn trong ngắn hạn, sức mạnh quân sự và kinh tế ngày một gia tăng của họ có nghĩa là họ có thể đơn giản chấp nhận những phí tổn này trong một thời gian và sau đó tìm cách bù đắp những tổn thất của mình bằng cách lấy lòng những nước mà họ đã ép buộc trước đó.
Những thỏa thuận theo kiểu này củng cố niềm tin nguy hiểm đó trong một số người ở Bắc Kinh, thay vì khiến họ dẹp bỏ nó. Và điều đó có những ảnh hưởng đáng lo ngại không chỉ đối với Philippines mà cả các nước châu Á khác và cộng đồng quốc tế nói chung vốn lo ngại về cách cư xử của Trung Quốc với vai trò là một cường quốc đang trỗi dậy trong hệ thống quốc tế./.

(Theo The Diplomat)

 

Loading

Views: 0

KPV-Generalsekretär Nguyen Phu Trong trifft Myanmars Staatsberaterin Aung San Suu Kyi

Vietnam und Myanmar werden den Austausch der Delegationalen auf allen Ebenen und auf allen Kanälen, wie beispielsweise der Parteien, Regierungen, Staaten und Parlamenten intensivieren, um das politische Vertrauen zu verstärken sowie die freundschaftlichen Beziehungen und die umfassende Zusammenarbeit zu pflegen.

 

 KPV-Generalsekretär Nguyen Phu Trong und Myanmars Staatsberaterin Aung San Suu Kyi. (Foto: VNA)

Darauf einigten sich KPV-Generalsekretär Nguyen Phu Trong und Myanmars Staatsberaterin Aung San Suu Kyi bei einem Treffen am Freitag in Myanmar. Beide Seiten sind sich darüber einig, die Kooperation, den Informationsaustausch, Konsultation und die gegenseitige Unterstützung auf regionalen und internationalen Foren zu verstärken. Insbesondere sollten die Solidarität und die Einheitlichkeit der südostasiatischen Staatengruppe ASEAN aufrechterhalten werden. Auch die zentrale Rolle und die Leitungsrolle der ASEAN in der regionalen Sicherheitsstruktur sollten entfaltet werden.

Zudem unterstützen Nguyen Phu Trong und Aung San Suu Kyi Anstrengungen zur Lösung der Streitigkeiten im Ostmeer durch friedliche Maßnahmen und auf der Grundlage des Völkerrechts, darunter der UN-Seerechtskonvention von 1982 und der Absichtserklärung über das Verhalten der Anrainerstaaten im Ostmeer (DOC)./.

(VOV)

Loading

Views: 0

Vietnam protestiert gegen Handlungen Taiwans bei Militärübung um die Insel Ba Binh

 Auf Frage der Presse über Militärübung Taiwans um die Insel Ba Binh der Inselgruppe Truong Sa hat die Sprecherin des vietnamesischen Außenministeriums Le Thi Thu Hang am Donnerstag geantwortet: 

 Die Sprecherin des vietnamesischen Außenministeriums Le Thi Thu Hang.

Vietnam habe genug gesetzliche Grundlagen und historische Beweise für seine Souveränität über beide Inselgruppen Hoang Sa und Truong Sa. Dass Taiwan (China) mehrmals Übungen mit scharfer Munition um die Insel Ba Binh der vietnamesischen Inselgruppe Truong Sa abhalte, verletze die Souveränität und das Territorium Vietnams und bedrohe den Frieden, Stabilität, Sicherheit, Seefahrtsicherheit sowie verkompliziere die Lage im Ostmeer. Noch einmal protestiere Vietnam entschlossen dagegen und forderte Taiwan auf, ähnliche Handlungen zu unterlassen./.

(VOV)

Loading

Views: 0

“Lá mặt, lá trái” của TQ trên Biển Đông

Âm mưu của Bắc Kinh trên Biển Đông đã quá rõ ràng, để thực hiện được ý đồ độc chiếm của mình, Trung Quốc đang chuyển tâm điểm chú ý từ Biển Đông sang bán đảo Triều Tiên.

Trung Quốc khó xử khi Mỹ tấn công Triều Tiên?

Ở thời điểm hiện tại, các nhà nghiên cứu đã nhận định: Căng thẳng trên Biển Đông đã giảm bớt, khi mối quan hệ Trung Quốc – Philippines được cải thiện. Tuy nhiên khu vực Đông Bắc Á đang trở nên nguy hiểm, sau khi Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump tuyên bố, quân đội Mỹ đã ‚khóa mục tiêu‘ nhằm vào bán đảo Triều Tiên.

Nếu Mỹ tấn công Triều Tiên, Trung Quốc sẽ rơi vào tình thế tiến thoái lưỡng nan bởi vì hai nước Trung – Triều đã ký Hiệp ước Hợp tác, hữu nghị và tương trợ lẫn nhau năm 1961, trong đó Bắc Kinh cam kết bảo vệ Bình Nhưỡng nếu bị tấn công.

Nhận định trên được đưa ra trong bối cảnh Trung Quốc vừa tiến hành một cuộc tập trận quân sự 4 ngày vào đầu tháng này trên biển Hoàng Hải và vịnh Bột Hải. Đây là cuộc tập trận bắn đạn thật lớn nhất từ trước tới nay trong khu vực với hàng chục loại tên lửa khác nhau. Trước đó không lâu, Trung Quốc cùng mới tập trận 3 ngày ở Hoàng Hải trong dịp kỷ niệm 90 năm thành lập quân đội.

Nhận định về 2 cuộc tập trận này, người ta nhận thấy rằng: Trung Quốc muốn thể hiện sức mạnh hải quân của họ với Mỹ, Nhật Bản và Hàn Quốc, cảnh báo các nước này chớ làm Bình Nhưỡng bất mãn vì tổ chức nhiều cuộc tập trận chung.

Bắc Kinh muốn nhắc nhở Hoa Kỳ, Nhật Bản và Hàn Quốc không tiến hành các cuộc tập trận của họ quá gần Trung Quốc hay Bắc Triều Tiên, không vi phạm thỏa thuận ngừng bắn sau cuộc Chiến tranh Triều Tiên. Đồng thời Bắc Kinh cũng muốn ông Kim Jong-un không tiếp tục có những hành vi khiêu khích.

Động tác giả của Trung Quốc    

Nhận định của 2 nhà bình luận Trung Quốc được đưa ra trong bối cảnh đầu tuần này, Ngoại trưởng Philippines Alan Peter Cayetano và sau đó là Bộ trưởng Quốc phòng Delfin Lorenzana tuyên bố:

Theo quan điểm của Philippines và 2 Bộ trưởng quốc phòng Mỹ – Trung: Trung Quốc đã đảm bảo với Philippines rằng, Bắc Kinh sẽ không chiếm thêm bất cứ cấu trúc địa lý nào mới trên Biển Đông theo một thỏa thuận giữ nguyên hiện trạng. Tuy nhiên, một lời hứa dù hay thì một con vẹt cũng nói được ngay!

Tất cả những chiêu trò trên của Trung Quốc trên nhằm đánh lạc hướng của tất cả những người trong cuộc, Bắc Kinh đang kéo sự chú ý của dư luận quốc tế khỏi Biển Đông để thực hiện mưu đồ của mình. Khủng hoảng trên bán đảo Triều Tiên chỉ là cái cớ mà thôi.

Điều này được thể hiện: Chính Trung Quốc đã tự xe toạc lời hứa của mình bằng hành động của họ trên Biển Đông. Thẩm phán tòa tối cao Philippines, ông Antonio Carpio đã kêu gọi chính phủ nước này phải hành động chống lại cái ông gọi là hành vi xâm lược của Trung Quốc.

Ông này cho hay, 2 tàu khu trục nhỏ và 1 tàu tuần tra, 2 tàu cá Trung Quốc đang canh gác bãi cạn lúc nổi lúc chìm Sandy Cay, cách đảo Thị Tứ, Trường Sa (Khánh Hòa, Việt Nam; hiện đảo Thị Tứ đang do Philippines kiểm soát) 4,6 km. Nói rõ hơn, tàu Trung Quốc đang hiện diện bên trong 12 hải lý lãnh hải của đảo Thị Tứ.

Điều này có nghĩa là Trung Quốc hiện đang tìm cách chiếm thêm một cấu trúc địa lý mới nhất nằm trong lãnh hải của đảo Thị Tứ, vi phạm rõ ràng cam kết của họ rằng không chiếm thêm bất kỳ cấu trúc nào ở Trường Sa.

Điều này còn tệ hại hơn những gì đã xảy ra ở bãi cạn Scarborough. Theo bất kỳ tiêu chuẩn nào, đây là sự chiếm đóng trái phép lãnh thổ Philippines.

Điều duy nhất Philippines có thể làm trong giai đoạn hiện nay là phản đối mạnh mẽ cuộc xâm lược này của Trung Quốc. Nếu đủ can đảm, họ nên đưa một con tàu hải quân đến bảo vệ Sandy Cay, còn khi Trung Quốc nổ súng tấn công tàu Philippines, họ nên kêu gọi (Washington) thực hiện Hiệp ước Tương trợ Hoa Kỳ – Philippines.“

Thêm nữa, Trung Quốc đã công bố kế hoạch tăng cường năng lực phát triển điện hạt nhân trên biển, phát triển các lò phản ứng hạt nhân nổi trên Biển Đông.

Ngoài ra, ông Vương Nghị – Ngoại trưởng Trung Quốc tuyên bố ở Manila rằng Trung Quốc đã dừng các hoạt động bồi đắp, xây dựng đảo nhân tạo (bất hợp pháp) ở Biển Đông từ 2015, nhưng thực tế hoàn toàn ngược lại.

Bằng các tài liệu và bằng chứng cho thấy Trung Quốc đang tiếp tục bồi đắp, xây dựng và quân sự hóa các đảo, cấu trúc địa lý nước này chiếm đóng (bất hợp pháp) ở quần đảo Hoàng Sa (Đà Nẵng, Việt Nam).

Đây chỉ là một trong nhiều động thái „đáng quan ngại“ mà Bắc Kinh vẫn tiến hành đều đặn, như phát triển công nghệ khai thác băng cháy biển sâu ở Biển Đông, công nghệ tàu lặn không người lái săn tàu ngầm… Những nước cờ này của Bắc Kinh thực sự không dễ đối phó. Về lâu dài, độ nguy hiểm của nó còn hơn rất nhiều các hoạt động gây chú ý như vụ giàn khoan 981 năm 2014.

Đó là những bước đi tiếp theo và liên tục sau khi Trung Quốc đã quân sự hóa các đảo nhân tạo và các cấu trúc địa lý họ chiếm đóng bất hợp pháp ở Hoàng Sa và Trường Sa.

Vũ khí Trung Quốc bố trí ở các cấu trúc này cùng các hoạt động tập trận rầm rộ không ngoài mục đích thị uy, đồng thời bảo kê cho các hoạt động độc chiếm Biển Đông bằng con đường kinh tế, xây dựng, đánh bắt cá và khai thác năng lượng…

Cho nên mọi lời nói việc làm của Trung Quốc hiện nay là viên thuốc ngủ mà Trung Quốc muốn ’nhét vào miệng‘ dư luận Đông Nam Á./.

(Biendong)

Loading

Views: 0

Bắc Kinh đối mặt với những thách thức mới về yêu sách trên Biển Đông

Trung Quốc có thể đã có một chiến thắng nhỏ tại Diễn đàn ASEAN, nhưng căng thẳng đã bùng nổ với Việt Nam và Singapore.

Một số nhà quan sát nói rằng, Bắc Kinh có thể thành công trong việc ngăn các nhà ngoại giao hàng đầu ASEAN đề cập đến Phán quyết Trọng tài hay tình trạng quân sự hóa Biển Đông trong tuyên bố chung tại Manila. Tuy nhiên, yêu sách của Trung Quốc ở Biển Đông đang phải đối mặt với những thách thức mới.

Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ James Mattis và Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam Ngô Xuân Lịch đã cam kết tăng cường quan hệ quân sự song phương, vì lợi ích chung của hai nước trên Biển Đông. Hai Bộ trưởng cũng nhất trí kế hoạch để một tàu sân bay Mỹ tới thăm cảng quốc tế Cam Ranh của Việt Nam vào năm tới.

So với Philippines có tranh chấp với Trung Quốc ở Trường Sa, Việt Nam và Trung Quốc có tranh chấp ở phạm vi rộng hơn, bao gồm cả 2 quần đảo Hoàng Sa lẫn Trường Sa. Nếu nền tảng của các tranh chấp này vẫn không thay đổi, căng thẳng giữa Trung Quốc và Việt Nam có thể gia tăng, vì Việt Nam gặp nhiều khó khăn trong các vấn đề chủ quyền.

Theo các nhà nghiên cứu Singapore: „Nếu Việt Nam thấy Trung Quốc đang ép mình quá đáng, họ sẽ phải bật lại.“ Việt Nam không chấp nhận khuất phục trước áp lực của Trung Quốc, nhưng cũng không mạo hiểm để xảy ra một cuộc đối đầu với láng giềng phương Bắc.

Về phía Singapore mặc dù không phải là nước có yêu sách trực tiếp, nhưng họ có lợi ích ở Biển Đông. Singapore không muốn một quốc gia nào thống trị các tranh chấp, mà muốn có sự cân bằng hơn nữa trong khu vực, đó là lý do Singapore tích cực hợp tác với Hoa Kỳ.

Theo South China Morning Post đăng bài phân tích: Với các dấu hiệu Việt Nam đang tăng cường quan hệ quân sự với Mỹ, Nhật Bản và Ấn Độ – những đối thủ chiến lược của Bắc Kinh, các nhà quan sát nói rằng: Việt Nam có thể trở thành cái gai cứng nhất Đông Nam Á đối với Trung Quốc khi Bắc Kinh đang tìm cách hút khu vực này vào vòng ảnh hưởng ngoại giao của mình.

Việc Việt Nam kêu gọi ASEAN và các nước khác quan tâm tới việc bảo vệ hòa bình, ổn định, luật pháp quốc tế, an ninh – an toàn và tự do hàng hải – hàng không trên Biển Đông tại Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN vừa qua ở Philippines là hết sức bình thường, thể hiện trách nhiệm của một thành viên Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982.

Những hành động quân sự hóa, đơn phương áp đặt, cưỡng chế, gây căng thẳng trên Biển Đông đã và đang uy hiếp trực tiếp an ninh khu vực và lợi ích chung của ASEAN cũng như các cường quốc.

Tuy nhiên truyền thông nhà nước Trung Quốc lại tỏ ra rất tức tối, bất mãn vô cớ về chuyện này.

Vào giữa tháng 8, tờ China Daily có bài xã luận tuyên truyền xuyên tạc rằng Việt Nam „đang cố ý gieo rắc bất hòa“ trong khối ASEAN.

Tệ hơn, cùng ngày hãng thông tấn Tân Hoa Xã có bài xã luận với thái độ lệch lạc, sai trái, lập luận „cả vú lấp miệng em“ rằng: „Đã đến lúc Việt Nam điều chỉnh thái độ, thúc đẩy hòa bình ở Biển Đông“. Những hành động khi âm thầm, lúc công khai mà Trung Quốc đã và đang tiến hành ở Biển Đông đã cho thấy rõ bản chất âm mưu độc chiếm Biển Đông không thay đổi.

Có chăng chỉ là Bắc Kinh thay đổi thủ đoạn trong mỗi giai đoạn khác nhau mà thôi. Tự bản thân các hành động của Trung Quốc đi ngược lại tinh thần Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982, Tuyên bố về ứng xử của các bên trên Biển Đông.

Sau tuyên bố “Trung Quốc cam kết không quân sự hóa Biển Đông” năm 2015, những phát biểu mới nhất của các quan chức nước này càng củng cố nhận định của dư luận quốc tế, khu vực: Đừng nghe những gì Trung Quốc nói, hãy xem những gì Trung Quốc làm.
Mọi cáo buộc vô căn cứ nhằm vào Việt Nam từ truyền thông Trung Quốc chỉ phản tác dụng trong con mắt dư luận tiến bộ.

Còn Việt Nam tăng cường hợp tác với các nước khác vừa là hoạt động ngoại giao bình thường của một quốc gia có chủ quyền, một thành viên Liên Hợp Quốc.

Những hoạt động này không chỉ giúp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Việt Nam, mà còn góp phần để bảo vệ hòa bình, ổn định, luật pháp quốc tế, an ninh và tự do hàng hải – hàng không trên Biển Đông, lợi ích chung của đôi bên và khu vực.

Bất cứ quan điểm nào cho rằng Việt Nam lôi kéo nước này, nước khác để “chống lại Trung Quốc” chỉ là ngụy biện, bởi các lý do sau đây:

Các siêu cường, các nước văn minh như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Ấn Độ, Australia, Anh quốc…không phải đơn giản để ai muốn lôi kéo thì lôi kéo.

Thêm nữa, ngày càng nhiều nước quan tâm tới việc bảo vệ các lợi ích chính đáng của họ ở Biển Đông, cũng là bảo vệ luật pháp quốc tế, tự do và an toàn hàng hải, hàng không; Ngoài Hoa Kỳ vẫn đang hiện diện thường xuyên trong khu vực, Nhật Bản sẽ cung cấp viện trợ quân sự và an ninh giúp Philippines, Việt Nam tăng cường an ninh hàng hải với tổng trị giá 500 triệu USD trong 3 năm, từ 2017 đến 2019.

Hiện tại, quân đội nước Anh sẽ tăng cường hiện diện ở Biển Đông sau Brexit, để bảo vệ vai trò, vị thế và lợi ích toàn cầu của nước này.

Ngoài ra, bảo vệ trật tự và luật pháp quốc tế ở Biển Đông đã trở thành một nhu cầu bức thiết không phải của riêng quốc gia nào.

Mọi âm mưu, tham vọng một mình một kiểu của Trung Quốc, thống trị Biển Đông sẽ thất bại, vì nó đi ngược lại xu thế hợp tác chung trên toàn cầu. Không quốc gia nào lại dành thời gian để đi làm cái việc gọi là “chống Trung Quốc”.

Nhưng những hành động nào của Trung Quốc vi phạm luật pháp quốc tế, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của nước khác và khu vực, rõ ràng cần phải được các nước hợp tác để đấu tranh chống lại sự bành trướng này./.

(Biendong)

 

Loading

Views: 0

Bình luận: Thời gian không ủng hộ Mỹ trong vấn đề Bắc Triều Tiên

Khi ông Kim Jong Un kế thừa quyền lãnh đạo đất nước Bắc Triều Tiên vào năm 2012 và sau đó là củng cố quyền lực của mình, ông đã đặt cược vào sự phát triển hạt nhân như là phương tiện tốt nhất để đảm bảo sự sống còn của chế độ Bình Nhưỡng đối với cả mối đe dọa từ bên trong lẫn bên ngoài.

Các dấu hiệu sớm của sự lựa chọn này bao gồm việc ông không quan tâm đến thỏa thuận “Leap Day” của Chính quyền Obama về việc kêu gọi Bắc Triều Tiên nối lại đàm phán về phi hạt nhân, bổ sung tình trạng Bắc Triều Tiên như một quốc gia hạt nhân vào lời mở đầu của hiến pháp Bắc Triều Tiên và Tuyên bố tháng 3/2013 rằng “Phát triển hạt nhân và kinh tế sẽ đồng thời là những ưu tiên chiến lược của Bình Nhưỡng”.

Tốc độ và cường độ của cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân tầm xa của ông Kim đã làm Hoa Kỳ mất cảnh giác, nhưng thậm chí còn gây sửng sốt và không được chấp nhận về mặt chính trị đối với hầu hết người Mỹ, vốn xác định rõ sự lựa chọn chiến lược kép của Kim Jong Un là muốn áp đặt lên các nhà hoạch định chính sách Mỹ giữa sự chấp nhận tính dễ tổn thương đối với một nước Bắc Triều Tiên hạt nhân và việc sử dụng quân đội để tách Kim khỏi chương trình vũ khí hạt nhân của ông ta.

Giả định lâu đời của Bắc Triều Tiên là Hoa Kỳ không sẵn sàng cho việc gánh chịu chi phí chiến tranh quá mức và rằng Mỹ cuối cùng sẽ chấp nhận Bắc Triều Tiên hạt nhân. Tuyên bố của Tổng thống Trump rằng mối đe dọa của Bắc Triều Tiên sẽ „đối mặt với hỏa lực và sự giận dữ mà thế giới chưa bao giờ thấy“ lại chưa được chứng minh trong thực tiễn.

Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ James Mattis đã nhấn mạnh những rủi ro khi ông tuyên bố rằng „Triều Tiên phải lựa chọn giữa việc tự cô lập hay ngừng theo đuổi vũ khí hạt nhân“ và „Triều Tiên nên ngừng mọi xem xét các hành động dẫn tới sự kết thúc của chế độ và sự tàn phá của người dân.“

Bắc Triều Tiên rõ ràng thấy nguy cơ của mình nếu cúi đầu trước áp lực của Hoa Kỳ bằng cách quay trở lại con đường phi hạt nhân hóa và nhận thức được sự tổn thương lẫn nhau như là con đường duy nhất có thể sống còn của chế độ. Đây là con đường mà các nhà ngoại giao Triều Tiên trước đây đã chỉ ra khi họ cho rằng Hoa Kỳ và Liên bang Xô viết cũ đều có thể là những kẻ thù vũ trang hạt nhân, do đó cần theo đuổi bình thường hóa quan hệ với hai cường quốc này trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh.

Tuy nhiên, rất khó để tưởng tượng rằng Hoa Kỳ sẽ chấp nhận rủi ro đối với Kim Jong Un hoặc đột nhiên đánh giá cao giá trị chiến lược của Bắc Triều Tiên và theo đuổi một mối quan hệ bình thường với chế độ của Bắc Triều Tiên. Triều Tiên có thể mong muốn Hoa Kỳ đối xử với nó với trọng lượng chiến lược giống như từng có với Liên bang Xô viết hoặc bình thường hóa với Trung Quốc trước đây, tuy nhiên điều này sẽ không xảy ra. Bàn tay yếu ớt của Kim Jong Un cuối cùng vẫn là một “bàn tay lỏng lẻo”, bất kể người chơi cùng có ý tốt đến thế nào.

Các công cụ phi quân sự có sẵn để gây áp lực cho Kim Jong Un đang “bị cùn”, Kim dường như đã sống sót nhờ vũ khí hạt nhân và mỗi cuộc thử nghiệm tên lửa Bắc Triều Tiên đều nhấn mạnh rằng thời gian không ở bên cạnh Hoa Kỳ. Chi phí cho „hỏa lực và giận dữ“ đơn phương vẫn còn cao quá mức, và sự kết hợp của các biện pháp trừng phạt, thâm nhập thông tin, và ngoại giao vẫn tạo ra một áp lực chi phí khá hơn cho các nước láng giềng của Triều Tiên, đặc biệt là Trung Quốc.

Triều Tiên dưới thời Kim Jong Un đã trở thành một mối đe dọa cho cả khu vực và thế giới. Sự khởi đầu của Kim đã cho ông ta hy vọng thời gian đang ở bên ông ta, và những diễn biến tại Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc đã tạo thêm niềm hy vọng đó. Hoa Kỳ cần thêm thời gian chống lại các nỗ lực hạt nhân của CHDCND Triều Tiên và sử dụng nó một cách có hiệu quả để ngăn chặn và cuối cùng đảo ngược quá trình hiện tại của Bắc Triều Tiên.

Nhưng nỗ lực của Kim để đẩy cảm giác dễ bị tổn thương sang phía Hoa Kỳ sẽ không thành công và sẽ dẫn Bình Nhưỡng đến miệng hố chiến tranh. Quá trình này diễn ra như thế nào vẫn còn quan trọng bởi vì nó sẽ xác định sự phân bố chi phí trong khu vực và điều này sẽ ảnh hưởng đến hình dạng của một trật tự an ninh mới ở khu vực Đông Bắc Á./.

 

Loading

Views: 0