Trong những thập niên gần đây, cùng với biến động của lòng đất và sóng biển, cuộc chạy đua tranh chấp chủ quyền biển đảo cũng đang làm cho biển Đông và cả Thái Bình Dương, vốn đã không bình lặng lại càng thêm sục sôi. Song song với việc tăng cường sức mạnh quân sự, các nước cũng đẩy mạnh việc nghiên cứu, xây dựng chứng cứ cho các lập luận về chủ quyền của mình. Trung Quốc là nước đi đầu và hết sức chú ý đầu tư cho việc làm này.
1. Những viện dẫn của học giả Trung Quốc
Ngay từ khi cho quân đội đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa vào năm 1974, Trung Quốc đã huy động một lực lượng đông đảo các học giả dưới sự lãnh đạo của Hàn Chấn Hoa tiến hành kê cứu và biên soạn một cuốn sách đồ sộ, ra sức chứng minh hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (mà Trung Quốc gọi là Tây Sa và Nam Sa) thuộc chủ quyền Trung Quốc. Năm năm 1985 bộ sách hoàn thành và được phát hành tại nhà xuất bản trường đại học Hạ Môn, dưới danh nghĩa Viện Nghiên cứu Nam dương. Và như một một sự phối hợp có chủ đích, cùng với hành động quân sự tấn công chiếm đảo Gạc Ma thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam, năm 1988 bộ sách tư liệu nói trên dưới đầu đề Ngã quốc nam hải chư đảo sử liệu hối biên (Tập hợp các sử liệu về các đảo của nước ta ở vùng biển phía nam) được in lại và phát hành với số lượng lớn bởi nhà xuất bản Đông Phương [1]. Tập sách dày gần 1000 trang này đã nhanh chóng trở thành cơ sở lập luận chủ yếu cho các tuyên bố ngoại giao, những quyết định chính trị của Trung Quốc trong các vấn đề liên quan đến Hoàng Sa, Trường Sa và biển Đông nói chung.
Trước khi xem căn cứ khoa học khẳng định chủ quyền của Việt Nam cần hiểu những luận lý của các học giả Trung Quốc về vấn đề này. Vậy căn cứ và lập luận chủ yếu của các tác giả cuốn sách là gì ?
Không khó khăn lắm để thấy rằng tư tưởng xuyên suốt của cuốn sách là cố chứng minh người Trung Quốc đã phát hiện, đặt tên các đảo và chiếm hữu hai quần đảo này từ thời Đông Hán, cách ngày nay gần 2000 năm. Sau đó đến các thời Đường, Tống, Nguyên, Minh, và nhất là từ triều Thanh đến nay, Trung Quốc liên tục thực thi chủ quyền trên hai quần đảo này. Phương pháp nhất quán của các tác giả sách này là không nói rõ bối cảnh lịch sử, trích dẫn cắt xén tư liệu để người đọc khó hình dung được bối cảnh lịch sử, ngữ cảnh nguyên tác, rồi giải thích ý nghĩa những đoạn trích ấy theo ý mình.
Có thể dẫn ra đây một số thí dụ rất điển hình.
Cuốn sách sớm nhất nhất được các học giả Trung Quốc ra dẫn ra làm căn cứ về “chủ quyền” của Trung Quốc trên hai quần đảo là Dị vật chí (ghi chép về những vật lạ) của Dương Phùthời Đông Hán (23-220). Câu được chép ra là: “Trướng hải kỳ đầu thủy thiển nhi đa từ thạch…” (漲海崎頭水淺而多磁石…, có nghĩa là Biển sóng triều dâng gập ghềnh đá ngầm, nước cạn mà nhiều đá nam châm…). Các tác giả giải thích rằng Trướng hải là tên gọi biển Đông của người Trung Quốc thời đó và vùng đá ngầm dưới có từ tính nam châm là chỉ hai quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa) và Nam Sa (Trường Sa). Tài liệu này được dẫn lại ở rất nhiều nơi, đăng trên cả trang thông tin của Bộ Ngoại giao Trung Quốc với lập luận hai quần đảo này do người dân Trung Quốc phát hiện và đặt tên sớm nhất (từ thời Đông Hán).
Tương tự như vậy, để củng cố cho lý lẽ trên, Hàn Chấn Hoa và các tác giả sách Ngã quốc nam hải chư đảo sử liệu hối biên còn trích ra nhiều câu khác trong sách cổ thời Tam quốc, thời Tùy, thời Đường như Phù Nam truyện của Khang Thái, Ngô lục của Trương Bột, Nhĩ nhã của Quách Phác… nói việc người thời ấy đã viết trong Trướng hải (tên biển Đông theo cách gọi của người Trung Quốc) có san hô, có đồi mồi, có ốc lớn bằng cái đấu, vỏ có thể dùng để uống rượu… [2] để suy diễn xa hơn rằng trong sách của mình, Quách Phác đã chú thích vùng biển nói tới ở đây là vùng biển thuộc quận Nhật Nam (vùng đất từ Quảng Bình đến Quảng Ngãi), rằng người Trung Quốc thời ấy đã biết đến hai quần đảo.
Những câu trích dẫn này thực ra chỉ là những ghi chép về các hiện tượng mà các tác giả đương thời cho là hay, là lạ (dị vật), chứ hoàn toàn không có ý nghĩa gì về việc phát hiện, đặt tên đảo nên không thể coi là chứng lý về chủ quyền và càng không phải là bằng chứng của việc chính quyền thực thi chủ quyền trên hai quần đảo này.
Từ năm 960 triều Tống thiết lập quyền thống trị trên toàn cõi Trung Hoa. Những tư liệu lịch sử từ thời kỳ này về chủ quyền là rất đáng lưu ý. Tuy nhiên, các tư liệu được các học giả Trung Quốc đưa ra cũng thiếu tính thuyết phục. Đa số những câu trích có nhắc đến hai quần đảo Vạn Lý Trường Sa và Thiên Lý Thạch Ðường (mà Trung Quốc nói là tên khác của Tây Sa/Hoàng Sa và Nam Sa/Trường Sa) đều xuất hiện trong các hải trình, được mô tả trong các sách của tác giả Trung Quốc, nhưng nói về nước ngoài, hoặc liên quan đến nước ngoài (không phải Trung Quốc) như Lĩnh ngoại đại đáp của Chu Khứ Phi, Chư phiên chí của Triệu Nhữ Quát. Đúng như tên gọi của những sách này, “Lĩnh ngoại” là ngoài biên giới Trung Quốc, nói về những chuyện bên ngoài. “Chư phiên” là các nước Trung Quốc cho là chư hầu của mình, chuyện chép về các nước xung quanh mình. Do vậy, những mô tả về biển đảo hoặc hải trình đi tới các nước các nước như Giao Chỉ, Chiêm Thành, Chân Lạp thì tên các quần đảo Thiên Lý Trường Sa Vạn Lý Thạch Ðường (mà Trung Quốc cho là Tây Sa và Nam Sa) được nhắc đến để chỉ vị trí hoàn toàn không có ý nghĩa nào trong việc xác định chủ quyền của Trung Quốc. Đấy là chưa kể từ ngữ dùng trong các sách này cho thấy tác giả cũng chỉ nghe truyền lại, chứ không biết đích xác ra sao. Có thể dẫn ra đây một vài đoạn trích mô tả vị thế xung quanh đảo Hải Nam mà Hàn Chấn Hoa sử dụng để khẳng định sách Chư phiên chí nói 2 quần đảo này là của Trung Quốc:
“Nam đối diện với Chiêm Thành, phía tây nhìn sang Chân Lạp, đông thì Thiên Lý Trường Sa, Vạn Lý Thạch Ðường, xa xôi không bờ, trời nước một màu.”
Một đoạn trích khác: “Nghe truyền rằng[nguyên ngữ傳聞:truyền văn] biển lớn phía đông có Trường Sa Thạch Ðường rộng vạn dặm, nước thủy triều thi triển đẩy vào chốn cửu u.” [3].
Các sử liệu đời sau được biên soạn vào thời Nguyên, Minh được tập hợp trích dẫn, về cơ bản cũng theo cung cách như vậy. Tất cả các đoạn trích dẫn ra đều được giải thích theo cách hiểu//chủ ý của người dẫn. Người đọc khó có thể bị thuyết phục bởi cách giải thích ấy. Nhiều học giả trong và ngoài nước đã có những phân tích xác đáng và đều nhận định khá thống nhất rằng kiểu cách tập hợp, trích dẫn và giải thích sử liệu của nhóm Hàn Chấn Hoa không theo các nguyên tắc khoa học mà có dụng ý chủ quan, cắt xén, lắp ghép tùy tiện và giải thích gượng ép [4]. Có thể nói luận lý của các học giả Trung Quốc về chủ quyền của học đối với hai quần đảo đang nói ở đây có từ thời Đông Hán và được thực thi suốt từ đó đến nay ngày càng ít người quan tâm vì tính chất phi lý, phản khoa học của nó và vì vậy, phía Trung Quốc cũng không nói tới nó nhiều.
Trong thời gian gần đây, Trung Quốc ra sức đề cao sự kiện Đô đốc nhà Thanh là Lý Chuẩn đưa quân ra Tây Sa (Hoàng Sa) kéo cờ, bắn pháo vào năm 1909 và coi đó là mốc thời gian xác lập chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo này. Sự kiện này chẳng còn mấy ý nghĩa vì thời điểm diễn ra vào đầu thế kỷ XX, khi mà Việt Nam đã có rất nhiều tư liệu khẳng định chủ quyền và thực thi chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ trước đó nhiều thế kỷ (sẽ trình bày ở phần dưới). Vả lại, chính việc đề cao này lại tự nó bác lại những lập luận mà các học giả Trung Quốc phải dày công xây dựng tư liệu để chứng minh Tây Sa và Nam Sa đã được người Trung Quốc phát hiện và sở hữu từ thời Hán, cách ngày nay tới vài ngàn năm.
Tháng 2 năm 1948, Vụ Biên giới và Lãnh thổ, Bộ Nội vụ của Trung Hoa dân quốc cho xuất bản bản đồ có tên Bản đồ vị trí các đảo Nam hải (南海诸岛位置图) với 9 đường đứt khúc chiếm khoảng 75% mặt nước biển Đông, ôm trọn hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa. Bản đồ này được vẽ dựa trên cơ sở một bản đồ cá nhân vẽ trước đó vài chục năm với 11 đoạn đứt khúc đã bỏ đi 2 đoạn nằm trong vịnh Bắc Bộ. Mặc dù đường 9 đoạn đang được dùng như một “căn cứ không thể chối cãi” về chủ quyền của Trung Quốc trên hai quần đảo, nhưng tính chất phi lý, phản khoa học của nó đang bị phê phán rất mạnh mẽ. Trong thời gian gần đây, lý lẽ khoa học của Trung Quốc không thấy có gì mới, chủ yếu chỉ là những tuyên bố theo kiểu “Trung Quốc có chủ quyền không thể chối cãi” mà thôi.
2. Những tư liệu phương Tây về chủ quyền Việt Nam trên hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa
Ngay từ thế kỷ XVI, Thái Bình Dương đã trở nên rất quen thuộc với người phương Tây, họ đã có thể vẽ khá chính xác bản đồ châu Á với những ghi chú thể hiện sự hiểu biết sâu sắc các tuyến đường tàu thuyền của họ thường xuyên qua lại. Vừa qua tại một số địa phương, 56 bản đồ cổ được các nhà hàng hải chấu Âu vẽ từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX được trưng bày mới chỉ là một phần trong số đó. Tất cả những bản đồ này đều thể hiện hoặc chua chú đích xác hai quần đảo Pracel hay Paracels (Hoàng Sa) và Pratley (Trường Sa) là thuộc Ciampa (phiên âm tên Champa, một vương quốc cổ tương đương với miền Trung Việt Nam) hay Cochinchine (tương đương với vùng đất Nam Bộ, còn được dịch là vương quốc Đàng Trong).
Có rất nhiều tài liệu của các nước châu Âu phản ánh chủ quyền Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Xin đơn cử ra đây một số. Các tư liệu được dẫn theo trình tự thời gian.
Trước hết là sự kiện chiếc tầu Grootebroek của Hà Lan trên đường đi từ Battavia (Indonexia) tới Turon (Đà Nẵng) bị đắm ở khu vực Paracels (Hoàng Sa) vào năm 1634. Những thuỷ thủ sống sót đã đưa được 4 thùng bạc lên một đảo lớn ở Paracel, sau đó cử 1 nhóm 12 người đi thuyền nhỏ vào Phú Xuân gặp chúa Nguyễn Phúc Nguyên xin trợ giúp. Chúa đã cho phép họ thuê tầu trở lại đảo đón 50 thuỷ thủ và lấy 4 thùng bạc. Câu chuyện phản ánh rõ chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa này được này J.M.Buchkhai thác trong các tài liệu công ty Đông Ấn Hà Lanvà công bố trên tạp chí của Trường Viễn Đông bác cổ của Pháp vào năm 1936 [5] .
Năm 1701 một người Pháp là Jean Yves Clayes trong nhật ký của mình đã mô tả rất cụ thể các bãi đá ngầm ghi rõ: “Paracel là một quần đảo thuộc Vương quốc An Nam” [6].
Vào giữ thế kỷ XVIII có một nhân vật rất nổi tiếng là giáo sĩ kiêm thương nhân Pierre Poivre. Nhờ những cuốn sách và bài viết của ông mà người Pháp đã có sự quan tâm đặc biệt đến Việt Nam. Ngay cả đến Thomas efferson, vị đại sứ Hoa Kỳ tại Pháp, sau trở thành Tổng thống của Hợp chủng quốc, sau khi đọc P. Poivre cũng bị cuốn hút vào xứ sở này. Năm 1803, ngay sau khi đắc cử, vị tân Tổng thống đã cử một phái bộ đem theo dự thảo Hiệp định thương mại đến Việt Nam với hy vọng thiết lập quan hệ hợp tác, nhưng việc không thành.
P. Poivre có điều kiện thường xuyên qua lại Việt Nam và từng được chúa Nguyễn Phúc Khoát tiếp tại kinh thành Phú Xuân. Một trong những cuốn sách của ông là Mémoire sur La Cochinchine (Ký ức về Đàng Trong) xuất bản tại Paris năm 1744, đã nói đến việc nhiều khẩu thần công bố trí trên tường kinh thành mà ông tận mắt trông thấy, là của các con tầu phương Tây bị đắm được lấy về từ Paracel. Trong một tập tài liệu được viết ra sau đó, Đô đốc M.d’Estaing cũng có nhận xét tương tự: “Xung quanh thành [Phú Xuân – VMG]có một nơi để rất nhiều đại bác, nhiều khẩu là được để trang trí hơn là để sử dụng. Người ta cho rằng số súng đó có thể tới 400 khẩu, một phần được đúc bằng gang, một số lớn là của Bồ Đào Nha được lấy về từ các vụ đắm tàu trước kia ở quần đảo Paracels” [7].
Đây là những nhận xét khách quan nhưng lại là nhưng chứng cớ hết sức thuyết phục về thành quả những chuyến công tác của Đội Hoàng Sa mà các chúa Nguyễn đã tổ chức ra để thực thi chủ quyền trên hai quần đảo.
Jean Baptiste Chaigneau một người rất am hiểu tình hình Việt Nam cuối thế kỷ XVII – đầu XIX đã có một bản tường trình cho Bộ Ngoại giao Pháp về triều Nguyễn vào tháng 5 năm 1820, trong đó có đoạn viết: “Vua ngày nay[tức vua Gia Long-VMG] đã lên ngôi hoàng đế [của một nước-VMG] gồmĐàng Trong cũ(Cochinchina ),xứ Đàng Ngoài cũ (Tonkin), một phần vương quốc Campuchia, một số hòn đảo có người ở không xa bờ và quần đảo Paracels hợp thành bởi những đảo nhỏ, ghềnh và đá hoang vắng” [8].
Năm 1837 Giám mục Jean Louis Taberd có một bài viết về Việt Nam, trong đó có đoạn viết về quần đảo Hoàng Sa như sau:“Paracel hay Paracels là một mê cung đầy những đảo nhỏ, đá và bãi cát trải trên một khu vực đến 11 độ vĩ Bắc, 107 độ kinh Đông ... Người Cochinchina gọi quần đảo này là Cồn Vàng. Tuy quần đảo này không có gì ngoài tảng đá và những cồn lớn, nó hứa hẹn nhiều bất tiện hơn thuận lợi, Vua Gia Long vẫn nghĩ rằng ông sẽ tăng thêm lãnh thổ bằng cách chiếm thêm cái đất buồn bã này. Năm 1816, ông đã tới long trọng cắm cờ và chính thức chiếm hữu mà hình như không một ai tranh giành với ông” [9]. Ở đây J. L. Taberd nói tới sự kiện vua Gia Long giao cho quân đội ra làm cột mốc, cắm cờ chứ ngay từ khi mới lên ngôi (1802), ông đã liên có chỉ dụ củng cố hoạt động của đội Hoàng Sa được thành lập bởi các chúa Nguyễn từ thế kỷ XVII.
Vào năm sau (1838) chính vị giám mục này cho công bố tấm bản đồ, trên đó chú thích rõ quần đảo ở vị trí Hoàng Sa là “Paracel seu Cát Vàng ” (Paracel hay Cát Vàng). Cát Vànglà tên thuần Việt mà trên các văn bản chính thức gọi là Hoàng Sa. Đây là chứng lý xác đáng cho việc người Việt đã đặt tên cho quần đảo mà người phương Tây gọi là Paracel.
Đảo Trường Sa nhìn từ máy bay trực thăng
Vào năm 1849TS. Gutzlaff, hội viên của Hội địa lý Hoàng gia Luân Đôn, biên soạn một cuốn sách về Địa lý vùng đất phía nam của Việt Nam, có đoạn nói về Hoàng Sa như sau:“…Quần đảo Paracel (Kat Vang), ở ngoài khơi bờ bể An Nam, lan giữa 15 đến 17 độ vĩ Bắc và 111 đến 113 độ kinh Đông… Không biết vì san hô hay vì lẽ khác mà các ghềnh đá ấy lớn dần, nhưng rõ ràng nhận thấy rằng các đảo nhỏ ấy càng năm càng cao, và một vài đảo bây giờ đã có người ở thường xuyên, thế mà chỉ mấy năm trước sóng đã vỗ mạnh trào qua…Chính phủ An Nam thấy những mối lợi có thể mang lại nếu đặt ra một ngạch thuế bèn lập ra những trưng thuyền và một trại quân nhỏ ở chỗ này để thu thuế mà mọi người ngoài tới đây đều phải nộp, và để bảo trợ người đánh cá bản quốc…” [10].
Giữa thế kỷ XIX, cuốn Địa lý đại cương, một bộ sách đồ sộ của nhà địa lý học Italia nổi tiếng Adriano Balbi đã được xuất bản ở Livorno.Trong phần mô tả về địa lý Vương quốc An Nam có ghi: “Thuộc Vương quốc này có quần đảo Paracels[Hoàng Sa –VMG], nhóm đảo Pirati [đảo Hải tặc–VMG] và nhóm đảo Poulo Condor [Côn Đảo-VMG]” . Trong khi đó, đoạn mô tả về địa lý Trung Hoa, mặc dù rất dài, tác giả không đề cập gì đến Hoàng Sa và Trường Sa[11].
3. Tư liệu lịch sử về việc Trung Quốc tự phủ nhận chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa
Trong khi các tư liệu của Việt Nam luôn nhất quán với tên gọi của hai quần đảo là Hoàng Sa (hay tên Nôm là Cát Vàng hay Cồn Vàng) và Trường Sa hay Vạn lý Trường Sa, được đồng nhất với các tên gọi của phương Tây là Paracels và Pratley thì tên gọi do Trung Quốc đặt lại rất hỗn loạn. Tên Tây Sa và Nam Sa mới chỉ xuất hiện rất muộn. Đã vậy, trong nhiều tài liệu của mình Trung Quốc tự phủ nhận chủ quyền trên hai quần đảo này (thực ra là không từng có trong lịch sử).
Chứng cớ rõ nhất là trên các bản đồ của Trung Quốc. Không kể những tập bản đồ được vẽ sớm, đến tận thời kỳ triều Thanh trị vì vào những năm 1894,1904, 1908 và dưới thời Trung Hoa dân quốc vào năm 1919 có hàng loạt bản đồ do Trung Quốc vẽ vừa được triển lãm rộng rãi, không hề có hai quần đảo Hoàng Sa (mà Trung Quốc gọi là Tây Sa) và Trường Sa (mà Trung Quốc gọi là Nam Sa) đã gây ấn tượng mạnh cho người xem cả trong và ngoài nước. Càng bất ngờ hơn khi trênn bộ Atlas được in trong trong sách Trung hoa Dân quốc Bưu chính dư đồ, xuất bản năm 1933 cũng hoàn toàn thiếu vắng hai quần đảo này. Như vậy là căn cứ trên những bản đồ chính thức này thì chí ít đến tận những năm 30 của thế kỷ XX, địa giới cực nam của Trung Quốc khi ấy chỉ là đảo Hải Nam. Điều này hoàn toàn phù hợp với tư liệu lịch sử do chính người Trung Quốc biên soạn, hoặc người phương Tây thuật lại đều thể hiện sự “vô cảm” của họ về chủ quyền trên hai quần đảo.
Theo ngược dòng lịch sử, điều này càng thấy rõ. Vào cuối thế kỷ XVII, một nhà sư Trung Quốc là Thích Đại Sán được chúa Nguyễn Phúc Chu mời đến Đàng Trong. oar a về nước ông đã cho xuất bản cuốn sách Hải ngoại ký sự vào năm 1695 kể về chuyến đi này. Trong tác phẩm của mình, nhà sư Trung Quốc đã thản nhiên thuật lại rằng các chúa Nguyễn đã tổ chức các đội binh thuyền ra Hoàng Sa và Trường Sa (mà ông gọi chung là Vạn lý Trường Sa) để “thu lượm vàng bạc, khí cụ của các thuyền hư hỏng dạt vào” [12]. Điều này hoàn toàn trùng hợp với sử sách Việt Nam.
Trong tác phẩm Phủ Biên tạp lục, ngoài những căn cứ khẳng định chủ quyền của chính quyền chúa Nguyễn trên hai quần đảo (sẽ trình bày sau), Lê Quý Đôn còn cho biết một chi tiết nói quan chức nhà Thanh thừa nhận chủ quyền Việt Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa. Ông viết: “Tôi đã từng thấy một đạo công văn của quan chính đường huyện Văn Xương, Quỳnh Châu [Hải Nam, Trung Quốc-VMG]gửi cho Thuận Hóa nói rằng: năm Kiền Long thứ 18 (1753) có 10 tên quân nhân xã An Vĩnh đội Cát Liềm (có thể là Cát Vàng, tức đội Hoàng Sa– VMG) huyện Chương Nghĩa, phủ Quảng Ngãi, nước An Nam, ngày tháng 7 đến Vạn Lý Trường Sa tìm kiếm các thứ, có 8 tên lên bờ tìm kiếm, chỉ để 2 tên giữ thuyền, bị gió đứt dây thuyền, dạt vào cảng Thanh Lan, quan ở đấy xét thực, đưa trả về nguyên quán. Nguyễn Phúc Chu sai cai bạ Thuận Hóa là Thức Lượng Hầu làm thư trả lời”[13].Như vậy là chính quyền Quỳnh Châu sau khi biết rõ 2 người Việt là lính đang thực thi nhiệm vụ ở Hoàng Sa, chẳng những đã không gây khó dễ hoặc trừng trị như đối với những kẻ “xâm phạm chủ quyền quốc gia”, mà còn tạo điều kiện để trở về nước. Thời điểm đó là vào giữa thế kỷ XVIII.
Trong khoảng thời gian hai năm 1895 – 1896 tại khu vực quần đảo Hoàng Sa liên tục xảy ra hai vụ đắm tàu. Một của Đức, con tàu mang tên Bellona và một của Nhật, tàu Imegi Maru. Cả hai tàu này đều mua bảo hiểm của Anh nên khi nghe tin dân Trung Quốc thừa cơ tàu bị nạn đã ra cướp bóc, công ty bảo hiểm và đại diện chính phủ Anh ở Trung Quốc đã yêu cầu phía Trung Quốc phải có trách nhiệm, nhưng họ đã từ chối với lý do: “…các đảo Paracels … không thuộc Trung Quốc… chúng không được sáp nhập về hành chính vào bất kỳ quận nào của Hải Nam …” [14]. Như vậy là nhà đương cục Hải Nam vô can với hậu quả của vụ cướp bóc, nhưng đồng thời sự kiện này cũng cho thấy, cho đến tận cuối thế kỷ XIX, nhà chức trách ở vùng đất cực nam của Trung Quốc hoàn toàn chưa có ý tưởng gì về chủ quyền của họ đối với Hoàng Sa (gần Trung Quốc hơn) chứ chưa nói đến Trường Sa (ở rất xa Trung Quốc).
Bản đồ do J. L. Taberd vẽ năm 1838,
trên đó chú thích rõ quần đảo ở vị trí Hoàng Sa
là “Paracel seu Cát Vàng ” (Paracel hay Cát Vàng).
Chú thích trong vòng tròn đỏ
Liên quan đến sự kiện này, một học giả Trung Quốc, ông Lý Lệnh Hoa thuộc Trung tâm Thông tin Hải dương Trung Quốc, có một nhận xét rất xác đáng trong tham luận đọc tại một hội thảo khoa học, xin được lược trích ra đây:
“Nói đến quyền lợi ở Nam Hải, chúng ta [Trung Quốc – VMG] thường thích nói một câu là: từ xưa đến nay thế này thế nọ, có lúc hứng lên còn oar vào hai chữ “thiêng liêng”…nhưng chứng cứ thật sự có sức thuyết phục chính là sự kiểm soát thực tế. Anh nói chỗ đó là của anh, vậy anh đã từng quản lý nó chưa? Người ở đó có phục tùng sự quản lý của anh không? Có phải người khác không có ý kiến gì không? Nếu đáp án của những câu hỏi này đều là “có” thì anh thắng là điều chắc. Ở Nam Sa [tức Trường Sa – VMG], chúng ta đã không có được điều đó…
Vào thời nhà Thanh (đời Hàm Phong hoặc Đồng Trị), có một chiếc tàu oar Pháp chở đồng đi qua vùng biển Tây Sa (tức Hoàng Sa – VMG) thì gặp cướp biển, bị cướp sạch. Theo quy tắc vận tải oar hóa trên biển, họ phải đến gặp chính quyền sở tại để trình báo, đề nghị giúp bắt bọn cướp, đồng thời xin chính quyền nơi đó xác nhận làm bằng cứ để khi về báo cáo với chủ oar và đòi oar bảo hiểm bồi thường. Viên thuyền trưởng đưa tàu chạy đến cảng gần nhất là Du Lâm ở đảo Hải Nam, trình báo với tri phủ (có lẽ là tri huyện) địa phương.
Viên quan địa phương đó nói với thuyền trưởng rằng: “Nơi chúng ta đứng đây có tên là Thiên Nhai Hải Giác (chân trời góc biển). Đất của Thiên triều đến đây là hết rồi. Chuyện ông bị cướp ngoài biển biết là ở chỗ nào? Ông bị cướp, chúng tôi không chịu trách nhiệm, không quản được và cũng không muốn quản”.
Thế rồi tống cổ vị thuyền trưởng bị cướp ra khỏi nha môn. Nhưng sự kiện đó cần phải có cái kết, nếu không về nước biết ăn nói ra sao? Viên thuyền trưởng đành phải cho tàu chạy vào cảng Hải Phòng. Quan chức địa phương ở đó rất tốt, xác nhận cho ông ta, lại còn cho tàu ra chạy oar vòng, coi như đã truy bắt cướp.
Đó là chứng cứ gì? Đó chính là chứng cứ về kiểm soát và quản lý thực tế. Chứng cứ này nói lên: chính phủ Trung Quốc ngay từ thời triều Thanh đã không thừa nhận “Tây Sa” là lãnh thổ của mình, cũng không đảm trách công tác trị an ở đó.Còn chính quyền Việt Nam khi đó không những đã cho rằng “Tây Sa” là lãnh thổ của họ, mà còn thực thi công tác giữ gìn trật tự ở đó.
Điều đó chẳng phải đã chứng minh “Tây Sa” từ xưa đến nay đều thuộc về Việt Nam hay sao? Nếu bạn là đại biểu đàm phán của Trung Quốc, được huấn luyện đầy đủ về luật biển và luật quốc tế, trước những chứng cứ như thế thì phải làm thế nào? Chắc chắn sẽ muốn có cỗ máy thời gian để quay trở lại thời đó bóp chết viên tri phủ kia !…”[15].
Năm 1974 Trung Quốc dùng vũ lực tấn công đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa. Ngay sau đó, chính quyền Trung Quốc đã cử một đoàn nghiên cứu lịch sử, khảo cổ trong đó có GS. Hàn Chấn oar a khảo sát một số đảo. Trong công trình do mình chủ biên, ông đã đề cập tới ngôi chùa có tên Hoàng Sa tự trên đảo Vĩnh Hưng (tức đảo Phú Lâm theo tên của Việt Nam)[16]. Mặc dù tên chùa và các câu đối viết bằng chữ Hán (黄砂寺), nhưng đây lại là một trong những chứng cớ hết sức thuyết phục về chủ quyền Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa. Ngôi chùa này đã được báo chí Trung Quốc nói tới từ năm 1957, sau lần quân Trung Quốc đổ bộ lên Phú Lâm năm 1956, khi quân Pháp vừa thất bại trên chiến trường Việt Nam. Theo mô tả trong tạp chí “Lữ hành gia” quyển 6, xuất bản năm 1957 tại Bắc Kinh thì vào thời điểm ấy trong chùa còn ghi niên đại trùng tu vào năm Bảo Đại 14 (1939). Dựa vào những ghi chép trong bộ Đại Nam thực lục chính biên, có thể biết ngôi chùa này đã được vua Minh Mệnh ra lệnh xây theo đề nghị của Bộ Công và tỉnh Quảng Ngãi. Người được giao phụ trách công việc này là cai đội Phạm Văn Nguyên. Lính và dân phu hai tỉnh Bình Định và Quảng Ngãi đã chuyên chở vật liệu từ đất liền ra xây [17] .
4. Tư liệu Việt Nam có cơ sở vững chắc và ngày càng thêm phong phú
Hoàng Sa và Trường Sa là hai quần đảo xuất hiện trên các bản đồ hàng hải phương Tây trước thế kỷ XVII hầu hết đều đi liền với tên gọi Ciampa hay Campa. Điều có nghĩa những đảo này từng gắn rất chặt với vương quốc Champa, sau này trở thành một bộ phận của nước Việt Nam.
“Giữa biển có một dải cát dài, gọi là Bãi Cát Vàng, dài độ 400 dặm, rộng 20 dặm, đứng dựng giữa biển, từ cửa biển Đại Chiêm đến cửa Sa Vinh(2). Mỗi lần có gió Tây Nam thì thương thuyền các nước đi ở phía trong trôi dạt ở đấy; có gió Đông Bắc thì thương thuyền chạy ở ngoài cũng trôi dạt ở đấy, đều cùng chết đói hết cả, hang hóa thì đều để nơi đó. Họ Nguyễn mỗi năm vào tháng cuối mùa đông đưa 18 chiếc thuyền đến lấy hàng hóa, được phần nhiều là vàng bạc, tiền tệ, súng đạn”.
Chỉ một tư liệu này thôi đã nói được nhiều điều. Từ thế kỷ XVII người Việt đã lui tới, vẽ bản đồ, đặt tên (rất Việt), khai thác và thực thi chủ quyền trên hai quần đảo. Loại tư liệu có căn cứ xác đáng như vậy Trung Quốc không hề có.Sang thế kỷ XVIII, ghi chép của nhà bác học Lê Quý Đôn trong Phủ biên tạp lục còn cho biết chính quyền chúa Nguyễn đã khẳng định chủ quyền thông qua việc tổ chức quy củ các đơn vị chuyên trách thực thi công vụ trên hai quần đảo (Đội Hoàng Sa và Đội Bắc Hải), quy định rõ ràng về phiên chế, phân rõ địa phương thực hiện, quy trình, thủ tục và nhiệm vụ cụ thể: “Trước đây họ Nguyễn đặt đội Hoàng Sa 70 suất, lấy người xã An Vĩnh sung vào, luân phiên nhau hàng năm cứ vào tháng ba nhận mệnh đi làm sai dịch, mang lương đủ ăn 6 tháng, đi bằng 5 chiếc thuyền câu nhỏ ra biển, ba ngày ba đêm mới đến đảo này… Lấy được được hóa vật của tàu như gươm, tiền bạc, đồ đồng, khối thiếc, khối chì, súng, đồ sứ, ngà voi, sáp ong, đồi mồi, hải sâm, vỏ ốc…rất nhiều. Đến tháng Tám thì về , vào cửa Eo, đến thành Phú Xuân để nộp. Cân định hạng xong mới cho đem bán riêng các thứ ốc vân, hải ba, hải sâm, rồi lĩnh trở về ”.
Những công việc của các đội đặc nhiệm này được quản lý rất chặt chẽ. Lê Quý Đôn đã tận mắt xem sổ ghi chép của một viên Cai đội tên là Thuyên và cho biết: “Năm Nhâm Ngọ lượm được 30 hốt bạc; năm Giáp Thân được 5.100 cân thiếc; năm Ất Dậu được 126 hốt bạc… ”[19].
Năm 1802 triều Nguyễn thành lập, xây dựng một chính quyền cai trị thống nhất từ Bắc chí Nam. Tiếp tục duy trì sự hiện diện và khai thác các nguồn lợi như các chúa Nguyễn, các hoàng đế đặc biệt quan tâm đến việc củng cố chủ quyền lãnh hải và trên các đảo, trong đó có Hoàng Sa và Trường Sa. Các nhà nghiên cứu đã trưng ra được rất nhiều đoạn chính sử, các văn kiện chính thức (châu bản) và những chỉ dụ, sắc lệnh do hoàng đế trực tiếp ban ra về các công việc liên quan đến hai quần đảo, như việc vua Gia Long ra lệnh cho quân đội ra dựng mốc căm cờ vào năm 1816, vua Minh Mệnh trực tiếp xử lý việc thưởng phạt đối với các sĩ quan và bình lính thực thi công vụ; trực tiếp phê duyệt kế hoạch xây chùa cùng việc phân bổ ngân sách và nhân lực thực hiện các công việc đó…
Những căn cứ không thể xác đáng hơn là cùng với những tư liệu được ghi chép trong các bộ chính sử, các tư liệu trong kho lưu trữ, chủ quyền Việt Nam còn hiển hiện trong các các tài liệu được lưu giữ trong dân như những di vật của tiền nhân là những người tham gia Đội Hoàng Sa và Đội Bắc Hải. Đó còn là những di tích như miếu thờ, nghi lễ tế sống các binh lính Hoàng Sa trước khi đi làm nhiệm vụ…
Có thể nói đến thời Nguyễn, chủ quyền của Việt nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trương Sa đã được thiết lập và thực thi một cách đầy đủ và toàn vẹn, không có sự tranh chấp nào. Chính vì vậy, khi đánh chiếm được Việt Nam, Pháp đã mặc nhiên đặt quyền quản lý của chính quyền đô hộ lên hai quần đảo. Người Pháp đã cho xây dựng các đài khí tượng, trạm quan trắc và cắt đặt lính đồn trú trên các đảo.
Năm 1950 chính phủ Pháp chuyển giao quyền quả lý hai quần đảo cho chính phủ Quốc gia Việt Nam. Thủ hiến Trung phần Phan Văn Giao là người đứng ra tiếp nhận. Chỉ hơn một năm sau, vào tháng 8 năm 1951 Tân Hoa xã Trung Quốc lên tiếng “khẳng định quyền của Trung Quốc đối với Tây Sa và Nam Sa”. Đây là lần đầu tiên Trung Quốc tuyên bố công khai về vấn đề này. Trước tình hình đó, ngày 7 tháng 9 năm 1951 tại Hội nghị San Francisco, Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao của chính phủ Quốc gia Việt Nam Trần Văn Hữu long trọng tuyên bố về chủ quyền Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Không có bất cứ sự phản đối nào trước lời tuyên bố đó. Trong khí đó có ý kiến giao hai quần đảo này cho CHND Trung Hoa đã bị 48/51 phiếu chống.
Trong thời gian Việt Nam tạm thời bị chia cắt làm hai miền, hai quần đảo nằm phía nam vĩ tuyến 17 nên thuộc quyền quản lý của Chính quyền Việt Nam Cộng hoà. Chính phủ Việt Nam Cộng hòa đã tiếp nhận quản lý, sắp đặt lại đơn vị hành chính và liên tục có những tuyên bố và hành động chống lại các hành vi khiêu khích hoặc những yêu sách đòi chủ quyền của Trung Quốc.
Năm 1974, sau nhiều lần đột kích, Trung Quốc đã công khai dùng vũ lực chiếm các đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa. Đây là hành vi trái với tất cả mọi luật pháp và công ước quốc tế về thụ đắc lãnh thổ. Nhưng cũng từ đây Trung Quốc ngày càng đẩy mạnh việc tuyên truyền, các biện pháp ngoại giao và gia tăng sức ép quân sự để đơn phương khẳng định chủ quyền của mình không chỉ trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà còn với cả phần lớn biển Đông thông qua yêu sách đường 9 đoạn. Năm 1988 Trung Quốc lại một lần nữa dùng vũ lực để chiếm các đảo Chữ Thập, Châu Viên, Ga Ven, Tư Nghĩa, Gạc Ma và Xu Bi thuộc quần đảo Trường Sa[20].
Biển Đông đang nóng lên. Cùng với những biện pháp quân sự, ngoại giao, truyền thông mà các bên có liên quan đều đang cố gắng đẩy mạnh, việc nghiên cứu để hiểu sâu sắc và xây dựng những luận cứ khoa học học cho việc khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là vô cùng cấp thiết.
Có thể nói Trung Quốc đã đi trước Việt Nam khá lâu trong việc tập hợp lực lượng và tổ chức nghiên cứu để xây dựng luận chứng khoa học và cơ sở pháp lý về chủ chủ quyền trung Quốc trên hai quần đảo mà họ gọi là Tây Sa và Nam Sa. Sự cố gắng đó đã được thể hiện trong một bộ sách dày dặn với sự tham gia của đông đảo giới hoạc giả Trung Quốc. Tuy nhiên, cho đến nay những luận lý đưa ra ngày càng bộc lộ những nhược điểm và hạn chế. Tư liệu được tập hợp và trích dẫn phần nhiều bị cắt xén, gán ghép và giải thích tư biện và khiên cưỡng. Đó là chưa kể đến những mâu thuẫn giữa tư liệu này và tư liệu khác. Không phải ngẫu nhiên mà trong giới học gải quốc tế ngày càng có nhiều người phản bác luận lý của Trung Quốc. Thậm chí ngay cả học giả Trung Quốc cũng đã có người lên tiếng phê phán.
Trong khi đó rất đáng ghi nhận những cố gắng hết sức lớn lao của các cơ quan có trách nhiệm, giới nghiên cứu và của toàn thể nhân dân cả trong và ngoài nước trong việc sưu tầm, hiến tặng tài liệu và công bố những kết quả nghiên cứu, khiến cho luận cứ khoa học và căn cứ pháp lý về chủ quyền của Việt Nam ngày càng dày dặn thêm.
Như một chân lý khách quan, Hoàng Sa và Trường Sa là hai quần đảo của Việt Nam nên những tư liệu và chứng cớ khẳng định chủ quyền của Việt Nam cũng với thời gian ngày càng trở nên rõ ràng và phong phú thêm. Trong sự nghiệp đấu tranh bảo vệ chủ quyền lãnh hải và trên hai quần đảo này, giới khoa học giữ một vai trò vô cùng quan trọng./.
[4] Có thể xem thêm Lưu Văn Lợi : Cuộc tranh chấp Việt-Trung về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, NXB Công an Nhân dân, 1995; Roderik Ptak: Các đảo ở biển đông theo các tài liệu của Trung Quốc; Hồ Bạch Thảo: Phản biện lập luận của nhà nghiên cứu Hàn Chấn Hoa về lãnh vực sử địa cổ có liên quan đến Biển Ðông được đề cập trong tác phẩm Ngã quốc Nam hải chư sảo Sử liệu hối biên…
[5] J.M.Buch : La Compagnie des Indes Neerlandaisesetl’Indochine. Bulletin de l‘ Ecole Francaise d‘ Extrême Orient, tome XXXVI, 1936, p.134
[6] Jean Yves Clayes: Mystère des atolls – Journal de voyage aux Paracels. Indochine No 46-1941.
[7] Dẫn lại theo G.Taboulet: La geste Francaise en Indochine, tome I, Paris 1955, p.145 -151
[13] Lê Quý Đôn: Toàn tậptập I (Phủ Biên tạp lục), NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1977, tr. 116.
[14] Báo cáo của Toàn quyền Đông Dương gửi Bộ trưởng Bộ Thuộc địa, dẫn theo Monique Chemillier – Gendreau: Chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, phụ lục số 5 (La souveraineté sur les archipels Paracels et Spratleys. L’Harmattan Paris, 3/1996). NXB Chính trị quốc gia (Sự thật), 2011.
[15] Dẫn theo Trung Quốc từng luôn thừa nhận “Hoàng Sa là của Việt Namđăng trên Infonet (Bộ Thông tin & Truyền thông,ngày 04/05/2013
[18] Dẫn theo Nguyễn Nhã: Những bằng chứng về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. NXB Giáo dục, 2013, tr. 40.
Nhiều người cho rằng, Trung Quốc đang lợi dụng khủng hoảng COVID-19 để thúc đẩy tham vọng “đường lưỡi bò” trên biển Đông; trên thực tế nước này đã thực hiện chiến lược “cắt lát salami” từ lâu, nhưng vùng biển quan trọng này đâu dễ “nuốt” đến thế.
Một trong những vũ khí lớn nhất của Trung Quốc ở trên biển đơn giản chỉ là sự kiên nhẫn. Hồi giữa thập niên 90, Trung Quốc trấn an các nước láng giềng rằng, cấu trúc mà họ xây dựng trên đá Vành Khăn ở quần đảo Trường Sa chỉ là nơi tránh trú bão của ngư dân.
Đến năm 2018, Trung Quốc đã hoàn thành việc biến đá Vành Khăn thành đảo nhân tạo và quân sự hóa nơi đây với tên lửa hành trình chống hạm dù hồi tháng 9/2015, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình cam kết không quân sự hóa khu vực Trường Sa.
Tàu sân bay Liêu Ninh
Tháng trước, Trung Quốc ngang nhiên tuyên bố thành lập 2 quận mới để quản lý Trường Sa và Hoàng Sa, đặt tên cho 80 cấu trúc địa lý ở hai quần đảo này. Ngoại trưởng Mỹ Mike Pompeo cảnh báo những người đồng cấp ở Đông Nam Á rằng, Trung Quốc đã chuyển sang lợi dụng việc các nước tập trung đối phó đại dịch do coronavirus mới gây ra để củng cố yêu sách “đường lưỡi bò”.
Báo Mỹ Washington Post dẫn lời giới quan sát nhận định, để tiếp tục dằn mặt các nước có tranh chấp chủ quyền lãnh thổ ở biển Đông, Trung Quốc có thể coi việc củng cố yêu sách “đường lưỡi bò” quan trọng hơn việc tạm dừng để tập trung xử lý đại dịch hoặc cải thiện quan hệ với các nước.
Ngoài ra, Trung Quốc đang phải đối mặt nhiều vấn đề “nóng” trong nước như chia rẽ, đấu đá nội bộ, thương mại lao dốc, đời sống người dân khó khăn…, nên phải “chuyển lửa ra bên ngoài” (khiêu khích, gây hấn trên biển Đông) để đánh lạc hướng dư luận. Các động thái gần đây của Trung Quốc trên biển Đông hoặc liên quan COVID-19 bị cộng đồng quốc tế chỉ trích hoặc nghi ngờ.
Theo nhận định của giáo sư M.Taylor Fravel, Giám đốc Chương trình Nghiên cứu An ninh tại Viện Công nghệ Massachusetts (Mỹ, không phải đại dịch Covid-19 đang tạo ra cơ hội mới cho Trung Quốc gia tăng hoạt động gần đây tại Biển Đông mà thực chất nước này chỉ tiếp tục thực hiện chiến lược lâu nay của mình. Giáo sư nêu ra bốn lý do chính.
Thứ nhất, chiến lược Biển Đông của Trung Quốc không thay đổi. Trước khi đại dịch bùng phát, những động thái của Trung Quốc là nhằm tìm cách khẳng định các quyền lịch sử sai trái của nước này tại Biển Đông. Sau khi bác bỏ phán quyết năm 2016 của Tòa Trọng tài PCA, Bắc Kinh càng quyết tâm hơn bằng cách đưa ra một tuyên bố hiếm thấy để công khai khẳng định rằng Trung Quốc có các quyền lịch sử ở Biển Đông. Mặc dù Bắc Kinh vẫn chưa định nghĩa thế nào là nội hàm của những quyền này, song theo một nhà phân tích đáng tin cậy của Trung Quốc, có thể chúng bao gồm quyền đánh bắt cá, quyền đi lại hàng hải và các quyền được ưu tiên khai thác tài nguyên. Để khẳng định cái gọi là quyền lịch sử này, trong những năm qua, Trung Quốc sử dụng ba căn cứ tác chiến tiền phương lớn mà nước này đã tạo ra trên các bãi đá ngầm ở khu vực Quần đảo Trường Sa [của Việt Nam] thông qua hoạt động cải tạo quy mô lớn trong năm 2014-2015, nhằm tăng cường hiện diện tại khu vực này.
Thứ hai, những tranh cãi gần đây nhất đã có từ trước khi đại dịch Covid-19 bùng phát. Tháng 12/2019, Bắc Kinh và Jakarta đã trực tiếp đối đầu nhau khi một đội tàu cá của Trung Quốc hoạt động gần đảo Natuna của Indonesia ở khu vực cực Tây Nam của Biển Đông. Tình thế đối đầu này kéo dài tới cuối tháng 1/2020, với việc các tàu hải cảnh của Trung Quốc hộ tống các tàu cá của nước này và các lực lượng vũ trang của Indonesia cũng thể hiện quyết tâm bảo vệ khu vực của mình. Cuộc đối đầu giữa Trung Quốc và Indonesia chỉ là ví dụ mới đây nhất cho thấy cạnh tranh kéo dài liên quan tới việc đánh bắt cá ở vùng biển này, vốn bắt đầu gia tăng từ năm 2016. Trung Quốc coi khu vực đó là ngư trường truyền thống của nước này, trong khi Indonesia coi vùng biển này nằm trong EEZ của mình.
Thứ ba, đợt đánh bắt cá mùa Xuân thường châm ngòi những căng thẳng mới. Ngày 2/4, một tàu cá của Việt Nam đang hoạt động gần đảo Phú Lâm thuộc Quần đảo Hoàng Sa thì bị đâm chìm sau khi đụng độ với một tàu hải cảnh của Trung Quốc. Việt Nam tuyên bố chủ quyền đối với khu vực Quần đảo Hoàng Sa – vốn đã bị Trung Quốc chiếm đóng trái phép kể từ năm 1974. Những diễn biến như vậy thường xảy ra ở khu vực xung quanh quần đảo này, đặc biệt trong giai đoạn cao điểm của mùa đánh bắt cá mỗi khi vào Xuân. Tháng 3/2019, một tàu cá khác của Việt Nam đã bị đâm chìm vì đụng độ với một tàu chấp pháp của Trung Quốc gần Đá Lồi. Vụ đụng độ mới nhất hồi tháng trước phản ánh những biến động có tính chu kỳ giữa Việt Nam và Trung Quốc ở khu vực này, và quyết tâm đáp trả của Bắc Kinh.
Thứ tư, Trung Quốc cũng can thiệp vào hoạt động khai thác dầu khí của các nước khác. Cũng trong tháng 4, tàu Hải dương Địa chất 8 – một tàu thăm dò địa chất của Trung Quốc – bắt đầu hoạt động trong EEZ của Malaysia với sự bảo vệ của các tàu hải cảnh. Đây không phải là nỗ lực mới của Bắc Kinh có liên quan đến nguồn tài nguyên dầu mỏ và khí đốt tại Biển Đông. Năm 2017 và 2018, Trung Quốc từng gây sức ép liên quan đến các hoạt động khai thác gần Bãi Tư Chính. Năm 2019, Trung Quốc đã điều các tàu hải cảnh đi xung quanh và quấy rối các hoạt động khoan thăm dò trong EEZ của Việt Nam và Malaysia. Trên thực tế, chính tàu Hải dương Địa chất 8 này đã từng xâm phạm khi có hoạt động bên trong vùng EEZ của Việt Nam từ đầu tháng 7 tới cuối tháng 10/2019.
Theo giáo sư M.Taylor Fravel, Trung Quốc có thể coi việc gia tăng tranh chấp chủ quyền của họ quan trọng hơn việc tạm dừng lại một thời gian để tập trung vào đối phó với đại dịch Covid-19 hay cải thiện quan hệ với các nước khác trong khu vực. Ngoài ra, vì cân nhắc sự tương quan giữa bất ổn định ở trong nước với các thách thức ở bên ngoài, các nhà lãnh đạo Trung Quốc có thể không chấp nhận tạm dừng hành động trên Biển Đông, với lo ngại đây sẽ là tín hiệu về sự yếu đuối hay thay đổi chiến lược của Bắc Kinh trong hồ sơ tranh chấp tại Biển Đông.
Ông Timothy Heath, chuyên gia an ninh đến từ nhóm nghiên cứu chính sách toàn cầu Rand Corporation ở Mỹ, cho rằng việc Mỹ gia tăng các hoạt động quân sự một phần là do sự thất bại trong các nỗ lực ngoại giao nhằm giải quyết xung đột giữa Bắc Kinh và Washington.
„Trung Quốc tuyên bố chủ quyền ở một vùng biển quốc tế có ý nghĩa quyết định với thương mại toàn cầu cũng như với an ninh của Mỹ“, ông Heath nói.
Ông Heath giải thích thêm: „Để củng cố các yêu sách của mình, Trung Quốc đã đẩy mạnh hoạt động xây đảo nhân tạo trên Biển Đông, tăng cường tuần tra và triển khai quân sự, đồng thời ép buộc các nước láng giềng ưng thuận với yêu sách của Bắc Kinh…
Điều này khiến cho Mỹ không còn lựa chọn nào khác ngoài việc đẩy mạnh các hoạt động quân sự ở Biển Đông, để gửi đi thông điệp rõ ràng rằng Washington nghiêm túc trong việc duy trì trạng thái quốc tế của Biển Đông và các vùng nước trong chuỗi đảo thứ nhất, đồng thời báo hiệu Washington sẵn sàng bảo vệ các cam kết của mình“.
Chuỗi đảo thứ nhất mà ông Heath đề cập là khu vực bao gồm các đảo lớn bên ngoài bờ biển lục địa Đông Á, trải dài từ Nhật Bản tới đảo Borneo ở Đông Nam Á.
Còn ông Tống Trung Bình, một nhà bình luận quân sự ở Hong Kong, cho rằng mâu thuẫn giữa Mỹ và Trung Quốc đã vượt ra ngoài phạm vi quân sự.
Bên cạnh việc Mỹ gây áp lực lên Bắc Kinh liên quan vấn đề Đài Loan và Biển Đông, ông Tống đánh giá: „Đây sẽ là cuộc xung đột toàn diện không chỉ liên quan đến quân sự mà còn trong các lĩnh vực khác như thương mại, văn hóa và ý thức hệ“./.
US Secretary of State Mike Pompeo on April 23 criticised recent actions of China in the East Sea, including its announcement of the establishment of “Xisha district” (Vietnam’s Hoang Sa (Paracel) archipelago) and “Nansha district” (Vietnam’s Truong Sa (Spratly) archipelago) within the so-called “Sansha city,” and China coast guard vessel’s sinking of a Vietnamese fishing boat.
Earlier, just hours prior to a video conference between the Foreign Ministers of the Association of Southeast Asian Nations (ASEAN) and the US on April 22, Pompeo also stressed that US strongly opposed China’s bullying behaviour against neighbouring countries in the recent past.
Also on April 23, Malaysian Foreign Minister Hishammuddin Hussein issued a statement on the East Sea issue, saying all concerned parties must work together to maintain peace, security and stability in the East Sea and increase efforts to build, maintain and enhance mutual trust.
Malaysia held a view that the East Sea should be maintained as a sea of peace and trade. Therefore, matters relating to the sea must be resolved peacefully based on the principles of international law, including the 1982 United Nations Convention on the Law of the Sea (UNCLOS) 1982, he said.
Meanwhile, EU Ambassador to ASEAN Igor Driesmans told a Vietnam News Agency reporter in Jakarta on April 26 that the EU is committed to the legal order for the seas and oceans based upon international law, maritime security and cooperation, as well as the freedom of navigation and overflight, in the interest of all states.
Driesmans said the EU is concerned about unilateral actions during the past weeks in the East Sea that have resulted in mounting tensions and a deterioration of the maritime security environment, including temporary or permanent deployment of military forces or equipment on disputed maritime features, harassment or intimidation of fishing and other vessels, and attempts to unilaterally impose new administrative boundaries.
EU Ambassador to ASEAN Igor Driesmans
“Such actions represent a serious threat to the peaceful economic development of the region and undermine international cooperation and trust, which are crucial for effectively mitigating the impact of the COVID-19 outbreak.”
“What happens in this region matters to all of us,” he continued, noting that an estimated one-third of global shipping passes through the East Sea; so freedom of navigation is a global necessity.
Asian partners are increasingly looking to the EU to be present and engaged on security matters, and the bloc is intent on delivering on that objective through active engagement through multilateral mechanisms such as the ASEAN Regional Forum (ARF), and concrete steps with individual countries in the region such as the recent agreement on Vietnam’s participation in European military and civilian missions, he said.
The ambassador went on to say that the EU is cooperating “more closely than ever” with ASEAN and will continue supporting regional ASEAN-led processes to promote a rules-based regional and international order, to consolidate multilateral cooperation, and to cooperate closely with third parties.
“In this regard, we are looking forward to a conclusion, in a transparent manner, of the talks between ASEAN and China on an effective, substantive and legally binding Code of Conduct,” the diplomat said.
He also emphasised that it is crucial for all parties in the region to exercise self-restraint and abstain from unilateral actions, take concrete steps towards reverting to the status quo ante, refrain from militarising the region and resolve disputes through peaceful means in accordance with international law, notably the United Nations Convention on the Law of the Sea (UNCLOS).
The EU encourages further engagement in confidence building measures, building trust and security in the region, he said.
Driesmans suggested concerned parties could seek third party assistance in the form of mediation or arbitration to facilitate the settlement of their respective claims.
The EU has its own experience in dealing with overlapping maritime territorial claims, so it would be happy to put that experience at the disposal of its Asian partners, he said./.
Sau cơn “động đất chính trị” dữ dội tại bang Thueringen khi lần đầu tiên trong lịch sử hiện đại của nước Đức, Thủ hiến một bang lại do các lá phiếu của đảng cực hữu có khuynh hướng phát xít mới là đảng Sự lựa chọn cho nước Đức (AfD) quyết định, một trận “động đất mới” lại xảy ra ở cấp độ liên bang khi Chủ tịch đảng Liên minh Dân chủ Cơ đốc giáo (CDU) Annegret Kramp-Karrenbauer tuyên bố sẽ không ra tranh cử Thủ tướng vào năm sau, đồng thời sẽ rút lui khỏi chức Chủ tịch đảng khi tìm được một ứng cử viên mới của đảng này tranh cử vào chức Thủ tướng.
Trước đó cùng ngày, tại cuộc họp của các nhà lãnh đạo CDU ở Berlin, bà Kramp-Karrenbauer tuyên bố sẽ không tranh cử Thủ tướng trong cuộc bầu cử liên bang năm 2021, đồng thời sẽ sớm từ chức Chủ tịch đảng CDU. Bà nhấn mạnh sẽ thúc đẩy tiến trình đề cử một nhân vật khác đảm nhiệm 2 vai trò này vào mùa Hè năm nay. Bà Kramp-Karrenbauer, 57 tuổi, vốn được xem là lựa chọn sáng giá của Thủ tướng Angela Merkel để kế nhiệm bà. Tuy nhiên, kết quả bầu chọn Thủ hiến bang Thueringen tuần trước đã làm chấn động dư luận Đức và làm tổn hại nghiêm trọng tới uy tín cá nhân của bà Annegret Kramp-Karrenbauer nói riêng và cả đảng CDU nói chung. Tại cuộc bầu chọn này, các lá phiếu của nghị sỹ CDU bang Thueringen dường như đã có “thỏa thuận ngầm” với các lá phiếu của đảng Dân chủ Tự do (FDP) và đặc biệt là của đảng AfD để bầu chọn cho ứng viên Thomas Kemmerich của FDP trúng cử, vượt trên người của đảng Cánh tả là ông Bodo Ramelow đúng 01 phiếu. Những diễn biến này được xem là một cuộc “chính biến” của AfD ở Thueringen, bang “căn cứ địa” của đảng này, cũng như là một cuộc “tự diễn biến” của đảng bộ CDU và FDP ở tiểu bang Thueringen. Cả CDU và FDP liên bang đã phải tiến hành các cuộc họp khẩn cấp ngay sau diễn biến ở Erfurt để chấn chính lại nội bộ và nhìn nhận nghiêm túc tác động của kết quả ở Thueringen. Việc cùng với đảng dân túy cánh hữu bầu cho một ứng cử viên đã gây ra những chỉ trích trên toàn liên bang, đây được coi là việc làm vi phạm điều cấm kỵ lâu nay của CDU, đó là không hợp tác ở mọi cấp độ với AfD.
Bà Annegret Kramp-Karrenbauer (bên trái), người từng được Thủ tướng Angela Merkel đặt nhiều kỳ vọng
Qua vụ việc này, uy tín của bà Karrenbauer cũng bị ảnh hưởng mạnh. Theo kết quả cuộc thăm dò do Viện Kantar tiến hành cho tờ Hình ảnh Chủ Nhật (BaS), chỉ có 15% số ý kiến được hỏi cho rằng bà Karrenbauer là người phù hợp để lãnh đạo CDU, trong khi có tới 72% nói bà đã „ngồi nhầm chỗ.“ Cũng theo thăm dò, có 33% số ý kiến nói ông Friedrich Merz, cựu Chủ tịch đảng đoàn của CDU/CSU trong Quốc hội, là người phù hợp hơn dẫn dắt CDU. Từng làm Thủ hiến bang Saarland giai đoạn 2011-2018, bà Kramp-Karrenbauer là người có nhiều kinh nghiệm chính trường và có tính cách khá giống với Thủ tướng Angela Merkel. Hồi tháng 12/2018, bà đã giành chiến thắng trước hai đối thủ là cựu lãnh đạo nhóm nghị sỹ CDU tại Quốc hội liên bang Friedrich Merz và Bộ trưởng Y tế Jens Spahn để trở thành Chủ tịch đảng CDU, thay thế bà Angela Merkel.
Về phía đảng AfD, trước sự chỉ trích của dư luận và các chính đảng, chỉ một ngày sau khi được chọn, ông Thủ hiến Kemmerich đã phải tuyên bố từ chức. Nhiều khả năng sẽ sớm có cuộc bầu cử lại hạ viện bang Thueringen và với những diễn biến như hiện nay trên chính trường Đức, dự báo kịch bản diễn ra sẽ tiếp tục hết sức kịch tính vì bầu cử lại vẫn có thể dẫn đến kịch bản như cũ, đó là đảng AfD duy trì sức mạnh và sự ủng hộ của cử tri bang, trong khi cơ cấu đảng phái ở Thueringen sau bầu cử hạ viện sẽ làm các đảng ở bang này rơi vào thế khó trong cuộc tìm chọn liên minh cầm quyền mới./.
Việt Nam phải sống cạnh một nước láng giềng có lãnh thổ rộng gấp 30 lần, dân số gấp 15 lần (dân số Việt Nam với 96 triệu dân, xếp thứ 15 thế giới, nhưng mới chỉ ngang dân số một tỉnh tầm trung của Trung Quốc và thua những tỉnh lớn như Quảng Đông, Tứ Xuyên). Suốt cả chiều dài lịch sử, lịch sử của Việt Nam phải chống chọi và hợp tác với nước láng giềng khổng lồ đó. Tiến sỹ Lê Hồng Hiệp dẫn lại lý thuyết của Giáo sư Carl Thayer thuộc Học viện Quốc phòng Australia về cái gọi là “lời nguyền địa lý” của Việt Nam mà theo đó “Việt Nam không có sự lựa chọn nào khác ngoài học cách chia sẻ số phận của mình với người láng giềng Trung Quốc trong suốt từng bước đi lịch sử của mình” (1). Thực tế đã diễn ra như vậy. Vào những lúc Trung Quốc huy hoàng nhất của thời Hán, Đường, Việt Nam đã phải chịu ách đô hộ nghìn năm của Trung Quốc. Những triều đại Trung Quốc mạnh như nhà Nguyên, Minh, Thanh, Đại Việt cũng phải trường kì chống lại chủ nghĩa xâm lược Đại Hán.
Có thể nói, những gì xảy ra ở trên đất nước Trung Quốc đều có ảnh hưởng rất mạnh mẽ đến Việt Nam. Một cơn gió mùa Đông Bắc xuất phát từ lục địa Trung Nguyên cũng sẽ vượt qua cả nghìn km để đem cái lạnh và khô của nó xuống đồng bằng Bắc Bộ của Việt Nam. Ở phạm vi rộng hơn, chúng ta thấy rằng tất cả những dòng chảy từ hữu hình như hàng hóa, vật phẩm, con người cho tới những dòng chảy vô hình như văn hóa, tri thức, tư tưởng xuất phát từ Trung Quốc đều sẽ chảy xuống phương Nam, nhất là Việt Nam như một dòng chảy chính và chủ đạo. Nguyên nhân của điều này cũng xuất phát từ chính “sự minh định địa lý” của Trung Quốc. Dãy Vạn lý trường thành dài cả chục nghìn km không chỉ là trường thành bảo vệ Trung Nguyên khỏi các tộc người Hung Nô mà còn ngăn luôn cả Trung Quốc tiến lên phía Bắc trong suốt thời kỳ cổ trung đại. Về phía Tây, các sa mạc rộng lớn của cao nguyên Gô-bi và những dãy núi hiểm trở mênh mông của cao nguyên Thanh – Tạng cũng làm chùn bước các bước đi xa hơn để chinh phục miền viễn Tây của người Trung Hoa. Về phía Đông, biển và đại dương hiếm khi là thế mạnh của Trung Quốc suốt từ thời cổ đại đến trung đại và cận đại (trừ những chuyến thám hiểm của Trịnh Hòa thời nhà Minh). Vì vậy chỉ còn mỗi phương Nam là dễ tiếp cận nhất, dễ xâm lấn nhất đối với các chiến lược địa chính trị – kinh tế của Nhà nước Trung Quốc trong suốt chiều dài lịch sử của họ. Việt Nam nằm ở tuyến đầu của phương Nam Trung Quốc, nên chịu sự tác động mạnh mẽ của lịch sử trên tất cả các phương diện văn hóa, tư tưởng, tri thức, trao đổi thương mại, hàng hóa, vật phẩm, con người. Điều đó xuất phát từ “sư minh định” kép về địa lý của cả phía Việt Nam và phía Trung Quốc.
Cùng với thời gian, khi sự trao đổi kinh tế thương mại của hai quốc gia ngày càng lớn thì một thách thức kinh tế lớn khác lại đặt ra cho Việt Nam, đó là sự phụ thuộc vào xuất nhập khẩu với Trung Quốc cộng tình trạng thâm hụt thương mại không ngừng gia tăng. Nếu như năm 2011, thâm hụt thương mại của Việt Nam với Trung Quốc chỉ khoảng 7,5 tỷ USD thì năm 2019, con số thâm hụt thương mại của Việt Nam với Trung Quốc lên tới khoảng 34 tỷ USD (năm 2019 Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc 41 tỷ USD trong khi nhập khẩu từ Trung Quốc khoảng 75 tỷ USD). Như vậy, mức thâm hụt đã tăng gần 5 lần chỉ sau 8 năm. Đầu vào của các ngành chủ lực của công nghiệp nhẹ và công nghiệp xuất khẩu của Việt Nam như dệt may, giày dép hay đồ nội thất… đều đến từ nguồn hàng giá rẻ của Trung Quốc. Một điểm dễ thấy nữa là kim ngạch song phương tăng chủ yếu là do nhập khẩu từ Trung Quốc tăng mạnh trong khi xuất khẩu từ Việt Nam sang Trung Quốc tăng không tương xứng với tốc độ tăng nhập khẩu. Do đó, thách thức với Việt Nam về sự phụ thuộc vào Trung Quốc trong quan hệ thương mại là rất lớn. Nếu Trung Quốc quyết định ngưng trao đổi biên mậu với Việt Nam, hay việc Việt Nam đang phải tạm dừng tất cả các chuyến bay với Trung Quốc để ngăn chặn dịch virus nCoV, sẽ gây ra những thiệt hại to lớn cho kinh tế Việt Nam.
Các lĩnh vực như nông nghiệp hay du lịch của Việt Nam cũng phụ thuộc rất lớn vào thị trường Trung Quốc. Với lượng khách du lịch Trung Quốc chiếm tới 32% tổng lượng khách du lịch vào Việt Nam (2), việc các điểm đến lớn như Đà Nẵng, Nha Trang dừng tiếp nhận khách Trung Quốc và cửa khẩu quốc tế Lào Cai ngừng nhập cảnh du lịch Trung Quốc từ ngày 26/1 (3) sẽ làm cho lượng khách Trung Quốc đến Việt Nam ở mùa cao điểm du lịch hiện nay giảm sút đáng kể. Đây là một bài toán khó cho du lịch Việt Nam trong bối cảnh cạnh tranh du lịch ngày càng gia tăng còn lượng khách du lịch Trung Quốc đóng góp chủ yếu vào các thành tích về số lượng du khách trong thời gian gần đây. Trong khi đó, nông sản Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc chiếm đến 70% tổng lượng xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam ra nước ngoài. Việc biên giới Trung Quốc bị đóng cửa do dịch nCoV sẽ làm hàng nghìn tấn nông sản của Việt Nam, đặc biệt ở đồng bằng sông Cửu Long không bán được. Các mặt hàng trái cây như thanh long, dưa hấu, chôm chôm của khu vực Nam Bộ giá đã giảm mạnh từ Tết đến nay do không xuất khẩu được sang Trung Quốc.
Giới chuyên gia kinh tế (như Bảo Việt Securities) cho rằng, với các nước như Việt Nam, Philippines và Thái Lan, sự sụt giảm ~20% lượng du khách từ Trung Quốc sẽ tác động tiêu cực đến 0.6-1.3% GDP. Trong khi đó, những tính toán sơ bộ cho thấy nếu lượng khách Trung Quốc giảm 75% trong quý I/2020, xuất khẩu du lịch đối với Trung Quốc có thể giảm bằng 0.24% GDP năm 2019. Còn nếu xuất khẩu tới Trung Quốc giảm 20% trong quý I/2020, xuất khẩu hàng hóa tới Trung Quốc có thể giảm bằng 0.59% GDP năm 2019. Hãng VNDirect Securities cũng cho rằng tác động tiềm tàng đối với nền kinh tế Việt Nam khá đáng kể, bao gồm: Du lịch và giao thông là những ngành chịu tác động trực tiếp; Giao thương có thể gặp khó khăn do hạn chế qua lại biên giới, cửa khẩu và gián đoạn nguồn cung từ Trung Quốc; Nhu cầu đối với nhóm hàng hóa lâu bền và bán lẻ xa xỉ có thể chịu ảnh hưởng; Rủi ro kinh tế toàn cầu tăng trưởng chậm lại, đặc biệt là Trung Quốc. Chỉ một số ít ngành có thể được hưởng lợi trong ngắn hạn như: Y tế, thép, săm lốp.
Có thể nói là tất cả hoạt động buôn bán theo kiểu hàng cư dân, thăm hỏi chúc tết lẫn nhau, du lịch giữa biên giới hai nước đã giảm rất mạnh do dịch corona virus. Nhiều lĩnh vực khác của kinh tế Việt Nam cũng đang bị ảnh hưởng và thiệt hại mạnh. Tất cả chứng minh một điều là sự phụ thuộc của Việt Nam vào Trung Quốc trên một số mặt như kinh tế, thương mại, du lịch đang ngày càng lớn và điều này tạo ra các rủi ro đáng kể cho Việt Nam nếu thị trường Trung Quốc chịu những cú sốc đột ngột như dịch bệnh corona virus hiện nay. Hơn bất kỳ nước nào khác, Việt Nam cần một Trung Quốc hòa bình và ổn định để Việt Nam có điều kiện phát triển. Trung Quốc tê liệt và các lĩnh vực giao thương Việt – Trung bị đình trệ, nhiều lĩnh vực kinh tế của Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Bài toán khó của Việt Nam là ở chỗ đó, nếu nhìn tương quan sang vấn đề Biển Đông. Yêu cầu đặt ra là nền sản xuất nội địa của Việt Nam cần nhanh chóng được củng cố, về ngoại thương Việt Nam cần nhanh chóng đa dạng hóa các thị trường của mình nếu không muốn bị phụ thuộc ngày càng nhiều vào thị trường Trung Quốc và những cú sốc đột ngột như hiện nay./.
Phan An
(1) : TS Lê Hồng Hiệp, Việt Nam và “lời nguyền địa lý”, nghiencuuquocte.org
(2) Báo cáo cập nhật tình kinh tế và du lịch Việt Nam tháng 7/2019 của World Bank
Các nước lớn như Mỹ thường có các học thuyết làm nền tảng, cơ sở biện hộ cho các hoạt động quân sự, ngoại giao của mình ở nước ngoài. Trước thềm cuộc xâm lược Iraq 2003 với cái cớ là phá hủy vũ khí hóa học của chính quyền Saddam Husein, chính quyền Mỹ đã đưa ra và phát triển một loạt lý luận biện minh cho học thuyết „can thiệp và phủ đầu“.
Học thuyết „can thiệp và phủ đầu“
Ngày 29.1.2002, Tổng thống George Bush (con) trước Quốc hội Mỹ lần đầu tiên dùng cụm từ „trục ma quỷ“ để chỉ một số nước như Triều Tiên, Iran, Syria, những nước được cho là có vũ khí hóa học, tiếp tay khủng bố, có quan hệ với Al Qaeda và đe dọa hòa bình thế giới.
Ngày 1.6.2002, tại Học viện quân sự West Point, ông Bush đưa ra luận điểm tiếp theo về khả năng „can thiệp phòng thủ và đánh đòn phủ đầu“ ở bất kì nơi nào trên thế giới nhằm bảo vệ quyền lợi Mỹ. Điểm nhấn của học thuyết này là cho phép Mỹ „tiến hành những hành động chiến đấu bằng việc sử dụng không lực bất ngờ, thậm chí ngay cả khi không có tình trạng chiến tranh chính thức giữa Mỹ và các nước là đối tượng tấn công và cũng không cần thông báo trước cho họ“.
Tiếp đó, Mỹ công bố danh sách cái gọi là „rogue states“ (những quốc gia cứng đầu) gồm Iran, Iraq, Triều Tiên, Sudan. Sau đó Mỹ thay „rogue states“ bằng „states of concern“ (những nước đáng lo ngại). Với cách hiểu của giới cầm quyền Mỹ, việc sử dụng vũ lực chống lại các nước này là điều được phép kể cả khi giữa hai bên không có xung đột trực tiếp.
Cũng trong năm 2002, Trợ lý An ninh quốc gia Mỹ Condoleezza Rice đề cập đến chiến lược thay đổi chế độ ở Trung Đông, bản chất là bằng cách gây áp lực, kể cả với biện pháp mạnh nhằm hạ bệ quyền lực của chính quyền mà Mỹ coi là mối đe dọa với an ninh thế giới.
Những lập luận của Mỹ thực tế là sự tiếp nối và cải biên khái niệm „can thiệp nhân đạo“, được Mỹ dùng làm cái cớ cho cuộc chiến Nam Tư 1996-1999. “Can thiệp nhân đạo” không chỉ được thực hiện thông qua sử dụng vũ lực, mà còn bao gồm cả các hoạt động can thiệp không sử dụng vũ lực, như: chính trị, ngoại giao, kinh tế… Trước và sau cuộc chiến Iraq 2003, cách diễn giải của Mỹ cho thấy Mỹ tự cho mình quyền can thiệp với lý do mở rộng hơn cái gọi là „can thiệp nhân đạo“. Chỉ cần một quốc gia bị kết luận là đe dọa lợi ích an ninh của Mỹ là Mỹ can thiệp.
Những hành động can thiệp của Mỹ ở nước ngoài trước năm 2003
Năm 2002, Mỹ triển khai chiến dịch chống Taliban tại Afghanistan. Thắng lợi tương đối của cuộc chiến này khiến chính quyền Mỹ khẳng định thêm ý kiến rằng có thể dùng biện pháp quân sự để loại bỏ các chính phủ không thân thiện đối với Mỹ tại những điểm quan trọng trên thế giới về kinh tế và chiến lược-quân sự đối với Mỹ.
Trước đó, tháng 12/1998, Mỹ cùng Anh tiến hành chiến dịch „Con cáo sa mạc“ bằng 420 quả tên lửa nhằm „trừng trị“ Iraq. Lý do của Mỹ là Iraq không thỏa mãn các yêu cầu của thanh sát viên Liên hợp quốc về vũ khí giết người hàng loạt. Bất chấp sự phản đối của Pháp, Nga tại Hội đồng Bảo an, Mỹ và Anh vẫn đơn phương triển khai chiến dịch tấn công Iraq.
Tên lửa Mỹ trong chiến dịch „Cáo sa mạc“
Trong tháng 8/1998, dưới thời chính quyền Bill Clinton, Mỹ phóng hàng loạt tên lửa nhằm vào Sudan và Afghanistan để tiêu diệt các nhà máy dược phẩm của Sudan, nơi Mỹ „cho là“ đang sản xuất vũ khí hóa học, và tiêu diệt những phần tử khủng bố tại Afghanistan.
Còn những năm 1980, dưới thời chính quyền Ronald Reagan, Libya đã phải chịu những trận bom „càn quét“ của không lực Mỹ.
Có thể thấy, Mỹ luôn tự cho mình quyền can thiệp quy mô lớn vào công việc nội bộ của một nước có chủ quyền, sử dụng sức mạnh quân sự để chống lại các nước yếu mà bỏ qua sự đồng thuận của cộng đồng quốc tế.
Để biện minh cho hoạt động can thiệp, Mỹ và đồng minh cho rằng, trong trường hợp một quốc gia bị rơi vào nội chiến hoặc khi chính quyền sở tại áp bức người dân của chính nước họ thì các quốc gia khác không thể coi các nguyên tắc cơ bản của pháp lý quốc tế về tôn trọng chủ quyền và không can thiệp là bất khả xâm phạm. Với việc pháp điển hóa nhân quyền trong luật quốc tế, Mỹ đã đẩy khái niệm chủ quyền quốc gia xuống hàng thứ yếu. Để đảm bảo nhân quyền, theo họ, cần thiết phải giới hạn, thậm chí xâm phạm chủ quyền. Đây là những luận điểm một chiều của Mỹ, ảnh hưởng sâu sắc tới sự ổn định của các quốc gia có chủ quyền nói riêng, của nhiều khu vực trên thế giới nói chung./.
Bill Hayton – một ký giả, đồng thời là nhà nghiên cứu chính trị quốc tế tại viện Chatham House (London, Anh) vừa qua đã có một bài viết đăng tải trên trang Friendofeurope.org với tựa đề “Sự hiện diện của Trung Quốc ở Biển Đông có làm gia tăng căng thẳng với các nước láng giềng nhỏ?”. Nội dung của bài viết lên án hành vi vi phạm luật pháp quốc tế của Trung Quốc, cảnh báo về nguy cơ sụp đổ của luật pháp quốc tế nếu để Trung Quốc phá luật ở Biển Đông, đồng thời khuyến nghị EU cần phân biệt rõ việc bảo vệ chủ quyền chính đáng của các quốc gia ở Đông Nam Á với hành vi xâm phạm lãnh thổ của Trung Quốc để từ đó có chính sách phù hợp.
Chuyên gia Bill Hayton, Viện nghiên cứu Chatham, Vương quốc Anh
Trung Quốc muốn biến “không” thành “có”
Mở đầu bài viết, Bill Hayton chỉ dẫn các hành động và tuyên bố đầy tính bất chấp luật pháp quốc tế của Trung Quốc thời gian qua với mục đích đòi quyền khai thác chung, đòi phân chia tài nguyên biển với các láng giềng Đông Nam Á trong chính vùng đặc quyền kinh tế của họ.
Kể từ tháng 5/2019, Trung Quốc liên tục đưa tàu thăm dò và tàu bảo vệ xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế của các nước Đông Nam Á, quấy rối và cản trở các hoạt động khai thác dầu khí trên Biển Đông của các quốc gia này. Cùng với đó, Trung Quốc cố gắng tạo ra sức ép buộc Malaysia đồng ý khai thác chung trên biển. Các hành vi của Trung Quốc đã làm ảnh hưởng lớn đến hoạt động của các công ty đang hợp tác khai thác dầu khí như Shell (Anh/Hà Lan) và Repsol (Tây Ban Nha). Điều này còn đe dọa đến an ninh – kinh tế năng lượng của Việt Nam, Indonesia, Malaysia, Brunei và Philippines.
Trong Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN – Trung Quốc diễn ra tại Bangkok ngày 31/7/2019, Ngoại trưởng Vương Nghị tuyên bố rằng các vụ va chạm xảy ra tại vùng biển “tranh chấp” giữa Trung Quốc và các nước – trong khi thực tế đó là những xâm phạm của Trung Quốc vào vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam và Malaysia. Học giả Bill Hayton cho rằng, bằng cách đánh tráo khái niệm như vậy, ông Vương Nghị muốn đưa đến một kết luận: Trung Quốc cũng có những quyền tương tự Việt Nam hay Malaysia đối với các nguồn tài nguyên ở vùng biển vốn thuộc Vùng đặc quyền kinh tế của các nước đó.
Thế nhưng, ông Vương Nghị không thể đưa ra căn cứ cho các tuyên bố của mình. Ngày 18/9, khi được hỏi về những vụ đụng độ gần nhất, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Cảnh Sảng nói rằng, Trung Quốc có “quyền chủ quyền và quyền tài phán với các vùng biển liên quan”, nhưng lại không chỉ ra “liên quan” nghĩa là gì.
Sự vi phạm luật pháp quốc tế của Trung Quốc là quá rõ ràng
Chuyên gia Bill Hayton lập luận: “Trung Quốc và các nước láng giềng ở phía Nam đang trong một tranh chấp khu vực, nhưng ý nghĩa mang tầm quốc tế. Luật pháp quốc tế – nền tảng cho việc giữ gìn trật tự ổn định của thế giới đang bị đe dọa nghiêm trọng. Đó là việc các quốc gia có thể sẽ không còn tôn trọng các hiệp ước mà chính họ đã đặt bút ký vào.
Trung Quốc phê chuẩn Công ước Liên hợp quốc về Luật biển 1982 (UNCLOS) vào năm 1996 và chịu ràng buộc bởi các quy định trong đó. UNCLOS đã cụ thể hóa vấn đề chủ quyền biển bằng cách trao những đặc quyền quản lý cho các quốc gia ven biển trong phạm vi 200 hải lý (trong khoảng 400km) kể từ đường bờ biển của họ (gọi là Vùng đặc quyền kinh tế – EEZ).
Bờ biển của Trung Quốc nằm cách khu vực tranh chấp tới hơn 1000 km nhưng họ lại tuyên bố đó là vùng biển của mình. Họ đưa ra cách lập luận là khu vực này gần với quần đảo Trường Sa (vốn là của Việt Nam). Với cách lập luận này Trung Quốc cũng hoàn toàn sai bởi trong phán quyết tháng 7/2016, Tòa Trọng tài Quốc tế PCA đã tuyên bố rằng, không có thực thể nào ở quần đảo Trường Sa có thể xem là đảo hoàn chỉnh. Chúng quá nhỏ và không thể duy trì sự sống của con người trong một khoảng thời gian, vì vậy những thực thể này không thể tạo thành EEZ.
Chuyên gia Bill Hayton cho rằng, các luật lệ và thỏa thuận quốc tế là thành tố tối quan trọng đối với việc duy trì hòa bình trên toàn thế giới. Nếu tại một nơi nào đó, những trật tự này bị phá bỏ, đồng nghĩa với việc luật pháp quốc tế sẽ bị suy yếu đi trên toàn cầu. Nếu Trung Quốc tiếp tục xem thường UNCLOS, các nước khác có thể cũng sẽ quyết định phá vỡ tính tự kiềm chế mà luật lệ quốc tế đã tạo nên. Kết quả là luật pháp sẽ dần bị suy yếu và bất lực trước những vũ lực, đe dọa sức mạnh.
EU cần thể hiện vai trò bảo vẹ luật pháp quốc tế ở Biển Đông
Trước nguy cơ luật pháp quốc tế đang có nguy cơ bị xói mòn từ cách hành xử của Trung Quốc ở Biển Đông, Bill Hayton khuyến nghị EU cần có những động thái rõ ràng, quyết liệt.
Trước hết EU cần thể hiện rõ quan điểm ủng hộ chủ quyền của các quốc gia ven biển trong phạm vi EEZ đã được quy định trong UNCLOS, mà cụ thể là họ được làm chủ nguồn tài nguyên trong vùng EEZ của họ. EU cần phân biệt rõ sự khác nhau về bản chất giữa hành động vi phạm chủ quyền và hành động bảo vệ chủ quyền, để từ đó điều chỉnh chính sách cho phù hợp.
Dù vậy, theo Bill Hayton việc điều động các tàu hải quân đến tuần tra tại Biển Đông lúc này chưa phải là một hành động hợp lý. Thay vào đó, EU có nhiều cách để ủng hộ quyền của các quốc gia ven biển đối với EEZ của họ. EU có thể yêu cầu các công ty nhập khẩu hải sản, năng lượng và các nguồn tài nguyên biển khác vào EU phải chứng minh được nguồn gốc khai thác hợp pháp. EU cũng có thể trừng phạt các công ty và quan chức vi phạm EEZ của nước khác, đánh bắt cá, thăm dò và khai thác dầu khí ở đó.
Với hệ thống vệ tinh và viễn thám hiện đại, EU có thể thu thập thông tin cụ thể về những hành vi vi phạm chủ quyền ở Biển Đông. Đồng thời cung cấp các thông tin tình báo hỗ trợ cho lực lượng cảnh sát biển và ngư dân các quốc gia ven biển vì sự an toàn và tăng cường ý thức về lãnh hải trong các hoạt động của họ.
Ở một mức độ cao hơn, EU cũng có thể nghĩ đến việc triển khai các phương tiện để bảo vệ các quốc gia có EEZ. Khi một quốc gia ven biển thực thi hành động hợp pháp trong vùng EEZ hợp pháp của họ, EU có thể cử tàu hải quân quan sát và công bố các vi phạm và thậm chí có thể có hành động can thiệp hợp lý nếu xảy ra xung đột. Vào thời điểm này, EU chỉ nên sử dụng uy tín của mình như một định chế xây dựng luật pháp để khuyến khích các hành vi tốt và chỉ đích danh, có biện pháp trừng phạt những hành vi xấu trong các diễn biến ở Biển Đông.
Ngày 28/8/2019, Bộ ngoại giao Đức đã phát Tuyên bố chung của Pháp, Đức, Anh về “quan ngại về tình hình ở Biển Đông, vốn có thể dẫn đến mất an ninh và căng thẳng trong khu vực”. Nội dung của tuyên bố nêu rõ các bên ở Biển Đông cần “thực hiện những bước đi và biện pháp làm giảm căng thẳng, đóng góp vào việc duy trì và thúc đẩy hòa bình, an ninh ổn định, an toàn trong khu vực, bao gồm cả quyền của các nước ven biển trong vùng biển của họ cũng như quyền tự do hàng hải, hàng không ở Biển Đông”.
Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Ấn Độ Raveesh Kumar phát biểu trong một buổi họp báo ngày 29/8/2019 nêu rõ: “Biển Đông là một phần của lợi ích chung toàn cầu. Ấn Độ có những lợi ích liên quan tới hòa bình và ổn định tại khu vực”, đồng thời khẳng định Ấn Độ kiên quyết ủng hộ tự do hàng hải và đường biển, các hoạt động giao thương hợp pháp không bị cản trở trong vùng biển quốc tế theo luật quốc tế, đặc biệt là UNCLOS.
Tại phiên điều trần về chính sách của Mỹ tại khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương ngày 18/9/2019, Thượng nghị sĩ James Risch, Chủ tịch Ủy ban Đối ngoại Thượng viện Mỹ, cho rằng Mỹ phải hành động, đặc biệt trong bối cảnh Trung Quốc có các hành động gây hấn trong Vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Việt Nam./.