Schlagwort-Archiv:Tình báo

Cuộc cách mạng công nghệ đang diễn ra trong lĩnh vực tình báo

Trong suốt chiều dài lịch sử, con người vẫn luôn theo dõi lẫn nhau. Để tìm hiểu những gì người khác đang làm hoặc dự định làm, người ta giám sát, theo dõi và nghe trộm bằng cách sử dụng các công cụ và không ngừng cải tiến chúng, tuy vậy nó không bao giờ thay thế được con người.

Trí tuệ nhân tạo (AI) và các hệ thống tự động đang thay đổi tất cả những điều đó. Trong tương lai, máy móc sẽ theo dõi máy móc để biết máy móc khác đang làm gì hoặc dự định làm gì. Công việc tình báo vẫn sẽ bao gồm đánh cắp và bảo vệ bí mật, nhưng cách thức thu thập, phân tích và phổ biến những bí mật đó về cơ bản sẽ khác.

Các nhà tương lai học về quân sự cũng nhận ra một sự thay đổi lớn tương tự và một số người đã gọi sự trỗi dậy của Trí tuệ nhân tạo (AI) và các hệ thống vũ khí tự hành là một “cuộc cách mạng trong lĩnh vực quân sự”. Tương tự, đây cũngcó thể gọi là một “cuộc cách mạng trong lĩnh vực tình báo”. Thông qua cuộc cách mạng sắp tới, máy móc sẽ không chỉ là công cụ để thu thập và phân tích thông tin. Chúng sẽ có thể tự xử lý thông tin tình báo, tự ra quyết định và thậm chí nhắm mục tiêu tấn công vào các hoạt động tình báo của các hệ thống máy móc khác. Mối quan tâm cuối cùng của những cỗ máy này vẫn sẽ là các mối quan hệ chính trị, xã hội, kinh tế và quân sự của con người nhưng hoạt động tình báo do máy móc thực hiện sẽ hoạt động với một tốc độ, quy mô và độ phức tạp mà hoạt động tình báo do con người tự đảm nhiệm sẽ không thể nào sánh kịp. Cuộc cách mạng về tình báo mang tính tất yếu không thể đảo ngược. Quá trình đổi mới và cạnh tranh trong lĩnh vực công nghệ là động lực dẫn đến cuộc cách mạng trên phạm vi thế giới. Cộng đồng tình báo Hoa Kỳ cần phải đón nhận cuộc cách mạng và chuẩn bị cho một tương lai bị thống trị bởi AI, nếu không sẽ có nguy cơ mất đi lợi thế cạnh tranh.

Sự lên ngôi của hoạt động tình báo do máy móc đảm nhiệm

Các cuộc cách mạng không tự dưng mà có. Nguồn gốc của nó bắt nguồn từ thế kỷ 20, khi các công nghệ mới như viễn thông và máy tính ra đời khiến cho các kỹ thuật và phương pháp tình báo được nâng lên một tầm tinh vi mới. Con người vẫn là chủ thể của hoạt động tình báo nhưng thay vì tận mắt quan sát, nghe lén bằng chính đôi tai và phân tích, dự đoán bằng trí óc của mình, con người đã sử dụng các cảm biến và công cụ tính toán ngày càng mạnh mẽ để nâng cao khả năng của mình.

Trong 20 năm qua, xu hướng này đã tăng tốc, dẫn đến lượng dữ liệu sẵn có cho các cơ quan tình báo tăng lên nhanh chóng. Các loại cảm biến thương mại và những loại không phổ biến cho người dân như các chương trình tự động (bot) trên không gian mạng, máy bay không người lái tự hành hay những vệ tinh nhỏ trên không gian vũ trụ giờ đây tạo ra lượng thông tin nhiều đến nỗi vượt quá khả năng tự xử lý của con người. Vào năm 2017, Cơ quan Tình báo Không gian Địa lý Quốc gia Mỹ (NGA) dự đoán rằng lượng dữ liệu mà các nhà phân tích của họ phải xử lý sẽ tăng gấp một triệu lần trong vòng 5 năm. Quá nhiều dữ liệu được tạo ra trong một khoảng thời gian ngắn đã dẫn đến sự cạnh tranh khốc liệt để xử lý được tất cả chúng, đây chính là động lực thúc đẩy việc ứng dụng mô hình tự động hóa, phân tích dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo để xử lý dữ liệu. Áp lực để không bị bỏ lại phía sau là rất lớn: cơ quan tình báo của quốc gia nào có thể nhanh chóng xử lý một lượng lớn dữ liệu phức tạp sẽ có lợi thế hơn những quốc gia không làm được.

Sự chuyển đổi đồng thời sang các hệ thống tự hành và trí tuệ nhân tạo của quân đội các nước trên thế giới chỉ làm tăng thêm áp lực cạnh tranh: các cơ quan tình báo cần có khả năng xác định được và hỗ trợ cho các hệ thống chiến đấu tiên tiến. Hiện tại, quân đội Mỹ đang vận hành hơn 11.000 hệ thống bay không người lái và nhiều hệ thống dưới nước, trên mặt đất và cả trong không gian vũ trụ. Ngoài ra, các đơn vị an ninh mạng của Hoa Kỳ phải đối phó với hàng triệu chương trình tự động (bot) trên các mạng máy tính toàn cầu cũng như hàng tỷ thiết bị kết nối bằng công nghệ Internet vạn vật (IoT) hoạt động như các cảm biến thu thập dữ liệu. Những hệ thống đang ngày càng phát triển này cần có trí thông minh của riêng chúng để vận hành, có nghĩa là theo thời gian chúng sẽ trở thành bên tiếp nhận chính thông tin tình báo.

Hơn cả một cuộc cách mạng sẽ là sự chuyển đổi mục tiêu tình báo sang nhắm vào các hệ thống tự hành, nghĩa là khi máy móc bắt đầu theo dõi và đánh lừa các máy khác. Một kịch bản khả dĩ trong tương lai có thể liên quan đến một hệ thống trí tuệ nhân tạo có nhiệm vụ phân tích một câu hỏi cụ thể, chẳng hạn như liệu kẻ thù có đang chuẩn bị cho chiến tranh hay không. Hệ thống thứ hai do đối thủ vận hành có thể cố tình đưa ra dữ liệu gây nhiễu để làm giảm khả năng phân tích nhắm vào hệ thống thứ nhất. Hệ thống thứ nhất thậm chí có thể nhận biết được thủ đoạn này và loại bỏ dữ liệu sai lạc trong khi vẫn tỏ ra nó đang bị đánh lừa, từ đó đánh lừa lại hệ thống đã lừa nó. Loại lừa dối giữa gián điệp và gián điệp này luôn là một phần của hoạt động tình báo nhưng nó sẽ sớm xảy ra giữa các hệ thống máy móc tự hành hoàn toàn. Trong một vòng thông tin khép kín như vậy, hoạt động tình báo và hoạt động phản gián có thể diễn ra mà không cần sự can thiệp của con người.

Để hiểu được đâu là nguy cơ, hãy xem xét một trường hợp tương tự trong lĩnh vực tài chính. Các hệ thống giao dịch định lượng tốc độ cao (high-speed quantitative trading systems) sử dụng các thuật toán để phát hiện những thay đổi trên thị trường chứng khoán toàn cầu, phân tích lượng dữ liệu khổng lồ để đưa ra dự đoán và sau đó tự động thực hiện giao dịch chỉ trong vài micro giây. Con người không thể thực hiện việc này với lượng lớn dữ liệu trong thời gian nhanh như vậy. Để không bị tụt lại phía sau, ngay cả những công ty đầu tư lớn nhất cũng ngày càng phải dựa vào các hệ thống giao dịch định lượng trên máy tính. Để cạnh tranh với nhau, các cơ quan tình báo cũng sẽ ngày càng phải dựa nhiều hơn vào công nghệ trí tuệ nhân tạo và các hệ thống tự hành.

Cộng đồng tình báo thay đổi để thích ứng

Khi máy móc dần đóng vai trò chính trong việc thu thập, phân tích và xử lý thông tin cũng như trở thành đối tượng nhắm đến của các hoạt động tình báo, thì toàn bộ cộng đồng tình báo Hoa Kỳ sẽ cần phải phát triển để theo kịp sự thay đổi. Sự phát triển này phải bắt đầu với những khoản đầu tư khổng lồ vào lĩnh vực trí tuệ nhân tạo và công nghệ tự động hóa, bên cạnh đó là những thay đổi trong cách thức hoạt động cho phép các cơ quan có thể vừa xử lý lượng dữ liệu khổng lồ vừa chuyển trực tiếp kết quả xử lý đến các máy móc tự động. Vì trên thực tế, mọi thứ đều được kết nối thông qua các mạng máy tính và điều này tạo ra một số dạng dữ liệu hoặc tín hiệu điện từ nên lĩnh vực tình báo tín hiệu (signals intelligence) cần phải là trung tâm trong sự phát triển của công nghệ trí tuệ nhân tạo. Và lĩnh vực tình báo về dữ liệu không gian địa lý (geospatial intelligence -GEOINT) cũng vậy. Khi vệ tinh và các loại cảm biến xuất hiện ngày càng dày đặc, mọi thứ trên trái đất sẽ sớm bị theo dõi liên tục từ trên cao, một trạng thái mà Trung tâm nghiên cứu và phát triển hàng không vũ trụ liên bang Mỹ đã gọi là “Trạng thái độc nhất GEOINT” (GEOINT Singularity). Để có thể xử lý lượng dữ liệu đang được tạo ra, lĩnh vực tình báo về dữ liệu không gian địa lý cũng như tình báo tín hiệu sẽ cần phải cải tiến nhanh chóng năng lực trí tuệ nhân tạo của mình.

Cộng đồng tình báo Hoa Kỳ hiện được chia theo các chức năng khác nhau, thu thập và phân tích các loại thông tin tình báo rời rạc, chẳng hạn như thông tin dạng tín hiệu hoặc thông tin về không gian địa lý. Cuộc cách mạng về tình báo có thể sẽ buộc cộng đồng tình báo phải xem xét lại liệu việc phân chia như vậy có còn hợp lý hay không. Thông tin điện từ vẫn sẽ là thông tin điện từ cho dù nó đến từ một vệ tinh hay một thiết bị sử dụng công nghệ Internet vạn vật (IoT). Sự khác biệt về nguồn gốc không mấy quan trọng nếu không ai nghiên cứu dữ liệu thô và một hệ thống trí tuệ nhân tạo có thể phát hiện ra các mẫu hình của tất cả dữ liệu ngay lập tức. Tương tự, sự phân chia giữa tình báo dân sự và tình báo quân sự cũng sẽ bị xóa mờ vì cơ sở hạ tầng dân sự, chẳng hạn như các hệ thống viễn thông, vẫn có thể được sử dụng như hệ thống thông tin liên lạc trong quân sự. Với những thực tế này, việc tách biệt các chức năng tình báo có thể cản trở hơn là hỗ trợ các hoạt động tình báo.

Cuộc cách mạng về tình báo cũng có thể đặt ra nhu cầu thành lập các tổ chức mới. Nếu như bản thân con người từng đóng vai trò chính trong hoạt động tình báo thì sự khác biệt đó giờ đây thuộc về thiết bị chẳng hạn như một phần mềm, một cảm biến hay một máy bay không người lái tự hành. Các hoạt động tình báo sẽ ngày càng tập trung vào những thiết bị này, nghĩa là không chỉ theo dõi bản thân thiết bị mà còn theo dõi các nhà thiết kế, nhà phát triển và chuỗi cung ứng sản xuất ra chúng. Trong tương lai gần, việc hiểu biết về trí tuệ nhân tạo, công nghệ tự hành, các chuỗi cung ứng và vốn đầu tư mạo hiểm sẽ quan trọng như việc hiểu về hệ tư tưởng chính thống của Hồi giáo trong quá khứ. Hoa Kỳ có thể cần các tổ chức mới để nghiên cứu những lĩnh vực này. Ở mức tối thiểu, Hoa Kỳ sẽ cần phải mở rộng các đơn vị tình báo kinh tế và công nghệ hiện có giống như đã từng mở rộng các đơn vị chống khủng bố sau vụ 11/9.

Khi cộng đồng tình báo Hoa Kỳ phát triển để theo kịp cuộc cách mạng, việc cần làm song song là phải hạn chế khả năng phát triển của các đối thủ, cụ thể là làm chậm và ngăn chặn đối thủ đạt được năng lực làm chủ hệ thống tình báo vận hành bởi máy móc. Việc cản trở quá trình thiết kế và phát triển các hệ thống tự hành cũng như công nghệ trí tuệ nhân tạo của đối thủ sẽ ngày càng trở nên quan trọng. Hành động này sẽ phải được tiến hành bí mật, một số việc sẽ do máy móc đảm nhận. Ví dụ: Hoa Kỳ có thể đưa dữ liệu sai lạc vào hệ thống máy học của đối thủ để đánh lừa hoặc ngăn chặn hệ thống AI của đối thủ trở nên mạnh mẽ hơn.

Nhưng cũng giống như Hoa Kỳ sẽ nhắm mục tiêu vào AI và các hệ thống tự hành của đối thủ, cơ quan tình báo của đối thủ cũng sẽ nhắm mục tiêu vào các hệ thống của Hoa Kỳ. Do đó, Hoa Kỳ sẽ cần phải xây dựng các hệ thống phòng thủ mới và áp dụng những hình thức phản gián mới. Để cạnh tranh, các nhân viên phản gián ngoài con mắt biết phát hiện thủ đoạn của đối phương như từ trước tới giờ còn cần có chuyên môn về kinh tế và kỹ thuật hơn bao giờ hết. Nói chung, cuộc cách mạng sẽ làm thay đổi mọi cấp độ tổ chức của hoạt động tình báo bao gồm các cơ quan phụ trách, việc huấn luyện, công nghệ, cách thức vận hành và hoạt động phản gián.

Cuộc cách mạng xuất phát từ con người

Con người có thể không còn đóng vai trò chủ đạo trong việc thu thập và phân tích thông tin tình báo nhưng mục tiêu cuối cùng của nó vẫn là tìm hiểu các chính phủ, xã hội và quân đội do con người lãnh đạo. Hơn nữa, con người sẽ mang lại sự sáng tạo, sự đồng cảm, hiểu biết và tư duy chiến lược cho hoạt động tình báo mà máy móc khó có thể sánh kịp trong tương lai gần. Do đó, trưởng các bộ phận, nhân viên quản lý mạng lưới tình báo và nhà phân tích dữ liệu vẫn sẽ có những vai trò quan trọng trong tương lai, tuy vậy bản chất công việc của họ có thể thay đổi.

Cuộc cách mạng đang diễn ra và cộng đồng tình báo cần phải chấp nhận và thích ứng với nó. Việc không thích ứng trước sự thay đổi đã từng gây ra thảm họa trong quá khứ. Ví dụ như khi Hải quân Hoa Kỳ không chịu thay thế thiết giáp hạm bằng tàu sân bay thời điểm trước Thế chiến II. Các thủy thủ dẫn dắt Hải quân đã không nắm bắt được những tiến bộ lớn trong sức mạnh không quân, thứ đã cho phép Nhật Bản mở cuộc tấn công tàn khốc vào Trân Châu Cảng. Tương tự, cộng đồng tình báo chủ yếu do các nhân viên tình báo điều hành, họ không phải lúc nào cũng có thể nhìn thấy (hoặc chấp nhận) xu hướng tất yếu của hoạt động tình báo do máy đảm nhận. Các cơ quan tình báo phải phá bỏ các rào cản văn hóa, đầu tư vào công nghệ và dành toàn bộ nguồn lực cho hoạt động tình báo sử dụng trí tuệ nhân tạo và tự động hóa. Nếu Hoa Kỳ không chịu thay đổi, có nguy cơ Trung Quốc hoặc các đối thủ khác sẽ đạt được lợi thế về mặt công nghệ mà Washington sẽ không thể vượt qua.

BDN

Loading

Views: 0

TQ hoạt động tình báo như thế nào? (Kỳ 1)

Đối với nghề gián điệp thì các phương thức, thủ đoạn hoạt động của các cơ quan tình báo Trung Quốc chẳng có gì mới mẻ. Tuy nhiên, Trung Quốc đã vận dụng các kiểu mẫu này một cách độc đáo. 

Để thu thập tin tức tình báo, Bộ An ninh Quốc gia tuyển dụng một số lượng các công dân Trung Quốc sống ở nước ngoài hoặc đi ra nước ngoài. Các quan chức phản gián cao cấp Mỹ đã so sánh kỹ thuật tình báo kinh điển của Liên Xô thấy rằng nước này sử dụng rất ít người để thu thập tin tức, còn với Trung Quốc thì lại khác. Phương thức hoạt động của Trung Quốc đặt ra khá nhiều vấn đề cho các cơ quan hành pháp Mỹ.

Harry Godfey III, Giám đốc cơ quan phản gián FBI Mỹ nói: “Bạn thấy đấy, với các mục tiêu nhắm tới, họ đã kiếm chác thu lượm một cách riêng rẽ, gặm nhấm dần dần lúc này, lúc khác và bạn không có chứng cứ rõ ràng để nói rằng chúng ta phải tố cáo những vụ gián điệp này.“

Hầu hết các hoạt động thu thập tin tức của Trung Quốc không có gì tinh vi, phức tạp, nhưng những yếu điểm này đã được bù đắp bằng số lượng đông đảo của các điệp viên. Để tiến hành các hoạt động gián điệp tại Hoa Kỳ, Bộ An ninh Quốc gia Trung Quốc đã ném vào chiến trường này:

– 1.500 các nhà ngoại giao và cán bộ thương vụ.

– 70 cơ sở văn phòng của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa.

– 15.000 sinh viên Trung Quốc tới Mỹ hàng năm.

– 10.000 khách du lịch trong 2.700 đoàn hàng năm.

– Một cộng đồng người Hoa đông đảo.

Trong những năm gần đây, các hoạt động thu thập tin tức bí mật của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa ở Hoa Kỳ đạt được một số cao điểm là khoảng 50% số vụ chuyển giao kỹ thuật, công nghệ kiểm tra hàng năm ở bờ biển phía Tây có liên quan tới Trung Quốc. Con số này rất có ý nghĩa khi kiểm tra những sổ sách thống kê của đơn vị tăng cường kiểm tra xuất khẩu, thuộc Vụ Bảo vệ nội vụ, Bộ Tư pháp và được xuất bản trong cuốn “Những trường hợp kiểm tra xuất khẩu đáng lưu ý” từ 1-1981 đến 5-1992.

Những con số thống kê của cuốn sách này đã chỉ ra rằng chỉ 6% của 272 trường hợp đáng chú ý có liên quan tới Trung Quốc và 62,5% của các trường hợp này xảy ra ở bờ biển phía Tây. Hơn nữa, 13,4% những vụ đã xảy ra được liệt kê trong cuốn “Những trường hợp cưỡng chế xuất khẩu”, từ cuối tháng 1/1986 đến 31/3/1993 đều có liên quan đến Cộng hòa nhân dân Trung Hoa.

Phần lớn những cố gắng của gián điệp Trung Quốc tại các nước công nghiệp phát triển là nhằm vào việc lấy trộm kỹ thuật loại trung bình mà các nước này chưa cho phép xuất khẩu. Song những thứ mà tình báo Trung Quốc tìm kiếm được một cách bất hợp pháp này đã ít được các cơ quan bảo vệ luật pháp và tòa án (như Cơ quan công tố cũng như Tòa án bang và liên bang) chú ý bằng các vụ mất cắp công nghệ quốc gia. Do đó các hoạt động thu thập tình báo công nghệ – kỹ thuật của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đã diễn ra tương đối suôn sẻ, ít gặp cản trở.

Qua việc phân tích trên máy điện toán các hoạt vụ đánh cắp công nghệ đã bị vạch trần trên đất Mỹ khiến ta nhận ra 3 kiểu hoạt động cơ bản của họ.

Thứ nhất: Người cộng tác được tuyển chọn ngay tại Trung Quốc yêu cầu người này giành lấy kỹ thuật công nghệ trong mục tiêu khi ra nước ngoài.

Thứ hai: Các công ty nhà nước Trung Quốc mua thẳng của các công ty Mỹ những loại kỹ thuật công nghệ mà Trung Quốc đang tìm kiếm. Trong làng tình báo người ta gọi kiểu này là hành động táo bạo và liều lĩnh.

Thứ ba: Đây là kiểu hoạt động phổ biến nhất. Trang thiết bị kỹ thuật cao cấp được các điệp viên mua thẳng ở Hongkong.

Phương pháp hữu hiệu nhất của Trung Quốc trong việc tìm kiếm công nghệ tiên tiến của nước ngoài là gửi các nhà khoa học đi ra nước ngoài theo các chương trình trao đổi kỹ thuật. Mỗi năm có hàng ngàn công dân Trung Quốc đến Mỹ để buôn bán, hợp tác khoa học và những chuyện tương tự. Thủ tục khai thác tình báo công khai là để những người đi về khai báo tình hình để xem liệu có tin tức gì hữu ích qua quá trình quan sát hay không.

Song Bộ An ninh quốc gia cũng như cơ quan tình báo quân sự đã khai thác mạnh hơn qua những cơ hội này bằng cách tuyển mộ một số trong những người ra đi để thực hiện những hoạt vụ đặc biệt cho họ. Thường thì những người ra đi được giao nhiệm vụ thư từ hoặc thu thập tin tức.

Phương pháp thu tin bí mật này trở nên công khai tại Hoa Kỳ vào ngày 29/9/1988 này Cộng hòa nhân dân Trung Hoa cho nổ quả bom hạt nhân đầu tiên của mình. Theo điều tra của FBI sau đó cho biết, công nghệ dùng để chế tạo thiết bị này không phải của Trung Quốc mà kiếm từ phòng thí nghiệm quốc gia Lawrence Livermore ở Livemore, California.

Vào những năm giữa thập kỷ 80, việc bảo vệ phòng thí nghiệm này khá sao nhãng, lỏng lẻo khi mà có khá nhiều đoàn – trong đó có cả đoàn được gọi là các nhà khoa học Trung Quốc – tới thăm mà không có việc kiểm tra theo dõi thỏa đáng. Bản điều trần của FBI đã khẳng định có mấy nhà khoa học Trung Quốc hoặc có quan hệ chặt chẽ với Bộ An ninh quốc gia, hoặc chính họ là các sỹ quan tình báo. Bộ An ninh quốc gia rất dễ dàng tuyển dụng điệp viên tại Lawrence Livermore trong thời gian đến thăm nơi này.

Quá trình thu tin qua các chuyến đi của các nhà khoa học hoặc các nhà thương mại chính là phương thức gián điệp cấp thấp. Song qua vụ Lawrence Livermore cho thấy phương thức này cũng rất hữu hiệu nên làm kiểu khác khó lòng thắng lợi. Hơn nữa, sự hiện diện của các sỹ quan tình báo trong các chương trình trao đổi khoa học kỹ thuật còn có nhiều mục đích khác nữa.

1/ Thu thập xác minh tiểu sử một người nào đó được coi là cần cho thu tin tình báo và người này sẽ là mục tiêu tuyển chọn.

2/ Thu thập tin tức về chính phủ nước nhà, cũng như về kế hoạch trang thiết bị công nghiệp nước này.

3/ Kiểm tra, giám sát hoạt động của Hoa Kiều trong công tác đảm bảo an ninh, cũng như sự quan tâm, theo dõi của cơ quan phản gián.

Sự khác biệt giữa sỹ quan tình báo chuyên nghiệp và cộng tác viên thường dễ nhận ra. Những sỹ quan tình báo thường kém hiểu biết về kỹ thuật trong mục tiêu tìm kiếm, trong khi một cộng tác viên lại chẳng có mấy kỹ xảo thu thập tin tức bí mật.

Ví dụ, tại một hội chợ thương mại ở Paris, những tình báo viên quân sự đã theo dõi các đoàn viên của một phái đoàn các nhà khoa học Trung Quốc đang thận trọng nhúng những ca-vát của họ vào một bình dựng dung dịch rửa ảnh do hãng AGFA Đức sản xuất. Mục tiêu của hoạt động gián điệp vụng về này là sau đó các nhà phân tích tình báo nhận được mẫu vật về thuốc rửa ảnh.

Các hoạt động tình báo kỹ thuật bằng việc gửi các đoàn khoa học và thương mại ra ngoài là không hạn chế. Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đã tìm cách để mua kỹ thuật cao, công nghệ tiên tiến của các công ty Hoa Kỳ, trong khi những thứ này không được phép chuyển nhượng ra ngoài.

Tháng 2-1990, với lý do bảo vệ an ninh quốc gia, Hoa Kỳ đã thông báo cho các công ty xuất nhập khẩu kỹ thuật hàng không Trung Hoa (CATIC) phải tách khỏi công ty cổ phần chế tạo máy Mamco, một công ty sản xuất linh kiện máy bay ở Seattle.

Chính quyền Bush đã giải thích công khai rằng CATIC đã có một “lịch sử hiềm nghi”, đã tìm kiếm công nghệ hàng không để cung cấp cho lực lượng không quân quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc những khả năng tiếp dầu trên không. Các nhà chức trách bị bối rối hơn khi nghĩ rằng công ty xuất nhập khẩu kỹ thuật hàng không Trung Hoa đã sử dụng Mamco như một đội xung kích để thâm nhập vào lĩnh vực công nghệ bảo mật nhiều triển vọng hơn.

Không thể gắn thẳng việc mua hàng của Mamco với Bộ An ninh quốc gia khi mà hoạt động của cơ quan này đặt trên cơ sở những nguồn tin đã được công bố. Tuy nhiên, cơ quan tình báo Trung Quốc đã xác định rằng, những ưu tiên trên trong việc thu tin là nhằm đáp ứng những nhu cầu đặc biệt của chính phủ và của giới quân sự. Để tránh phải có những cố gắng gấp bội, họ phải thường xuyên nắm vững những hoạt động thu thập tin tức đang diễn ra.

Vì vậy, sẽ là điều không thể hiểu được nếu có chuyện mua kỹ thuật – công nghệ cao của công ty nước ngoài với quy mô hoạt động rộng lớn, với những tiềm năng tình báo quan trọng mà lại không có sự hiểu biết và chấp thuận của Bộ An ninh quốc gia.

Điều cần thiết là phải tiến hành nghiên cứu lịch sử của công ty và những tiềm năng có thể cung cấp được những nguồn tin quý giá mà không thể kiếm được từ các nơi khác.

( Còn tiếp)

BDN

Loading

Views: 0