Cuộc tập trận quy mô mới nhất của Trung Quốc trên Biển Hoa Đông được cho là nhằm gửi thông điệp tới những „phần tử ly khai“ tại Đài Loan.
Quân đội Trung Quốc hôm nay bắt đầu cuộc diễn tập bắn đạn thật dài 6 ngày tại một khu vực có kích thước tương đương đảo Đài Loan, kéo dài từ cảng Chu San đến cảng Ôn Châu ngoài khơi bờ biển tỉnh Chiết Giang. Các tàu thuyền không liên quan bị cấm đi vào khu vực, theo Japan Times.
Tờ Global Times, ấn phẩm phụ của People’s Daily, cơ quan ngôn luận của đảng Cộng sản Trung Quốc, cho biết cuộc tập trận được thực hiện nhằm gửi thông điệp răn đe tới „các phần tử ly khai“ Đài Loan, bao gồm các bài tập phối hợp tác chiến phức tạp mô phỏng sát điều kiện thực chiến.
Cơ quan Phòng vệ Đài Loan tuyên bố đang theo dõi sát mọi động thái của quân đội Trung Quốc, đồng thời khẳng định đây chỉ là đợt tập trận thường niên không đe dọa đến an ninh của hòn đảo này.
Trung Quốc vài tháng qua liên tục tiến hành tập trận không quân và hải quân ở khu vực quanh đảo Đài Loan, với sự tham gia của các khí tài hiện đại nhất trong biên chế như tiêm kích đa năng Su-35S, máy bay tàng hình J-20, oanh tạc cơ chiến lược H-6K và tàu sân bay Liêu Ninh.
Đáp lại, hải quân Mỹ hồi đầu tháng điều hai tàu khu trục USS Mustin và USS Benfold di chuyển qua eo biển Đài Loan, động thái thể hiện sự ủng hộ với hòn đảo.
Trung Quốc luôn coi Đài Loan là một phần lãnh thổ chờ thống nhất, kể cả bằng vũ lực nếu cần thiết. Quan hệ hai bờ eo biển trở nên nguội lạnh kể từ khi nhà lãnh đạo Thái Anh Văn, người không công nhận chính sách „Một Trung Quốc“, lên nắm quyền hồi giữa năm 2016.
Căng thẳng gia tăng sau khi Tổng thống Mỹ Donald Trump ký thông qua „Đạo luật thăm Đài Loan“, khuyến khích chính quyền Mỹ cử quan chức cấp cao tới Đài Loan và ngược lại, khiến Bắc Kinh giận dữ.
Sự tập trung vào Trung Quốc và Nga trong việc lập kế hoạch quân sự của Mỹ phản ánh cách mà các quan chức quân sự hàng đầu hiện đang đánh giá lại cán cân chiến lược toàn cầu, một tiến trình đã bắt đầu từ rất lâu trước khi Donald Trump bước vào Nhà Trắng.
Nếu bạn cho rằng „cuộc chiến chống khủng bố toàn cầu“ là sự vươn xa đáng kể nhưng quá sức đối với một cường quốc duy nhất, hãy khoan.
Hãy nghĩ về nó như là kế hoạch quân sự quan trọng nhất trên Trái Đất ngay lúc này.
Ai còn để ý tới nó nữa, khi xét đến sự thay đổi không ngừng của người bảo vệ ở Nhà Trắng, cũng như những thông tin mới nhất dưới dạng những dòng tweet, những tiết lộ liên quan đến tình dục, và các cuộc điều tra dưới mọi hình thức? Tuy vậy, nhờ có việc lập kế hoạch hiện tại của Lầu Năm Góc, ngày càng có vẻ như Chiến tranh Lạnh phiên bản thế kỷ XXI (với những điểm lắt léo mới đầy nguy hiểm) đã bắt đầu và thậm chí hầu như chẳng ai nhận thấy.
Năm 2006, khi Bộ Quốc phòng Mỹ làm rõ vai trò an ninh của họ trong tương lai, cơ quan này chỉ nhận thấy 1 sứ mệnh quan trọng hơn cả: „cuộc chiến trường kỳ“ của nó chống lại chủ nghĩa khủng bố quốc tế. Năm đó, bản Đánh giá quốc phòng 4 năm một lần của Lầu Năm Góc đã giải thích: „Với các đồng minh và đối tác của mình, Mỹ phải chuẩn bị sẵn sàng tiến hành cuộc chiến tranh này ở nhiều địa điểm cùng một lúc và trong một vài năm tới“.
12 năm sau, Lầu Năm Góc đã chính thức tuyên bố rằng cuộc chiến trường kỳ đó đang dần khép lại – mặc dù ít nhất 7 cuộc xung đột chống nổi dậy vẫn đang hoành hành trên khắp Đại Trung Đông và châu Phi – và một cuộc chiến trường kỳ mới đã bắt đầu, một chiến dịch lâu dài nhằm kiềm chế Trung Quốc và Nga ở khu vực Á-Âu.
David Norquist, quan chức phụ trách tài chính của Lầu Năm Góc, đã khẳng định rằng „sự cạnh tranh nước lớn, chứ không phải chủ nghĩa khủng bố, đã nổi lên như thách thức trung tâm đối với an ninh và sự thịnh vượng của Mỹ“ khi công bố đề xuất ngân sách trị giá 686 tỷ USD của Lầu Năm Góc vào tháng 1/2018. „Điều ngày càng trở nên rõ ràng là Trung Quốc và Nga muốn định hình một thế giới nhất quán với các giá trị mang tính chuyên chế của họ, và trong lúc làm điều đó, thay thế trật tự tự do và cởi mở mà đã cho phép có được an ninh và sự thịnh vượng trên toàn cầu kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai“.
Đương nhiên, việc Tổng thống Trump tận tụy đến mức nào với việc bảo vệ „trật tự tự do và cởi mở“ đó vẫn còn mơ hồ, khi xét đến quyết tâm của ông phá vỡ các hiệp ước quốc tế và làm dấy lên một cuộc chiến thương mại toàn cầu. Tương tự, việc liệu Trung Quốc và Nga có thực sự tìm cách làm suy yếu trật tự thế giới hiện tại hay không, hay đơn giản chỉ làm cho nó bớt xoay quanh Mỹ là một câu hỏi đáng nhận được sự chú ý sát sao, chỉ là không phải vào lúc này.
Lý do là tương đối đơn giản. Tiêu đề ấn tượng mà bạn lẽ ra đã nhìn thấy trên bất kỳ tờ báo nào (nhưng chưa từng nhìn thấy) là: Quân đội Mỹ đã đưa ra quyết định về tương lai. Lực lượng này đã tự ràng buộc mình và nước Mỹ với một cuộc đấu tranh địa chính trị trên 3 mặt trận nhằm chống lại những bước tiến của Trung Quốc và Nga ở châu Á, châu Âu và Trung Đông.
Tuy sự thay đổi chiến lược này là quan trọng, nhưng người ta sẽ không nghe nói về nó từ phía tổng thống, một người thiếu khả năng tập trung cần thiết cho tư duy chiến lược tầm xa như vậy và coi Vladimir Putin của Nga và Tập Cận Bình của Trung Quốc là „vừa bạn, vừa thù“ thay vì là các đối thủ ngoan cố. Để đánh giá đầy đủ những thay đổi quan trọng đang diễn ra trong việc lập kế hoạch quân sự của Mỹ, cần phải thâm nhập sâu vào thế giới „Kinh Thánh“ của Lầu Năm Góc: các tài liệu ngân sách và các „tuyên bố về tư thế“ hàng năm của các chỉ huy khu vực vốn đã và đang giám sát việc thực hiện chiến lược 3 mặt trận vừa được hình thành này.
Thế cờ địa chính trị mới
Sự chú trọng tiếp tục này vào Trung Quốc và Nga trong việc lập kế hoạch quân sự của Mỹ phản ánh cách mà các quan chức quân sự hàng đầu hiện đang đánh giá lại cán cân chiến lược toàn cầu, một tiến trình đã bắt đầu từ rất lâu trước khi Donald Trump bước vào Nhà Trắng. Mặc dù sau vụ 11/9, các chỉ huy cấp cao đã hoàn toàn chấp nhận cách tiếp cận „cuộc chiến trường kỳ chống khủng bố“ tới thế giới, nhưng lòng nhiệt tình của họ đối với các chiến dịch chống khủng bố vốn không có hồi kết, về cơ bản không đi đến đâu, ở những nơi xa xôi và đôi khi không quan trọng về mặt chiến lược thì đã bắt đầu suy giảm trong những năm gần đây khi họ chứng kiến Trung Quốc và Nga hiện đại hóa các lực lượng quân đội của mình và sử dụng chúng để đe dọa các nước láng giềng.
Mặc dù cuộc chiến trường kỳ chống khủng bố đã kích động một sự mở rộng trên quy mô lớn và đang tiếp diễn của Lực lượng đặc nhiệm (SOF) của Lầu Năm Góc – giờ đây là một đội quân bí mật với 70.000 người được bao bọc bên trong bộ máy quân sự lớn hơn – nhưng điều đáng ngạc nhiên là nó hầu như không đem lại mục tiêu hay công việc thực sự nào cho các đơn vị „hạng nặng“ của quân đội: lữ đoàn xe tăng của Lục quân, các nhóm tàu chiến sân bay của Hải quân, phi đội máy bay ném bom của Không quân… Phải thừa nhận rằng Không quân nói riêng đã đóng vai trò hỗ trợ chủ yếu trong các chiến dịch gần đây ở Iraq và Syria, nhưng ở đó và những nơi khác, quân đội chính quy phần lớn đã bị các lực lượng SOF trang bị sơ sài và các máy bay không người lái gạt ra ngoài lề.
Cho đến gần đây, việc lên kế hoạch cho một „cuộc chiến thực sự“ chống lại một „đối thủ ngang hàng“ (một đối thủ với các lực lượng và vũ khí tương tự như của Mỹ) được ưu tiên ở mức thấp hơn nhiều so với các cuộc xung đột không có hồi kết trên khắp Đại Trung Đông và châu Phi. Điều này đã gây lo lắng và thậm chí gây tức giận cho lực lượng quân đội chính quy, mà dường như thời khắc của họ cuối cùng đã tới.
Bản Chiến lược Quốc phòng mới của Lầu Năm Góc tuyên bố: „Hiện nay, chúng ta đang nổi lên từ một giai đoạn của sự hao mòn chiến lược, nhận thức được rằng lợi thế quân sự cạnh tranh của chúng ta đang bị xói mòn. Chúng ta đang phải đối mặt với sự hỗn loạn toàn cầu gia tăng, có đặc trưng là sự suy giảm trong trật tự quốc tế dựa trên các quy tắc lâu đời“ – một sự suy giảm mà lần đầu tiên không được chính thức quy cho al-Qaeda và tổ chức Nhà nước Hồi giáo (IS), mà cho hành vi hung hăng của Trung Quốc và Nga. Iran và Triều Tiên cũng được xác định là các mối đe dọa chủ yếu, nhưng có bản chất thứ cấp rõ rệt so với mối đe dọa mà 2 cường quốc cạnh tranh nói trên đặt ra.
Điều không đủ gây ngạc nhiên là sự thay đổi này sẽ không chỉ đòi hỏi chi tiêu nhiều hơn cho các vũ khí quân dụng hạng nặng công nghệ cao tốn kém, mà còn đòi hỏi phác thảo lại bản đồ chiến lược toàn cầu để ưu tiên cho lực lượng quân đội chính quy. Trong cuộc chiến trường kỳ chống khủng bố, địa lý và các ranh giới dường như kém quan trọng hơn, khi xét đến việc các phần tử khủng bố nhỏ dường như có khả năng hoạt động ở bất kỳ đâu mà ở đó trật tự bị suy yếu. Tin chắc rằng mình cũng phải linh hoạt như vậy, quân đội Mỹ đã chuẩn bị sẵn sàng để triển khai (thường là các lực lượng đặc nhiệm) tới các chiến trường xa xôi trên khắp hành tinh mà không màng đến biên giới.
Tuy nhiên, trên bản đồ địa chính trị mới, Mỹ phải đối mặt với các đối thủ được vũ trang tốt với mục đích cao nhất là bảo vệ đường biên giới của họ, do vậy các lực lượng Mỹ giờ đây đang được bố trí dọc theo một phiên bản được cập nhật của ranh giới đối đầu 3 mặt trận cũ kỹ và quen thuộc hơn.
Ở châu Á, Mỹ và các đồng minh then chốt của nước này (Hàn Quốc, Nhật Bản, Philippines và Úc) sẽ phải đối mặt với Trung Quốc qua một đường ranh giới kéo dài từ bán đảo Triều Tiên đến vùng biển Hoa Đông và Biển Đông và Ấn Độ Dương. Tương tự, ở châu Âu, Mỹ và các đồng minh NATO của nước này sẽ phải đối mặt với Nga trên một mặt trận kéo dài từ bán đảo Scandinavia và các nước cộng hòa Baltic về phía Nam tới Romania và sau đó về phía Đông vượt Biển Đen sang vùng Caucasus. Nằm giữa 2 chiến trường tranh chấp là khu vực Đại Trung Đông luôn rối loạn, với Mỹ và 2 đồng minh quan trọng của nước này ở đó là Israel và Saudi Arabia, đối mặt với thành trì của Nga ở Syria và một Iran ngày càng quyết đoán và đang xích lại gần hơn với Trung Quốc và Nga.
Theo quan điểm của Lầu Năm Góc, đây sẽ là bản đồ chiến lược toàn cầu mang tính xác định trong tương lai có thể đoán trước. Hãy trông đợi hầu hết các khoản đầu tư và sáng kiến quân sự chủ yếu sắp tới tập trung vào việc tăng cường sức mạnh hải quân, không quân và lục quân Mỹ ở phía bên này của đường ranh giới, cũng như vào việc nhắm mục tiêu vào những điểm dễ bị tổn thương của Trung Quốc và Nga ở phía bên kia.
Để đánh giá đúng động lực của quan điểm chiến lược thay đổi này, không có cách nào tốt hơn là tìm hiểu các „buổi điều trần về lĩnh vực mình phụ trách“ hàng năm của những người đứng đầu các „bộ chỉ huy chiến đấu hợp nhất“ của Lầu Năm Góc, hay các tổng hành dinh của Lục quân/Hải quân/Không quân/Thủy quân lục chiến kết hợp, bao quát các vùng lãnh thổ xung quanh Trung Quốc và Nga: Bộ chỉ huy Thái Bình Dương (PACOM) chịu trách nhiệm đối với toàn bộ lực lượng của Mỹ ở châu Á; Bộ chỉ huy châu Âu (EUCOM) kiểm soát các lực lượng Mỹ từ Scandinavia đến Caucasus; và Bộ chỉ huy trung tâm (CENTCOM) giám sát Trung Đông và Trung Á, nơi mà rất nhiều cuộc chiến chống khủng bố của nước này vẫn đang được tiến hành.
Chỉ huy cấp cao của các siêu tổ chức này là những quan chức quyền lực nhất của Mỹ trong „khu vực thuộc trách nhiệm“ (AOR) của họ, có tầm ảnh hưởng lớn hơn nhiều so với bất kỳ đại sứ Mỹ nào được bố trí ở khu vực (và thường là cả những người đứng đầu đất nước ở địa phương). Điều đó khiến cho các tuyên bố của họ và danh sách mua sắm vũ khí luôn đi cùng với họ mang tầm quan trọng thực sự đối với bất kỳ ai muốn nắm bắt được tầm nhìn của Lầu Năm Góc về tương lai quân sự toàn cầu của Mỹ.
Mặt trận Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương
Chỉ huy PACOM là Đô đốc Harry Harris Jr., một phi công hải quân kỳ cựu. Trong buổi điều trần về lĩnh vực mình phụ trách hàng năm, được trình bày trước Ủy ban quân vụ thượng viện Mỹ vào ngày 15/3, Harris đã vẽ nên một bức tranh ảm đạm về lập trường chiến lược của Mỹ ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương.
Ông lập luận rằng ngoài những mối nguy hiểm mà một Triều Tiên được vũ trang hạt nhân gây ra, Trung Quốc cũng đang nổi lên như một mối đe dọa đáng gờm đối với các lợi ích sống còn của Mỹ. Ông khẳng định: „Sự tiến triển nhanh chóng của Quân giải phóng nhân dân (PLA) trở thành một lực lượng chiến đấu hiện đại với công nghệ cao tiếp tục vừa gây ấn tượng vừa gây lo ngại. Các khả năng của PLA đang tiến triển nhanh hơn bất kỳ nước nào khác trên thế giới, hưởng lợi từ việc được trang bị và ưu tiên mạnh mẽ“.
Theo quan điểm của ông, mối đe dọa lớn nhất là sự tiến bộ của Trung Quốc trong việc phát triển các tên lửa đạn đạo tầm trung (IRBM) và các tàu chiến tiên tiến. Ông giải thích rằng các tên lửa như vậy có thể tấn công các căn cứ của Mỹ ở Nhật Bản hoặc trên đảo Guam, trong khi lực lượng hải quân ngày càng mở rộng của Trung Quốc có thể thách thức Hải quân Mỹ ở các vùng biển ngoài khơi Trung Quốc và một ngày nào đó có thể thách thức cả bộ chỉ huy của Mỹ ở Tây Thái Bình Dương. Ông nói: „Nếu chương trình đóng tàu này tiếp diễn, Trung Quốc sẽ vượt Nga trở thành nước có hải quân lớn thứ hai thế giới vào năm 2020 tính theo số tàu ngầm và khinh hạm hoặc lớn hơn“.
Việc chống lại những diễn biến như vậy và kiềm chế tầm ảnh hưởng của Trung Quốc đương nhiên đòi hỏi phải tiếp tục chi thêm những đồng đôla của người nộp thuế cho các hệ thống vũ khí tiên tiến, đặc biệt là các tên lửa dẫn đường chính xác. Đô đốc Harris kêu gọi gia tăng mạnh mẽ đầu tư vào các vũ khí như vậy nhằm chế ngự các khả năng hiện tại và trong tương lai của Trung Quốc và bảo đảm ưu thế quân sự của Mỹ đối với vùng trời và vùng biển của Trung Quốc. Ông tuyên bố: „Để ngăn chặn các đối thủ tiềm tàng ở Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, chúng ta phải xây dựng một lực lượng có tính sát thương cao hơn bằng việc đầu tư vào các khả năng quan trọng và tận dụng sự đổi mới“.
Về ngân sách, ông có một danh sách mong muốn gây ấn tượng. Trên hết, ông phát biểu rất nhiệt tình về các thế hệ máy bay và tên lửa mới – cái mà trong ngôn ngữ của Lầu Năm Góc được gọi là các hệ thống „chống tiếp cận/ngăn chặn xâm nhập khu vực“ – có khả năng tấn công các khẩu đội IRBM của Trung Quốc và các hệ thống vũ khí khác được sử dụng để giữ một khoảng cách an toàn giữa các lực lượng của Mỹ và lãnh thổ Trung Quốc.
Ông cũng bóng gió rằng ông sẽ không phản đối nếu có các tên lửa được trang bị hạt nhân cho mục đích này – các tên lửa mà ông đề xuất là có thể được phóng từ các tàu và máy bay và do vậy sẽ tránh vi phạm Hiệp ước về các lực lượng hạt nhân tầm trung, mà Mỹ là một bên ký kết, vốn cấm các tên lửa hạt nhân tầm trung triển khai từ mặt đất. (Để giúp bạn đọc hiểu được ngôn ngữ bí ẩn của các chuyên gia hạt nhân của Lầu Năm Góc, tác giả bài viết đã dẫn lời Harris như sau: „Chúng ta phải tiếp tục mở rộng các khả năng tấn công trên chiến trường mà tuân thủ Hiệp ước về các lực lượng hạt nhân tầm trung để chống lại các khả năng chống tiếp cận/ngăn chặn xâm nhập khu vực (A2/AD) và các chiến thuật bảo toàn lực lượng của đối thủ“).
Cuối cùng, để củng cố hơn nữa phòng tuyến của Mỹ trong khu vực, Harris đã kêu gọi tăng cường quan hệ quân sự với nhiều đồng minh và đối tác khác nhau, trong đó có Nhật Bản, Hàn Quốc, Philippines và Úc. Ông tuyên bố rằng mục tiêu của PACOM là „duy trì một mạng lưới các đồng minh và đối tác có cùng tư tưởng nhằm nuôi dưỡng các mạng lưới an ninh có nguyên tắc mà củng cố trật tự quốc tế tự do và cởi mở“. Ông nói thêm rằng điều lý tưởng là mạng lưới này cuối cùng sẽ bao gồm cả Ấn Độ, mở rộng hơn nữa vòng vây đối với Trung Quốc.
Chiến trường châu Âu
Một tương lai sẵn sàng nghênh chiến tương tự như vậy, mặc dù với các bên tham gia khác trong một bối cảnh khác, đã được Tướng Curtis Scaparrotti, chỉ huy của EUCOM, đưa ra trong buổi điều trần trước Ủy ban quân vụ thượng viện vào ngày 8/3/2018.
Đối với ông, Nga là một Trung Quốc khác. Như cách mô tả gây ớn lạnh của ông, „Nga tìm cách thay đổi trật tự quốc tế, làm rạn nứt NATO và làm xói mòn vai trò lãnh đạo của Mỹ nhằm bảo vệ chế độ của nước này, tái khẳng định sự thống trị của nước này đối với các nước láng giềng, và đạt được tầm ảnh hưởng lớn hơn trên toàn cầu… Nga đã chứng tỏ họ sẵn sàng và có khả năng can thiệp vào các quốc gia dọc theo vùng ngoại vi của nước này và triển khai sức mạnh – đặc biệt là ở Trung Đông“.
Không cần phải nói, đây không phải là quan điểm mà chúng ta nghe được từ Tổng thống Trump, người từ lâu dường như miễn cưỡng trong việc chỉ trích Vladimir Putin hay mô tả Nga như một đối thủ chính thức. Tuy nhiên, đối với các quan chức quân sự và tình báo Mỹ, việc Nga gây ra mối đe dọa vượt trội đối với các lợi ích an ninh của Mỹ ở châu Âu là điều không còn nghi ngờ gì nữa. Giờ đây, người ta nói về nước này theo cách mà hẳn sẽ gợi lại những ký ức của thời kỳ Chiến tranh Lạnh. Scaparrotti nhấn mạnh: „Ưu tiên chiến lược cao nhất của chúng ta là ngăn chặn Nga can dự hơn nữa vào các hành động xâm lược và áp đặt ảnh hưởng xấu lên các đồng minh và đối tác của chúng ta. Vì mục tiêu này, chúng ta đang cập nhật các kế hoạch tác chiến của mình nhằm đưa ra những lựa chọn phản ứng quân sự để bảo vệ các đồng minh châu Âu của chúng ta trước sự gây hấn của Nga“.
Mũi nhọn của nỗ lực bài Nga của EUCOM là Sáng kiến răn đe của châu Âu (EDI), một dự án do Tổng thống Obama khởi xướng vào năm 2014 sau khi Nga chiếm giữ Crimea. Ban đầu được biết đến với tên gọi Sáng kiến trấn an châu Âu, EDI có mục tiêu tăng cường các lực lượng của Mỹ và NATO được triển khai ở các „nước tiền tuyến“ – Estonia, Latvia, Litva và Ba Lan – đối mặt với Nga ở „mặt trận phía Đông“ của NATO. Theo danh sách mong muốn của Lầu Năm Góc được đệ trình vào tháng 2/2018, khoảng 6,5 tỷ USD sẽ được phân bổ cho EDI trong năm 2019. Hầu hết nguồn tài trợ này sẽ được sử dụng để dự trữ đạn dược ở các nhà nước tiền tuyến, tăng cường cơ sở hạ tầng của không quân, tiến hành các cuộc tập trận quân sự chung được tăng cường với các lực lượng đồng minh, và luân phiên đưa các lực lượng bổ sung của Mỹ vào khu vực. Ngoài ra, khoảng 200 triệu USD sẽ được dành cho nhiệm vụ „tư vấn, huấn luyện và trang bị“ của Lầu Năm Góc ở Ukraine.
Giống như người đồng cấp của mình ở chiến trường Thái Bình Dương, Tướng Scaparrotti hóa ra cũng có một danh sách mong muốn đắt đỏ gồm những vũ khí cho tương lai, trong đó có các máy bay, tên lửa tiên tiến và các vũ khí công nghệ cao khác mà ông khẳng định là sẽ chống lại các lực lượng đang được hiện đại hóa của Nga. Ngoài ra, công nhận trình độ thành thạo của Nga trong chiến tranh mạng, ông kêu gọi đầu tư đáng kể vào công nghệ mạng, và giống như Đô đốc Harris, ông bóng gió một cách bí ẩn về sự cần thiết phải tăng cường đầu tư vào một kiểu lực lượng hạt nhân nào đó có thể „sử dụng được“ trên một chiến trường châu Âu trong tương lai.
Giữa Đông và Tây: Bộ chỉ huy Trung tâm
Bộ chỉ huy Trung tâm Mỹ giám sát một loạt đáng kinh ngạc các cuộc xung đột chống khủng bố ở khu vực rộng lớn và ngày càng bất ổn kéo dài từ ranh giới phía Tây của PACOM đến ranh giới phía Đông của EUCOM.
Trong phần lớn lịch sử hiện đại của mình, CENTCOM tập trung vào hoạt động chống khủng bố và đặc biệt là các cuộc chiến tranh ở Iraq, Syria và Afghanistan. Tuy nhiên, giờ đây, ngay cả khi cuộc chiến trường kỳ trước đó đang tiếp diễn, Bộ chỉ huy đã bắt đầu bước vào tư thế chuẩn bị cho một phiên bản mới theo kiểu Chiến tranh Lạnh được xét lại của một cuộc đấu tranh vĩnh cửu, một “kế hoạch” – gợi lại một thuật ngữ đã lỗi thời – nhằm kiềm chế cả Trung Quốc lẫn Nga ở Đại Trung Đông.
Trong cuộc điều trần gần đây trước Ủy ban quân vụ Thượng viện, chỉ huy CENTCOM, Tướng Joseph Votel, đã tập trung vào tình trạng của các chiến dịch của Mỹ chống IS ở Syria và chống Taliban ở Afghanistan, nhưng ông cũng khẳng định rằng việc kiềm chế Trung Quốc và Nga đã trở thành một phần không thể thiếu trong sứ mệnh chiến lược tương lai của CENTCOM: „Chiến lược quốc phòng được công bố gần đây đã xác định đúng đắn sự hồi sinh của cuộc cạnh tranh nước lớn với tư cách thách thức an ninh quốc gia chủ yếu của chúng ta và chúng ta nhận thấy các tác động của sự cạnh tranh đó trên khắp khu vực“.
Votel khẳng định rằng thông qua việc ủng hộ chế độ Bashar al-Assad ở Syria và các nỗ lực nhằm giành ảnh hưởng với các bên tham gia then chốt khác trong khu vực, Nga đang đóng vai trò ngày càng đáng chú ý trong AOR của CENTCOM. Trung Quốc cũng đang tìm cách tăng cường ảnh hưởng địa chính trị của nước này cả về kinh tế lẫn thông qua một sự hiện diện quân sự nhỏ nhưng đang gia tăng. Votel khẳng định rằng cảng do Trung Quốc quản lý tại Gwadar ở Pakistan trên Ấn Độ Dương và căn cứ mới của Trung Quốc ở Djibouti trên Biển Đỏ, đối diện với Yemen và Saudi Arabia, là đặc biệt đáng quan ngại. Ông tuyên bố rằng các cơ sở như vậy góp phần vào „tư thế quân sự và triển khai sức mạnh“ của Trung Quốc trong AOR của CENTCOM và là những dấu hiệu về một tương lai đầy thách thức đối với quân đội Mỹ.
Votel trình bày rằng trong những hoàn cảnh như vậy, CENTCOM có phận sự tham gia cùng PACOM và EUCOM trong việc chống lại sự quyết đoán của Trung Quốc và Nga. „Chúng ta phải chuẩn bị sẵn sàng để xử lý các mối đe dọa này, không chỉ ở những khu vực có sự hiện diện của chúng, mà còn ở những khu vực mà chúng có tầm ảnh hưởng“. Không cung cấp bất kỳ chi tiết nào, ông tiếp tục nói: „Chúng tôi đã phát triển các kế hoạch và các quy trình rất phù hợp để thực hiện việc đó“.
Ý nghĩa của điều đó, dù trong hoàn cảnh tốt nhất, cũng là không rõ ràng. Nhưng bất chấp những gì Donald Trump đã nói trong chiến dịch tranh cử về việc Mỹ rút khỏi Afghanistan, Iraq và Syria ngay khi IS và Taliban bị tiêu diệt, điều dường như ngày càng trở nên rõ ràng là quân đội Mỹ đang chuẩn bị đóng quân vô thời hạn các lực lượng của mình ở các quốc gia đó (và có thể cả các quốc gia khác) trên khắp khu vực thuộc trách nhiệm của CENTCOM – đương nhiên là để chống khủng bố, nhưng cũng để bảo đảm rằng sẽ có một sự hiện diện quân sự thường xuyên của Mỹ ở các khu vực có thể chứng kiến sự cạnh tranh địa chính trị ngày càng gia tăng giữa các cường quốc chủ chốt.
Một lời mời dẫn đến thảm họa
Theo cách tương đối nhanh chóng, các nhà lãnh đạo quân sự Mỹ đã tiếp tục tuyên bố rằng Mỹ đang ở trong một cuộc chiến trường kỳ mới bằng việc phác thảo những đường nét của một đường ranh giới kiềm chế kéo dài từ bán đảo Triều Tiên vòng quanh châu Á qua Trung Đông tới các vùng thuộc Liên Xô trước đây ở Đông Âu và cuối cùng tới các quốc gia Scandinavia. Theo kế hoạch của họ, các lực lượng quân đội Mỹ – được tăng cường bởi lực lượng quân đội của các đồng minh đáng tin cậy – cần đồn trú ở mọi phân đoạn của đường ranh giới này, một kế hoạch hoành tráng nhằm chặn đứng những bước tiến giả định về tầm ảnh hưởng của Trung Quốc và Nga, mà hẳn sẽ khiến cho trí tưởng tượng phải choáng váng trước tầm với toàn cầu của nó. Phần lớn lịch sử trong tương lai có thể được định hình bởi một nỗ lực quá lớn như vậy.
Những câu hỏi về tương lai bao gồm cả việc liệu điều này có là một chính sách chiến lược đáng tin cậy hoặc thực sự bền vững hay không. Việc cố gắng kiềm chế Trung Quốc và Nga theo cách như vậy chắc chắn sẽ kích động các động thái đối phó, một số động thái chắc chắn sẽ khó chống lại, trong đó có các cuộc tấn công mạng và nhiều kiểu chiến tranh kinh tế khác nhau.
Và nếu người ta hình dung rằng một cuộc chiến chống khủng bố trên khắp nhiều vùng lãnh thổ rộng lớn của hành tinh thể hiện một tầm với toàn cầu đáng kể nhưng quá sức đối với một cường quốc duy nhất, thì hãy chờ đợi. Việc duy trì các lực lượng lớn và được trang bị vũ khí hạng nặng trên 3 mặt trận mở rộng cũng sẽ tỏ ra quá tốn kém và chắc chắn sẽ mâu thuẫn với các ưu tiên chi tiêu trong nước và có thể kích động một cuộc tranh luận gây chia rẽ về việc khôi phục dự thảo này.
Tuy nhiên, câu hỏi thực sự – không được nêu lên ở Washington vào thời điểm này – là: Tại sao phải theo đuổi một chính sách như vậy ngay từ đầu? Không còn cách nào khác để kiểm soát sự trỗi dậy của Trung Quốc và hành vi khiêu khích của Nga hay sao? Điều dường như đặc biệt đáng lo ngại về chiến lược 3 mặt trận này là khả năng rất lớn nó gây ra sự đối đầu, tính toán sai lầm, leo thang và cuối cùng là chiến tranh thực sự, thay vì đơn giản chỉ là việc lên kế hoạch hoành tráng cho chiến tranh.
Ở nhiều điểm khác nhau dọc theo đường ranh giới trải dài trên toàn cầu này – Biển Baltic, Biển Đen, Syria, Biển Đông, biển Hoa Đông chỉ là vài cái tên có thể kể ra – các lực lượng đến từ Mỹ và Trung Quốc hoặc Nga vốn đã tiếp xúc với nhau ở mức đáng kể, thường tranh giành vị thế theo cách có tiềm năng gây thù địch. Bất cứ lúc nào, một trong những cuộc chạm trán này cũng có thể kích động một trận chiến hỏa lực dẫn tới sự leo thang ngoài dự tính và cuối cùng có thể là một cuộc chiến toàn lực. Từ đó, hầu như mọi chuyện đều có thể xảy ra, thậm chí là cả việc sử dụng vũ khí hạt nhân.
Rõ ràng, các quan chức ở Washington cần suy nghĩ kỹ trước khi ràng buộc Mỹ với một chiến lược mà sẽ khiến cho điều này ngày càng có khả năng xảy ra và có thể biến cái vốn vẫn là việc lên kế hoạch cho cuộc chiến trường kỳ trở thành một cuộc chiến trường kỳ thực sự với những hậu quả gây chết chóc.
Michael T. Klare là giáo sư nghiên cứu về hòa bình và an ninh thế giới tại Học viện Hampshire. Bài viết được đăng trên Foreign Policy in Focus.
Kyle Mizokami, một cây viết về quốc phòng và an ninh quốc gia tại San Francisco đã phân tích bài học mà Trung Quốc rút ra sau cuộc khủng hoảng Đài Loan lần 3.
Tác giả cho rằng chính vì những bài học cay đắng có được mà Trung Quốc đã có khả năng đánh chìm tàu sân bay và đang xây dựng một hạm đội riêng cho mình, National Interest cho biết.
Hơn 20 năm trước, một cuộc đối đầu quân sự tại Đông Á đã đẩy Mỹ và Trung Quốc gần tới một cuộc xung đột gây lo lắng. Tại Mỹ hầu như không ai biết đến rằng sự kiện này đã gây ấn tượng lâu dài với Trung Quốc đặc biệt là những nhà hoạch định quân sự của Bắc Kinh.
Các nhà sử học gọi đó là Cuộc Khủng hoảng eo biển Đài Loan lần 3, đã cho Trung Quốc thấy sức mạnh và sự linh hoạt cùa tàu sân bay, điều ám ảnh đất nước này cho tới ngày nay.
Cuộc khủng hoảng bắt đầu năm 1995. Bắt đầu bằng cuộc bầu cử lãnh đạo dân chủ đầu tiên của Đài Loan được dự tính diễn ra năm 1996 – một sự kiện lớn mà Bắc Kinh đương nhiên sẽ phản đối.
Lãnh đạo Đài Loan lúc đó là ông Lý Đăng Huy thuộc Quốc Dân Đảng đã được mời tới Mỹ để nói chuyện tại trường đại học Cornell.
Ông Lý không được Bắc Kinh ưa vì ông nhấn mạnh việc „bản địa hóa Đài Loan“ – chính sách ủng hộ việc tự trị và thiết lập một Đài Loan tách rời với Trung Hoa đại lục. Khi ông được mời tới nói chuyện tại đại học Cornell về vấn đề dân chủ hóa của Đài Loan, Bắc Kinh đã rất giận dữ.
Chính quyền của tổng thống Clinton khi đó đã rất miễn cưỡng cấp visa tới Mỹ cho ông Lý Đăng Huy. Trước đó 1 năm, ông đã bị từ chối cấp visa. Nhưng với sự nhất trí ủng hộ của Nghị viện đã khiến Nhà Trắng phải cung cấp visa để ông Lý tới Cornell vào tháng 6.1995.
Khi đó, Tân Hoa Xã đã đưa tin cảnh báo: „Vấn đề Đài Loan là một thùng thuốc nổ. Sẽ đặc biệt nguy hiểm nếu làm nóng nó lên dù hành động này được thực hiện bởi phía Mỹ hay Lý Đăng Huy. Hành động cố ý này ảnh hưởng tới Trung Quốc và sẽ khiến cho người dân Trung Quốc nhận ra rõ ràng Mỹ là một đất nước như thế nào“.
Vào tháng 8.1995, Trung Quốc tuyên bố một loạt các cuộc tập trận bằng tên lửa ở biển Hoa Đông.
Mặc dù các cuộc tập trận này là thông thường nhưng những tuyên bố của Trung Quốc thì lại bất thường và đã có suy đoán rằng đây là sự khởi đầu cho một chiến dịch hăm dọa của Trung Quốc với mục đích trả đũa cho chuyến thăm trường Cornell và dọa các cử tri Đài Loan trước cuộc bầu cử sẽ diễn ra vào năm sau.
Những cuộc tập trận được thực hiện bởi Quân đoàn Pháo binh số 2 của quân đội Trung Quốc (nay là Lực lượng Tên lửa) và triển khai các máy bay chiến đấu F-7 của Trung Quốc (phiên bản Trung Quốc của máy bay MiG-21) cách Đài Loan 400km.
Động thái này cũng rất quen thuộc như năm 2017, khoảng 100 tàu cá Trung Quốc đã vào hải phận thuộc quần đảo Mã Tổ của Đài Loan.
Theo trang Globalsecurity.org, việc Trung Quốc lại triển khai tên lửa tầm xa bắt đầu vào năm 1996, quân đội Trung Quốc khi đó đã thực sự chuẩn bị có hành động quân sự.
Trung Quốc đã có kế hoạch bất ngờ cho việc bắn tên lửa trong 30 ngày, mỗi ngày thực hiện một vụ phóng, một thời gian ngắn sau khi diễn ra cuộc bầu cử ở Đài Loan vào tháng 3.1996. Những cuộc tấn công không được thực hiện nhưng việc chuẩn bị cho kế hoạch này đã được tình báo Mỹ phát hiện.
Tháng 3.1996, Trung Quốc tuyên bố thực hiện cuộc tập trận lớn lần thứ 4 kể từ khi ông Lý Đăng Huy thăm trường Cornell. Quân đội nước này thông báo các khu vực thử tên lửa tại đường bờ biển Trung Quốc – có hướng tên lửa tới hướng Đài Loan.
Thực tế, Trung Quốc đã bắn 3 quả tên lửa, hai quả rơi cách Đài Bắc 48km và một quả rơi cách Cao Hùng 56km. Hai thành phố này diễn ra phần lớn các hoạt động thương mại của Đài Loan. Với một nước xuất khẩu như Đài Loan, vụ bắn tên lửa giống như một cú đánh vào nền kinh tế.
Quân đội Mỹ cũng đang hoạt động trong khu vực. tàu USS Bunker Hill, một tàu tuần tiễu lớp Ticonderoga thả neo ở phía nam Đài Loan để theo dõi các vụ thử tên lửa của Trung Quốc bằng hệ thống radar SPY-1.
Tàu USS Independence (hoạt động ở căn cứ Nhật Bản) cùng với tàu khu trục Hewitt & O’Brien và tàu khu trục nhỏ McClusky giữ vị trí bên phía đông của Đài Loan.
Sau vụ thử tên lửa, tàu sân bay USS Nimitz rời khu vực Vịnh Ba Tư và đi về phía tây Thái Bình Dương.
Đây là một nhóm tàu sân bay mạnh hơn, bao gồm cả tàu tuần dương Port Royal, tàu khu trục trang bị tên lửa dẫn đường Oldendorf và Callaghan (sau này được chuyển cho Hải quân Đài Loan), tàu khu trục nhỏ trang bị tên lửa dẫn đường USS Ford và tàu ngầm tấn công nguyên tử USS Portsmouth.
Tàu Nimitz và đội hộ tống neo trên vùng biển Philippines để sẵn sàng yểm trợ. Nhưng trái ngược lại với điều nhiều người tin tưởng, không có tàu sân bay nào thực sự tiến vào khu vực eo biển Đài Loan.
Quân đội Trung Quốc không có khả năng chống lại tàu sân bay của Mỹ đã hoàn toàn bị bẽ mặt. Trung Quốc khi đó bắt đầu có kết quả của việc kinh tế phát triển nhanh, vẫn không có đủ khả năng quân sự để tạo nên một mối đe dọa thực thụ với tàu chiến của Mỹ trong khoảng cách gần bờ biển của mình.
Người ta không biết những gì đã được bàn thảo thay thế sau sự việc đó nhưng chỉ hai năm sau một doanh nhân Trung Quốc đã mua một chiếc tàu sân bay khổng lồ đang được chế tạo dở dang của Nga mang tên Varyag – và tuyên bố ý định biến nó thành một khu nghỉ dưỡng với casino.
Ngày nay, chiếc tàu này mang tên Liêu Ninh, là tàu sân bay đầu tiên của Trung Quốc sau khi nó được chuyển cho hải quân Trung Quốc và được tân trang lại trong 15 năm. Hiện tại, ít nhất một tàu sân bay nữa đang được Trung Quốc chế tạo trong mục tiêu có được 5 chiếc tàu sân bay của Trung Quốc.
Cùng thời điểm, quân đoàn pháo số 2 của Trung Quốc đang nâng cao khả năng về tên lửa tầm xa với việc chế tạo tên lửa đạn đạo chống hạm DF-21D. Rõ ràng, DF-21D được sử dụng để chống lại những tàu lớn như tàu sân bay.
Trong một cuộc khủng hoảng tương lai nó sẽ khiến cho Hải quân Mỹ phải hoạt động cách Đài Loan 1.200-1.400km và phần còn lại của „Vòng phòng thủ thứ 1“ – Kế hoạch phòng thủ đảo và biển do Trung Quốc thiết lập.
Cuộc khủng hoảng Đài Loan lần 3 là một bài học đau đớn với Trung Quốc – khi nước này đã chuẩn bị lâu dài để đánh một cuộc chiến ngay trong biên giới của mình. Và hải quân Trung Quốc đã học được một bài học.
20 năm sau, Trung Quốc đã có đủ khả năng để gây thương vong hay thậm chí đánh chìm một tàu sân bay Mỹ. Trung Quốc đang ở vị trí đặc biệt vừa thấy giá trị của tàu sân bay và đang xây dựng hạm đội, vừa dành rất nhiều thời gian và tiền của vào mục đích có được khả năng đánh đắm chúng.
Tàu sân bay John C. Stennis (trái) và tàu Ronald Reagan phải hoạt động ở biển Philippines ngày 18/6. Ảnh: US Navy
Cường quốc hàng hải
Lâu nay chúng ta đọc báo và nghe tin nói Trung Quốc hạ thủy chiếc hàng không mẫu hạm đầu tiên, rồi chiếc thứ hai đang chạy thử nghiệm và chuẩn bị đóng thêm chiếc thứ ba. Chiếc hàng không mẫu hạm đầu tiên của Trung Quốc vốn được đóng cho hải quân Xô Viết, sau khi Liên Xô giải tán thì nó thuộc về Ukraine rồi được đem đi ra bán đấu giá và Trung Quốc mua lại từ đó. Nó vốn chỉ còn có cái vỏ tàu không có động cơ, bánh lái, các hệ thống điều khiển nên Trung Quốc phải cải chỉnh sửa lại và trang bị hoàn toàn mọi thiết bị để hoạt động chạy được rồi đặt tên mới là Liêu Ninh. Chiếc thứ hai được đóng là cây nhà lá vườn do Trung Quốc tự thiết kế tuy nhiên vẫn theo mô hình của chiếc hàng không mẫu hạm đầu tiên.
Tàu sân bay Liêu Ninh của Trung Quốc được mua lại từ vỏ tàu Varyag lớp Kuznetsov của Hải Quân Liên Xô cũ
Tại sao Trung Quốc tại sao lại muốn chế tạo hàng không mẫu hạm? Những hành động quân sự Trung Quốc đang làm là mong được công nhận là một cường quốc về đại dương, một cuộc chạy đua trực diện với Hoa Kỳ và hy vọng có một sự chuyển giao quyền lực đại dương về các vùng biển vốn nằm dưới quyền kiểm soát của Hoa Kỳ, Trung Quốc đang tìm cách lấn sân và hy vọng đặc biệt vùng biển Đông, vùng Trung Quốc tự cho là sân sau của mình sẽ lọt vào tay mình khi Hoa Kỳ tính toán sai hay bị khủng hoảng trong tương lai.
Tại sao Trung có vẻ thắng thế hiện nay? Hoa Kỳ là siêu cường toàn cầu nên phải phân bố lực lượng ở Âu Châu, Trung Cận Đông, Bắc Phi và Á Châu. Trong khi thực tế cho đến lúc này dù đang có trong tay 2 chiếc hàng không mẫu hạm thì Trung Quốc vẫn chỉ là cường quốc biển cấp khu vực (vùng biển cận duyên – littoral zone) chứ chưa hề được công nhận là cường quốc vùng biển đại dương xanh (abyssal zone hay hadal zone) như Hoa Kỳ. Và lực lượng phân bổ của họ vẫn chính là khu vực biển Đông, khu vực ngay sát sân nhà của họ. Mỹ là siêu cường toàn cầu nên chỉ có lợi thế hơn Trung Quốc khi cạnh tranh ở quy mô toàn cầu. Khi mà khoảng cách giữa sức mạnh của Mỹ và Trung bị thu hẹp trong một phạm vi mà vị trí địa chính là sân sau của Trung Quốc và bị lủng đoạn bởi Trung Quốc qua chính sách “Ngoại giao bẫy nợ”, thì Trung Quốc rõ ràng chiếm ưu thế hơn khi hai bên tranh giành nhau ảnh hưởng của nhau.
Không ai có thể phủ nhận Hoa Kỳ hiện nay là một quốc gia cường quốc biển mạnh nhất trên thế giới. Các hạm đội Hải Quân Mỹ có tổng cộng 19 chiếc Mẫu Hạm có thể chở máy bay nhưng chỉ có 11 chiếc được công nhận và gọi là hàng không mẫu hạm. Đó là có tính thêm chiếc USS John F. Kennedy thuộc lớp Gerald R. Ford đang đóng chuẩn bị xuất xưởng vào năm 2020, còn 10 chiếc HKMH hiện đang tung hoành và kiểm soát mọi vùng biển từ Á sang Âu, Trung Đông đến Phi Châu.
Hàng Không Mẫu Hạm USS John S. Stennis của Hoa Kỳ
Có rất nhiều nhận định và nhiều bài báo viết về sự lớn mạnh kinh tế và trổi dậy quân sự của Trung Quốc. Sự thật có rất nhiều nước có khả năng kỷ thuật, sức mạnh quân sự làm được như Trung Quốc tại Châu Á như Nga, Nhật Bản, Ấn Độ, Hàn Quốc…tuy nhiên các nước này không có nhu cầu và mục đích làm bá chủ đại dương và không muốn tốn cho một ngân sách quốc phòng lớn lao với danh vọng hão là bành trướng ảnh hưởng của mình ra thế giới. Sự thật vẫn còn rất lâu Trung Quốc mới có thể làm bá chủ trên đại dương và bắt kịp Hoa Kỳ, một quốc gia có kinh nghiệm hàng hải và sức mạnh cả 100 năm nay.
Tuy nhiên chúng ta đừng quên ở Á Châu từng có một nước Nhật vốn là một cường quốc về biển từ rất lâu, trước cả Trung Quốc cả trăm năm, cho đến khi bại trận ở Đệ Nhị Thế Chiến. Trong lúc Trung Quốc thất bại trong cuộc chiến tranh Nha Phiến với Anh và các cường quốc Tây phương (1840 – 1843 và 1856 – 1860), bị áp đặt ký một hiệp ước Nam Kinh bất bình đẳng phải mở cửa nhiều hải cảng cho liên quân 8 nước Tây Phương và Nhật Bản vào giao thương. Còn Hong Kong thì bị cắt làm nhượng địa cho đế quốc Anh. Hải quân Nhật từng đánh thắng hạm đội của Nga thời Sa Hoàng (1905) làm nên một trong những chiến thắng về hải chiến hủy diệt lớn nhất trong suốt bề dày lịch sử chiến tranh trên biển. Nhật Bản cũng từng xâm chiếm và cai trị Đài Loan và Triều Tiên trong nhiều thế kỷ. Có nhiều trận đụng độ và hải chiến với hải quân Hoa Kỳ trong Đệ Nhị Thế chiến cho đến khi bại trận vào năm 1945.
Nhưng không phải sau khi thắng hải quân Nga thì Nhật Bản mới trở thành một cường quốc hàng hải. Tầm quan trọng của sức mạnh về hàng hải đối với Nhật Bản đã từ lâu được công nhận.
Năm 1853 (July 8, 1853), Hải quân Mỹ dưới quyền của Phó đề đốc Matthew Calbraith Perry cùng 4 chiến tàu của mình đã đi vào vịnh Edo (Edo Bay), đe dọa chủ quyền Nhật Bản từ phía biển và buộc Nhật Bản mở các cảng giao thương với các nước Tây Phương. Kinh nghiệm này dạy Nhật Bản một bài học quan trọng, mà họ đã học được ngay lập tức là cần phải có một Hải Quân hùng mạnh. Là một quốc đảo với nguồn tài nguyên khan hiếm, việc bảo vệ tuyến đường hàng hải giao thương của Nhật Bản là phần quan trọng nhất trong lợi ích quốc gia của nó. Các vùng biển của Biển Nam Trung Hoa phục vụ như một lối đi thương mại kinh tế nối Nhật Bản không chỉ đến Đông Nam Á, mà còn là Tây Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương.
Hải quân đế quốc Nhật Bản vào đầu thế kỷ 19 đã bị ảnh hưởng rất nhiều bởi những lời dạy của Alfred Thayer Mahan. Họ nhận ra tầm quan trọng của một hải quân mạnh mẽ như một con át chủ bài trong việc đàm phán với các nước khác điều mà Trung Quốc giờ đây học lại bài học xa xưa của Nhật Bản. Người Nhật bắt chước chiến lược của Mỹ về „Ngoại giao súng“ trong thời kỳ Tokugawa, và sử dụng nó thành công trong việc xâm lược bán đảo Triều Tiên và Đài Loan.
Chính sách “Ngoại giao Cảnh Sát Biển”
Sau khi Nhật Bản bại trận và đầu hàng ở Đệ Nhị Thế chiến, Hoa Kỳ thay mặt quân đội Đồng minh tiếp quản và giải giới quân đội Nhật. Tướng Douglas MacArthur, tư lệnh quân đội đồng minh tại Nhật Bản lúc đó đã cho soạn thảo bản Hiến pháp của Nhật Bản theo 3 nguyên tắc, trong đó có nguyên tắc thứ 2 nêu rõ một số điểm chính yếu: “Nhật Bản phải từ bỏ việc phát động chiến tranh, từ bỏ cả quyền sử dụng chiến tranh nhằm mục đích giải quyết tranh chấp. Không được sử dụng chiến tranh làm mục đích bảo vệ ngay cả để bảo vệ sự an toàn của nước mình. Trong hiện tại và cả tương lai, Nhật Bản sẽ không có quyền có quân đội gồm hải, lục, không quân. Nhật Bản không có quyền giao chiến”.
Theo hiệp ước và hiến pháp ký kết sau chiến tranh, nền an ninh lãnh thổ quốc gia Nhật Bản đặt hoàn toàn dưới sự bảo hộ của quân đội Mỹ, tuy nhiên hiệp ước liên minh giữa Hoa Kỳ-Nhật Bản chỉ giới hạn trong việc bảo vệ lãnh thổ Nhật Bản. Do vậy Nhật Bản không có quân đội chính thức mà chỉ có Lực lượng Phòng vệ bao gồm ba lực lượng chính là Lực lượng Phòng vệ mặt đất, Lực lượng Phòng vệ hàng hải và Lực lượng Phòng vệ hàng không.
Theo thời gian, dưới sự bành trướng và sức ép của Trung Quốc, một phần chủ quyền biển đảo bị uy hiếp như quần đảo Điếu Ngư (Sensaku) dù đang dưới quyền quản lý của Nhật Bản nhưng bị Trung Quốc tranh chấp đòi chủ quyền. Vấn đề của phần còn lại là vùng biển Đông vốn là con đường giao thương huyết mạch trên biển của Nhật Bản bị Trung Quốc tuyên bố chủ quyền đến 80-90% và có nhiều hành động quân sự, gây cản trở sự tự do trong hàng hải giao thương. Điều khẩn thiết nhất đối với nước Nhật là biển Đông lại là một tuyến đường vận chuyển hàng hải quan trọng cho 80% đến 90% nguồn cung cấp năng lượng của nước Nhật.
Chính vì những quan ngại trên, ngày 18 tháng 12 năm 2017, Thủ tướng Shinzo Abe đã kêu gọi một cuộc họp Hội đồng Bộ trưởng để thảo luận về các kế hoạch của ông trong việc mở rộng chiến lược nhằm tăng cường hệ thống an ninh hàng hải của Nhật Bản. Đặc biệt, ông nhấn mạnh sự cần thiết của Cảnh Sát Biển Nhật Bản (JCG) cần phát triển và nâng vai trò, tầm hoạt động và quy mô lên một bước cao hơn nữa vì nó có vai trò quan trọng trong việc đạt được các mục tiêu của mình, quan trọng nhất là thúc đẩy hợp tác quốc tế bằng cách chia sẻ các giá trị của Nhật Bản, quy định của pháp luật hàng hải với các quốc gia liên quan để thực hiện vùng chiến lược Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương tự do và cởi mở trong giao thương trên biển.
Tàu khu trục trực thăng của Lực lượng Phòng vệ Hàng Hải lớp Izumo. Có khả năng cải biến để dùng cho máy bay F35A
Lực lượng Phòng vệ Hàng hải Nhật Bản (JMSDF) cũng có khả năng thực hiện những vai trò này một cách hiệu quả. Vậy tại sao họ không được giao nhiệm vụ đóng vai trò chủ đạo trong việc tăng cường hệ thống an ninh hàng hải của Nhật Bản? Lực lượng Phòng vệ Hàng hải Nhật Bản có đủ thẩm quyền và sức mạnh hải quân để bảo vệ các con đường truyền thống hàng hải của Nhật Bản. Trong khi Cảnh Sát Biển Nhật Bản được công nhận là cơ quan Cảnh Sát bảo vệ bờ biển đầu tiên ở châu Á. Nó vốn được thành lập vào năm 1948, mặc dù ban đầu chức năng chỉ là là Cơ quan an toàn hàng hải. JCG đã được tổ chức lại nhiều lần kể từ khi thành lập, và vai trò được xác định của nó, các nhiệm vụ cụ thể, và thẩm quyền hàng hải đã mở rộng đáng kể trong suốt những năm qua. Việc Cảnh Sát Biển Nhật Bản (JCG) chiếm vị trí ghế trước trong chiến lược hàng hải của quốc đảo này khá là khó hiểu nhưng có lý do của nó sẽ được trình bày dưới đây.
Tàu tuần duyên của Cảnh Sát Biển Nhật Bản
Biển Đông trong những thập kỷ qua đã là mối quan tâm hàng đầu, nó đe dọa tuyến đường hàng hải truyền thống và các thương thuyền của Nhật Bản. Chúng bao gồm các mối đe dọa vi phạm tự do lưu thông, cướp biển, các vấn đề an toàn hàng hải và các tranh chấp giữa bốn quốc gia ASEAN với Trung Quốc. Những mối đe dọa an ninh phi truyền thống hiện ra nhập nhằng trong vùng biển Đông Nam Á đòi hỏi các cơ quan thực thi pháp luật hàng hải đủ mạnh mẽ mới có thể đảm bảo sự an toàn của tàu thuyền lưu thông trên vùng biển này. Điều này cũng đòi hỏi cần một cơ quan chuyên nghiệp am tường luật pháp hàng hải quốc tế để ngăn chặn các sự cố hàng hải, cải thiện khả năng tìm kiếm và cứu nạn, phòng ngừa ô nhiễm hàng hải và chữa cháy… Cân nhắc các mối đe dọa và sự yếu kém phức tạp của các quốc gia ven biển Đông Nam Á trong việc ứng phó với những vấn đề này ở Biển Đông, và những hạn chế cùng sự nhạy cảm về quá khứ lịch sử của các quốc gia trong vùng đối với Nhật Bản, Nhật Bản chỉ có thể dùng Cảnh Sát Biển (JCG) để bảo vệ tuyến đường hàng hải (SLOC) của mình thôi thay vì dùng Lực lượng Phòng vệ Hàng hải Nhật Bản.
Một lực lượng Cảnh Sát Biển chuyên nghiệp am hiểu pháp luật mới có thể giải quyết hiệu quả những vấn đề phức tạp đã và sẽ xuất hiện. Cảnh Sát Biển chính là một công cụ hiệu quả được sử dụng trong việc bảo vệ SLOC không chỉ cho Nhật Bản mà còn của các quốc gia liên quan trong vùng. Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển năm 1982 (UNCLOS), các quốc gia đã công nhận sự cần thiết phải tạo ra một cơ quan hàng hải khác với hải quân, thực thi pháp luật trên biển, quản lý tài nguyên biển và bảo vệ chủ quyền quốc gia.
Tuy nhiên nước Nhật không chỉ nghĩ riêng cho riêng mình mà còn nâng tầm quan trọng của Cảnh Sát Biển trong việc bảo vệ bờ biển, các tuyến hàng hải, mà còn phát triển hợp tác quốc tế và khu vực về các vấn đề hàng hải khác nhau. Cảnh Sát Biển Nhật Bản (JCG) đã trở thành trung tâm quyền lực mới nổi lên trong khuôn khổ an ninh hàng hải Đông Nam Á, và sự lãnh đạo này được các nước láng giềng Đông Á đón nhận và được công chúng Nhật Bản chấp nhận. Cảnh Sát Biển Nhật (JCG) có thể giữ chìa khóa để thiết lập một mạng lưới hợp tác hàng hải khu vực được chấp nhận cho các quốc gia nhạy cảm với vấn đề chủ quyền ở Đông Nam Á.
Thông qua sự hỗ trợ của mình trong việc xây dựng năng lực ở Đông Nam Á bằng cách sử dụng Cảnh Sát Biển (JCG), Nhật Bản không chỉ bảo vệ các tuyến đường biển cho riêng mình mà còn thể hiện sự tích cực như là một đối tác an ninh khu vực với các quốc gia ven biển khác. Trong những thập kỷ qua, sự xuất hiện của các cơ quan bảo vệ bờ biển trong khu vực đã được xúc tác bởi sự hỗ trợ của chính phủ Nhật Bản thông qua việc hỗ trợ phát triển hải ngoại của Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA). Điều này không chỉ giới hạn trong việc đào tạo mà còn bao gồm phần tài trợ như tàu tuần tra hay thiết bị.
Năm 2005, Cơ quan thực thi hàng hải Malaysia (MMEA) mới thành lập đã yêu cầu sự giúp đỡ của JCG trong việc đào tạo nhân sự cho mình. MMEA hợp tác với JICA vào tháng 3 năm 2006, Nhật Bản đã đưa hai tàu tuần tra đến, JCG hợp tác cùng MMEA để giúp họ trong nỗ lực chống cướp biển. JCG cũng liên tục cung cấp đào tạo và hỗ trợ kỹ thuật cho MMEA trong một quan hệ đối tác tiếp tục cho đến ngày hôm nay.
Tương tự như vậy, Nhật Bản đã tham gia cùng Lực lượng Cảnh Sát Biển Philippines (PCG) trong nhiều thập kỷ. Năm 1998, ngay sau khi được xếp loại là một cơ quan hàng hải phục vụ dân sự, PCG đã nhận được sự trợ giúp thiết bị từ Nhật Bản để phát triển khả năng an toàn và ngăn chặn ô nhiễm môi trường biển. Năm 2002, Nhật Bản tài trợ chương trình đào tạo 5 năm với sáng kiến phát triển nguồn nhân lực JICA-PCG, với mục tiêu nâng cao năng lực của nhân viên Philippines thông qua một loạt các khóa học và hoạt động thực thi pháp luật. Vào năm 2007, Nhật Bản đã đào tạo 2.000 quan chức Cảnh Sát Biển cho Philippines trong nhiều khía cạnh khác nhau của các hoạt động an ninh hàng hải, bao gồm các bài tập kết hợp với JCG. Trong năm 2013, một năm sau khi sự cố Scarborough Shoal thuộc Philippines chống lại Trung Quốc, JICA đã được phê duyệt một khoản vay để xây dựng 10 tàu dài 40 mét với nhiều mục đích khác nhau (Multi-Role Response – MRRV).
Cảnh Sát Biển của Việt Nam được thành lập vào năm 1998 và trở thành Việt Nam Coast Guard (VCG), hoạt động độc lập với các lực lượng hải quân từ năm 2008. Kể từ đó, Nhật Bản đã tích cực ủng hộ VCG thông qua đào tạo và nguồn nhân lực phát triển, cũng như các cuộc tập thao dợt, trao đổi kinh nghiệm chung giữa JCG và VCG được tiến hành vào các tháng 9. Hơn nữa, chính phủ Nhật Bản cũng đã bày tỏ cam kết của mình trong việc phát triển VCG bằng cách cung cấp thiết bị và tàu cần thiết thông qua viện trợ phát triển.
Liên quan đến Indonesia, JCG đã phối hợp với JICA hỗ trợ trong việc thành lập Indonesia BAKORKAMLA, phục vụ như là một cơ quan điều phối thực thi pháp luật hàng hải. Chính phủ Nhật Bản cung cấp ba tàu tuần tra để tăng cường khả năng của Cảnh Sát Biển Indonesia trong việc thực hiện các hoạt động chống cướp biển vào năm 2006 và cung cấp một khoản trợ cấp hàng triệu USD để thiết lập một hệ thống kiểm soát giao thông tàu để theo dõi các hoạt động hàng hải hiệu quả hơn ở Eo biển Malacca và Singapore.
Kết luận
Một quốc gia đảo có nguồn tài nguyên khan hiếm và phụ thuộc vào tuyến thương mại hàng hải để sinh tồn, Nhật Bản phải liên tục xác định lại chiến lược hàng hải của mình. Chiến lược ngoại giao của chiến hạm Mahanian trước đây đã mở mắt của Nhật Bản về tầm quan trọng của việc kiểm soát không gian biển. Tuy nhiên, đối với một nước Nhật Bản hòa bình ngày nay, sức mạnh quân sự không còn là một lựa chọn để bảo vệ giao thông thương mại biển của họ nữa.
Thay vào đó, Nhật Bản đã định nghĩa lại sức mạnh bằng con đường ngoại giao của họ. Bằng cách sử dụng Cảnh Sát Biển như một công cụ chính sách đối ngoại có hiệu quả hơn vào giai đoạn này. Chính sách ngoại giao bảo vệ bờ biển mà họ đã sử dụng trong những năm qua là một cách tiếp cận hiệu quả để thuyết phục các quốc gia ven biển rằng hợp tác mang lại lợi ích cho cả hai bên. Kết quả là động lực để phát triển bảo vệ bờ biển trong khu vực Đông Nam Á đã xác định lại rõ rệt.
Trong khi Trung Quốc tập trung vào sức mạnh quân sự và có chính sách “Ngoại giao bẫy nợ” dựa vào đầu tư và tiền mặt để đạt mục đích chiếm đoạt và sở hữu các vị trí chiến lược làm bàn đạp tiến ra thế giới, thì Nhật Bản lại có chính sách “Ngoại Giao Cảnh Sát Biển” nhưng với mục tiêu và vai trò là bảo vệ bờ biển trong an ninh hàng hải, duy trì một trật tự hàng hải hòa bình và tự do.
Chắc chúng ta sau khi nhận định xong cục diện cũng đã nhận ra ở Châu Á, ai đang có ý định bành trướng sức mạnh và ai đóng vai trò tích cực hàng đầu trong việc bảo vệ quyền lợi hàng hải và tự do hàng hải trong thế giới ngày nay.
Moskva (Sputnik) – Thủy thủ Hạm đội Biển Đen sẽ bảo vệ giao thông hàng hải Nga trong biển Azov theo quyền hạn của mình – họ có quyền sử dụng vũ khí ở vùng biển quốc tế, cựu chỉ huy Hạm đội Baltic, Đô đốc Vladimir Valuev cho biết.
Ông Valuev đã bình luận như vậy về thông tin ban chỉ huy Hạm đội Biển Đen đang xem xét vấn đề đảm bảo an toàn hàng hải ở các vùng biển Đen và Azov sau vụ biên phòng Ukraine bắt giữ tàu “Nord” của Nga.
Ông Vladimir Valuev nhắc lại rằng có trật tự hàng hải trong vùng biển quốc tế, và theo công ước quốc tế, tất cả đều có quyền hiện diện ở đó mà không gặp trở ngại, nếu không vượt qua vùng biển này. Đô đốc cho rằng chính quyền Kiev “vi phạm và tự nghĩ ra quy tắc riêng của họ, trái với lẽ thường và thông lệ quốc tế.”
“Đây là ý tưởng không lành mạnh của các nhà chức trách Ukraine, ta cần phải chống lại bằng mọi cách”, — ông Valuev nói với Sputnik.
Ông Valuev nói thêm rằng tàu dân sự có thể hiện diện trong vùng biển quốc tế và có thể được tàu quân sự đi kèm bảo vệ.
“Vì cả tàu dân sự lẫn tàu chiến đều được hưởng quyền miễn trừ, họ có quyền tự bảo vệ mình và chống tấn công. Tàu chiến đi kèm có thể bảo vệ tàu dân sự bằng cách cảnh báo trên các kênh liên lạc quốc tế bằng phương tiện ngoại giao, và bắn cảnh báo, cho đến sử dụng vũ khí chống những kẻ xấc xược”, — Đô đốc kết luận.
Trước đó, có thông báo tàu cá “Nord”cắm cờ Nga đã bị bắt giữ ở phần Ukraina trong lãnh hải biển Azov vào ngày 25 tháng 3. Trên tàu có 10 thủy thủ. Tất cả đều mang hộ chiếu Nga được cấp tại Kerch. Người ta đã lập biên bản về tạm giữ hành chính với các thuyền viên này, họ bị cấm rời khỏi tàu. “Nord” bị bắt giữ.
Cơ quan chuyên trách Crưm đã khởi tố án hình sự về vụ cướp đoạt chiếc tàu Nga