Schlagwort-Archiv:Biển Đông

TQ và tham vọng khai thác băng cháy ở Biển Đông

Nội dung bài viết bao quát lịch sử quá trình từ khi Trung Quốc manh nha thúc đẩy ý tưởng nghiên cứu băng cháy trên Biển Đông; cho đến hiện trạng khai thác hiện nay để làm rõ thực chất Trung Quốc đã đi đến bước nào trong tiến trình khai thác một loại năng lượng mới ở trên Biển Đông.

Bản đồ tổng hợp phân bố băng cháy trên Biển Đông từ các báo cáo khác nhau.

Mở đầu

Bộ Tài nguyên Thiên nhiên, Trung Quốc mới đây (26/3) đã công bố nước này vừa thiết lập 2 kỷ lục thế giới về tổng lượng khí tự nhiên thu được từ hoạt động khai thác thử nghiệm băng cháy và về tổng lượng khí thu được trong một ngày sau khi kết thúc đợt thử nghiệm lần thứ 2 kéo dài khoảng một tháng (17/2-18/3) tại khu vực biển Shenhu nằm ở phía bắc Biển Đông. Kế hoạch khai thác băng cháy của Trung Quốc đã được đưa vào Kế hoạch quốc gia từ năm 2002 và không ngừng được giới cầm quyền nước này thúc đẩy thông qua nhiều biện pháp và dự án cụ thể đặc biệt từ sau năm 2013. Điều này đặt ra câu hỏi liệu có chăng một chính sách cụ thể, mang tính dài hạn của chính quyền Trung Quốc liên quan đến kế hoạch khai thác băng cháy trên Biển Đông trong thời gian tới?

Trên cơ sở phân tích về những đánh giá, nghiên cứu khảo sát của Trung Quốc về trữ lượng băng cháy; mục tiêu được chính phủ Trung Quốc đề ra và quá trình triển khai hoạt động khai thác trên thực tế có thể thấy, mặc dù vấp phải rất nhiều trở lực và thách thức song chính phủ Trung Quốc đã có những bước triển khai trên thực tế và gặt hái được thành quả bước đầu trong tiến trình khai thác băng cháy trên Biển Đông. Nội dung bài viết dưới đây sẽ bao quát lịch sử quá trình từ khi Trung Quốc manh nha thúc đẩy ý tưởng nghiên cứu băng cháy trên Biển Đông; cho đến hiện trạng khai thác hiện nay để làm rõ thực chất Trung Quốc đã đi đến bước nào trong tiến trình khai thác một loại năng lượng mới ở trên Biển Đông; đồng thời nhìn nhận những thách thức, triển vọng cũng như ý đồ và tác động từ việc khai thác băng cháy trên Biển Đông của Trung Quốc.

Băng cháy – nguồn năng lượng dồi dào mà Trung Quốc muốn làm chủ trên Biển Đông

Theo các khảo sát đánh giá của Trung Quốc, băng cháy hiện được tìm thấy ở cả trên đất liền và dưới biển sâu, cụ thể ở 4 khu vực: Biển Đông, Biển Hoa Đông, vùng băng vĩnh cửu của cao nguyên Thanh Tạng và vành đai phía đông bắc Trung Quốc[1]. Đáng chú ý, Trung Quốc xác định, chỉ 3% trữ lượng băng cháy được tìm thấy ở các khu vực như tầng băng vĩnh cửu, vùng biển gần bờ; còn lại 97% trữ lượng băng cháy được xác định ở vùng biển sâu của Biển Đông và biển Hoa Đông, trong đó chủ yếu là ở khu vực Biển Đông.

Theo báo cáo năm 2016 của Bộ Năng lượng Trung Quốc, vùng biển sâu ngoài khơi Trung Quốc được xác định là khu vực có trữ lượng băng cháy lớn nhất tương đương hơn 74,4 tỷ tấn dầu[2] quy đổi. Trữ lượng này ước tính đủ cho Trung Quốc sử dụng trong vòng khoảng gần 150 năm nếu khai thác được. Đặc biệt là, theo một số đánh giá của Trung Quốc, con số hơn 74 tỷ tấn dầu quy đổi trên mới chỉ là xác định bước đầu, trên thực tế, khu vực Biển Đông có thể còn tồn tại trữ lượng băng cháy lớn hơn rất nhiều mà Trung Quốc chưa xác định hết được[3].

Ở Biển Đông, theo Trung Quốc, băng cháy được phát hiện rải rác khắp khu vực, nhưng tập trung nhiều nhất ở khu vực phía bắc Biển Đông đặc biệt là khu vực đông bắc.

Phải lưu ý, các số liệu công bố về nguồn năng lượng băng cháy được phát hiện ở Biển Đông của Trung Quốc hiện còn chưa được hoàn thiện bởi lẽ việc tìm kiếm thăm dò nguồn năng lượng này tuy đã được triển khai ở Trung Quốc trong suốt hơn 10 năm qua nhưng những khu vực được Trung Quốc tiến hành khảo sát và thử nghiệm mới chỉ dừng lại ở phía bắc Biển Đông[4] do nhiều yếu tố liên quan đến kỹ thuật công nghệ, yếu tố hiệu quả kinh tế và cả vấn đề chính trị ở khu vực Biển Đông. Do đó, công cuộc phát triển nguồn năng lượng mới này ở Trung Quốc vẫn đang tiếp tục được coi là mục tiêu ưu tiên của Trung Quốc.

Trung Quốc xác định mục tiêu tiến tới sản xuất thương mại băng cháy trên Biển Đông vào năm 2030

Trên thực tế, Trung Quốc bắt đầu “nhòm ngó” đến nguồn năng lượng băng cháy từ rất sớm và không ngần ngại công bố lộ trình tiến tới mục tiêu cuối cùng là khai thác thương mại nguồn tài nguyên băng cháy trên Biển Đông.

Theo đó, trong Kế hoạch khai thác băng cháy quốc gia, Trung Quốc đặt ra mục tiêu cụ thể: “đến năm 2020 hoàn thành giai đoạn điều tra dữ liệu về băng cháy; từ năm 2020 – 2030 là giai đoạn thử nghiệm khai thác sản xuất và từ sau năm 2030 Trung Quốc sẽ tiến tới sản xuất thương mại nguồn tài nguyên băng cháy”[5].

Để đạt được mục tiêu này, trong Kế hoạch 5 năm lần thứ 13 (2016 – 2020), Trung Quốc xác định tư tưởng và phương châm chỉ đạo việc tìm kiếm, thăm dò khai thác băng cháy ở Trung Quốc là “đẩy mạnh việc nghiên cứu kết hợp với thăm dò điều tra; đổi mới, sáng tạo kết hợp với ứng dụng thực tiễn; khai thác tài nguyên phải đi đôi với môi trường”[6]. Sở dĩ chính quyền nước này rất chú ý đến vấn đề môi trường vì nhiều nghiên cứu chỉ ra mặc dù là nguồn năng lượng sạch dồi dào, xong trong quá trình khai thác, nếu ứng dụng kỹ thuật chưa chính xác, băng cháy có thể sẽ thải ra một lượng lớn khí thải gây ảnh hưởng tiêu cực đến khí quyển mà khó có thể khắc phụ được hậu quả[7]. Chính vì vậy, chính quyền Trung Quốc luôn lo lắng đến hệ luỵ từ việc nghiên cứu ứng dụng chưa đầy đủ công nghệ kỹ thuật cao trong quá trình khai thác nguồn tài nguyên dồi dào này.

Thực tiễn triển khai các kế hoạch tìm kiếm thăm dò và thử nghiệm khai thác băng cháy ở phía bắc Biển Đông

Dưới chính sách tăng cường và đẩy nhanh hoạt động tìm kiếm, thăm dò và khai thác băng cháy trên biển, Trung Quốc hiện nay đã gần hoàn tất bước 3 trong lộ trình 5 bước để tiến tới sản xuất thương mại băng cháy trên biển.

Theo lộ trình Trung Quốc đặt ra, để tiến tới mục tiêu sản xuất thương mại vào năm 2030, Trung Quốc đã trải qua giai đoạn nghiên cứu lý thuyết và thử nghiệm mô phỏng (từ 1998 – 2008); hiện nay Trung Quốc đã cơ bản hoàn tất giai đoạn tìm kiếm, thăm dò thử nghiệm và đang triển khai giai đoạn khai thác thử nghiệm (dự kiến đến hết năm 2020). Theo Trung Quốc đánh giá, việc công bố thiết lập 2 kỷ lục vừa qua đã giúp Trung Quốc tiến một bước xa để chuẩn bị bước vào giai đoạn 4 là sản xuất thử nghiệm bằng cháy (từ 2020 – 2030)[8].

Theo báo cáo của Cục Điều tra Địa chất biển Trung Quốc, trong giai đoạn 1 về nghiên cứu băng cháy, Trung Quốc đã tập hợp được hầu hết dữ liệu về băng cháy trên toàn bộ Biển Đông dựa trên các dữ liệu địa chất biển mà Trung Quốc đã có từ trước đó cũng như sự hợp tác của các cơ quan nghiên cứu nước ngoài. Do đó, Trung Quốc có cơ sở để kết luận về trữ lượng băng cháy trên Biển Đông cũng như những khu vực phân bố băng cháy rải rác khắp Biển Đông. Bước vào giai đoạn 2 về tìm kiếm thăm dò, Trung Quốc đã triển khai khoan thăm dò thực tế được tại một số khu vực ở phía bắc Biển Đông. Còn trong giai đoạn 3 về thử nghiệm khai thác, Trung Quốc mới chỉ khai thác thử nghiệm được ở khu vực Shenhu, nằm ở phía đông bắc Biển Đông. Cụ thể:

-Về tìm kiếm thăm dò, trong Chương trình quốc gia về Điều tra trữ lượng băng cháy ở vùng biển Trung Quốc công bố năm 2002, nước này đã đặt mục tiêu khoan thăm dò tại các khu vực mà Trung Quốc đánh giá có tiềm năng băng cháy cao gồm các khu vực: 1) bể trầm tích Haizao Hoàng Sa (Xisha Trough Basin), 2) khu vực bể trầm tích Qiong Dongnan nằm ở phía tây bắc Biển Đông, 3) khu vực Shenhu ở phía đông bắc Biển Đông và 4) khu vực Đông Sa[9].

Tháng 4-6/2007, Trung Quốc lần đầu tiên triển khai thành công kế hoạch khoan thăm dò lấy mẫu băng cháy ở khu vực Shenhu và trở thành nước thứ 4 trên thế giới (sau Mỹ, Nhật và Ấn Độ) khoan thử nghiệm được băng cháy ở trên biển vào thời điểm đó. Tháng 6-9/2013, Trung Quốc lần đầu tiên tiến hành khoan thử nghiệm thành công băng cháy ở khu vực nước sâu, vị trí khoan khi đó của Trung Quốc nằm ở phía đông bồn địa Châu Giang (phía bắc Biển Đông). Tháng 6-9/2015, Trung Quốc tiếp tục khoan ở toàn bộ 19 điểm thăm dò tại khu vực Shenhu[10]. Sau khi kết thúc giai đoạn khoan thử nghiệm ở một số khu vực ở phía bắc Biển Đông, Trung Quốc nhận định trữ lượng băng cháy ở khu vực phía bắc Biển Đông cực kỳ dồi dào. Theo số liệu đã được Trung Quốc kiểm định tại thời điểm đó, trữ lượng băng cháy ở khu vực phía bắc Biển Đông ít nhất tương đương với hơn một nửa trữ lượng dầu mỏ đã được Trung Quốc xác định ở trên lục địa[11].

-Về khai thác thử nghiệm, tính đến thời điểm hiện tại, Trung Quốc mới chỉ tiến hành thành công 2 đợt khai thác thử nghiệm ở khu vực biển Shenhu, cách Hồng Kông khoảng 300 km về phía đông nam (phía đông bắc Biển Đông). Đợt khai thác thử nghiệm lần đầu tiên bắt đầu từ tháng 3-6/2017. Trong đợt khai thác này, Trung Quốc đã tiến hành khoan ở độ sâu 1266m dưới mực nước biển và thu được khoảng 300.000 m3 khí tự nhiên từ băng cháy trong vòng khoảng 60 ngày[12]. Đợt khai thác thử nghiệm thứ 2 cũng ở khu vực biển Shenhu dưới độ sâu 1225m, được Trung Quốc tiến hành mới đây từ ngày 17/2-18/3/2020. Trong đợt khai thác này, Trung Quốc đã thu được 861.400 m3 khí tự nhiên từ băng cháy, tính trung bình mỗi ngày khai thác đạt khoảng 28.700 m3 khí. Với kết quả trên, Trung Quốc cho rằng, nước này đã lập kỷ lục thế giới về số lượng khí tự nhiên thu được từ băng cháy và trữ lượng khí thu được trong một ngày.[13]

Như vậy, tính tới thời điểm hiện tại, mặc dù Trung Quốc đã thu thập được dữ liệu về băng cháy trên toàn bộ khu vực Biển Đông trong giai đoạn nghiên cứu lý luận; song trong quá trình triển khai trên thực tế, Trung Quốc mới chỉ khoan thăm dò được ở toàn bộ khu vực biển Shenhu và một phần khu vực bồn địa Châu Giang; về khai thác, Trung Quốc mới chỉ tiến hành thành công hai đợt khai thác thử nghiệm ở khu vực biển Shenhu và thu được hơn 1 triệu m3 khí tự nhiên từ băng cháy trong gần 3 tháng tác nghiệp của cả hai đợt thử nghiệm.

Triển vọng và thách thức phải đối mặt

Quyết tâm mang tính chính trị, sự hậu thuẫn về mặt chính sách thông qua việc phân bổ nguồn lực vào các chương trình, dự án nhằm nâng cao năng lực khai thác băng cháy ở Trung Quốc là những nhân tố thuận lợi thúc đẩy kế hoạch khai thác băng cháy của nước này sớm đạt được mục tiêu cuối cùng là tiến tới khai thác thương mại nguồn băng cháy dồi dào trên Biển Đông vào năm 2030. Tuy nhiên, cũng phải thừa nhận rằng, trong bối cảnh công nghệ kỹ thuật như hiện nay, việc đạt được mục tiêu đặt ra của Trung Quốc gặp phải nhiều khó khăn, thách thức cản trở hơn là những thuận lợi từ chính sách hay quyết tâm chính trị của giới cầm quyền nước này.

Thuận lợi đầu tiên phải kể đến là việc thúc đẩy triển khai kế hoạch tìm kiếm thăm dò và khai thác băng cháy của Trung Quốc được coi như “một mũi tên trúng hai đích”, vừa giải quyết bài toán kinh tế, vừa xuất phát từ góc độ lợi ích chính trị. Nhìn lại lịch sử những lần Trung Quốc hạ đặt giàn khoan thăm dò dầu khí trên Biển Đông như sự kiện HD981 năm 2014; đưa tàu khảo sát HD8 vào phía nam Biển Đông từ tháng 7-10/2019 và tháng 4-5/2020 vừa qua có thể thấy, những hoạt động đó đều liên quan đến vấn đề chính trị chứ không chỉ là hoạt động khảo sát thăm dò dầu khí thông thường. Nói một cách khác, việc duy trì hoạt động thăm dò và khảo sát năng lượng trên Biển Đông gắn với mục tiêu về an ninh, chủ quyền và lãnh thổ của Trung Quốc. Hiện nay những nghiên cứu về băng cháy của Trung Quốc cũng chỉ ra các bể băng cháy có tiềm năng trên Biển Đông lại nằm ở những khu vực hết sức nhạy cảm, đặc biệt là nằm ven xung quanh cái gọi là “đường lưỡi bò” của Trung Quốc. Vì thế, trong tương lai, hoạt động thăm dò, khai thác băng cháy trên Biển Đông sẽ còn được chính quyền Trung Quốc quyết tâm thực hiện vì đây là cách thức để Trung Quốc thực hiện cái gọi là “chủ quyền không thể chối cãi trên Biển Đông” của mình.

Thứ hai, chính quyền Trung Quốc không ngừng ban hành các chính sách, thể chế và đầu tư nguồn nhân lực vào việc đẩy nhanh tiến độ khai thác khí tự nhiên từ băng cháy tạo điều kiện thuận lợi để đẩy nhanh tiến trình khai thác băng cháy. Từ năm 2002, chính quyền trung ương Trung Quốc đã chính thức đưa việc thăm dò tìm kiếm băng cháy vào chương trình quốc gia. Năm 2004, Trung Quốc cho thành lập Trung tâm Nghiên cứu Băng cháy thuộc Viện Năng lượng Quảng Châu. Để tạo khuôn khổ chính sách thuận lợi, Trung Quốc cho thành lập nhiều dự án nghiên cứu trọng điểm như Dự án quốc gia về băng cháy mang tên “Thăm dò đánh giá tiềm năng tài nguyên băng cháy ở vùng biển nước ta” năm 2002; Dự án Kỹ thuật then chốt để thăm dò và khai thác nguồn tài nguyên băng cháy ở Trung Quốc được thành lập trong quá trình triển khai Kế hoạch 863 (Kế hoạch nghiên cứu phát triển công nghệ kỹ thuật cao Trung Quốc giai đoạn Năm năm lần thứ 11). Năm 2008, Trung Quốc tiếp tục thành lập dự án giai đoạn mới nằm trong Kế hoạch 973 mang tên “Nghiên cứu cơ sở về khai thác băng cháy trên Biển Đông”. Có thể thấy, chính phủ Trung Quốc đặc biệt quan tâm và dành nhiều nguồn lực cho việc nghiên cứu, thăm dò tìm kiếm tiến tới khai thác nguồn băng cháy trên Biển Đông.

Thứ ba, dưới sự đầu tư nguồn lực của chính phủ, hiện Trung Quốc đã từng bước làm chủ và sáng tạo được các kỹ thuật và thiết bị công nghệ cao nhằm nâng cao hiệu quả thăm dò và khai thác băng cháy. Theo báo cáo của chính phủ Trung Quốc, đợt khai thác thử nghiệm diễn ra trong tháng 3 vừa qua, sở dĩ nước này đạt được 2 kỷ lục thế giới về sản lượng khai thác khí tự nhiên từ băng cháy do nước này đã nghiên cứu và ứng dụng thành công các kỹ thuật cũng như thiết bị mà nước này chế tạo. Ví dụ, về kỹ thuật khoan, Trung Quốc hiện nay là nước đầu tiên trên thế giới đã áp dụng thành công được kỹ thuật khoan ngang ở dưới biển sâu để khai thác khí tự nhiên từ băng cháy[14]. Mặc dù kỹ thuật khoan ngang ở tầng biển sâu đã được các nước khoa học tiên tiến như Mỹ thử nghiệm từ những năm 1980s, nhưng chưa nước nào áp dụng thành công kỹ thuật này vào hoạt động khai thác băng cháy.[15]  Về các thiết bị kỹ thuật cao, hiện nay Trung Quốc cũng đã tự nghiên cứu chế tạo và từng bước làm chủ các thiết bị phục vụ cho công tác thăm dò và khai thác băng cháy, giảm sự phụ thuộc vào nước ngoài. Theo báo cáo vừa qua của chính phủ Trung Quốc, nước này hiện đã làm chủ được 32 chi tiết thiết bị liên quan đến các kỹ thuật then chốt trong khai thác băng cháy trong đó có 6 hạng mục đạt được ưu thế vượt trội và 12 hạng mục thiết bị Trung Quốc đã tự chế tạo được[16]. Ngoài ra, Trung Quốc cũng đã nghiên cứu chế tạo các hệ thống nhằm ngăn ngừa và kiểm soát rủi ro với môi trường do hoạt động khai thác băng cháy tạo ra. Hệ thống này cũng đã được ứng dụng thành công trong đợt tác nghiệm vừa rồi của Trung Quốc ở vùng biển Shenhu.

Mặc dù vậy, không thể chối cãi rằng, các giới nghiên cứu của Trung Quốc đều thừa nhận các vấn đề được coi là trở lực lớn nhất đối với Trung Quốc nếu tiến tới khai thác băng cháy trên Biển Đông trong tương lai gần là: vấn đề hiệu quả kinh tế, vấn đề kiểm soát rủi ro môi trường trong quá trình khai thác và cả những nhạy cảm mang tính chính trị ở khu vực Biển Đông.

Đầu tiên là tính bất khả thi về hiệu quả kinh tế. Hiện nay, chi phí sản xuất một mét khối khí tự nhiên là chưa đến 1 NDT/m3. Trong khi đó, chi phí sản xuất băng cháy được thế giới thống kê tương đương với 30 – 50 usd/ triệu đơn vị BTU khí tự nhiên từ băng cháy (khoảng 220 – 360 NDT). Theo như IEA dự tính, cho đến khi các nước áp dụng được một cách hiệu quả về kỹ thuật, phương pháp và quy trình khai thác thì cũng sẽ mất khoảng 4.7 – 8.5 usd (tương đương 33 – 80 NDT) để khai thác được một triệu đơn vị BTU khí tự nhiên từ băng cháy[17]. Chính vì vậy mà, theo ông Zhang Maorong, Trưởng ban nghiên cứu Năng lượng và Môi trường, Viện Nghiên cứu Quan hệ Quốc tế hiện đại Trung Quốc đánh giá cho rằng, việc đạt được đến mục tiêu khai thác thương mại băng cháy trên biển vào năm 2030 đối với Trung Quốc là không hề dễ dàng, vì để đạt được mục tiêu này, Trung Quốc phải đạt được song song rất nhiều mục tiêu, vừa thăm dò tìm kiếm được nhiều mỏ băng cháy với trữ lượng và điều kiện thuận lợi; vừa nghiên cứu các kỹ thuật để giảm giá thành sản xuất, như vậy nghĩa là phải vừa đạt đột phá trong nghiên cứu lý luận, vừa đột phá trong công nghệ, thiết bị thì mới giúp Trung Quốc đạt được mục tiêu trên.[18]

Bên cạnh đó là những rủi ro về vấn đề môi trường mà Trung Quốc chưa thể giải quyết. Để khai thác băng cháy, cần tăng nhiệt độ, giảm áp suất để giải phóng khí, do đó, các nước khi tiến hành khai thác băng cháy sẽ phải dùng tác động từ bên ngoài tạo môi trường thay đổi về nhiệt độ và áp suất để khai thác được băng cháy. Chính những tác động làm thay đổi nhiệt độ và áp suất lại dẫn đến những hệ luỵ như lở đất dưới đáy biển, sóng thần, huỷ diệt sinh vật biển,… Ngoài ra, khi khai thác băng cháy sẽ giải phóng ra một lượng lớn khí metan, nếu kỹ thuật khoan không chuẩn, những lỗ khoan bị rò rỉ sẽ gây thoát một lượng lớn khí metan huỷ hoại nghiêm trọng cho môi trường, gây hiệu ứng nhà kính, biến đổi khí hậu. Hiện nay, Trung Quốc nhận thức rằng, nếu khai thác băng cháy không an toàn và dẫn tới nổ băng cháy thì hậu quả có thể sẽ gấp mười nghìn lần năng lượng của vụ nổ hạt nhân[19]. Do đó, Trung Quốc tuyệt đối không thể xem nhẹ những hệ quả của việc khai thác băng cháy trong tương lai. Chính vì vậy, trọng tâm nghiên cứu chế tạo của Trung Quốc hiện nay vẫn tập trung làm sao để giảm thiểu những rủi ro có thể xảy ra trong quá trình nước này tiến hành khai thác băng cháy. Đây vừa là rào cản lớn nhất, song cũng là nút thắt quan trọng trong việc mở ra triển vọng sản xuất thương mại băng cháy trong tương lai của Trung Quốc.

Những tác động và hệ luỵ trong tương lai

Trung Quốc nhận thức rằng, băng cháy là một nguồn năng lượng sạch của tương lai, sớm muộn sẽ thay thế nguồn năng lượng dầu khí truyền thống. Do đó, tương lai sẽ là cuộc cạnh tranh giữa những nước lớn trong công cuộc làm chủ lĩnh vực khai thác băng cháy. Trung Quốc cũng cho rằng, nước nào làm chủ được công nghệ và kỹ thuật khai thác, sớm sản xuất thương mại được băng cháy sẽ là nước có được lợi thế trong cục diện năng lượng trong tương lai[20]. Với tiềm năng có trữ lượng băng cháy ở ngoài khơi lớn, thêm vào đó là những thành tựu bước đầu như lập kỷ lục về sản lượng khai thác khí tự nhiên từ băng cháy cũng như sản lượng khí khai thác được trong một ngày, Trung Quốc hiện nay đang tự tin là quốc gia dẫn đầu thế giới về lĩnh vực khai thác nguồn năng lượng tương lai này. Thực tế này cũng củng cố thêm quyết tâm của chính quyền Trung Quốc trong việc đạt được mục tiêu đến năm 2030 khai thác thương mại từ băng cháy trên Biển Đông.

Quyết tâm này nằm trong tổng thể chính sách trở thành “cường quốc biển”, đồng thời là một phần trong thực thi và triển khai chính sách Biển Đông của Trung Quốc. Do đó, Trung Quốc chắc chắn sẽ không bao giờ từ bỏ việc tìm kiếm, thăm dò và từng bước khai thác băng cháy trên Biển Đông.

Nếu thuận lợi, đến năm 2030 Trung Quốc đạt được mục tiêu sản xuất thương mại băng cháy ngoài khơi, khi đó Trung Quốc sẽ dành lợi thế, làm chủ được nguồn năng lượng khổng lồ và thay đổi cán cân nhập khẩu năng lượng đến 70% hiện nay. Xuất phát từ thực tế tìm kiếm thăm dò và thực nghiệm hiện nay, trong tương lai diễn tiến khai thác băng cháy của Trung Quốc sẽ bắt đầu từ những mỏ băng cháy ở phía bắc Biển Đông và lấn dần sang các mỏ ở phía vùng biển Đài Loan, Trung Sa, Hoàng Sa rồi sau đó trong tương lai dài, không loại trừ tham vọng tiến sâu tới cả các điểm cực của cái mà Trung Quốc vẫn gọi là “đường lưỡi bò”. Khi đó, việc khai thác băng cháy của Trung Quốc ắt sẽ làm bùng lên tranh chấp ở khu vực phía nam Biển Đông bởi các quốc gia ven biển sẽ đều kiên quyết bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền ở Biển Đông của mình, kiên quyết phản đối các hành động ngang ngược và phi lý của Trung Quốc ở Biển Đông trong đó có cả kịch bản hoạt động khai thác băng cháy ở phía nam Biển Đông của Trung Quốc.

Kết luận

Với việc phát hiện ra một trữ lượng lớn băng cháy ở Biển Đông – nguồn năng lượng có thể đáp ứng gần 150 năm nhu cầu năng lượng của Trung Quốc, nhiều năm trở lại đây, nước này đã không ngừng thúc đẩy các hoạt động tìm kiếm, thăm dò và tiến tới khai thác thử nghiệm băng cháy trên Biển Đông. Tuy nhiên, cho tới hiện tại, Trung Quốc mới chỉ tiến hành thành công hai đợt khai thác thử nghiệm băng cháy ở khu vực Shenhu nằm ở phía đông bắc Biển Đông với tổng hơn 1 triệu m3 khí tự nhiên thu được từ hai đợt thử nghiệm này. Với kết quả trên, Trung Quốc tự tin cho rằng mình là quốc gia dẫn đầu thế giới trong lĩnh vực khai thác băng cháy và có đủ khả năng để đạt được mục tiêu sản xuất thương mại băng cháy vào năm 2030. Mặc dù vậy, phải khẳng định rằng, xét ở bối cảnh hiện tại, dù Trung Quốc đã làm chủ được nhiều công nghệ tiến tiến, nghiên cứu chế tạo thành công các thiết bị phục vụ công tác khai thác băng cháy, tuy nhiên, với chi phí kinh tế quá cao, đi kèm với đó là những rủi ro rất lớn về môi trường mà Trung Quốc chưa tìm được cách xử lý triệt để là những thách thức rất lớn cản trở triển vọng khai thác băng cháy trên Biển Đông trong tương lai gần của Trung Quốc. Song, với quyết tâm chính trị rất lớn trong việc “kiểm soát và làm chủ Biển Đông”, khai thác băng cháy sẽ được chính quyền Trung Quốc sử dụng như một công cụ để khẳng định cái gọi là “chủ quyền không thể chối cãi của Trung Quốc trên Biển Đông”. Khi đó, hoạt động khai thác băng cháy trong khu vực biển không thuộc chủ quyền, quyền của quyền của Trung Quốc trong tương lai chắc chắn sẽ tiếp tục là căn nguyên khiến tình hình Biển Đông thêm phức tạp và rối ren.

BDN

Loading

Views: 0

Đề nghị Đức đưa tàu chiến tới Đông Á, Nhật Bản củng cố chiến dịch chống Trung Quốc?

Theo trang tin DW của Đức, Nhật Bản đang xây dựng liên minh các nước trên thế giới nhằm chống lại chính sách bành trướng hiếu chiến của Trung Quốc ở khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương.

Nguồn tin cho biết chính phủ Nhật Bản đã đề nghị Đức triển khai một tàu chiến tới Đông Á trong năm tới khi Tokyo tìm cách đẩy mạnh sự ủng hộ của quốc tế đối với tầm nhìn của nước này về một khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương rộng mở và tự do.

Nhật Bản hy vọng Đức sẽ triển khai một tàu tham gia tập trận chung với các đơn vị thuộc Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản trong năm 2021. Ảnh chụp một tàu khu trục nhỏ của Đức tại cảng Wilhelmshaven ở bang Lower Saxony.

Trong cuộc hội đàm trực tuyến hôm 15/12 với người đồng cấp Đức Annegret Kramp-Karrenbauer, Bộ trưởng Quốc phòng Nhật Bản Kishi Nobuo bày tỏ hy vọng Đức sẽ triển khai một tàu tham gia các cuộc tập trận chung với các đơn vị thuộc Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản trong năm 2021.

Đáng chú ý, ông Kishi Nobuo gợi ý rằng nỗ lực của cộng đồng quốc tế nhằm đảm bảo quyền qua lại của tàu thuyền ở Biển Đông sẽ được hỗ trợ nếu tàu chiến của Đức đi vào vùng biển mà Bắc Kinh đã chiếm giữ trong những năm gần đây, bất chấp tuyên bố chủ quyền đối với các rạn san hô, quần đảo và vùng biển của các nước xung quanh.

Ban đầu, Trung Quốc khẳng định sẽ không triển khai quân tới các quần đảo, song Bắc Kinh đã tiến hành cải tạo quy mô lớn trên một số đảo lớn với các ụ tên lửa và đường băng được xây dựng cho máy bay chiến đấu.

Nhật Bản đặc biệt quan tâm đến việc giữ các vùng biển ở Biển Đông không nằm trong sự kiểm soát trực tiếp của Bắc Kinh vì phần lớn hàng hóa nhập khẩu của Nhật Bản, bao gồm cả nguồn cung cấp năng lượng quan trọng từ Trung Đông, phải đi qua khu vực này.

Theo ông Akitoshi Miyashita, Giáo sư quan hệ quốc tế tại Đại học Quốc tế Tokyo, lời đề nghị của Nhật Bản tới Đức là một phần của chiến dịch lớn hơn nhằm xây dựng một liên minh chống lại tham vọng lãnh thổ của Trung Quốc.

Ông nói: „Nhật Bản đang cố gắng để càng nhiều nước phương Tây có cùng chí hướng cử các đơn vị quân sự đến Đông Á càng tốt để gửi tín hiệu tới Trung Quốc rằng các nước nhất trí tìm kiếm một khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương tự do và rộng mở“.

Tuy nhiên, ông Miyashita không cho rằng Đức sẽ tham gia vào bất kỳ hành động cụ thể nào, song nhận định sự hiện diện của tàu chiến Đức ở Đông Á sẽ gửi một thông điệp rõ ràng tới Bắc Kinh.

Trước đó, Tokyo đã thông báo Nhật Bản, Pháp và Mỹ sẽ thực hiện các cuộc diễn tập quân sự chung lần đầu tiên vào tháng 5/2021, trong khi tàu sân bay HMS Queen Elizabeth của Anh cũng sẽ đến khu vực với một lực lượng đặc nhiệm đi cùng để tập trận.

TG&VN

Loading

Views: 0

Cuộc cạnh tranh trong không gian “chồng lấn, mờ ảo”

Ngày 17/12, ba lực lượng Hải quân, Thủy quân lục chiến và Tuần duyên Mỹ công bố chiến lược biển mới tập trung vào việc kiềm chế Trung Quốc.

Chiến lược biển mới yêu cầu các quân chủng phải sát cánh cùng nhau ngay lúc này để chuẩn bị cho một cuộc chiến công nghệ cao với Trung Quốc. Bên cạnh đó, ba lực lượng chủ chốt này cần một chiến lược và các công cụ phù hợp để chống lại sự cạnh tranh hàng ngày, cái được gọi là vùng xám, mà Trung Quốc hiện đang tiến hành.

Chiến lược biển mới của Mỹ cáo buộc Trung Quốc đã có những hành động ngông cuồng, gây căng thẳng trên Biển Đông. Cụ thể là: 1-tấn công mạng quân sự và dân sự; 2- triển khai lực lượng bổ trợ hải quân giả trang thành tàu dân sự; 3- quân sự hóa các đảo và bãi đá tranh chấp ở Biển Đông; 4-xây dựng năng lực tác chiến, chiến lược, vũ trụ, không gian mạng, điện tử và tâm lý chiến; 5-gây sức ép về kinh tế đối với các nước nhỏ để xây dựng cơ sở hạ tầng hậu cần ở nước ngoài và đặt cơ sở hạ tầng tại các vị trí hàng hải chiến lược.

Nhằm đạt được mục tiêu lâu dài đó, Bắc Kinh đã triển khai Hạm đội tổng hợp lớn nhất thế giới. Đây là một lực lượng khổng lồ gồm khoảng 700 tàu chiến, tàu tuần duyên và tàu dân quân giả dạng tàu đánh cá. Những con tàu này phối hợp hoạt động để chiếm các vùng biển tranh chấp, gây xung đột với tàu của các nước đối thủ và can thiệp vào các cuộc tuần tra của Hải quân Mỹ.

Washington cảnh cáo Bắc Kinh, rằng các hành dộng nêu trên đã diễn ra trong nhiều năm, lặp đi lặp lại nhiều lần như một sự thách đố các quốc gia liên quan trên Biển Đông. Tới đây các quân chủng Hải quân, Thủy quân lục chiến và tuần duyên Mỹ sẽ có những biện pháp kiên quyết và cứng rắn hơn để ngăn chặn những hành động gây hấn của Trung Quốc.

Washington khẳng định một cách mạnh mẽ: Các hành động gây hấn của Trung Quốc đã và đang phá hoại trật tự quốc tế dựa trên nền tảng vững chắc của luật pháp. Nước này ỷ thế năng lực và khả năng quân sự ngày càng tăng nên ngày càng hung hăng, với những hành động tồi tệ, ở mức đáng báo động.

Đối với Mỹ, Trung Quốc đã thực hiện chiến lược và cách tiếp cận theo chủ nghĩa xét lại, nhằm vào trung tâm sức mạnh hàng hải của Mỹ. Bắc Kinh tìm mọi cách làm xói mòn quản trị hàng hải quốc tế, ngăn cản quyền tiếp cận các trung tâm hậu cần truyền thống, ngăn cản quyền tự do trên biển, ngăn cản sự tham gia của Mỹ trong các tranh chấp khu vực, hòng thay thế Mỹ, trở thành đối tác ưu tiên của các nước trong khu vực.

Các nhà chiến lược có một thuật ngữ để nói về cái gọi là “sức mạnh” của Trung Quốc đang ở đâu đó trên hòa bình nhưng dưới chiến tranh: “vùng xám”. Và khi các hoạt động hải quân Trung Quốc diễn ra trong vùng xám thì đòi hỏi một phản ứng tương tự của hải quân các nước cũng phải trong vùng xám, có nghĩa là, cạnh tranh trong những không gian chồng lấn, mờ ảo.

Cuộc cạnh tranh trong không gian “chồng lấn, mờ ảo” đó chính là nhiệm vụ của Tuần duyên Mỹ. Lực lượng ven biển với các tàu vũ trang hạng nhẹ, sức bền cao và chuyên thực thi nhiệm vụ bảo đảm pháp luật.

Việc tích hợp chức năng thi pháp luật, bảo vệ nghề cá, an toàn hàng hải và an ninh hàng hải của tuần duyên với năng lực của hải quân và thủy quân lục chiến sẽ mở rộng các lựa chọn cho quân đội Mỹ.

Việc Mỹ công bố chiến lược biển mới lần này thêm một minh chứng cho chính sách của Washington ở Đông Nam Á. Chính sách đó ưu tiên số một cho tự do hàng hải vì điều đó liên quan đến lợi ích cốt lõi Mỹ. Trong trường hợp Bắc Kinh khống chế hoàn toàn Biển Đông, thì 1/4 khối lượng hàng hóa chuyển qua eo biển Malacca đi đến các cảng Thái Bình Dương của Mỹ sẽ bị Trung Quốc kiểm soát.

Mỹ chỉ có một con đường duy nhất là: Phải kiên quyết chống lại và giải quyết những mâu thuẫn này bằng các phương tiện quân sự, ngăn chặn tham vọng bá quyền, độc chiếm Biển Đông của Trung Quốc.

Con đường duy nhất ấy đặt lên vai các ông chủ Nhà trắng một sứ mệnh nặng nề và không thể thay đổi. Tổng thống nào của nước Mỹ, đại diện cho đảng Dân chủ, hay Cộng hòa, dù khôn khéo, mềm mỏng đến đâu cũng phải làm như thế. Vì lợi ích dân tộc là trên hết.

BDN

Loading

Views: 0

Ngoại trưởng Mỹ, Philippines điện đàm về phán quyết PCA và ‚lợi ích chung‘ ở Biển Đông

Ngoại trưởng Mỹ Mike Pompeo và người đồng cấp Philippines Teodoro Locsin Jr. đã điện đàm ngày 18/12, trong đó tái khẳng định hợp tác về phán quyết Biển Đông năm 2016 của tòa trọng tài ở La Haye.
Ngoại trưởng Mỹ Mike Pompeo và người đồng cấp Philippines Teodoro Locsin Jr. đã điện đàm ngày 18/12, trong đó tái khẳng định hợp tác về phán quyết Biển Đông năm 2016 của tòa trọng tài ở La Haye.
Ngoại trưởng Mỹ Mike Pompeo và người đồng cấp Philippines Teodoro Locsin Jr. điện đàm ngày 18/12, trong đó tái khẳng định hợp tác về phán quyết Biển Đông năm 2016 của tòa trọng tài ở La Haye.

Bộ Ngoại giao Mỹ thông báo nước này và Philippines ngày 18/12 đã thảo luận về cách thức cải thiện quan hệ đồng minh giữa hai nước, trong đó có những biện pháp nhằm ủng hộ phán quyết năm 2016 của tòa trọng tài ở La Haye, vốn làm vô hiệu hóa những yêu sách quá đáng của Trung Quốc đối với Biển Đông.

Trong một tuyên bố, phó phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Mỹ Cale Brown cho biết Ngoại trưởng Mỹ Mike Pompeo và người đồng cấp Philippines Teodoro Locsin Jr. đã điện đàm ngày 18/12, trong đó tái khẳng định hợp tác về phán quyết nói trên của tòa trọng tài ở La Haye.

Tuyên bố có đoạn: „Hai bên đã thảo luận về các cơ hội củng cố hơn nữa quan hệ đồng minh Mỹ-Philippines và tính ràng buộc của phát quyết năm 2016 của tòa trọng tài về các bên ở Biển Đông.

Hai ngoại trưởng cũng thảo luận về các quan hệ kinh tế, an ninh, dân chủ và giao lưu nhân dân, vốn tạo nên mối quan hệ bền chặt giữa hai nước“.

Trong khi đó, thông qua mạng xã hội Twitter, Ngoại trưởng Pompeo cho hay ông đã nói với người đồng cấp Philippines về „những lợi ích chung“ tại Biển Đông.

TG&VN

Loading

Views: 0

Nghi án không quân Mỹ và TQ vừa ’so kè‘ tập trận ở Biển Đông?

Truyền thông của quân đội Trung Quốc vừa tung hình ảnh cho thấy lực lượng không quân của Chiến khu Nam bộ nước này đã điều động chiến đấu cơ J-10 tập trận đúng vào ngày không quân Mỹ tiến hành tập trận “hiếm có” ở Biển Đông.

Chiến đấu cơ J-10 của Chiến khu Nam bộ Trung Quốc cất cánh trong cuộc tập trận ngày 10.12.

Tối 16.12, cổng thông tin của Quân Ủy T.Ư Trung Quốc (CMC) công bố một số hình ảnh tập trận của không quân nước này. Theo đó, lực lượng không quân của Chiến khu Nam bộ nước này vừa điều động một số chiến đấu cơ J-10 tập trận vào ngày 10.12.

Bản tin không nói rõ địa điểm và số lượng máy bay tham gia cuộc tập trận này, nhưng Chiến khu Nam bộ của Trung Quốc có khu vực hoạt động bao trùm cả khu vực Biển Đông mà nước này đưa ra tuyên bố chủ quyền phi pháp. Thêm vào đó, một trong các hình ảnh cho thấy 2 chiến đấu cơ J-10 tham gia tập trận.

Ngoài ra, một hình ảnh khác cho thấy còn một máy bay khác tham gia cuộc tập trận khi chụp lại hình ảnh 2 chiếc J-10 khác đang bay. Trước đó, ngày 15.12, cổng thông tin của CMC đăng tải thông tin một cuộc tập trận của máy bay J-10 thuộc Chiến khu Nam bộ vừa diễn ra vào tháng 11.

Thông tin tập trận vào ngày 10.12 gây chú ý bởi đây là ngày mà không quân Mỹ tiến hành cuộc tập trận “hiếm có” ở Biển Đông. Mới đây, website của không quân Mỹ thông báo ngày 10.12, lực lượng này đã điều động oanh tạc cơ B-1 Lancer xuất kích từ căn cứ Andersen trên đảo Guam bay đến Biển Đông. Tại Biển Đông, oanh tạc cơ B-1 tham gia cuộc tập luyện với 2 chiến đấu cơ thế hệ 5 F-22.

Chỉ huy phi vụ của nhóm chiến đấu cơ F-22 cho biết: “Nhiệm vụ lần này giúp chúng tôi phối hợp với oanh tạc cơ B-1 và một số lực lượng khác của không quân nhằm kiểm tra năng lực cảnh báo và khả năng sẵn sàng của căn cứ Andersen trước các mối đe dọa”. Theo vị chỉ huy, trong hoạt động lần này, F-22 đã được xuất kích khẩn cấp để đánh chặn mối đe dọa trên không. Đại diện không quân Mỹ cho rằng đây là cuộc tập trận “hiếm có”.

Từ mốc thời gian và lực lượng tiến hành tập trận, nhiều khả năng cuộc tập trận ngày 10.12 của Trung Quốc cũng diễn ra ở Biển Đông. Nếu đúng như thế thì ngày 10.12 ở khu vực Biển Đông đã diễn ra 2 cuộc tập trận do không quân Mỹ và Trung Quốc tiến hành, trong bối cảnh tình hình vùng biển có nhiều diễn biến phức tạp.

BDN

Loading

Views: 0

Việt Nam lên tiếng về việc tăng bất thường nồng độ phóng xạ trên Biển Đông

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng nêu phản ứng về thông tin phát hiện nồng độ phóng xạ cao bất thường ở Biển Đông trong cuộc họp báo thường kỳ Bộ Ngoại giao Việt Nam chiều 17/12.
Vị trí ghi nhận nồng độ phóng xạ cao nhất nằm gần đá Vành Khăn thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam nhưng bị Trung Quốc chiếm đóng trái phép. Trong ảnh: Các công trình phi pháp Trung Quốc ngang nhiên xây dựng trên đá Vành Khăn. (Tuổi trẻ/ Ảnh chụp màn hình)
Tại họp báo thường kỳ Bộ Ngoại giao, liên quan đến câu hỏi Philippines thông tin có sự gia tăng bất thường nồng độ phóng xạ ở Biển Đông gần các thực thể mà Trung Quốc kiểm soát, Người phát ngôn Lê Thị Thu Hằng cho biết, các cơ quan chức năng Việt Nam quan tâm và đang xác minh thông tin như bạn nêu.

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam lưu ý, Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS) quy định rõ ràng các quốc gia có nghĩa vụ bảo vệ và gìn giữ môi trường biển, cũng như tôn trọng chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán của các quốc gia ven biển được xác định phù hợp với công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển.

„Việc sử dụng, khai thác, vận chuyển các phương tiện, thiết bị, vật liệu có nguy cơ gây mất an toàn bức xạ và an toàn hạt nhân cần tuân thủ quy định của luật pháp quốc tế, các quy tắc, quy chuẩn về bảo đảm an toàn bức xạ và an toàn hạt nhân của cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế và không ảnh hưởng đến duy trì hòa bình, ổn định trong khu vực“, bà Lê Thị Thu Hằng nhấn mạnh.

Hồi đầu tháng 12, báo Philstar của Philippines cho biết, nhóm chuyên gia Viện nghiên cứu hạt nhân Philippines đã phát hiện iốt 129 tại một số rạn san hô thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam và vùng biển phía Đông Philippines. Điểm đáng chú ý là nồng độ iốt 129 cao nhất ở những mẫu nước biển được lấy gần các thực thể bị Trung Quốc chiếm đóng và cải tạo trái phép.

TG&VN

Loading

Views: 0

Nỗ lực của chính quyền Tổng thống Donald Trump đối với Biển Đông

Trong những ngày qua, đã có nhiều bài viết về dấu ấn đối ngoại trong 4 năm nhiệm kỳ của Tổng thống Donald Trump, nhất là trên vấn đề Biển Đông. Cùng với chính sách cứng rắn, kiềm chế Trung Quốc chính quyền của Tổng thống Donald Trump đã thi hành chính sách mạnh mẽ nhất từ trước đến nay trên vấn đề Biển Đông.

Theo đó, chính sách Biển Đông của chính quyền Trump dựa trên ba trụ cột chính: một là, rõ ràng về pháp lý, chính thức đưa ra lập trường pháp lý bác bỏ các yêu sách ở Biển Đông dựa trên luật pháp quốc tế, đề cao giá trị phán quyết 12/7/2016 của Tòa Trọng tài vụ kiện Biển Đông do Philippines khởi kiện Trung Quốc; hai là, can dự ngày càng sâu rộng trên thực địa với sự tham gia của nhiều lực lượng (hải quân, không quân và lực lượng tuần duyên); ba là, kéo các đồng minh, đối tác cùng tham gia vào các hoạt động kiềm chế Trung Quốc ở Biển Đông trong khuôn khổ chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, cả trên lĩnh vực pháp lý và hoạt động trên thực địa.

Mặc dù thất thế trong cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ hôm 03/11 vừa qua và phải bận rộn với cuộc chiến pháp lý liên quan đến kết quả bầu cử Tổng thống, song chính quyền Trump không sao nhãng đối thủ tiềm tàng Trung Quốc, tiếp tục tìm cách củng cố sự phối hợp của nhóm “Bộ Tứ” (gồm Mỹ, Nhật, Úc, Ấn) trong kiềm chế Trung Quốc và tranh thủ các nước Đông Nam Á để ngăn chặn Trung Quốc ở Biển Đông.

Đầu tháng 10 (trước cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ một tháng), Ngoại trưởng Mỹ Mike Pompeo đã đến thăm Nhật Bản và tham dự cuộc họp lần thứ hai cấp Bộ trưởng Ngoại giao nhóm “Bộ Tứ” nhằm củng cố hợp tác với Nhật, Úc, Ấn, thúc đẩy triển khai chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do, rộng mở.

Cuối tháng 10 ngay trước thềm cuộc bầu cử, Ngoại trưởng Pompeo cùng với Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Mark Esper đến Ấn Độ tham dự cuộc đối thoại chiến lược thường niên giữa Mỹ – Ấn Độ và ký Hiệp định Hợp tác và Trao đổi cơ bản (BECA) – được coi là một thỏa thuận quân sự cho phép Ấn Độ truy cập dữ liệu bản đồ và vệ tinh tiên tiến của Mỹ, giúp tên lửa và máy bay không người lái của Ấn Độ đạt độ chính xác cao hơn. Sau cuộc đối thoại, hai bên ra tuyên bố tái khẳng định “cam kết về việc duy trì một khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương cởi mở, tự do và thịnh vượng dành cho mọi quốc gia dựa trên trật tự các quy tắc quốc tế, được củng cố bởi lập trường trung lập của ASEAN, quy tắc pháp luật, đầu tư cơ sở hạ tầng bền vững và minh bạch, tự do hàng hải và hàng không, sự tôn trọng chủ quyền lãnh thổ và nỗ lực giải quyết tranh chấp bằng giải pháp hòa bình”. Rõ ràng, đây là những nội dung nhắm vào Bắc Kinh.

Tiếp theo đó, Ngoại trưởng Mike Pompeo đã thăm 4 nước Sri Lanka, Maldives, Indonesia và Việt Nam nhằm tìm kiếm sự ủng hộ của các nước này trong khu vực trước ảnh hưởng ngày một lớn từ Trung Quốc. Tại Indonesia và Việt Nam, Ngoại trưởng Mike Pompeo đã trao đổi về Biển Đông, trong đó nhấn mạnh các giá trị của luật pháp quốc tế.

Giới quan sát nhận định, chuyến thăm 5 nước Châu Á của ông Pompeo có ý nghĩa quan trọng củng cố di sản của Tổng thống Donald Trump trong chính sách đối ngoại với trọng tâm là chiến lược ở Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Đặc biệt, qua chuyến thăm bất ngờ đến Việt Nam, Ngoại trưởng Pompeo muốn gửi thông điệp về chính sách đối ngoại không thay đổi của Mỹ đối với khu vực, trước thềm Hội nghị Đông Á và Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 37 mà Việt Nam là nước chủ trì với tư cách Chủ tịch ASEAN trong năm 2020.

Nửa tháng sau bầu cử ở Mỹ, Cố vấn An ninh quốc gia Mỹ Robert O’Brien công du đến Việt Nam và Philippines – 2 nước có khúc mắc lớn nhất với Trung Quốc ở Biển Đông. Tại Hà Nội, ông Robert O’Brien đã gặp gỡ trao đổi về các vấn đề an ninh khu vực với Thủ tướng Việt Nam và người đứng đầu các cơ quan Ngoại giao, Quốc phòng, Công an. Các nội dung cụ thể không được tiết lộ, song một số chuyên gia nhận định rằng chắc chắn hai bên trao đổi các vấn đề nhạy cảm liên quan đến Biển Đông.

Trong khi đó, phát biểu trước các sinh viên tại Học viện Ngoại giao Việt Nam, ông Robert O’Brien khẳng định: “Chúng tôi (Mỹ) chia sẻ cam kết sâu sắc đối với một khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương dựa trên các quy tắc tôn trọng, công bằng và các nguyên tắc của luật pháp quốc tế như chủ quyền và tự do hàng hải”; nhấn mạnh Mỹ phản đối quan điểm “chân lý thuộc về kẻ mạnh” và “đó chính là lý do vì sao Mỹ có một lập trường vững chắc phản đối sự cưỡng ép, bắt nạt tại Biển Đông và các mối đe dọa an ninh trong khu vực Mê Công”.

Trong các cuộc trao đổi với lãnh đạo Philippines khi thăm Manila, Cố vấn an ninh quốc gia Mỹ Robert O’Brien nhấn mạnh “Chúng tôi (Mỹ) hoan nghênh những tuyên bố gần đây của Tổng thống Duterte và Ngoại trưởng Locsin tại Hội nghị cấp cao ASEAN 37 và Hội nghị cấp cao Đông Á mà tôi đã tham dự, là kêu gọi tất cả quốc gia, kể cả một quốc gia lớn trong khu vực, tôn trọng luật pháp quốc tế ở Biển Đông”. Ông O’Brien trao tặng Philippines gói vũ khí trị giá 18 triệu USD và tái khẳng định Hiệp ước phòng thủ chung được ký vào năm 1951 áp dụng cho bất kỳ cuộc tấn công nhắm vào lực lượng, máy bay hoặc tàu Philippines ở Biển Đông.

Trong bối cảnh đại dịch Covid-19, các cuộc họp song phương hay đa phương thường được tổ chức dưới hình thức trực tuyến, song mật độ công du các nước Châu Á, bao gồm một số nước Đông Nam Á của lãnh đạo, quan chức cấp cao Mỹ vẫn dày đặc thể hiện rõ tính chất quan trọng của các cuộc gặp gỡ trực tiếp mà ở đó hai bên có thể trao đổi nhiều vấn đề quan trọng vì trên thực tế, việc hội đàm trực tuyến vẫn có rủi ro bị tin tặc do thám, nhiều nội dung quan trọng có thể bị rò rỉ thông tin.

Bắc Kinh thông qua các cơ quan đại diện của họ ở Việt Nam và Philippines đưa phản ứng về chuyến thăm Việt Nam và Philippines của Cố vấn An ninh quốc gia Mỹ Robert O’Brien. Trên trang Facebook của Đại sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội và Manila cũng như của Tổng Lãnh sự quán Trung Quốc tại thành phố Hồ Chí Minh đã có bài viết thể hiện thái độ hằn học, vu cáo ông Robert O’Brien “công kích” Trung Quốc, có những phát ngôn “ác ý làm nóng vấn đề Nam Hải (Biển Đông) và sông Mê Công”. Đáng chú ý là trang Facebook của Tổng Lãnh sự quán Trung Quốc ở thành phố Hồ Chí Minh còn đưa ra lời bình luận khá hằn học, khiếm nhã, không phù hợp với những ngôn từ ngoại giao: “Sắp mất chức lại xúi bẩy gây chuyện khắp nơi, về nước chuẩn bị chuyển giao công việc cho cố vấn an ninh kế nhiệm đi”, nhưng sau đó đã bị xóa đi, có lẽ do họ thấy quá thiếu văn hóa khi có những lời lẽ bất nhã như vậy.

Giới quan sát nhận định chuyến thăm Việt Nam và Philippines của Cố vấn An ninh quốc gia Mỹ Robert O’Brien mang ý nghĩa quan trọng không chỉ đối với quan hệ song phương mà cả với khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương; các chuyến thăm các nước Châu Á dồn dập của lãnh đạo cấp cao Mỹ vào những tháng cuối cùng của nhiệm kỳ là nhằm củng cố di sản của Tổng thống Donald Trump trong chính sách đối ngoại với trọng tâm là chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương và Biển Đông được xác định là vấn đề then chốt.

Bên cạnh các chuyến thăm, Washington tiếp tục gia tăng sức ép lên Bắc Kinh trên vấn đề thương mại và vấn đề Đài Loan. Nhiều chuyên gia cảnh báo chính quyền Tổng thống Trump có thể áp dụng thêm những biện pháp cứng rắn hơn với Trung Quốc trên vấn đề kinh tế trong những tháng còn lại của nhiệm kỳ Tổng thống. Ngay sau bầu cử, hôm 12/11 Tổng thống Trump ký sắc lệnh hành pháp ngăn chặn các khoản đầu tư từ Mỹ chảy vào các những công ty có liên quan đến quân đội và các cơ quan an ninh Trung Quốc (đã có 31 công ty Trung Quốc bị đưa vào danh sách đen). Mới đây nhất, Washington tiếp tục đưa 4 doanh nghiệp Trung Quốc, trong đó có nhà sản xuất vi mạch hàng đầu Trung Quốc SMIC và Tổng công ty Dầu khí Hải dương Trung Quốc CNOOC vào danh sách đen. Tờ The Wall Street Journal ngày 24/11 tiết lộ chính quyền của Tổng thống Trump đang vận động thành lập một liên minh không chính thức về thương mại để chống trả các hành động cưỡng ép kinh tế của Trung Quốc. Theo đó, khi Trung Quốc tẩy chay hàng nhập khẩu, các quốc gia đồng minh sẽ đồng ý mua hàng hóa hoặc bù đắp thiệt hại. Ngoài ra, nhóm có thể cùng đồng ý áp thuế quan đối với Trung Quốc để bù đắp thiệt hại.

Với Đài Loan Mỹ có hàng loạt động thái đáng chú ý. Sau khi thông qua quyết định bán nhiều vũ khí hiện đại trị giá háng tỉ đô la cho Đài Loan, Mỹ đưa các đặc nhiệm của Thủy quân lục chiến đến Đài Loan huấn luyện cho binh sĩ quân đội Đài Loan. Đáng chú ý nhất là việc ngày 22/11/2020, Chuẩn đô đốc Michael Studerman, Chỉ huy trưởng đơn vị tình báo J2 Bộ Tư lệnh Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương của Mỹ đã đến thăm Đài Loan để kiểm tra trang thiết bị và công tác trao đổi, phối hợp tình báo giữa Đài Loan và Mỹ khiến Bắc Kinh hết sức tức tối. Trong lĩnh vực dân sự, sau khi Bộ trưởng Y tế Mỹ Alex Azar và Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Keith Krach thăm Đài Loan, Đối thoại Đối tác phồn thịnh kinh tế (EPP) Mỹ-Đài Loan lần đầu tiên được tổ chức ở Washington D.C và hai bên đã ký một biên bản ghi nhớ (MOU) hôm 20/11 đặt nền tảng cho việc thắt chặt hợp tác kinh tế toàn diện giữa Mỹ và Đài Loan. Hai bên còn thảo luận về hợp tác về y khoa, năng lượng và chuỗi cung ứng công nghệ trọng yếu khác như mạng 5G và sản xuất chíp điện tử. Giới quan sát cho rằng sự kiện này thể hiện sự gia tăng hoạt động của Mỹ hướng tới Đài Loan dưới thời Tổng thống Donald Trump.

Có thể thấy trong 4 năm cầm quyền, Tổng thống Donald Trump đã tạo ra những bước ngoặt trên các vấn đề trong quan hệ với Trung Quốc từ thương mại đến vấn đề Biển Đông hay Đài Loan với mục tiêu ngăn chặn, kiềm chế Trung Quốc. Hiện chính quyền Trump đang tiếp tục tạo ra những dấu ấn mới đưa quan hệ Mỹ – Trung bước vào thời kỳ đối đầu toàn diện về quân sự, chính trị, kinh tế và công nghệ, và xu hướng này không thể đảo ngược cho dù người đứng đầu Nhà Trắng là ai.

Các nhà nghiên cứu quốc tế và khu vực cho rằng, ông Trump đang làm tất cả để chính quyền mới ở Mỹ không thể thay đổi được những chính sách mà ông đã thực hiện trong nhiệm kỳ 4 năm qua. Một khi ông Biden chính thức trở thành Tổng thống Mỹ, chính sách cứng rắn của Washington với Trung Quốc trên các vấn đề khu vực, trong đó có vấn đề Biển Đông sẽ không thay đổi về nội dung mà có chăng chỉ là sự điều chỉnh về cách tiếp cận linh hoạt hơn theo hướng đa phương, có hệ thống nhằm thúc đẩy quan hệ với đồng minh cũng như các đối tác quan trọng trong khu vực.

BDN

Loading

Views: 1

Vấn đề Biển Đông với ông Biden sẽ như thế nào?

Áp dụng một lập trường đa phương hơn so với người tiền nhiệm, song ông Biden sẽ tiếp tục kế thừa di sản của Tổng thống Trump về vấn đề Biển Đông và tiếp tục cử tàu chiến tới vùng biển này.

Tổng thống đắc cử Mỹ Joe Biden.

Khi Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình chúc mừng ông Joe Biden trở thành Tổng thống đắc cử Mỹ vào tháng trước, nhà lãnh đạo này đã khẳng định rằng những vấn đề an ninh giữ vị trí hàng đầu trong lập trường của ông.

„Chúng tôi hy vọng cả hai quốc gia sẽ giữ vững tinh thần không xung đột, không đối đầu, tôn trọng lẫn nhau và hợp tác cùng thắng“.

Tuyên bố của ông Tập không phải điều gì gây bất ngờ, nhất là khi đặt trong bối cảnh quan hệ Mỹ – Trung đứng trước những thách thức dưới thời chính quyền mới của ông Biden.

Mối quan hệ giữa Bắc Kinh và Washington đã lao dốc trên một loạt vấn đề từ thương mại, công nghệ cho tới nguồn gốc dịch Covid-19 và mặc dù không phải là một quốc gia có tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông nhưng chính sách của Mỹ ở vùng biển này cũng đã thay đổi.

Washington coi vấn đề Biển Đông nằm trong cuộc đối đầu rộng khắp của nước này với Trung Quốc. Lựa chọn của ông Biden khi đưa những nhà ngoại giao chuyên nghiệp với nhiều năm kinh nghiệm đảm nhận các vị trí hàng đầu về đối ngoại và quốc phòng như ông Anthony Blinken cho vị trí Ngoại trưởng, ông Jack Sullivan cho vị trí cố vấn an ninh quốc gia Nhà Trắng và ông John Kerry cho vị trí đặc phái viên của tổng thống về vấn đề biến đổi khí hậu, đã cho thấy sự quay lại con đường ngoại giao truyền thống của Mỹ.

Việc bổ nhiệm trên cũng cho thấy ông Biden nhận thức được các vấn đề mà ngoại giao Mỹ đối mặt trong 4 năm qua.

Tuy nhiên, sau khi nhấn mạnh trong suốt chiến dịch tranh cử về nhu cầu cấp thiết của việc thúc đẩy quan hệ giữa Washington và đồng minh nhằm khôi phục vị thế lãnh đạo của nước Mỹ, ông Biden hiện đang tìm cách tập hợp sự phản đối đa phương với các hành vi của Trung Quốc ở Biển Đông.

Động thái này được coi là đối lập hoàn toàn với cách tiếp cận của Tổng thống Donald Trump – người thường xa cách đồng minh và hành động đơn lẻ khi đối phó với Trung Quốc. Dù vậy, hướng tiếp cận của ông Biden cũng có thể khiến cho bất kỳ kiểu xung đột nào về vấn đề trên trở nên phức tạp hơn khi tính đến các bên tham gia và vấn đề lợi ích.

Trên thực tế, ông Biden từng là Phó Tổng thống Mỹ khi Philippines nộp đơn kiện lên Toà trọng tài thường trực (PCA) tại The Hague, Hà Lan vào năm 2013, phản đối các yêu sách phi lý của Trung Quốc ở Biển Đông. Ông cũng nhiều lần yêu cầu Trung Quốc tuân thủ phán quyết của tòa và chỉ trích các hành động của Bắc Kinh tại vùng biển này.

Mặc dù chính quyền của ông Biden sẽ quay lại một lập trường đa phương hơn và hướng tiếp cận dựa trên cuộc chiến pháp lý ở Biển Đông nhưng chính quyền Mỹ mới cũng không phủ nhận khả năng một cuộc cạnh tranh quân sự giữa Washington và Bắc Kinh tại vùng biển chiến lược này.

Ông Biden có thể sẽ áp dụng các biện pháp nhằm cải thiện việc đối thoại giữa 2 bên, ngăn chặn tình trạng leo thang quân sự vì những tính toán sai lầm.

Tuy nhiên, Mỹ có thể tiếp tục cử các tàu chiến cũng như thúc đẩy hợp tác quân sự với các nước Đông Nam Á có tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông và tham gia vào các diễn đàn an ninh khu vực.

Điều đó tức là quan hệ Mỹ – Trung sẽ không quay trở lại trạng thái như trước đây. Sự „cạnh tranh toàn diện“ giữa 2 bên đồng nghĩa với việc tông giọng của Washington về vấn đề Biển Đông sẽ trở nên ngày càng cứng rắn. Việc huy động các nguồn lực quốc phòng và ngoại giao vẫn sẽ tiếp tục tập trung ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương dưới thời ông Biden.

BDN

Loading

Views: 0

Quân đội TQ tăng cường khả năng tấn công hạt nhân

Chuyên san hàn lâm Bulletin of the Atomic Scientists (BAS, Mỹ) vừa công bố báo cáo cho thấy Trung Quốc hiện có 40 lữ đoàn thuộc lực lượng tên lửa chiến lược, tăng 35% so với năm 2017.

Trong số này, có 12 lữ đoàn thuộc Chiến khu miền đông và Chiến khu miền nam, tập trung chủ yếu cho khu vực eo biển Đài Loan và Biển Đông. Tờ South China Morning Post trích báo cáo cho biết khoảng 20 lữ đoàn sở hữu giàn phóng tên lửa đạn đạo hoặc tên lửa hành trình và số lượng này sẽ còn tăng lên khi quân đội Trung Quốc xây dựng xong các căn cứ tên lửa.

BAS ước tính Trung Quốc có khoảng 350 đầu đạn hạt nhân, trong đó đa phần được phóng từ tên lửa trên bộ. BAS cho rằng Trung Quốc sẽ hoàn thiện tam giác hạt nhân nếu biên chế oanh tạc cơ chiến lược H-20. Ngoài ra, Trung Quốc đang phát triển tàu ngầm hạt nhân mới.

BDN

Loading

Views: 0

Quan chức Mỹ, Philippines thảo luận thúc đẩy hợp tác quân sự, duy trì Biển Đông tự do

Quyền Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ hội đàm với Ngoại trưởng và Bộ trưởng Quốc phòng Philippines, thảo luận về Biển Đông.
Quan chức Mỹ, Philippines thảo luận thúc đẩy hợp tác quân sự, duy trì Biển Đông tự do
Từ trái sang: Bộ trưởng Quốc phòng Philippines Delfin Lorenzana, quyền Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Christopher Miller và Ngoại trưởng Phillippines Teodoro Locsin Jr. gặp nhau ngày 8/12, tại Manila. (Nguồn: Đại sứ quán Mỹ tại Philippines)

Ngày 8/12, Bộ Quốc phòng Mỹ thông báo, quyền Bộ trưởng Quốc phòng nước này Christopher Miller đã có cuộc hội đàm với Ngoại trưởng và Bộ trưởng Quốc phòng Philippines nhằm thúc đẩy hợp tác quân sự giữa hai nước và duy trì một khu vực Biển Đông tự do và rộng mở.

Thông báo của Bộ Quốc phòng Mỹ nêu rõ: “Hôm nay, quyền Bộ trưởng Quốc phòng Miller đã gặp Bộ trưởng Quốc phòng Philippines Delfin Lorenzana và Ngoại trưởng Teodore Locsin tại Manila. Các bộ trưởng cũng đã thảo luận về những cơ hội tăng cường hợp tác quốc phòng song phương và thúc đẩy lợi ích chung ở khu vực Biển Đông tự do và rộng mở”.

Tại cuộc gặp, ông Miller nhấn mạnh tầm quan trọng của mối quan hệ đồng minh song phương giữa Washington và Manila, cũng như giá trị mà Thỏa thuận Thăm viếng Quân sự (VFA) mang lại cho cả hai nước.

Ngoài ra, ông Miller cũng đã tham dự một cuộc trưng bày thiết bị bắn tỉa và thiết bị nổ tự chế (IED) của Mỹ.

TG&VN

Loading

Views: 0

Chuyển biến trong chính sách của Mỹ ở Biển Đông

Tránh hành động đơn phương, tạo niềm tin cho các đồng minh và đối tác là cách Mỹ thể hiện vai trò lãnh đạo trong nỗ lực đối phó với sự trỗi dậy của Trung Quốc trong khu vực, đặc biệt ở Biển Đông.

Chính quyền của Tổng thống Mỹ Donald Trump mới đây đã bổ nhiệm tư lệnh Bộ Tư lệnh Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, một khu vực trọng điểm trong các kế hoạch của Lầu Năm Góc.

Động thái này có thể sẽ giúp củng cố chính sách cứng rắn của Mỹ đối với Trung Quốc trước khi diễn ra giai đoạn chuyển giao cho chính quyền Tổng thống đắc cử Joe Biden vào năm 2021, một chính quyền được cho là sẽ kế thừa chính sách cứng rắn của người tiền nhiệm để đối phó với Bắc Kinh ở Biển Đông.

Đối phó dựa trên liên minh

Quyền Bộ trưởng Quốc phòng Christopher Miller, một nhân vật trung thành với ông Trump, gần đây đã bổ nhiệm Đô đốc John Aquilino, một chỉ huy kỳ cựu của Chiến dịch bảo vệ tự do và chiến dịch tự do Iraq, làm người đứng đầu Bộ Tư lệnh Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (INDOPACOM) đặt tại Trân Châu Cảng, Hawaii.

Ông John Aquilino sẽ thay thế Đô đốc Philip Davidson, cũng là người ủng hộ mạnh mẽ đường lối cứng rắn hơn nữa trong việc đối phó với tính quyết đoán của Bắc Kinh ở Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương.

Tư lệnh Bộ Tư lệnh Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương John Aquilino. (Nguồn: asiatimes)

Với vai trò mới, ông John Aquilino được cho là sẽ giám sát và chỉ đạo những đợt cải cách, bao gồm việc thiết lập một hạm đội “viễn chinh” mới để đối phó với Trung Quốc và sự quyết đoán ngày càng tăng của nước này tại các vùng lãnh hải lân cận.

INDOPACOM đóng một vai trò quan trọng trong sự hiện diện của Mỹ với vị thế là một cường quốc toàn cầu trong thế kỷ XX.

Với khoảng 380.000 quân nhân, INDOPACOM chịu trách nhiệm chỉ huy chiến dịch quân sự với 36 quốc gia nằm từ các vùng bờ biển phía Tây của Mỹ đến Tây Phi.

Trước đây, ông Joe Biden – người được truyền thông Mỹ đưa tin sẽ là người lãnh đạo chính quyền kế nhiệm của Mỹ – từng phát đi tín hiệu về sự cam kết của ông tiếp tục triển khai và cải thiện cả chính sách “xoay trục” sang châu Á của chính quyền Barack Obama cũng như chính sách “Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương tự do và rộng mở” của chính quyền Trump sắp mãn nhiệm.

Việc duy trì sự hiện diện quân sự mạnh mẽ ở châu Á sẽ đóng vai trò trung tâm đối với chiến lược của ông Biden nhằm tái khẳng định vai trò lãnh đạo của Mỹ.

Để thực hiện chiến lược nói trên, ông Biden cũng đã lựa chọn các vị trí hàng đầu trong nội các của mình, bao gồm Ngoại trưởng được chỉ định Antony Blinken và người có nhiều khả năng trở thành Bộ trưởng Quốc phòng Michele Flournoy. Hai nhân vật này đều được coi là “nhân vật diều hâu theo chủ nghĩa tự do”, vốn dựa vào việc xây dựng một liên minh chứ không phải hành động đơn phương khi đối phó với Trung Quốc.

TG&VN

Loading

Views: 0

Philippines ‚cảm ơn‘ Australia bày tỏ lập trường phản đối yêu sách của Trung Quốc ở Biển Đông

Ngày 30/11, Văn phòng Tổng thống Philippines ra thông cáo cho biết, Tổng thống Rodrigo Duterte và Thủ tướng Australia Scott Morrison đã có cuộc điện đàm “cởi mở và hiệu quả” về nhiều vấn đề, trong đó có lĩnh vực an ninh hàng hải.
Tổng thống Philippines và Thủ tướng Australia đã điện đàm thảo luận nhiều vấn đề, trong đó có lĩnh vực an ninh hàng hải ở Biển Đông. (Nguồn: Radyo Pilipinas)

Tổng thống Duterte bày tỏ „hoan nghênh sự quan tâm thúc đẩy hợp tác của Australia với ASEAN trên lĩnh vực an ninh biển, chống rác thải nhựa trên biển, chống chủ nghĩa khủng bố và an ninh mạng”.

Ông Duterte cũng cảm ơn chính phủ Australia đã chính thức bày tỏ lập trường trước khi Liên hợp quốc (LHQ) xác nhận phán quyết của Tòa Trọng tài quốc tế về tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông.

Philippines nhìn nhận, Australia là đối tác chặt chẽ trong việc củng cố luật pháp quốc tế, bao gồm Công ước LHQ về luật biển – UNCLOS 1982 và trong việc thúc đẩy an ninh hàng hải.

TG&VN

Loading

Views: 0

3 công ty và chủ giàn khoan Hải Dương 981 TQ bị Mỹ trừng phạt

Chính quyền Trump vừa liệt 4 công ty Trung Quốc vào danh sách liên quan đến quân đội, trong đó có chủ sở hữu giàn khoan Hải Dương 981.

Hôm 3/12, Chính quyền Trump bổ sung 4 công ty Trung Quốc vào danh sách liên quan đến quân đội. Danh sách này gồm Công ty Công nghệ xây dựng Trung Quốc, Công ty Tư vấn kỹ thuật quốc tế Trung Quốc, Công ty Sản xuất chất bán dẫn quốc tế (SMIC), và Tổng công ty Dầu khí Hải Dương Trung Quốc (CNOOC).

Đến nay, có tổng cộng 35 công ty Trung Quốc bị Mỹ liệt vào danh sách đen có dính líu với quân đội. Các công ty này sẽ bị hạn chế khả năng tiếp cận với các nhà đầu tư Mỹ

Theo Reuters, quyết định này của Mỹ có thể khiến căng thẳng Bắc Kinh – Washington leo thang trước khi Tổng thống đắc cử Joe Biden nhậm chức. Động thái này cùng với các chính sách cứng rắn cho thấy quan điểm quyết liệt với Trung Quốc của ông Trump và buộc chính quyền Joe Biden trong tương lai phải đi theo con đường mà ông Trump đã chọn.

Tổng công ty Dầu khí Hải Dương Trung Quốc (CNOOC) là nhà khai thác dầu mỏ và khí đốt ngoài khơi lớn nhất của Trung Quốc. GIàn khoan Hải Dương 981 là một trong những tài sản thuộc sở hữu của CNOOC.

 Trong bối cảnh chuẩn bị kết thúc nhiệm kỳ, chính quyền Trump ngày càng tìm cách hạn chế khả năng tiếp cận thị trường Mỹ của các công ty Trung Quốc không tuân thủ các quy tắc do Mỹ đề ra.
BDN

Loading

Views: 0

Ông Trump có thể tăng sức ép lên ông Biden trong chống TQ

Người kế nhiệm của ông Trump chắc chắn sẽ cảm thấy sức nóng của bất kỳ „cú đòn“ nào mà vị tổng tư lệnh sắp mãn nhiệm quyết định tung ra trước khi ông rời Nhà Trắng vào tháng 1 tới.

Reuters nhận định, ông Donald Trump có thể chỉ còn 2 tháng nữa để „đấu“ với Trung Quốc trên cương vị tổng thống Mỹ. Nhưng người kế nhiệm ông, được dự đoán là ứng viên tổng thống đảng Dân chủ Joe Biden, sẽ cảm thấy sức nóng của bất kỳ cú đòn giáng nào mà vị tổng tư lệnh sắp mãn nhiệm quyết định tung ra trước khi ông rời Nhà Trắng. Và điều đó có thể khiến tổng thống mới của nước Mỹ có rất ít lựa chọn để tạo dấu ấn của riêng mình.

Ông Trump đã cam kết cứng rắn với Trung Quốc, và không có lý do gì để nghĩ rằng ông sẽ không tiếp tục làm vậy đến phút chót. Nhà Trắng có thể gia hạn một mệnh lệnh hành pháp cấm người Mỹ mua, bán, sở hữu chứng khoán tại các công ty Trung Quốc có liên hệ với quân đội đại lục, theo các nguồn thạo tin cho hay. Biện pháp này hiện đang ảnh hưởng tới 31 công ty. Vào cuối nhiệm kỳ của ông Trump, danh sách có thể bao gồm tới 300 cái tên.

Việc mở rộng các lệnh trừng phạt cũng là một một phương án khác. Theo một luật được phê chuẩn hồi tháng 7, Bộ Tài chính Mỹ có hạn chót tới ngày 13/12 để „chỉ mặt đặt tên“ các ngân hàng nước ngoài có quan hệ với Trưởng đặc khu Hong Kong Carrie Lam và các quan chức khác bị cáo buộc làm suy yếu tới sự tự trị của đặc khu. Các công ty này có thể bị cắt các khoản vay và các dịch vụ khác do các ngân hàng Mỹ cung cấp, ngoài việc phải giao dịch bằng đồng đôla Mỹ.

Các công ty Trung Quốc niêm yết trên sàn chứng khoán Trung Quốc cũng dễ bị nhắm tới. Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán và Sàn giao dịch (SEC) của Mỹ đang cân nhắc một đề xuất nhằm cấm cửa các công ty đại lục nếu họ không sử dụng các kiểm toán viên được các cơ quan quản lý của Mỹ chấp thuận. Chủ tịch SEC Jay Clayton chỉ có vài tuần để kích hoạt tiến trình trước khi mãn nhiệm, vào một thời điểm nào đó trước cuối năm nay. Các công ty đã được niêm yết sẽ được cho thời hạn 3 năm để tuân thủ.

Mặc dù các biện pháp trên có thể làm ảnh hưởng tới các nhà đầu tư nhưng điều này có thể chịu đựng được. Các chính trị gia Trung Quốc, các công ty và nhà đầu tư về mặt lý thuyết có nhiều thời gian để đoán trước được các biện pháp của ông Trump. Nhưng ảnh hưởng lớn nhất mà ông có thể thực hiện là tái lập cuộc chiến thuế quan, hủy bỏ thỏa thuận thương mại giai đoạn 1 mong manh mà hai nước đạt được hồi tháng 1. Điều đó có thể làm rúng động các thị trường. Các động thái như vậy vào năm 2018 và 2019 đã khiến giá cổ phiếu của khoảng 3.000 công ty giảm 6%, làm tiêu tan 1,7 nghìn tỷ USD, theo một nghiên cứu hồi tháng 5 của Cục nghiên cứu kinh tế quốc gia.

Về mặt lý thuyết, ông Biden có thể đảo ngược bất kỳ động thái tiềm tăng nào trong số đó. Nhưng về mặt chính trị, bất kể điều gì ông Trump làm cũng có thể dồn ông Biden vào „thế bí“.

Nếu các động thái đầu tiên của ông Biden trên cương vị tổng thống là đảo ngược các biện pháp cứng rắn đối với Bắc Kinh của người tiền nhiệm, ông có thể đối mặt với làn sóng phản ứng từ các nghị sĩ ở cả hai phía, vốn muốn chính quyền phải hành động mạnh mẽ với Trung Quốc. Nếu ông Biden không hành động khác người tiền nhiệm, có thể chính ông Trump mới là người định hình chiều hướng cho mối quan hệ của chính quyền mới với một đối tác thương mại quan trọng của Mỹ.

BDN

Loading

Views: 0

Mỹ cứng rắn hơn với nạn đánh bắt cá trái phép ở Biển Đông, nhắm mục tiêu vào Trung Quốc

TGVN. Bài viết mới đây trên tờ Bưu điện Hoa Nam Buổi sáng (SCMP) cho rằng Mỹ muốn đối đầu trực diện với Trung Quốc về vấn đề đánh bắt cá trái phép ở Biển Đông.

Theo trang mạng tờ Bưu điện Hoa Nam Buổi sáng (SCMP), Mỹ muốn mạnh tay hơn với Trung Quốc liên quan đến vấn đề đánh bắt cá trái phép ở Biển Đông. Các học giả ASEAN tỏ ra thận trọng khi đánh giá về thái độ của các nước thành viên Hiệp hội đối với các động thái của Mỹ.

SCMP dẫn lời giới phân tích giải thích rằng các nước trong khu vực Đông Nam Á sẽ „hồ hởi“ hoan nghênh động thái trên của Washington, song họ không muốn Mỹ triển khai lực lượng thực thi pháp luật được trang bị vũ khí để đối đầu với Trung Quốc trong vấn đề này vì lo ngại sẽ kích động các cuộc xung đột quy mô lớn hơn tại vùng lãnh hải tranh chấp.

“Lọt lưới” thủ phạm hàng đầu

SCMP dẫn báo cáo của Liên hợp quốc cho biết Trung Quốc đứng đầu thế giới về số vụ đánh bắt hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không được kiểm soát (IUU).

Với đội tàu đánh cá lên đến khoảng 800.000 chiếc, Trung Quốc đã khai thác cạn kiệt nguồn đánh bắt cá nội địa của họ từ lâu.

Mỹ cứng rắn hơn với nạn đánh bắt cá trái phép ở Biển Đông, nhắm mục tiêu vào Trung Quốc. (Nguồn: Bloomberg)

Mặc dù vậy, trong khi các quốc gia nhỏ hơn vẫn buộc phải tuân thủ nghiêm các tiêu chuẩn quốc tế và luật biển thì Trung Quốc hiện đang không bị ràng buộc bởi các hình phạt của quốc tế.

Năm 2010, Liên minh châu Âu (EU) đã triển khai một hệ thống thực thi gián tiếp và có hiệu quả trong việc thúc đẩy những thay đổi sâu rộng ở nhiều quốc gia về tội đánh bắt cá bất hợp pháp.

Theo SCMP, hiện hệ thống đó chỉ được áp dụng với các quốc gia và nền kinh tế không thể thách thức châu Âu. Campuchia, Việt Nam, Thái Lan, Philippines và Đài Loan (Trung Quốc) đều đã nhận “thẻ vàng” hoặc “thẻ đỏ”. Trong khi đó, Trung Quốc thoát khỏi mọi chỉ trích dù nước này tiến hành thường xuyên và rộng rãi hành vi đánh bắt cá bất hợp pháp.

Mỹ mạnh tay hành động

Tháng 5/2020, chính quyền Mỹ đã đưa ra một số chính sách tạo tiền đề cho cuộc đối đầu trực diện với quốc gia được cho là đánh bắt cá bất hợp pháp số 1 thế giới.

Theo đó, chính quyền Mỹ đã ban hành một lệnh hành pháp “Thúc đẩy năng lực cạnh tranh thủy sản của Mỹ và tăng trưởng kinh tế”.

Sau khi ban hành lệnh hành pháp trên, Ngoại trưởng Mỹ Mike Pompeo đã ra một tuyên bố báo chí về việc đội tàu đánh cá khổng lồ của Trung Quốc đã đánh bắt 73.000 giờ dọc theo vùng đặc quyền kinh tế của Ecuador từ tháng 7-8/2020.

Ông Pompeo chỉ ra việc Trung Quốc trợ cấp cho đội tàu đánh cá thương mại lớn nhất thế giới cũng như việc các hành vi đánh bắt cá bất hợp pháp của Trung Quốc đã bị dư luận nhiều nơi chỉ đích danh, đặc biệt là lời kêu gọi cộng đồng quốc tế phản đối việc Trung Quốc coi thường pháp quyền và bảo vệ môi trường.

Tháng 9/2020, Lực lượng Tuần duyên Mỹ đã công bố Triển vọng chiến lược IUU của riêng mình, gọi hoạt động đánh bắt bất hợp pháp, không báo cáo và không được kiểm soát là “mối đe dọa an ninh hàng hải toàn cầu hàng đầu”.

Trong lời kêu gọi “Chống lại hành vi nhà nước mang tính trấn lột và vô trách nhiệm”, Trung Quốc là quốc gia duy nhất bị đề cập cụ thể trong báo cáo, trong đó nêu rõ các hành vi vi phạm chủ quyền và luật pháp quốc tế cũng như yêu cầu Bắc Kinh thực hiện trách nhiệm phù hợp.

Tháng 10/2020, Cố vấn An ninh Quốc gia Mỹ Robert O’Brien tuyên bố Lực lượng Tuần duyên Mỹ sẽ triển khai các tàu phản ứng nhanh mới nhất ở khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương để kiểm soát việc đánh bắt cá trái phép của Trung Quốc.

Tiếp đó, trung tuần tháng 11/2020, ông David Feith, Phó Trợ lý Ngoại trưởng phụ trách chính sách khu vực và an ninh cùng các vấn đề đa phương tại Vụ Các vấn đề Đông Á và Thái Bình Dương thuộc Bộ Ngoại giao Mỹ, cho biết Washington sẽ gia tăng số lượng thỏa thuận “cho phép nhân viên chấp pháp lên tàu” để hỗ trợ các nước chống lại hành vi gây hấn của Trung Quốc (thỏa thuận này cho phép nhà chức trách của một quốc gia được phép lên các tàu thực thi pháp luật hoặc máy bay của quốc gia khác khi đang tuần tra).

Ngày 24/11, Craig Hart, Phó Trợ lý quản trị viên của Cơ quan phát triển quốc tế Mỹ (USAID) ở khu vực châu Á, cho biết, năm 2021, USAID sẽ khởi động chương trình kéo dài 5 năm về quản lý nghề cá ven biển bền vững trị giá 15 triệu USD để “giải quyết một số nguyên nhân dẫn đến hoạt động đánh bắt cá trái phép, không báo cáo và không được quản lý (IUU) đang làm suy giảm nghề cá ven biển hiện nay”.

Ngày 25/1, Bộ Ngoại giao Mỹ cho biết Washington đang chi 200 triệu USD cho các chương trình dành cho các quốc đảo nhỏ nhằm chống lại “hành vi có vấn đề” của Trung Quốc ở Tây Thái Bình Dương. Sandra Oudkirk, Phó Trợ lý ngoại trưởng phụ trách các vấn đề Đông Á và Thái Bình Dương, cho biết những chương trình này sẽ hỗ trợ tiền cho các quốc gia như Palau và Papua New Guinea để thúc đẩy phát triển và bảo vệ ngành đánh bắt cá của họ trước sự cạnh tranh không chính đáng từ Trung Quốc.

Bộ Quốc phòng Mỹ đã có các cuộc đàm phán với các nhà lãnh đạo của Palau và Papua New Guinea về khả năng thiết lập sự hiện diện của quân đội Mỹ tại quốc gia của họ.

Lực lượng bảo vệ bờ biển của Mỹ cũng tăng cường sự hiện diện trong khu vực, triển khai thêm tàu chiến phản ứng nhanh mới nhất đến Guam để giúp kiểm soát các hoạt động đánh bắt hải sản.

Học giả ASEAN thận trọng

Theo SCMP, giới phân tích cho rằng các nước ASEAN hoan nghênh động thái của Mỹ xúc tiến chiến lược kiểm soát tình trạng đánh bắt cá bất hợp pháp ở Biển Đông, nhưng lo ngại về khả năng việc “quân sự hóa” hoạt động thực thi pháp luật sẽ gây căng thẳng ở khu vực Biển Đông.

Theo một báo cáo năm 2015 được tổ chức tư vấn nội bộ của Nghị viện châu Âu công bố, 10 nước ASEAN chiếm khoảng 1/5 sản lượng hải sản toàn cầu và xuất khẩu hải sản từ khu vực này có giá trị 11 tỷ USD trong năm 2015.

Trong khi đó, theo Tổ chức Nông lương Liên hợp quốc, hoạt động khai thác IUU toàn cầu ước tính trị giá 23,5 tỷ USD hàng năm.

Số liệu của Viện Phát triển hải ngoại (ODI, có trụ sở tại London, Anh) cho biết đội tàu đánh cá xa bờ của Trung Quốc lên tới 17.000 chiếc, trong đó, ít nhất 183 tàu được cho là tham gia các hoạt động đánh bắt cá trái phép. Vì vậy, việc giám sát tất cả số tàu này trên toàn cầu gần như không thể.

Giáo sư Tabitha Mallory, chuyên gia về chính sách đối ngoại và môi trường Trung Quốc tại Đại học Washington, khẳng định các nước đang phát triển khó có thể giám sát được các vùng biển ven bờ: “Trung Quốc đánh bắt cá ở những nước không có khả năng giám sát tốt vùng biển ven bờ của họ. Đối với các nước đang phát triển, các tàu tuần duyên và nhiên liệu cho các tàu tuần tra đó thường rất đắt”.

baoquocte.vn

Loading

Views: 0

Australia, châu Âu quan ngại về các hành động đơn phương và gây bất ổn ở Biển Đông

TGVN. Ngày 26/11, theo thông cáo báo chí từ Văn phòng Thủ tướng Australia, Thủ tướng Scott Morrison đã họp trực tuyến với Chủ tịch Hội đồng châu Âu Charles Michel và Chủ tịch Ủy ban châu Âu Ursula von der Leyen.
Australia, châu Âu quan ngại về các hành động đơn phương và gây bất ổn ở Biển Đông
Thủ tướng Australia họp trực tuyến với các nhà lãnh đạo châu Âu, bày tỏ quan ngại về các hành động đơn phương và gây bất ổn ở Biển Đông. (Nguồn: Getty Images)

Theo đó, các bên đã nhất trí tăng cường hợp tác để thúc đẩy lợi ích chung về an ninh và thịnh vượng ở châu Á-Thái Bình Dương, trong đó đề cao tôn trọng luật pháp quốc tế trong vấn đề Biển Đông.

Các nhà lãnh đạo nhất trí tăng cường hợp tác để thúc đẩy lợi ích chung về an ninh và thịnh vượng ở châu Á và Thái Bình Dương, bao trùm khắp Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương.

Thông cáo cũng cho biết: „Các nhà lãnh đạo bày tỏ quan ngại nghiêm túc về các hành động đơn phương và gây bất ổn ở Biển Đông và nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tôn trọng luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS)“.

baoquocte.vn

Loading

Views: 0

Thuỷ quân lục chiến Mỹ tới Đài Loan huấn luyện

Cơ quan phòng vệ Đài Loan ngày 9-11 xác nhận Thủy quân lục chiến Mỹ đã đến Đài Loan ‚huấn luyện‘ cho các binh sĩ trên đảo nhưng không nói rõ số lượng. Đây là lần đầu tiên Đài Loan công khai có lính Mỹ trên đảo.

 

Trang Taiwan News dẫn thông báo của Cơ quan phòng vệ Đài Loan cho biết việc „huấn luyện“ sẽ kéo dài trong 4 tuần, bắt đầu từ ngày 9-11.

Phía Đài Loan cho biết hoạt động lần này chỉ là các trao đổi quân sự „bình thường“ giữa Washington và Đài Bắc, song nhấn mạnh mục đích cuối cùng nhằm „duy trì hòa bình và ổn định trong khu vực“.

Trong thời gian huấn luyện, các đặc nhiệm của Thủy quân lục chiến Mỹ sẽ hướng dẫn Thủy quân lục chiến Đài Loan và Phân đội đặc nhiệm đổ bộ các khóa học về hoạt động xâm nhập bằng tàu cao tốc tại căn cứ Tả Doanh Cao Hùng.

Tham gia hoạt động „huấn luyện“ lần này là các binh sĩ thuộc đặc nhiệm Raider trong Thủy quân lục chiến Mỹ. Đây là lực lượng rất tinh nhuệ, có quân số chỉ khoảng 8.000 người với lịch sử thành lập từ Thế chiến thứ 2.

Taiwan News khẳng định đây là lần đầu tiên kể từ năm 1979 Cơ quan phòng vệ Đài Loan công khai xác nhận sự hiện diện của Thủy quân lục chiến Mỹ trên hòn đảo này. Thông cáo không nói rõ có bao nhiêu lính đặc nhiệm Mỹ tới Đài Loan lần này.

Mỹ thường gửi các đơn vị nhỏ gồm các binh sĩ tinh nhuệ thuộc các nhánh khác nhau trong lực lượng vũ trang tham gia các nhiệm vụ huấn luyện chung với Đài Loan. Tuy nhiên chính quyền Đài Loan hiếm khi lên tiếng xác nhận hoặc phủ nhận và thường để thông tin ở dạng suy đoán của truyền thông.

Động thái diễn ra trong bối cảnh cuộc bầu cử tổng thống Mỹ vừa bước qua giai đoạn hồi hộp. Truyền thông Mỹ hôm 7-11 đã tuyên bố ứng viên Đảng Dân chủ Joe Biden là tổng thống đắc cử, đương kim Tổng thống Donald Trump là người thua cuộc.

Hiện Trung Quốc vẫn chưa phản ứng trước sự xuất hiện của lính Mỹ tại Đài Loan.

Quan hệ giữa Mỹ và Đài Loan trở nên nồng ấm hơn bao giờ hết dưới thời ông Trump. Các hợp đồng vũ khí liên tục được xúc tiến khi ông Trump lên nắm quyền. Trong khi đó, dưới thời ông Barack Obama mà ông Biden là phó tổng thống, Mỹ dè dặt trong quan hệ với Đài Loan và hạn chế bán vũ khí cho vùng lãnh thổ này để tránh các phản ứng của Trung Quốc.

Bắc Kinh xem Đài Loan là một phần lãnh thổ không thể tách rời và đặc biệt phản đối các cuộc trao đổi, tiếp xúc của Washington với Đài Bắc. Mỹ không có quan hệ chính thức với Đài Loan kể từ năm 1979 nhưng vẫn duy trì việc cung cấp vũ khí dựa trên một đạo luật của nước này.

BDN

Loading

Views: 0

Khu trục hạm Mỹ USS Barry làm dậy sóng Biển Đông

Sau khi đi qua eo biển Đài Loan, khu trục hạm Mỹ USS Barry đã trở lại Biển Đông ngày 21.11 nhằm “thực hiện hoạt động duy trì an ninh hàng hải và thúc đầy hòa bình và ổn định ở khu vực”.

 

“Sự hiện diện liên tục ở Biển Đông đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì một khu vực Ấn Độ Dương- Thái Bình Dương tự do và rộng mở. Việc tất cả các nước được hoạt động trong vùng biển quốc tế rất quan trọng. Việc tàu USS Barry đi qua eo biển Đài Loan hôm qua (21.11) đảm bảo quyền này và dần củng cố niềm tin của tất cả các nước có hoạt động thương mại và liên lạc ở Biển Đông”, sĩ quan chỉ huy tàu USS Barry Chris Gahl nhấn mạnh trong thông cáo được đăng trên website của Hạm đội Thái Bình Dương (Mỹ).
Đây là lần thứ 5 từ đầu năm đến nay tàu USS Barry được triển khai đến hoạt động ở Biển Đông. “Hồi tháng 4, tàu USS Barry tiến hành hoạt động duy trì tự do hàng hải xung quanh quần đảo Hoàng Sa và sau đó cùng nhóm tấn công viễn chinh (do tàu đổ bộ Mỹ) USS America (dẫn đầu) hoạt động ở Biển Đông. Dù hoạt động một cách độc lập hay thuộc một nhóm lớn hơn, tàu USS Barry phục vụ như là biểu tượng của lực lượng Mỹ hùng hậu có thể triển khai để đánh bại sự hung hăng”, sĩ quan về kế hoạch và chiến thuật của tàu USS Barry Timothy Baker cho hay.
Tàu USS Barry cũng thuộc đội tàu khu trục 15, đội tàu khu trục lớn nhất của Mỹ và lâu nay duy trì sự hiện diện liên tục ở Biển Đông. USS Barry là tàu khu trục lớp Arleigh Burke, được trang bị hệ thống tác chiến điện tử AN/SLQ-32, tên lửa hành trình Tomahawk và nhiều loại vũ khí khác.
BDN

Loading

Views: 0

Mỹ dự định thành lập hạm đội ở nơi giao nhau giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương

Bộ trưởng Hải quân Mỹ vừa nói về kế hoạch thành lập một hạm đội mới ở nơi giao nhau giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương. Giới phân tích cho rằng Mỹ sẽ không những không giảm, mà sẽ tăng cường hiện diện ở châu Á để đối phó với Trung Quốc.

 

“Chúng ta không thể chỉ dựa vào Hạm đội 7 ở Nhật Bản”, USNI dẫn lời ông Kenneth Braithwaite phát biểu tại hội nghị chuyên đề thường niên của Liên đoàn tàu ngầm hải quân Mỹ hôm 17/11.
“Chúng tôi muốn xây dựng một hạm đội được đánh số mới. Và chúng tôi muốn đặt hạm đội đó ở nơi giao nhau của Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, và chúng ta sẽ có dấu chân của Bộ Tư lệnh Ấn Độ – Thái Bình Dương”, ông Braithwaite nói.
“Chúng ta phải trông cậy vào các đồng minh và đối tác như Singapore, như Ấn Độ, và việc đặt một hạm đội ở đó sẽ cực kỳ phù hợp…Hạm đội đó sẽ tạo nên năng lực răn đe ghê gớm hơn nhiều”, ông nói thêm.
Ông Braithwaite cho biết ông chưa thảo luận với quyền bộ trưởng Quốc phòng Christopher Miller về kế hoạch này, nhưng đã bàn với nhiều người khác.
Ông nhấn mạnh rằng chỉ riêng Mỹ không thể đối phó với Trung Quốc, và các nước Thái Bình Dương ở khắp thế giới cần hỗ trợ để đẩy lùi Bắc Kinh về kinh tế và quân sự.
Phát biểu của ông Braithwaite được đưa ra khi Hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ đăng lên Twitter bức ảnh nhóm tàu sân bay USS Nimitz tham gia đợt hai của chiến dịch tập trận Malabar cùng với hải quân các nước Úc, Ấn Độ và Nhật Bản, hôm 17/11. Bốn quốc gia này tạo nên nhóm Bộ tứ mà Trung Quốc coi như NATO ở châu Á.
Cảnh báo thẳng thừng
 Các nhà phân tích nói rằng kế hoạch thành lập hạm đội mới là tín hiệu gửi đến Trung Quốc rằng, Mỹ sẽ không rời đi, mà còn đến gần hơn với khu vực, trong bối cảnh sự chuyển giao quyền lực ở Mỹ đang đặt ra câu hỏi về vai trò của Washington ở khu vực.
“Nó gửi đi tín hiệu rằng chúng ta vẫn ở đây và đó không chỉ là lời nói mà cả hành động”, TS Aparna Pande, giám đốc Sáng kiến tương lai Ấn Độ và Nam Á thuộc Viện nghiên cứu Hudson ở Washington, nói với Straitstimes.
“Sự hiện diện của quân đội Mỹ ở Ấn Độ – Thái Bình Dương có thể được thấy qua sự tiến triển dần dần: từ tuần tra tự do hàng hải trên biển Đông đến xây dựng năng lực cho các đồng minh; Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương trở thành Bộ Tư lệnh Ấn Độ – Thái Bình Dương; những thoả thuận hậu cần với các nước ở khu vực, trong đó có Ấn Độ; và tuần này diễn ra đợt tập trận Malabar với Bộ tứ”, TS Pande nói.
Ông Derek Grossman, nhà phân tích quốc phòng tại hãng nghiên cứu RAND, viết trên Twitter rằng hải quân Mỹ có kế hoạch “tăng gấp đôi phần „Ấn Độ Dương“ trong cụm Ấn Độ – Thái Bình Dương”.
“Nếu hải quân Mỹ xúc tiến việc thành lập Hạm đội 1 ở Ấn Độ Dương, điều đó sẽ tái khẳng định rằng Washington tiếp tục nhìn chiến lược châu Á qua lăng kính Ấn Độ – Thái Bình Dương, chứ không chỉ tập trung vào Tây Thái Bình Dương”, ông Grossman nói với Straits Times.
“Mỹ có thể tìm cách tận dụng Ấn Độ Dương để thực hiện chiến lược cạnh tranh và đẩy lùi Trung Quốc, và quan trọng hơn là Ấn Độ ngày càng thiên về cách làm đó”, ông Grossman đánh giá.
Hạm đội 7 của Mỹ ở Nhật Bản hiện nay phụ trách một khu vực rộng lớn, xuống đến cả biên giới Ấn Độ – Pakistan. Bổ sung thêm Hạm đội 1 sẽ giúp giảm bớt công việc của Hạm đội 7, đồng thời giúp tư lệnh của hai hạm đội chú ý nhiều hơn đến các nhóm đồng minh và đối tác cũng như không gian địa lý nhỏ hơn. Ông Braithwaite chưa tiết lộ thông tin cụ thể nào về sức mạnh của Hạm đội 1 trong kế hoạch, hay cách thức hoạt động của hạm đội này có khác biệt hay sẽ phối hợp với Hạm đội 7.

Trong một diễn biến khác, hôm 17/11, Mỹ đưa 2 máy bay ném bom tầm xa vào vùng nhận diện phòng không (ADIZ) mà Trung Quốc lập ra trên biển Hoa Đông, trong lúc hải quân Trung Quốc đang tiến hành tập trận trên biển.

BDN

Loading

Views: 0

Cố vấn An ninh Quốc gia của TT Trump đến Việt Nam đẩy mạnh nỗ lực chống TQ

 

Dự kiến, ông O’Brien sẽ có chuyến thăm Việt Nam từ ngày 20-22/11, theo Bộ Ngoại giao Việt Nam. Chuyến đi này nối tiếp chuyến thăm Hà Nội vào tháng trước của Ngoại trưởng Mỹ Mike Pompeo. Ông O’Brien dự kiến ​​sẽ gặp Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh, Bộ trưởng Quốc phòng Ngô Xuân Lịch và Bộ trưởng Công an Tô Lâm.

Hôm 18/11, thông tin từ Hội đồng An ninh Quốc gia Nhà Trắng cho biết ông O’Brien sẽ đến châu Á và sẽ gặp các nhà lãnh đạo ở Philippines và Việt Nam để “tái khẳng định sức mạnh của mối quan hệ song phương và thảo luận về hợp tác an ninh khu vực”.

Ông Lê Đăng Doanh, cố vấn kinh tế cấp cao đã nghỉ hưu của 5 đời Thủ tướng, cho biết trên SCMP rằng chuyến thăm này là dấu hiệu của mối quan hệ tốt đẹp giữa Hoa Kỳ và Việt Nam. Hai nước đã kỷ niệm 25 năm bình thường hóa quan hệ ngoại giao trong năm nay và chia sẻ mối quan ngại về ảnh hưởng ngày càng tăng của Trung Quốc ở châu Á.

Carl Thayer, giáo sư danh dự tại Đại học New South Wales và chuyên gia về các vấn đề quốc phòng Việt Nam, cho biết hai bên có thể sẽ ra tuyên bố chung về hợp tác trong chiến lược “Ấn Độ-Thái Bình Dương tự do và rộng mở,” một tầm nhìn chính sách đối ngoại chiến lược của chính quyền TT Trump trong nỗ lực kiềm chế ảnh hưởng của Trung Quốc trong khu vực.

Ông Thayer nói các cam kết khả thi giữa hai bên có thể bao gồm tăng cường hợp tác giữa lực lượng tuần duyên của các nước, cũng như việc mua bán thiết bị, nhằm giúp Việt Nam chống lại các tuyên bố chủ quyền hàng hải phi pháp của Trung Quốc ở Biển Đông.

Giáo sư Thayer cũng nhận định có lẽ chuyến đi vừa rồi của Ngoại trưởng Pompeo chưa mang lại thoả thuận cụ thể nào do trước đó Văn phòng Đại diện Thương mại Hoa Kỳ đã cáo buộc Việt Nam thao túng tiền và xuất khẩu gỗ bất hợp pháp, nên Nhà trắng đã cử ông O’Brien đi để giải quyết các mối bận tâm của Việt Nam, qua đó đặt nền móng cho nền tảng hợp tác trong tương lai.

Chuyến đi của ông O’Brien diễn ra vào thời điểm nhạy cảm trong chính trường Hoa Kỳ khi chiến dịch tranh cử của TT Trump đang có hàng loạt vụ kiện liên quan đến gian lận bầu cử. Kết quả hiện tại vẫn chưa rõ ràng ai sẽ là Tổng thống nhiệm kỳ tiếp theo.

Đáng chú ý, Việt Nam là một trong những nước đã kiềm chế không thừa nhận chiến thắng của ông Biden.

Phát biểu tại cuộc họp báo vào ngày 15/11 sau khi bế mạc Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 37 tại Hà Nội, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cho biết “Việt Nam tôn trọng quyết định của người dân Mỹ. Dù ai thắng cử, ông Biden hay ông Trump, thì Hoa Kỳ vẫn là bạn tốt của Việt Nam.”

Ông Lê Hồng Hiệp, thành viên của Viện ISEAS-Yusof Ishak có trụ sở tại Singapore chuyên về chính trị Việt Nam, cho biết có khả năng các cuộc đàm phán xung quanh chuyến thăm của ông O’Brien là một yếu tố khiến Hà Nội quyết định không chúc mừng Biden.

“Điều quan trọng đối với Việt Nam là tiếp tục thu hút các quan chức của chính quyền Trump để củng cố những thành tựu gần đây trong hợp tác song phương. Chuyến thăm của O’Brien tới Việt Nam sẽ đóng góp vào quá trình đó”, ông nói.

Một số nhà quan sát cho biết Việt Nam dường như đánh giá cao nhiều chính sách đối kháng của TT Trump đối với Trung Quốc. Cho đến nay, ông Trump là Tổng thống đầu tiên của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ công khai đấu tranh chống lại Trung Quốc một cách mạnh mẽ.

Mặc dù còn khoảng 2 tháng nữa là kết thúc nhiệm kỳ Tổng thống hiện tại, ông Trump vẫn sẽ dự định ban hành một loạt chính sách cứng rắn đối với Trung Quốc, theo một nguồn tin trong chính quyền TT Trump cung cấp cho trang tin Axios hôm 15/11.

Theo đó, những động thái được cân nhắc bao gồm các biện pháp trừng phạt hoặc hạn chế thương mại đối với nhiều công ty, tổ chức chính phủ hoặc quan chức Trung Quốc; bảo vệ công nghệ của Mỹ khỏi sự khai thác của quân đội Trung Quốc; chống lại việc đánh bắt trái phép và trừng phạt các quan chức hoặc tổ chức liên quan đến vấn đề Hồng Kông hoặc Tân Cương.

Hồi tuần trước, ông Trump đã ban hành sắc lệnh cấm các khoản đầu tư của Mỹ vào 31 công ty Trung Quốc.

Nguồn:

https://trithucvn.org/the-gioi/co-van-an-ninh-quoc-gia-cua-tt-trump-den-viet-nam-day-manh-no-luc-chong-trung-quoc.html

Loading

Views: 0