Kategorie-Archiv:Nachrichten Allg.

11 phi cơ TQ vượt đường trung tuyến trên eo biển Đài Loan

Đài Loan thông báo phát hiện 18 phi cơ Trung Quốc hoạt động gần hòn đảo, trong đó 11 chiếc vượt đường trung tuyến trên eo biển.

Cơ quan phòng vệ Đài Loan ngày 13/2 thông báo phát hiện 18 phi cơ Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA) và 4 tàu hải quân PLA hoạt động gần hòn đảo. Trong số này, 11 phi cơ đã vượt qua đường trung tuyến, ranh giới tưởng tượng được ngầm hiểu là đường phân định eo biển Đài Loan.

Lực lượng phòng vệ Đài Loan đã triển khai tiêm kích, tàu chiến để theo dõi tình hình. 11 phi cơ vượt đường trung tuyến gồm 8 tiêm kích J-10, J-11, J-16, một trực thăng Z-9, một máy bay săn ngầm Y-8 và một máy bay không người lái BZK-005.

Trung Quốc chưa bình luận về thông tin.
Động thái diễn ra trong bối cảnh căng thẳng giữa hai bờ eo biển Đài Loan gần đây gia tăng. Trung Quốc coi Đài Loan là một tỉnh chờ thống nhất và tuyên bố sẽ dùng vũ lực nếu cần.

Tờ Financial Times hôm nay dẫn lời các quan chức Đài Loan cho biết các khí cầu Trung Quốc thường xuyên bay vào vùng trời hòn đảo, lần gần nhất “cách đây vài tuần”, có thể nhằm phục vụ mục đích quân sự. Theo các quan chức Đài Loan, khí cầu Trung Quốc thường bay ở độ cao 6 km, có kích thước và tải trọng rất khác so với khí cầu thời tiết, loại được phép bay vào không phận quốc gia khác mà không cần xin phép trước theo luật pháp quốc tế.

Trung Quốc chưa bình luận về thông tin. Cơ quan phòng vệ Đài Loan mới xác nhận một sự việc xảy ra tháng 2/2022, với các khí cầu Trung Quốc bay qua phía bắc hòn đảo.

BDN

Loading

Views: 0

Tàu hải quân huấn luyện bắn ngư lôi, đạn thật trên biển

Lữ đoàn 170, Vùng 1 Hải quân 44 năm qua đã nối tiếp nhau xây đắp nên truyền thống vẻ vang đoàn kết hiệp đồng, khắc phục khó khăn, huấn luyện giỏi, sẵn sàng chiến đấu tốt.

Đầu năm 1979, cùng với sự phát triển của các lực lượng trong Quân chủng Hải quân, ngày 12/2/1979, Bộ Quốc phòng ra Quyết định số 140/QP thành lập Lữ đoàn 170 (Lữ đoàn tàu mặt nước) trực thuộc Vùng 1 Hải quân. Nhiệm vụ của Lữ đoàn được giao là phối hợp chặt chẽ với các lực lượng của Vùng, đơn vị liên quan tổ chức tuần tiễu, quản lý, bảo vệ vững chắc vùng biển và chi viện cho các đảo phía Bắc của Tổ quốc.

Phát huy truyền thống vẻ vang, trước yêu cầu xây dựng và bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc trong thời kỳ mới, Đảng ủy, chỉ huy Lữ đoàn xác định tập trung xây dựng Lữ đoàn vững mạnh về mọi mặt, lấy xây dựng về chính trị làm cơ sở để nâng cao chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu của đơn vị; phát huy cao độ phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ-Người chiến sĩ Hải quân”, bất luận trong hoàn cảnh nào cũng luôn sẵn sàng chiến đấu, hy sinh quyết tâm hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.

Lữ đoàn luôn duy trì nghiêm lực lượng, phương tiện trực sẵn sàng chiến đấu, không để bị động bất ngờ trong mọi tình huống; Không ngừng đổi mới, nâng cao chất lượng công tác huấn luyện chiến đấu, xây dựng nền nếp chính quy, rèn luyện kỷ luật, bảo đảm an toàn và bảo đảm công tác hậu cần, kỹ thuật cho các nhiệm vụ.

Trải qua 44 năm xây dựng, phát triển và trưởng thành, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ của Lữ đoàn 170 đã nối tiếp nhau xây đắp nên truyền thống vẻ vang: “Đoàn kết hiệp đồng, khắc phục khó khăn, huấn luyện giỏi, sẵn sàng chiến đấu tốt”.

Thời gian tới, nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo phía Bắc của Tổ quốc tiếp tục đặt ra nhiều yêu cầu mới, đòi hỏi mỗi cán bộ chiến sỹ có bản lĩnh chính trị vững vàng, ý chí quyết tâm cao để lập nên những thành tích, chiến công mới, quản lý, bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo, thềm lục địa thiêng liêng của Tổ quốc.

BDN

Loading

Views: 0

Tàu hải cảnh Trung Quốc dùng Laser quân sự gây hấn tàu hải cảnh Philippines

13/02/2023, cảnh sát biển Philippines (PCG) tố cáo hải cảnh Trung Quốc đã chiếu một tia “laser quân sự” vào một tàu của họ vùng tranh chấp tại Biển Đông.

Tàu hải cảnh Trung Quốc đã chiếu laser cấp độ quân sự vào tàu tuần duyên Philippines vào hôm 6-2.

Vụ việc xảy ra ngày 6/02, tại một nơi cách rạn san hô Bãi Cỏ Mây (thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam; Philippines đang kiểm soát trái phép) khoảng 20 km.

PCG nói rằng: các thủy thủ tàu BRP Malapascua đã bị “mù tạm thời” trong hơn 10 giây đồng hồ; đồng thời, để ngỏ khả năng nạn nhân có thể bị ảnh hưởng lâu dài về sức khỏe.

Chưa hết, phía Philippines cáo buộc: tàu Trung Quốc còn có các hành động nguy hiểm tiếp cận tàu Philippines ở khoảng cách gần, có thể dẫn tới va chạm và gây nguy hiểm cho thủy thủ đoàn; các thủy thủ Trung Quốc còn phát “những lời thách thức bất hợp pháp qua radio”, yêu cầu tàu Philippines rời khỏi khu vực…

Dư luận Philippines lập tức nổi sóng. Nhiều người dân Philippines coi hành xử của phía Trung Quốc ngang ngược, già mồm của “kẻ cắp. “Kẻ cắp” này, ngoài việc để thủy thủ thách thức trực tiếp “chủ nhà” trên thực địa, còn “già mồm” ở tầm cao hơn. Trước phản ứng của Manila, qua người phát ngôn ngoại giao Uông Văn Bân, Bắc Kinh không những tuyên bố “tàu hải cảnh nước này (Trung Quốc) đã “tuân thủ luật pháp” trong sự việc trên, mà còn lên mặt dạy đời, uốn nắn: “Chúng tôi kêu gọi Philippines tránh những động thái tương tự. Thủy thủ đoàn Trung Quốc đã thể hiện sự chuyên nghiệp và kiềm chế”.

Thói ngạo mạn của Bắc Kinh còn khiến Washington cũng tức khí, nhảy bổ vào an ủi ông bạn Đông Nam Á: “Mỹ luôn sát cánh cùng đồng minh Philippines”, đồng thời cáo buộc “Những hành vi nguy hiểm của Trung Quốc đang trực tiếp đe dọa hòa bình và ổn định khu vực, xâm phạm quyền tự do đi lại trên Biển Đông được bảo đảm bởi luật pháp quốc tế, phá hỏng trật tự quốc tế dựa trên luật pháp” – như lời phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Mỹ Ned Price ngày 13/2.

Trách nhiệm với một đồng minh ư? Có thể, nhưng tin mức độ thôi, bởi nhiều người chưa quên vụ ông đồng minh bên Tây bán cầu đã bỏ mặc Philippines đối phó và cuối cùng, bị mất bãi cạn Scaborough về tay Trung Quốc năm 2012. Nhiều người nghiêng về khả năng: đằng sau sự sốt sắng, chia sẻ và nhiệt tình đó, rất có thể động cơ của Washington chỉ là muốn khai thác “vụ laser” này để co kéo Manila ở lại với mình trước sự giành giật quyết liệt của Trung Quốc. Co kéo để làm gì? Để phục vụ cho những mục tiêu trong chiến lược Châu Á – Thái Bình Dương mà Washington đang ráo riết triển khai trước nguy cơ Bắc Kinh ngày một bành trướng, trước mắt là trên Biển Đông.

Một ngày sau đó, Manila đã có công hàm phản đối Trung Quốc, nhấn mạnh rằng: “Những hành động gây hấn này của Trung Quốc thật đáng lo ngại và đáng thất vọng, vì diễn ra ngay sau chuyến thăm cấp nhà nước tới Trung Quốc của Tổng thống Philippines Ferdinand R. Marcos Jr. vào đầu tháng 1/2023”.

Chẳng phải bỗng dưng Manila “xâu” vụ laser với sự kiện ngoại giao được chính giới và truyền thông cả Trung Quốc và Philippines làm đình đám. Ngoài việc khẳng định sự coi trọng của ông Marcos Jr thể hiện qua việc chọn Trung Quốc là nước công du đầu tiên ngoài ASEAN trên cương vị tổng thống; khẳng định sự thịnh tình của của ông Tập Cận Bình dành cho người đồng cấp về việc ông này, trong nửa năm đầu nhiệm kỳ đã liên tục dành cho Bắc Kinh những lời cảm kích: Trung Quốc là “đối tác mạnh nhất”, là nguồn cung viện trợ phát triển hạ tầng “đáng tin cậy nhất” của Philippines…, việc làm đình đám còn nhằm khuyếch trương kết quả công du quan trọng của nhà lãnh đạo Philippines, trong đó, một trong những điểm nhấn là hai bên sẽ nói chuyện “sòng phẳng” với nhau về vấn đề Biển Đông.

Kết quả ấy như đã được thực chứng khi hai bên hoan hỷ ra Tuyên bố chung, trong đó có việc Thỏa thuận thiết lập đường dây liên lạc trực tiếp giữa Bộ Ngoại giao hai nước ở các cấp khác nhau về các vấn đề trên Biển Đông.

Trong khi nhiều người còn hồ hởi kỳ vọng rằng: cơ chế liên lạc trực tiếp này sẽ giúp xử lý được khối việc căng thẳng, thì vỡ ra ngay “vụ laser”.

“Vỡ” ra rồi mới thấy: với Trung Quốc, ký thì ký, tuyên bố thì tuyên bố, nhưng thực thi, hành xử theo nó, có mà còn đợi tới mùa…quýt!

BDN

Loading

Views: 0

Hải quân Việt Nam luyện tập chung với Hải quân Hoàng gia Anh

Quá trình huấn luyện, tàu của Việt Nam và Anh luyện tập chung vận động đội hình; thực hiện thủ tục chào nhau trên biển, trao đổi thông tin; luyện tập thông tin tín hiệu quốc tế…

Ngày 11/2, Hải quân Việt Nam, trực tiếp là Tàu 378, Lữ đoàn 167, Vùng 2 Hải quân, do Trung tá Nguyễn Đức Thiện, Phó Lữ đoàn trưởng, Lữ đoàn 167 chỉ huy đã tham gia luyện tập chung với Tàu tuần tra xa bờ của Hải quân Hoàng gia Anh mang tên HMS Spey, số hiệu P234, do Trung tá Michael Proudman, Thuyền trưởng chỉ huy.

Quá trình huấn luyện, hai bên đã luyện tập chung vận động đội hình; thực hiện thủ tục chào nhau trên biển, trao đổi thông tin; luyện tập thông tin tín hiệu quốc tế và thực hiện bộ quy tắc ứng xử cho cuộc gặp bất ngờ trên biển của hải quân các nước Tây Thái Bình Dương (CUES).

Trước đó, từ ngày 7 – 11/2, tàu HMS Spey đã cập cảng Nhà Rồng – Khánh Hội, TP.HCM. Bộ Tư lệnh Vùng 2 Hải quân đã tổ chức lễ đón tiếp 2 tàu và tổ chức các hoạt động giao lưu bóng đá với các sĩ quan và thủy thủ tàu Hải quân Hoàng gia Anh.

Lữ đoàn 167 cũng đã cử đoàn công tác tới thăm, trao đổi và thống nhất kế hoạch, phương án luyện tập chung giữa 2 bên, đồng thời thăm quan, trao đổi chuyên môn về y học Hải quân trên tàu HMS Spey.

Trung tá Nguyễn Đức Thiện, Phó Lữ đoàn trưởng, Lữ đoàn 167 cho biết, thông qua việc luyện tập chung trên biển, nhất là các quy tắc ứng xử cho các cuộc gặp bất ngờ trên biển, sẽ hạn chế được sự can thiệp lẫn nhau, tránh xảy ra va chạm ngoài ý muốn.

“Luyện tập chung còn tạo điều kiện thuận lợi cho thông tin liên lạc khi tàu Hải quân Việt Nam gặp tàu Hải quân Hoàng gia Anh trong trường hợp không được báo trước, qua đó góp phần tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau giữa Hải quân hai nước”, Trung tá Nguyễn Đức Thiện nói.

Trung tá Michael Proudman, Chỉ huy tàu HMS Spey chia sẻ, Hải quân Hoàng gia Anh rất vui mừng được đến thăm TP.HCM và tham gia các hoạt động cùng với Hải quân Việt Nam. “Đây không những là cơ hội để hải quân hai nước tăng cường hợp tác, còn nhấn mạnh cam kết không ngừng của Vương quốc Anh trong việc thúc đẩy ổn định và an ninh toàn cầu ở khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương”, theo Trung tá Michael Proudman.

Chuyến thăm của tàu HMS Spey diễn ra đúng vào dịp kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Vương quốc Anh – Việt Nam. Cột mốc này đánh dấu nửa thế kỷ quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa hai nước, trong đó hợp tác về an ninh, quốc phòng đang ngày càng được củng cố và phát triển.

Thông qua luyện tập chung giữa tàu 378 và tàu P234 đã góp phần tăng cường mối quan hệ hợp tác, hiểu biết và tin cậy lẫn nhau giữa quân đội 2 nước nói chung và Hải quân hai nước nói riêng, đồng thời tiếp tục thúc đẩy quan hệ hợp tác, giao lưu, tăng cường hiểu biết và tin cậy lẫn nhau giữa hải quân hai nước.

Tàu HMS Spey là tàu Hải quân Hoàng gia thứ tư được cử đến Việt Nam trong vòng 5 năm qua. Đây là minh chứng mạnh mẽ cho việc Vương quốc Anh là một trong những đối tác lâu dài và đáng tin cậy nhất của Việt Nam trong lĩnh vực an ninh hàng hải.

Tàu HMS Spey là tàu tuần tra xa bờ, thuộc lớp River thế hệ 2 của Hải quân Hoàng gia Anh, được thiết kế thực hiện các hoạt động đa nhiệm trên biển như bảo đảm an ninh hàng hải khu vực ven biển và cứu trợ thiên tai. Tàu có trọng tải 2.000 tấn, dài 90,5m, tốc độ tối đa 25 hải lý/h với tầm hoạt động hơn 5.000 hải lý. HMS Spey có sàn đáp 20m phục vụ hạ cánh và tiếp nhiên liệu cho một chiếc trực thăng cỡ trung bình và sử dụng 2 chiếc thuyền đi biển bơm hơi thân cứng.

Cùng với tàu HMS Tamar, Tàu HMS Spey hiện đang triển khai nhiệm vụ kéo dài 5 năm tại khu vực biển Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Làm việc cùng với các đối tác và đồng minh, tàu HMS Spey đang giúp giải quyết các thách thức an ninh và hỗ trợ các quốc gia giảm thiểu các tác động của biến đổi khí hậu. Trong các cuộc tuần tra gần đây, tàu HMS Spey cũng đã triển khai thực hiện những biện pháp nhằm chống đánh bắt bất hợp pháp, không theo quy định và không báo cáo (IUU) trong khu vực.

BDN

Loading

Views: 0

Đảo nhân tạo phi pháp trong quần đảo Trường Sa còn mở siêu thị

Đài CCTV mới đây ngang nhiên đưa tin Trung Quốc đã mở các siêu thị trên 3 thực thể bị nước này chiếm đóng phi pháp và xây dựng thành đảo nhân tạo trong quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam.

Cụ thể, Đài truyền hình trung ương Trung Quốc (CCTV) ngày 8.2 đưa tin những siêu thị nói trên đã được đặt tại các căn cứ quân sự trên đá Chữ Thập, đá Xu Bi và đá Vành Khăn trong quần đảo Trường Sa, theo tờ South China Morning Post ngày 11.2.

Siêu thị đầu tiên được khai trương vào cuối năm 2020 trên đá Chữ Thập, cho phép các binh sĩ Trung Quốc đóng trú phi pháp ở đó mua nhu yếu phẩm hằng ngày, thay vì chờ tàu tiếp tế mỗi tháng.
Siêu thị trên đá Chữ Thập còn có góc đọc sách, quán cà phê, phòng giặt ủi và phòng karaoke, theo PLA Daily, cơ quan ngôn luận của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA).

Kể từ năm 2013, Trung Quốc đã bồi đắp, xây dựng 7 thực thể bị nước này chiếm đóng phi pháp trong quần đảo Trường Sa thành những đảo nhân tạo phi pháp. Đến năm 2015, Bắc Kinh nói đã ngừng hoạt động bồi đắp đất ở Biển Đông, nhưng đã có báo cáo rằng Trung Quốc vẫn tiếp tục củng cố những thực thể đó bằng các căn cứ quân sự tiên tiến cũng như hệ thống tên lửa, radar, đường băng và máy bay chiến đấu, theo South China Morning Post.

Trong khi đó, phát biểu tại cuộc họp báo vào ngày 9.6.2022, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng đã nhấn mạnh: “Một lần nữa, Việt Nam khẳng định có đầy đủ căn cứ pháp lý và bằng chứng lịch sử về chủ quyền đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, phù hợp với luật pháp quốc tế”.

BDN

Loading

Views: 0

Truyền thông TQ cảnh báo rủi ro cơn sốt cổ phiếu ChatGPT

Truyền thông nhà nước Trung Quốc hôm 9.2 cảnh báo về rủi ro cổ phiếu liên quan đến ChatGPT. Các công ty trí tuệ nhân tạo cũng kêu gọi nhà đầu tư tỉnh táo sau khi giá cổ phiếu về chatbot này tăng vọt.

Theo Reuters, cơn sốt xung quanh ChatGPT đã thúc đẩy các vụ đầu cơ trên thị trường chứng khoán Trung Quốc, nâng giá cổ phiếu các công ty trí tuệ nhân tạo (AI) như TRS Information Technology, Hanwang Technology và CloudWalk Technology.

Tờ Securities Times trong bài xã luận trên trang nhất đã nêu bật một số khái niệm công nghệ từng thúc đẩy việc mua cổ phiếu ở Trung Quốc, ví dụ như mạng viễn thông thế hệ thứ năm (5G), thực tế tăng cường (AR), thực tế ảo (VR). Tuy nhiên, tất cả sự phấn khích này hiện đều đã “chìm”.

Một số ý tưởng công nghệ được săn đón đã thành công, nhưng còn “nhiều ý tưởng mới khác chưa được thương mại hóa hoặc cần thêm thời gian để chứng minh. Dù vậy, một số người vẫn ham muốn đầu cơ vào các khái niệm giả, dụ người khác vào kế hoạch bơm và xả”, trích bài đăng trên Securities Times.

Được biết, các công ty đang phát triển công nghệ giống ChatGPT đã phải gắn thẻ đánh dấu rủi ro theo yêu cầu từ phía cơ quan quản lý Trung Quốc, sau khi giá cổ phiếu tăng vọt giữa lúc sự quan tâm đến AI tổng quát đang rất mạnh mẽ.

Beijing Haiti Ruisheng Science Technology cho biết sản phẩm và dịch vụ theo kiểu ChatGPT của họ chưa tạo ra doanh thu và không có mối quan hệ nào với OpenAI. Mặc dù công nghệ này “đang có xu hướng tăng trưởng dài hạn, nhưng chúng ta cần phân tích tốc độ tăng trưởng và tác động của nó một cách bình tĩnh”, công ty trả lời trong hồ sơ gửi Sở giao dịch chứng khoán Thượng Hải.

Hãng bảo mật internet 360 Security Technology cũng báo cáo lên cơ quan quản lý Trung Quốc rằng công nghệ liên quan đến ChatGPT do công ty tự phát triển vẫn đang ở giai đoạn sơ khai, và chỉ được sử dụng nội bộ như một công cụ năng suất. Vì không chắc chắn về thời điểm có thể tiếp thị các sản phẩm kiểu ChatGPT và mức độ hiệu quả của chúng, nên “chúng tôi khuyên các nhà đầu tư chú ý đến rủi ro giao dịch trên thị trường để quyết định hợp lý và đầu tư thận trọng”.

BDN

Loading

Views: 0

Ba nước Mỹ, Anh, Úc tập trận không quân nhằm đối phó TQ

Mỹ, Anh và Úc ngày 8.2 đã thực hiện các cuộc tập trận không quân chung tại Mỹ mô phỏng các hoạt động đối phó máy bay chiến đấu và lực lượng phòng không của Trung Quốc.

Theo Reuters, Mỹ, Anh và Úc ngày 8.2 đã tiến hành các cuộc tập trận không quân chung trong nỗ lực mô phỏng hoạt động chống lại máy bay chiến đấu và lực lượng phòng không của Trung Quốc. Cuộc tập trận Cờ Đỏ (Red Flag) kéo dài 3 tuần, do Mỹ đăng cai tổ chức trên sa mạc Nevada.

Đại tá không quân Mỹ Jared J. Hutchinson, chỉ huy Phi đội Huấn luyện Chiến đấu 414 điều hành tập trận Cờ Đỏ, cho biết cuộc tập trận thường niên này không liên quan đến bất kỳ sự kiện nào gần đây.

“Trung Quốc chỉ là thách thức về tốc độ để chúng tôi huấn luyện sự sẵn sàng. Chúng tôi nghĩ rằng nếu chúng tôi sẵn sàng với Trung Quốc, thì chúng tôi cũng sẵn sàng với bất kỳ ai”, ông Hutchinson nói.

Trọng tâm của cuộc tập trận là tìm cách làm quen với khoảng cách rộng lớn mà Mỹ, Anh và Úc sẽ phải đối mặt khi hoạt động trên khắp Thái Bình Dương, đồng thời cải thiện khả năng phối hợp tác chiến của lực lượng không quân ba nước.

Thiếu tướng John Lyle, chỉ huy Lực lượng Cơ động của không quân hoàng gia Anh, cho biết nhiệm vụ trong cuộc tập trận Cờ Đỏ sẽ mô phỏng việc đưa lực lượng không quân vào “khu vực đã bị một quốc gia thù địch xâm nhập”.

“Vai trò của chúng tôi sẽ là hỗ trợ lực lượng tiến vào khu vực đang bị chiếm đóng và nhắm vào các tài sản quan trọng để làm suy giảm khả năng của đối phương”, ông Lyle nói thêm.

Ngoài máy bay tiếp nhiên liệu KC-2 Voyager, Anh còn cho máy bay chiến đấu Eurofighter Typhoon tham gia tập trận. Úc mang đến máy bay chiến đấu EA-18G Growler, theo số liệu do ban tổ chức tập trận Cờ Đỏ cung cấp.

BDN

Loading

Views: 0

TQ do thám nước Mỹ như thế nào

Các nỗ lực gián điệp của Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) có quy mô lớn hơn nhiều so với việc chỉ sử dụng những khinh khí cầu do thám.

Một kỹ thuật viên phòng thí nghiệm của BGI đang làm việc với các mẫu xét nghiệm COVID-19 tại phòng thí nghiệm “Mắt lửa” ở Vũ Hán, tỉnh Hồ Bắc, miền trung Trung Quốc, 06/02/2020. 

Thông tin về việc Lầu Năm Góc đang theo sát một khinh khí cầu do thám của ĐCSTQ lơ lửng trên bầu trời Mỹ trong tuần này đang làm dấy lên lo ngại về mức độ nỗ lực gián điệp của Trung Quốc nhắm vào Mỹ và công dân Mỹ. Nhưng chính quyền Trung Quốc sẵn sàng làm đến mức nào để theo dõi và phá hoại nước Mỹ?

Các nỗ lực gián điệp của ĐCSTQ, vốn cai trị Trung Quốc trong trại thái một quốc gia độc đảng, có phạm vi sâu rộng hơn nhiều so với những khinh khí cầu cảm biến đơn thuần. Những nỗ lực đó bao gồm việc thu thập thông tin tình báo thông qua con người, các kế hoạch đàn áp xuyên quốc gia, trộm cắp và tấn công mạng, trộm cắp tài sản trí tuệ, và thậm chí là thu thập vật liệu di truyền [các thông tin về di truyền học] của người Mỹ.

Theo lời của một Tướng Không quân Mỹ đã nghỉ hưu: “Nếu [ĐCSTQ] có được bất kỳ sự tiếp cận nào vào trong xã hội Mỹ, thì họ sẽ sử dụng sự tiếp cận đó để phá hoại xã hội Mỹ”.

Thu thập thông tin tình báo thông qua con người và Đàn áp xuyên quốc gia
Điểm mấu chốt trong những nỗ lực do thám Mỹ của ĐCSTQ là những nỗ lực thu thập thông tin tình báo một cách truyền thống thông qua con người (HUMINT), dựa vào việc trao đổi thông tin giữa người với người, dù là cố ý hay không cố ý.

Mạng lưới HUMINT của ĐCSTQ thâm nhập vào xã hội Mỹ ở nhiều cấp độ, với nhiều nỗ lực trong đó được giám sát trực tiếp bởi cơ quan tình báo hàng đầu của chính quyền Trung Quốc là Bộ An ninh Quốc gia (MSS).

Một trong những trường hợp tai tiếng nhất trong số đó là trường hợp của Christine Fang hay “Fang Fang”, người bị cáo buộc là gián điệp Trung Quốc đóng giả là sinh viên đại học và nuôi dưỡng quan hệ với nhiều chính trị gia ở California và các nơi khác, bao gồm cả Dân biểu Eric Swalwell khi ông còn là ủy viên hội đồng thành phố. Fang Fang được cho là đã sử dụng các mối quan hệ đó để thu thập thông tin tình báo về các chính trị gia đầy hứa hẹn. Fang Fang cũng được cho là đã nhằm vào ít nhất hai thị trưởng miền Trung Tây nước Mỹ, những người mà cô đã có quan hệ tình cảm hoặc tình dục.

Tuy nhiên, các chính trị gia không phải là mục tiêu duy nhất của hoạt động gián điệp này. Nhiều người dân thường của Mỹ, đặc biệt là những người gốc Hoa, thường là mục tiêu ưa thích của các chiến dịch quấy rối và gián điệp của ĐCSTQ.

Trong những nỗ lực đó, các đặc vụ Bộ An ninh Quốc gia Trung Quốc và những người đại diện của họ tại Mỹ bị cáo buộc đã theo dõi một vận động viên trượt băng nghệ thuật Olympic người Mỹ và gia đình của cô này. Họ cũng bị cáo buộc đã âm mưu thông đồng với cảnh sát New York để thu thập thông tin tình báo về cộng đồng người Mỹ gốc Á, và thậm chí còn âm mưu tấn công một cựu quân nhân Mỹ đang tranh cử vào Quốc hội trong một nỗ lực bịt miệng và đe dọa những người có quan điểm chỉ trích ĐCSTQ.

Giám đốc FBI Christopher Wray đã làm chứng rằng, các đặc vụ Trung Quốc và những người làm thuê cho họ đã tích cực theo dõi cư dân Mỹ và gắn máy nghe trộm trong ô tô và nhà của họ.

Trộm cắp mạng và Xâm nhập hệ thống
Tương tự, chính quyền Trung Quốc đã sử dụng các chiến dịch tấn công mạng và thông tin sai lệch để thu thập một cách bất hợp pháp thông tin quốc phòng của Mỹ, và gieo rắc chia rẽ giữa các công dân Mỹ.

Các nhà lãnh đạo tình báo Mỹ đã xác định ĐCSTQ là tác nhân mạng độc hại lớn nhất thế giới, và các tin tặc có liên kết với chính quyền này đã đánh cắp nhiều dữ liệu từ người Mỹ hơn bất kỳ quốc gia nào khác cộng lại.

Những nỗ lực như vậy thường nhằm đánh cắp các bí mật công nghệ quan trọng, chẳng hạn như các tin tặc do ĐCSTQ tài trợ đã xâm nhập và đánh cắp thông tin nhạy cảm từ nhiều công ty viễn thông của Mỹ.

Các vụ việc này nêu bật điều mà các quan chức quốc phòng Mỹ đã cảnh báo từ lâu: ĐCSTQ đang nghiên cứu cách Mỹ chiến đấu, với mục đích phát triển các công nghệ có khả năng đánh bại quân đội Mỹ, và mục đích chuyển các công nghệ tiên tiến của Mỹ sang Trung Quốc.

Thông tin cá nhân nhạy cảm của người Mỹ cũng là một mục tiêu có giá trị, bằng chứng là nhiều vụ tấn công quy mô lớn của các tác nhân Trung Quốc trong những năm qua. Trong đó bao gồm các vụ xâm nhập hệ thống của Văn phòng Quản lý Nhân sự Mỹ (OPM), công ty báo cáo tín dụng Equifax, khách sạn Mariott, và công ty bảo hiểm Anthem. Những vụ xâm nhập hệ thống này đã khiến dữ liệu cá nhân của hàng trăm triệu người Mỹ bị đánh cắp.

Các quan chức và chuyên gia cho biết, ĐCSTQ đang sử dụng kho dữ liệu cá nhân khổng lồ này của người Mỹ để hỗ trợ các hoạt động gián điệp và gây ảnh hưởng ở nước ngoài của mình, đồng thời dùng dữ liệu nuôi công nghệ trí thông minh nhân tạo.

Mạng xã hội và Viễn thông
ĐCSTQ cũng sử dụng việc họ có thể kiểm soát dữ liệu các công ty Trung Quốc, để tận dụng các mạng xã hội và viễn thông khổng lồ của Trung Quốc nhằm vào người dân Mỹ nhẹ dạ cả tin.

TikTok, một ứng dụng nổi tiếng về video ngắn thuộc sở hữu của hãng công nghệ Trung Quốc khổng lồ ByteDance, có lẽ là ví dụ tiêu biểu nhất cho điều này.

Được các nhà lãnh đạo tình báo Mỹ mô tả là “mối đe dọa an ninh quốc gia” và được các chuyên gia bảo mật dán nhãn là “ứng dụng quân sự được vũ khí hóa”, mạng xã hội khổng lồ TikTok đã kiểm duyệt các tin bài mà người Mỹ xem theo yêu cầu của ĐCSTQ. Phần mềm này cho phép các kỹ sư Trung Quốc truy cập vào dữ liệu người dùng Mỹ. Các quan chức Mỹ đã nhiều lần gióng lên hồi chuông cảnh báo về ứng dụng này; luật của ĐCSTQ bắt buộc các công ty Trung Quốc cung cấp dữ liệu cho chính quyền theo yêu cầu.

Ngoài ra, nhân viên ByteDance đã sử dụng dữ liệu định vị địa lý từ TikTok để theo dõi bất hợp pháp các nhà báo Mỹ được cho là đang đưa tin về công ty này.

Các công ty công nghệ khác của Trung Quốc, bao gồm cả viễn thông, cũng gây ra rủi ro an ninh quốc gia cho Mỹ. Trong những năm gần đây, Washington đã đưa ra nhiều biện pháp thẳng tay nhằm vào các công ty viễn thông Trung Quốc, trong đó có Huawei và ZTE, vì lý do này.

Huawei và các nhân viên của họ bị phát hiện có mối liên hệ sâu sắc với quân đội và tình báo Trung Quốc. Các công tố viên liên bang của Mỹ đã buộc tội Huawei âm mưu đánh cắp bí mật thương mại, trong khi một nhân viên chính phủ Canada cáo buộc rằng Huawei đã thuê các nhân viên vốn là gián điệp của ĐCSTQ. Công ty này cũng được cho là đã tích cực tham gia vào các cuộc tấn công bí mật vào hệ thống mạng viễn thông của Úc và Mỹ từ năm 2012.

Dữ liệu sinh học
Những nỗ lực của ĐCSTQ nhằm thu thập tất cả thông tin từ Mỹ còn vượt xa hơn cả các mảng sở hữu trí tuệ và khinh khí cầu do thám. Thật vậy, cuộc tấn công này đi sâu vào tận xương tủy, và sau đó xuống còn sâu hơn nữa: Đến vật chất [dữ liệu] di truyền của người Mỹ.

Dữ liệu lâm sàng và di truyền của công dân Mỹ mà các công ty công nghệ sinh học Trung Quốc thu được thông qua quan hệ đối tác với các tổ chức của Mỹ gây ra rủi ro an ninh quốc gia, theo một cơ quan phản gián hàng đầu của Mỹ cảnh báo vào năm 2019.

Theo các báo cáo của Quốc hội Mỹ, việc thu thập DNA người Mỹ hàng loạt, do các công ty như công ty giải trình tự bộ gen BGI thực hiện, có thể được sử dụng theo vô số cách để chống lại Mỹ.

Các cách thức này bao gồm việc cho phép ĐCSTQ tống tiền các cá nhân với lời đe dọa sẽ tiết lộ thông tin y tế đáng xấu hổ của họ, hoặc thậm chí sử dụng dữ liệu về tình trạng sức khỏe như các bệnh dị ứng để tiến hành các cuộc tấn công sinh học nhằm vào các nhà ngoại giao, chính trị gia, quan chức cấp cao của liên bang, hoặc các nhà lãnh đạo quân đội.

Một số chuyên gia đã cảnh báo rằng ĐCSTQ có thể sử dụng lượng thông tin di truyền phong phú này để tạo ra vũ khí sinh học nhằm vào một số nhóm người nhất định.

Điều quan trọng là, mặc dù BGI là một công ty tư nhân, nhưng họ có mối quan hệ nhất định với ĐCSTQ. Tháng 1/2018, Tân Hoa Xã của nhà nước Trung Quốc đưa tin rằng Đỗ Ngọc Đào, Bí thư đảng ủy của BGI, đã nói về tầm quan trọng của việc học hỏi và thực hiện “tinh thần đằng sau Đại hội toàn quốc lần thứ 19”. Đại hội toàn quốc (Đại hội đại biểu Toàn quốc Đảng Cộng sản Trung Quốc) là một cuộc họp của ĐCSTQ được tổ chức 5 năm 1 lần.

BGI duy trì mối quan hệ chặt chẽ với ĐCSTQ, và các nhà khoa học của họ đã bày tỏ sự quan tâm đến nỗ lực phát triển vũ khí sinh hóa của chính quyền này. Các chuyên gia cho rằng, điều này có thể cho thấy liên kết giữa nỗ lực của BGI trong việc thu thập vật liệu di truyền của người dân các nước như Mỹ, với lợi ích đen tối trong việc phát triển vũ khí để chống lại người Mỹ.

Nghiên cứu Hạt nhân và Siêu thanh
Ngoài những nỗ lực tích cực để do thám thông tin về Mỹ, ĐCSTQ còn sử dụng các chương trình nhân tài do nhà nước tài trợ để tạo cho mình lợi thế lâu dài trong các nghiên cứu quan trọng.

Bằng cách tuyển dụng các chuyên gia và học giả từ nước ngoài sang học tập tại nơi làm việc ở Trung Quốc, các chương trình nhân tài này nhằm mục đích phát triển một thế hệ các nhà nghiên cứu mới trong các lĩnh vực quan trọng đối với sự phát triển công nghệ và quân sự của Trung Quốc.

Trường hợp đáng chú ý nhất về hiện tượng này liên quan đến Phòng thí nghiệm Quốc gia Los Alamos (LANL) — trung tâm nghiên cứu hạt nhân tiên tiến nhất của Mỹ.

Theo một báo cáo, cho đến nay, đã có ít nhất 162 nhà nghiên cứu từ LANL — trong đó ít nhất 1 người đã có quyền truy cập thông tin an ninh tối mật ở Mỹ — hiện đang làm việc cho Trung Quốc, nơi nhiều người trong số họ hiện đang hỗ trợ chính quyền này phát triển vũ khí tiên tiến nhất, bao gồm cả tên lửa siêu thanh.

Nhiều nhà nghiên cứu làm việc tại LANL, vốn đã đến Mỹ để được đào tạo và làm việc trong các lĩnh vực quan trọng đối với an ninh quốc gia, đã tham gia vào các chương trình nhân tài của ĐCSTQ. Chẳng hạn, ít nhất 59 người trong số những người làm việc tại LANL và sau đó quay trở lại Trung Quốc để nghiên cứu là thuộc “Chương trình Nghìn Nhân tài” của chính quyền Trung Quốc, hoặc thuộc “Chương trình Nghìn Nhân tài Trẻ tuổi”.

Báo cáo nói rằng, “các chương trình nhân tài [của Trung Quốc] là mạng lưới tuyển dụng ngày càng mở rộng”, mà qua đó chính quyền này liên tục đoạt lấy kiến thức từ Mỹ.

Chiến lược mua đất nông nghiệp
Các công ty Trung Quốc có liên hệ với ĐCSTQ cũng đang mua các lô đất chiến lược ở Mỹ, điều này làm dấy lên lo ngại rằng chính quyền này có thể tiến hành hoạt động gián điệp hoặc phá hoại các lợi ích an ninh quốc gia Mỹ.

Trong những năm gần đây, việc người Trung Quốc mua đất ở Texas và North Dakota — đều nằm gần các căn cứ quân sự Mỹ — đã gây báo động cho người dân địa phương và các nhà hoạch định chính sách chính phủ tiểu bang và liên bang.

Chẳng hạn, một tỷ phú Trung Quốc đã mua 140.000 mẫu (hơn 56.650 hecta) đất ở Texas. Tỷ phú này là Tôn Quảng Tín — có mối quan hệ rộng rãi với ĐCSTQ và được cho là đã tuyển dụng nhiều quan chức chính phủ và quân đội.

Theo Hiệp hội Môi giới Địa ốc Quốc gia của Mỹ, các nhà đầu tư Trung Quốc đã mua 6,1 tỷ USD bất động sản Mỹ trong khoảng thời gian từ tháng 4/2021 đến tháng 3/2022, khiến quốc gia này trở thành người mua nước ngoài lớn nhất tính theo số tiền đã chi.

Một dự án nhà máy ngô gây tranh cãi của Trung Quốc ở Grand Forks, North Dakota, trên một vùng đất trong vòng 15 dặm từ Căn cứ Không quân Mỹ — nơi chứa máy bay không người lái, vệ tinh, và công nghệ giám sát nhạy cảm — hiện sắp bị dừng hoạt động sau các cảnh báo của Không quân Mỹ rằng, dự án đặt ra “một mối đe dọa to lớn đối với an ninh quốc gia”.

Nhiều quan chức Mỹ cũng đã gióng lên hồi chuông cảnh báo về quyền sở hữu của Trung Quốc đối với đất nông nghiệp Mỹ. Do đó, một số bang đang xây dựng luật để cấm hoặc hạn chế các thực thể Trung Quốc mua đất nông nghiệp và doanh nghiệp của Mỹ. Trong số những bang này bao gồm South Dakota, Florida, Texas, Virginia, Missouri, và Iowa.

BDN

Loading

Views: 0

Bước đi mới của Mỹ nhằm đối phó với TQ ở Biển Đông

Mỹ tuyên bố sớm đạt được thỏa thuận mới về quân sự với Philippines trong tuần này. Việc Mỹ thúc đẩy các đơn vị quy mô nhỏ hơn trong luân phiên đồn trú nhằm tránh leo thang với Trung Quốc và giúp Philippines dễ ứng xử hơn trong mối quan hệ song phương với Trung Quốc, theo Wall Street Journal.

Quân đội Mỹ và Philippines trong một cuộc tập trận chung.

Mở rộng hiện diện quân sự

Wall Street Journal ngày 30/1 bình luận, Mỹ muốn đạt thỏa thuận mới về quân sự với Philippines, coi đây là một phần trong nỗ lực mở rộng hiện diện quân sự ở khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương.

Các quan chức Mỹ cho biết, Washington kỳ vọng sẽ đạt được thỏa thuận trong tuần này về xây dựng 4 căn cứ quân sự ở Philippines, động thái mới nhất nhằm mở rộng sự hiện diện quân sự tại khu vực nhằm đối phó với các mối đe dọa từ Trung Quốc.

Theo kế hoạch, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ sẽ có cuộc gặp với Tổng thống Philippines Ferdinand Marcos Jr. tại Manila trong tuần này, với hy vọng sớm đạt thỏa thuận, tạo điều kiện thúc đẩy đồn trú luân phiên lực lượng Mỹ đóng tại Philippines.

Một căn cứ có thể được đặt ở phía Bắc đảo Luzon, cơ sở khác ở khu vực Tây Nam tỉnh Palawan của Philippines. Hiện chưa rõ 2 cứ điểm còn lại nằm ở đâu, cũng như số lượng lính Mỹ được phép đồn trú tại những khu vực này.

Đổi lại, phía Mỹ hứa hẹn viện trợ quân sự cho Philippines, trong đó có thiết bị bay không người lái, nhằm giúp quân đội quốc gia Đông Nam Á tăng khả năng giám sát ở Biển Đông.

Thỏa thuận này là một phần trong nỗ lực lớn hơn của Washington nhằm bố trí lực lượng tác chiến dưới hình thức các đơn vị nhỏ hơn ở Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, củng cố các liên minh lâu đời, thiết lập các liên minh, liên kết mới nhằm ứng phó với những thách thức từ Trung Quốc tại khu vực.

Giới chức Lầu Năm Góc nhìn nhận, đồn trú luân phiên quân sự theo hướng bố trí lực lượng nhỏ dọc Philippines có thể giúp tăng cường hỗ trợ hậu cần cho quân đội Mỹ ở phạm vi khu vực rộng lớn trong trường hợp xảy ra xung đột. Hiện tại, Mỹ duy trì 500 quân theo hình thức đồn trú luân phiên tại Philippines.

Phía Washington cho biết đã có rất nhiều nỗ lực trong suốt một tháng qua để hoàn tất thỏa thuận này. Tiến trình đàm phán phức tạp hơn do cần phải tính đến mối quan hệ song phương giữa Philippines và Trung Quốc. Đến nay, hai bên vẫn còn nhiều điểm chi tiết cần tiếp tục hoàn tất thảo luận.

Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất của Philippines trong khi Mỹ là đồng minh an ninh lâu năm của Manila. Thực tế, Philippines không muốn phải chọn phe.

Trong cuộc phỏng vấn của tờ Wall Street Journal đầu tháng này, Tổng thống Philippines Ferdinand Marcos Jr. nêu quan điểm: “Đó là một thế cân bằng rất mong manh”.

Tránh leo thang, giúp Philippines “dễ thở”

Việc Mỹ thúc đẩy các đơn vị quy mô nhỏ hơn trong luân phiên đồn trú tại khu vực cũng nhằm tránh leo thang với Trung Quốc. Rất có thể, Bắc Kinh coi sự xuất hiện của các căn cứ quân sự lớn hơn là hình thức khiêu khích trực tiếp của Washington đối với các yêu sách chủ quyền của Trung Quốc ở Biển Đông.

Việc này cũng tránh đẩy Philippines rơi vào tình thế khó xử, bởi thiết lập căn cứ quân sự lớn là bước đi quá xa đối với quốc gia Đông Nam Á này trong bối cảnh Manila nhìn nhận không có lựa chọn nào khác ngoài duy trì quan hệ với cả Bắc Kinh và Washington.

Đầu tháng trước, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã đón tiếp Tổng thống Marcos Jr. khi ông có chuyến thăm nhà nước tới Bắc Kinh. Trong khuôn khổ chuyến thăm, hai bên đã ký một loạt thỏa thuận nhằm củng cố hợp tác trên nhiều lĩnh vực, trong đó có an ninh.

Hai nhà lãnh đạo đồng ý thiết lập kênh liên lạc trực tiếp giữa Bộ Ngoại giao hai nước để kịp thời trao đổi, xử lý các vấn đề liên quan tranh chấp ở Biển Đông. Mục đích chính là hạ nhiệt căng thẳng trong quan hệ song phương.

Về hợp tác quân sự Mỹ-Philippines, dựa trên các điều khoản có trong Thỏa thuận Hợp tác quốc phòng tăng cường (EDCA) ký năm 2014 giữa hai nước, trên thực địa, quân đội Mỹ được phép hoạt động, tác chiến hợp pháp ở Philippines.

EDCA cho phép Mỹ hiện diện nhiều hơn tại các căn cứ quân sự của Philippines, thông qua việc đặt trang thiết bị quốc phòng tại 5 căn cứ của Manila và luân chuyển quân sự tại những căn cứ này. Quân đội Philippines có thể sử dụng những địa điểm này sau khi quân Mỹ rút đi. 5 căn cứ này gồm Fort Magsaysay và 4 căn cứ không quân Basa, Antonio Bautista, Mactan-Benito Ebuen và Lumbia.

Bộ Ngoại giao Philippines cho biết, các dự án trên sẽ hoàn tất xây dựng trong 2-3 năm tới. Tháng 10/2021, hai bên đồng ý mở các cuộc thảo luận về xây dựng căn cứ mới, trong đó có 4 căn cứ như đã nêu.

BDN

Loading

Views: 0

Dấu mốc lịch sử-Việt Nam và Indonesia hoàn tất phân định EEZ

Không những không tuân thủ phán quyết của Tòa trọng tài Liên hợp quốc (PCA) từ năm 2016 về việc Tòa bác bỏ “Đường lưỡi bò” vô lối, Trung Quốc còn luôn la ó, phá hoại các hoạt động phân định ranh giới trên biển giữa các quốc gia láng giềng.

Trung Quốc phản đối vì cho rằng, nơi mà các nước liên quan phân định ranh giới là thuộc “chủ quyền” của họ (!).

Sự kiện mới đây là một minh chứng cho sự vô lối đó. Chuyện rằng, cuối tháng 12/ 2022, Việt Nam và Indonesia công bố kết thúc quá trình đàm phán (kéo dài 12 năm) giữa hai quốc gia trong việc phân định vùng đặc quyền kinh tế (EEZ). Cần phân định rõ ràng vì trước đó có sự chồng lấn theo các quy định của Công ước Luật biển (UNCLOC- 1982).

Quá trình trao đổi để phân định thềm lục địa, Hà Nội đã chủ động đề xuất sử dụng chung một đường phân định cho cả thềm lục địa và EEZ giữa Việt Nam và Indonesia. Thế nhưng, Jakarta không đồng ý vì cho rằng, thềm lục địa và EEZ là hai vấn đề khác biệt nhau – theo quy định của UNCLOS. Jakarta đề nghị, không thể sử dụng một đường duy nhất để phân định cả hai khu vực.

Một điểm gây tranh cãi nhiều nhất là, sử dụng đường cơ sở để đo lường khu vực phân định. Indonesia là quốc gia quần đảo, được phép sử dụng đường cơ sở quần đảo, còn Việt Nam thì sử dụng đường cơ sở thông thường. Đương nhiên, lợi thế thuộc về Indonesia khi đám phán phân định EEZ tách biệt khỏi thềm lục địa.

Mặc dù có những bất đồng như thế, nhưng qua nhiều vòng đàm phán qua hàng chục năm, hai nước đã tìm được tiếng nói chung. Việc hoàn tất quá trình phân định EEZ tạo ra một dấu mốc quan trọng không chỉ đối với hai nước, mà còn có tác động rất lớn đối với khu vực Đông Nam Á đang có những tranh chấp trên biển kéo dài.

Không chỉ thống nhất phương án phân định EEZ, hai nước còn ký kết được một thoả thuận hợp tác khí đốt. Sắp tới, vào năm 2026, Indonesia sẽ xuất khẩu khí đốt sang Việt Nam từ Lô Cá Ngừ (Tuna Block). Đáng chú ý, Lô Cá Ngừ là khu vực Trung Quốc liên tục đe doạ Indonesia trong những năm qua, mặc dù nó thuộc EEZ của Indonesia.

Vì lợi ích riêng cho nên Trung Quốc đã ngay lập tức lên tiếng phản đối Việt Nam và Indonesia. Họ cho rằng, hai quốc gia đã vi phạm luật pháp quốc tế, xâm phạm chủ quyền… Trung Quốc. Một số học giả Trung Quốc đã nói và viết với giọng chợ búa. Không hiểu đây là ý kiến riêng hay là chủ đích của chính phủ Trung Quốc ?

Chuyên gia Shahriman Lockman- Giám đốc Viện Nghiên cứu Quốc tế và Chiến lược (ISIS) của Malaysia đã nhanh nhảu bình luận, rằng “Trung Quốc thế nào cũng phản đối thỏa thuận này của Indonesia và Việt Nam”.

Dự báo của Shahriman Lockman đã không sai. Người lên tiếng đầu tiên là Ngô Sĩ Tồn (Wu Shicun), Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Trung Quốc-Đông Nam Á về Biển Đông, có trụ sở ở Hải Nam,(Trung Quốc). Ông Ngô viết trên tờ Bưu điện Hoa Nam Buổi sáng: “Các cuộc đàm phán phân định ranh giới trên vùng biển tranh chấp phải có sự hiện diện của tất cả các bên yêu sách, bởi khu vực này liên quan đến vùng biển tranh chấp, nơi Trung Quốc cũng tuyên bố quyền tài phán và quyền lịch sử, một phần vùng biển cũng là ngư trường truyền thống của ngư dân Trung Quốc…”

Ngô Sĩ Tồn thật trơ trẽn khi cho rằng: các EEZ chồng lấn của Việt Nam hay Indonesia đều nằm trong phạm vi của “Đường chín đoạn” mà Bắc Kinh đã sử dụng để đưa ra các yêu sách lãnh thổ (chiếm tới 90% diện tích Biển Đông).

Ông Ngô cố tình quên một điều, cái gọi là yêu sách khi xuất hiện lần đầu (năm 2009) trong một bản đồ đính kèm công hàm của Trung Quốc đã bị các nước Đông Nam Á có liên quan đến Biển Đông phản đối kịch liệt. Và rồi, vào năm 2016 Toà Trọng tài kết luận: yêu sách “quyền lịch sử” của Trung Quốc đối với các thực thể và vùng nước bên trong đường lưỡi bò này là vô giá trị.

Việc Ngô Sĩ Tồn cất giọng lạc lõng khi thoả thuận phân định biển giữa Việt Nam và Indonesia được ký kết, một lần nữa chứng tỏ dã tâm độc chiếm Biển Đông của Trung Quốc.

Theo các nhà bình luận quốc tế, mặc cho Trung Quốc cậy thế nước lớn bắt nạt, chèn ép các quốc gia trong khu vực, Việt Nam và Indonesia vẫn quyết tâm đàm phán, giải quyết dứt điểm các khu vực chồng lấn. Đó là một thái độ bình tĩnh, khách quan, không lùi bước trước cái gọi là yêu sách “đường lưỡi bò” phi pháp của Trung Quốc. Kết quả đạt được với Indonesia sẽ khuyến khích Hà Nội đàm phán những thỏa thuận tương tự với Philippines và Malaysia.

Hai quốc gia cũng đưa ra các tuyên bố công khai bác bỏ yêu sách ngang ngược đó. Thoả thuận mới được ký kết giữa Hà Nội và Jakarta là lời đáp trả mạnh mẽ các yêu sách phi lý, hành động ngang ngược của Trung Quốc trên Biển Đông.

BDN

Loading

Views: 0

Thỏa thuận quân sự Mỹ – Philippines để gây sức ép với TQ

Mỹ sẽ tăng hiện diện quân sự ở Philippines khi sử dụng thêm 4 căn cứ theo thỏa thuận mới, động thái có thể tăng đáng kể sức ép với Trung Quốc.

Lầu Năm Góc hôm 1/2 thông báo họ sẽ mở rộng hiện diện quân sự ở Philippines, khi Manila cho phép lực lượng Mỹ sử dụng 4 căn cứ mới ở những vị trí chiến lược, đồng thời củng cố năng lực tại 5 căn cứ mà họ đang triển khai quân.

Hiện chưa rõ những căn cứ mới của Mỹ sẽ được đặt tại đâu, nhưng hồi tháng 11/2022, tướng Bartolome Vicente Bacarro, người khi đó là tổng tham mưu trưởng quân đội Philippines, cho hay Washington đã xác định 5 địa điểm tiềm năng để đặt căn cứ, gồm hai ở Cagayan, một ở Palawan, một ở Zambales và một ở Isabela.

Cagayan và Isabela đều nằm ở miền bắc Philippines, trong đó Cagayan nằm rất gần đảo Đài Loan. Trong khi đó, Palawan là tỉnh án ngữ khu vực tây nam Biển Đông.
Giới chuyên gia đánh giá đây là một bước tiến lớn trong mục tiêu của Lầu Năm Góc nhằm ứng phó với ảnh hưởng ngày càng tăng của Trung Quốc ở khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Hiện diện mở rộng của Mỹ tại Philippines cũng có thể đóng vai trò ngăn chặn những động thái của Bắc Kinh đối với đảo Đài Loan.

Trung Quốc coi Đài Loan là một phần lãnh thổ chờ thống nhất và sẵn sàng sử dụng mọi biện pháp, kể cả bằng vũ lực nếu cần.

Đại tướng Mike Minihan, chỉ huy Bộ tư lệnh Không vận Mỹ (AMC), hồi cuối tháng 1 cảnh báo rằng xung đột Đài Loan có thể nổ ra vào năm 2025, khi cả hòn đảo và Mỹ đều tổ chức bầu lãnh đạo vào năm 2024. Tướng Minihan kêu gọi quân đội Mỹ chuẩn bị các năng lực cần thiết để đối phó với cuộc xung đột này.

Mỹ gần đây đã tìm cách tiếp cận các địa điểm ở phía bắc và phía tây Philippines, trong đó có khu vực ở mũi phía bắc của đảo Luzon, nằm ngay phía nam eo biển Đài Loan.

Jeffrey Hornung, nhà khoa học chính trị cấp cao tại tổ chức tư vấn RAND Corp chuyên về chính sách đối ngoại và quốc phòng Mỹ ở Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, cho hay việc Mỹ tăng cường hiện diện quân sự tại Philippines sẽ gửi một tín hiệu mạnh mẽ tới Trung Quốc và đóng vai trò rất quan trọng về mặt chiến lược, đặc biệt nếu các căn cứ được đặt ở phía bắc Luzon.

“Mỹ đã nhận ra rằng họ là đội khách, còn Trung Quốc là chủ nhà trong bất kỳ xung đột nào liên quan đến đảo Đài Loan, khiến họ gặp rất nhiều khó khăn nếu muốn can thiệp”, Hornung nói. “Họ đang cố gắng bù đắp những bất cập đó”.

Thỏa thuận quân sự Mỹ – Philippines đã vấp phải phản ứng gay gắt từ Trung Quốc, vốn lâu nay luôn phản đối hiện diện quân sự của Washington ở Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương.
Advertisement
Ads by

Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc Mao Ninh gọi việc Mỹ tăng cường hiện diện quân sự tại Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương là “hành động làm leo thang căng thẳng và gây nguy hiểm cho hòa bình, ổn định của khu vực”.

Fu Qianshao, một nhà phân tích hàng không quân sự Trung Quốc, cho rằng các căn cứ mới của Mỹ có thể “tiềm ẩn mối đe dọa lớn với Trung Quốc”, khi chúng nằm rất gần đảo Đài Loan cũng như Biển Đông.

“Nếu đó là những căn cứ cho phép quân Mỹ đồn trú lâu dài, chúng sẽ tác động lớn tới kế hoạch thống nhất Đài Loan bằng vũ lực của Trung Quốc, cũng như hoạt động của họ trên Biển Đông”, Fu nói. Chuyên gia Fu cho hay sức ép có thể lớn hơn rất nhiều nếu Mỹ triển khai tên lửa tầm trung ở các căn cứ mới tại Philippines.

Tống Trung Bình, nhà bình luận quân sự ở Hong Kong, cho rằng việc Mỹ được tiếp cận các căn cứ trọng yếu như ở Palawan sẽ cho phép họ giám sát các hoạt động quân sự của máy bay, tàu chiến, tàu ngầm Trung Quốc trên Biển Đông và gần quần đảo Trường Sa.

Theo ông Tống, nếu Mỹ đưa tên lửa tầm trung tới các căn cứ này, đó sẽ là thông điệp “nhắm thẳng vào Trung Quốc”. Tên lửa bố trí ở Palawan hoàn toàn có thể phong tỏa eo biển Ba Sĩ nằm giữa đảo cực bắc của Philippines với Đài Loan. Đây là cửa ngõ tàu chiến cỡ lớn của các nước thường sử dụng khi di chuyển từ Thái Bình Dương vào Biển Đông.

Tuy nhiên, chuyên gia Hornung cảnh báo nếu một cuộc xung đột giữa Mỹ và Trung Quốc thực sự nổ ra liên quan đến đảo Đài Loan, không có gì đảm bảo Philippines sẽ là một bên tham gia. Người tiền nhiệm của Tổng thống Philippines Ferdinand Marcos Jr. là ông Rodrigo Duterte có xu hướng xa rời Mỹ và ngả về Trung Quốc nhiều hơn.

Manila đã là đồng minh của Washington trong hơn bảy thập kỷ, đóng vai trò một đối tác quan trọng ở khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Philippines từng là nơi đặt căn cứ quân sự lớn nhất bên ngoài lục địa Mỹ, nhưng nó đã bị đóng cửa vào những năm 1990, sau khi quốc hội nước này từ chối gia hạn thỏa thuận.

Quan hệ quốc phòng Mỹ – Philippines được tăng cường dưới thời ông Marcos. Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Lloyd Austin đã gặp Tổng thống Marcos trước khi đưa ra thông báo mở rộng hợp tác quân sự.

Tại cuộc họp báo ở Manila, ông Austin tuyên bố cam kết mở rộng hiện diện quân sự là một “thỏa thuận lớn”, cho thấy quan hệ đối tác bền vững giữa hai quốc gia. “Mỹ và Philippines không chỉ là đồng minh”, ông nói. “Chúng ta là gia đình”.

Hợp tác quân sự giữa Mỹ và Philippines được tăng cường trong bối cảnh Washington ngày càng lo ngại nguy cơ Bắc Kinh phong tỏa hoặc có hành động quân sự chống lại Đài Loan.

Hồi tháng 8/2002, Chủ tịch Hạ viện Mỹ lúc bấy giờ là Nancy Pelosi đã tới Đài Loan để thể hiện quan điểm ủng hộ hòn đảo, khiến Trung Quốc phản ứng bằng cách tiến hành hàng loạt cuộc tập trận quân sự chưa từng có quanh hòn đảo.

Mỹ công nhận nguyên tắc “Một Trung Quốc”, nhưng là bên cung cấp vũ khí lớn để hòn đảo tăng cường khả năng phòng vệ.

Một báo cáo của Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS) công bố mới đây mô tả Philippines là “địa điểm tập kết khả thi cho các động thái can thiệp của Mỹ” chống lại bất kỳ hành động nào từ Trung Quốc nhằm vào Đài Loan và Washington sẽ không có chiến lược khả thi nào để ứng phó với Bắc Kinh nếu không nhận được sự hợp tác mạnh mẽ từ các đồng minh khu vực như Philippines và Nhật Bản.

“Hai nước này cũng rất quan trọng trong việc vạch ra phản ứng với những tình huống bất ngờ có thể xảy ra trên đảo Đài Loan”, các tác giả báo cáo viết.

Việc Mỹ tăng hiện diện quân sự cũng giúp ích đáng kể cho Philippines, quốc gia đang bị tụt hậu trong cuộc đua hiện đại hóa quân đội, giới chuyên gia đánh giá.

Theo Zack Cooper, chuyên gia cấp cao tại Viện Doanh nghiệp Mỹ, tổ chức tư vấn chính sách của Washington, hiện diện của binh sĩ Mỹ còn có tác dụng trấn an và củng cố niềm tin cho đồng minh Philippines ở một mức độ nhất định.

“Làm thế nào bạn khiến đồng minh của mình yên tâm được nếu bạn không ở đó? Hiện diện của binh sĩ Mỹ như một lực lượng dự phòng là điều rất quan trọng”, ông nói. “Họ có thể cảm nhận và đánh giá những gì đang diễn ra xung quanh”.

BDN

Loading

Views: 0

Hóa ra Mỹ đầu tư vào Al ở TQ nhiều nhất

Theo một báo cáo mới, các công ty Mỹ đã tham gia vào ít nhất 37% tổng giá trị giao dịch đầu tư vào lĩnh vực trí thông minh nhân tạo (AI) của Trung Quốc, từ năm 2015 đến 2021.

Camera an ninh với trí thông minh nhân tạo, có công nghệ nhận dạng khuôn mặt, được trưng bày tại Triển lãm Quốc tế về An toàn và An ninh Công cộng Trung Quốc lần thứ 14, tại Trung tâm Triển lãm Quốc tế Trung Quốc ở Bắc Kinh, Trung Quốc, 24/10/2018.

Một báo cáo mới của Trung tâm An ninh và Công nghệ Mới nổi của Đại học Georgetown cho thấy, các giao dịch có liên quan đến các nhà đầu tư Mỹ đổ vào các công ty về trí thông minh nhân tạo của Trung Quốc đạt tổng giá trị 40,2 tỷ USD trong khoảng thời gian từ năm 2015 đến 2021. Nhưng báo cáo cũng cho biết, không rõ bao nhiêu phần trăm số tiền đó được thực hiện bởi các nhà đầu tư Mỹ hay đối tác nước ngoài của họ.

Số tiền 40,2 tỷ USD này đã được trao cho 251 công ty về trí thông minh nhân tạo của Trung Quốc. Trong đó, 91% số giao dịch được thực hiện ở giai đoạn đầu tư vốn mạo hiểm.

Báo cáo lưu ý rằng, có những rủi ro với các khoản đầu tư như vậy vì chúng thường đi kèm với các lợi ích vô hình khác, trong đó có việc chuyên môn của Mỹ được chuyển giao cho các công ty có trụ sở tại Trung Quốc.

“Mặc dù dữ liệu của Crunchbase cho thấy đầu tư ra nước ngoài của Mỹ ít vào các công ty về trí thông minh nhân tạo của Trung Quốc, nhưng hoạt động tài chính, liên kết thương mại, và chuyên môn ngầm như thế, mà được chuyển từ các nhà đầu tư có trụ sở tại Mỹ sang các công ty mục tiêu trong hệ sinh thái trí thông minh nhân tạo đang bùng nổ của Trung Quốc, thì mang ý nghĩa vượt ra ngoài lĩnh vực kinh doanh”, báo cáo nêu rõ.

“Đặc biệt, các khoản đầu tư vốn mạo hiểm giai đoạn đầu có thể mang lại lợi ích vô hình ngoài vốn, bao gồm việc cố vấn và huấn luyện, công nhận tên tuổi, và cơ hội kết nối mạng lưới. Do đó, đầu tư ra nước ngoài của Mỹ vào công nghệ Trung Quốc, và đặc biệt là trí thông minh nhân tạo, đáng được chú ý và theo dõi thêm”.

Các công ty Mỹ đầu tư vào các công ty trí thông minh nhân tạo Trung Quốc
Các khoản đầu tư của Mỹ vào các công ty về trí thông minh nhân tạo có trụ sở tại Trung Quốc đã bị chỉ trích trong những năm gần đây, vì mức độ kiểm soát của chính quyền Trung Quốc đối với các công ty như vậy.

Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ), vốn cai trị Trung Quốc trong trại thái một quốc gia độc đảng, đã ban hành một số luật bắt buộc các công ty có trụ sở tại Trung Quốc cung cấp tất cả dữ liệu mà họ sở hữu cho chính quyền này khi có yêu cầu.

Điều này có nghĩa là bất kỳ dữ liệu hoặc công nghệ nào do các công ty có trụ sở tại Trung Quốc phát triển với sự hậu thuẫn của Mỹ đều có thể được ĐCSTQ trực tiếp sử dụng để cải thiện khả năng quân sự của mình, phù hợp với chiến lược “kết hợp quân-dân sự” của chính quyền này.

Hơn nữa, những khoản đầu tư như vậy trực tiếp thúc đẩy những nỗ lực của Trung Quốc nhằm vượt qua Mỹ để trở thành cường quốc công nghệ hàng đầu.

Điều này được thể hiện qua giá trị của các khoản đầu tư được thực hiện bởi các nguồn từ Mỹ vào các công ty trí thông minh nhân tạo của Trung Quốc. Các giao dịch đầu tư liên quan đến các nguồn từ Mỹ chỉ chiếm 17% tổng số giao dịch vào các công ty trí thông minh nhân tạo Trung Quốc, nhưng chiếm đến 37% tổng giá trị đầu tư của tất cả các giao dịch đó, theo báo cáo cho hay.

Đáng chú ý, các khoản đầu tư của Mỹ cũng bao gồm khoản đầu tư lớn vào các công ty Trung Quốc, mà nghiên cứu của các công ty này có thể mang lại lợi ích rõ rệt cho việc theo đuổi trí thông minh nhân tạo và các hệ thống tự động của quân đội Trung Quốc.

“Một số khoản đầu tư lớn nhất bao gồm khoản đầu tư riêng lẻ của Goldman Sachs vào 1KMXC, một công ty rô-bốt trí thông minh nhân tạo, cũng như khoản đầu tư của ba công ty đầu tư mạo hiểm có trụ sở tại Mỹ vào Geek+, một công ty rô-bốt di động tự động”, báo cáo nêu rõ.

BDN

Loading

Views: 0

Căng thẳng quan hệ Mỹ – Trung sau vụ khinh khí cầu thám của TQ

Vụ khinh khí cầu nghi do thám của Trung Quốc dẫn đến Mỹ hủy chuyến công du Bắc Kinh của Ngoại trưởng Antony Blinken vào phút chót và đánh dấu giai đoạn căng thẳng mới trong quan hệ song phương.

Hai ngày sau khi Lầu Năm Góc thông báo phát hiện một khinh khí cầu “lạ”, mà sau đó Trung Quốc xác nhận là của họ, Tổng thống Joe Biden tiếp thu đề nghị của giới quan chức quốc phòng là tiếp tục theo dõi và tạm thời không bắn hạ khinh khí cầu này, theo Đài CNN.
Mỹ “án binh bất động”

Ngày 2.2, Lầu Năm Góc loan tin về sự xuất hiện của một khinh khí cầu trên bầu trời Montana, nơi đặt hầm chứa 100 tên lửa đạn đạo liên lục địa (ICBM) ở Căn cứ Không quân Malmstrom. Chuẩn tướng Patrick Ryder, người phát ngôn Lầu Năm Góc, cho biết chính phủ Mỹ vài ngày qua vẫn theo dõi khinh khí cầu trong lúc nó băng ngang bầu trời Bắc Mỹ, bên trên độ cao diễn ra hoạt động hàng không dân dụng.
Trong buổi họp báo ngày 3.2, Thư ký báo chí Nhà Trắng Karine Jean-Pierre cho hay các tướng lĩnh Mỹ cho rằng chưa nên bắn hạ khinh khí cầu vì có thể dẫn đến nguy hiểm trên mặt đất, và Tổng thống Biden đồng ý. Tuy nhiên, chính quyền Washington vẫn chưa loại trừ khả năng xử lý khinh khí cầu, nếu có thể đảm bảo mọi thứ an toàn. Theo một quan chức quân sự, Bộ Tư lệnh Bắc Mỹ đang phối hợp với Cơ quan Hàng không vũ trụ Mỹ (NASA) để xác định điểm rơi trong trường hợp bắn khinh khí cầu.

Hôm qua (4.2), Lầu Năm Góc thông báo phát hiện khinh khí cầu thứ hai của Trung Quốc, lần này trên bầu trời Mỹ La tinh. Cùng ngày, Hãng AFP dẫn lời chuyên gia William Kim của tổ chức Sáng kiến Marathon ở Washington D.C cảnh báo rằng trong khi khinh khí cầu đầu tiên có bề ngoài giống loại khảo sát thời tiết, nhưng nó lại có những điểm đặc biệt.

Trung Quốc nói gì về khinh khí cầu “do thám” bị phát hiện ở Mỹ?

Theo đó, phía Mỹ phát hiện khinh khí cầu mang theo những thiết bị điện tử cung cấp chỉ dẫn và thu thập thông tin, được vận hành bằng các bảng điện mặt trời. Nó cũng được trang bị công nghệ điều hướng tiên tiến mà hiện Mỹ vẫn chưa áp dụng. Chuyên gia Kim cũng lưu ý có thể Trung Quốc sử dụng công nghệ trí thông minh nhân tạo (AI) cho khinh khí cầu. Đây là công nghệ cho phép ghi nhận những thay đổi trong không khí, điều chỉnh cao độ và hướng tới nơi muốn đến.

Bên cạnh đó, ông Kim cho hay không dễ bắn hạ một khinh khí cầu. Trong vụ một khinh khí cầu thời tiết “nổi loạn” vào năm 1998, Canada điều hai tiêm kích CF-18 nã hơn 1.000 viên đạn loại 20 mm về phía khinh khí cầu, nhưng không thể bắn rơi nó lập tức. Tất nhiên, một phương án khác là dùng tên lửa không đối không để đối phó, nhưng lúc đó Không quân Hoàng gia Canada không áp dụng vì tốn kém.
Theo thông tin từ Bộ Ngoại giao Trung Quốc ngày 3.2, khinh khí cầu bị phát hiện trên bầu trời Montana là loại dân sự, phục vụ nghiên cứu khoa học và thời tiết. Khinh khí cầu đã bay lạc sang Mỹ ngoài ý muốn. Đến hôm qua, Bộ Ngoại giao Trung Quốc cáo buộc giới chính khách và truyền thông Mỹ đã “lợi dụng” vụ việc để làm mất uy tín Bắc Kinh.

Mỹ cam kết sử dụng vũ khí hạt nhân bảo vệ Hàn Quốc

Tại cuộc họp báo chung với Ngoại trưởng Hàn Quốc Park Jin ở Washington D.C hôm 3.2, ông Blinken khẳng định Mỹ vẫn cam kết sử dụng mọi năng lực quân sự hiện có, bao gồm hạt nhân, để bảo vệ Hàn Quốc. Theo Yonhap, một số người bắt đầu đặt nghi vấn về cam kết cũng như sự sẵn sàng của Mỹ trong việc sử dụng vũ khí hạt nhân bảo vệ Hàn Quốc. Và ông Blinken một lần nữa khẳng định Mỹ sẽ làm mọi điều có thể để bảo vệ đồng minh, trong bối cảnh CHDCND Triều Tiên phóng hơn 90 tên lửa trong năm 2022.

Tuy nhiên, sự xuất hiện của khinh khí cầu Trung Quốc trong không phận Mỹ đã phá hỏng cơ hội hàn gắn quan hệ giữa Bắc Kinh và Washington thông qua chuyến thăm của Ngoại trưởng Antony Blinken. Lẽ ra chuyến bay của ông Blinken đến Bắc Kinh đã khởi hành vào tối 3.2 (giờ Mỹ). Tuy nhiên, nhà ngoại giao đã gọi điện cho ông Vương Nghị, Ủy viên Bộ Chính trị – Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại T.Ư Đảng Cộng sản Trung Quốc, và thông báo hoãn chuyến công du.

“Trong cuộc điện đàm hôm nay (3.2) với ông Vương Nghị, tôi khẳng định sự hiện diện của khinh khí cầu do thám trong không phận Mỹ đã vi phạm sự toàn vẹn lãnh thổ Mỹ và luật quốc tế, và đó là hành vi vô trách nhiệm. Việc (Trung Quốc) quyết định hành động như thế vào thời điểm trước chuyến thăm của tôi đã gây bất lợi cho những cuộc thảo luận thực chất mà chúng tôi chuẩn bị”, Reuters dẫn lời ông Blinken. Nhà ngoại giao nói rằng Mỹ chắc chắn rằng khinh khí cầu trên có mục đích do thám

BDN

Loading

Views: 0

Đàm phán COC – “ba mươi chưa phải Tết”

Đàm phán của các thành viên ASEAN với Trung Quốc về Bộ quy tắc ứng xử trên Biển Đông (COC) là câu chuyện được bàn đi bàn lại đã hàng chục năm nay. Nhưng càng bàn thì càng rơi vào bế tắc. Trung Quốc đã nhiều lần đưa ra các lý do trì hoãn.

Hơn hai năm qua, Trung Quốc lấy lý do đại dịch Covid-19 hoành hành nên không thể tiến hành đàm phán. Bước vào năm 2023, đại dịch về cơ bản đã được khống chế. Để rồi xem Bắc Kinh còn nại ra cớ nào khác?

Hôm qua, 4/2, sau cuộc họp kéo dài hai ngày tại thủ đô Jakarta của Indonesia, các ngoại trưởng Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á – ASEAN cam kết sẽ nhanh chóng kết thúc các cuộc đàm phán với Trung Quốc về Bộ quy tắc ứng xử trên Biển Đông (COC), nhằm ngăn ngừa xung đột tại vùng biển tranh chấp này.

Trong nhiều năm qua, Trung Quốc và các quốc gia thành viên ASEAN, trong có 5 nước, 6 bên tranh chấp về chủ quyền với quần đảo Trường Sa là Việt Nam, Trung Quốc, Philippines, Malaixia, Brunei và Đài Loan. Còn tranh chấp về chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa chỉ liên quan Việt Nam và Trung Quốc.

Trung Quốc và các thành viên ASEAN đã nhiều lần mở các cuộc đàm phán về COC, bao gồm các chuẩn mực và các quy định để ngăn ngừa nổ ra xung đột tại các khu vực tranh chấp trên Biển Đông, thế nhưng không có sự đồng thuận.

Tại phiên họp đầu năm, Ngoại trưởng Indonesia, bà Retno Marsudi tuyên bố là Indonesia, với tư cách chủ tịch luân phiên của ASEAN năm 2023, sẵn sàng chủ trì các vòng đàm phán kế tiếp về COC. Vòng đầu tiên sẽ diễn ra vào tháng 3. Các nước thành viên ASEAN cam kết sẽ kết thúc các cuộc thảo luận “sớm nhất có thể được”, đồng thời cam kết thúc đẩy việc thực hiện Bản tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC).

Lý do Trung Quốc dây dưa trong việc đàm phán COC là do “Mỹ cố tình cản trở”. Bắc Kinh nhiều lần cáo buộc Washington can thiệp vào điều mà họ gọi là tranh chấp riêng giữa các nước châu Á. Cụ thể, Lầu năm góc thường xuyên điều chiến hạm và chiến đấu cơ đến Biển Đông để tiến hành các cuộc tuần tra bảo vệ tự do hàng hải và hàng không ở vùng biển này. Thực chất, theo Bắc Kinh, “trò hề” này quá lố và quá cũ (!).

Năm nay nước chủ nhà Indonesia tuy không nằm trong số các quốc gia tranh chấp chủ quyền Biển Đông với Trung Quốc, nhưng vẫn kịch liệt phản đối việc Bắc Kinh đòi chủ quyền trên một phần của vùng đặc quyền kinh tế của Indonesia ở khu vực phía bắc quần đảo Natuna.

Theo các nhà phân tích, dù dịch Covid-19 đã tạm lui, song không vì thế mà tiến trình đàm phán COC sẽ được thúc đẩy. Ngược lại, nó sẽ tiếp tục bị trì hoãn do các tranh chấp chưa được giải quyết, cũng như sự cạnh tranh địa chính trị gay gắt giữa Mỹ và Trung Quốc.

Điều đáng lo ngại là, một khi các cuộc đàm phán đi vào thực chất, việc thương lượng sẽ trở nên căng thẳng hơn và sự can thiệp từ Mỹ và các cường quốc khác ngoài khu vực sẽ khiến cho việc đạt được đồng thuận càng trở nên khó khăn.

Trong mấy năm qua, các chuyên gia Trung Quốc và “chuyên gia quốc tế” bị Bắc Kinh mua chuộc đã có những bài viết xuyên tạc sự thật, đổi trắng thay đen, cho rằng tình hình bất ổn ở Biển Đông chủ yếu là do sự can dự và các hoạt động quân sự của Mỹ.

Với lập luận như vậy, Bắc Kinh đã chối bỏ trách nhiệm về việc gia tăng quân sự hóa, xây dựng hạ tầng, triển khai vũ khí và điều động lực lượng gây rối, chèn ép các nước yếu thế hơn ở Biển Đông.

Những tưởng đàm phán đã kết thúc vào năm 2017. Khi đó, ASEAN và Trung Quốc đã đạt thỏa thuận dự thảo khung của COC. Thế nhưng, người châu Á có câu “Ba mươi chưa phải Tết”. Khi đó, Bắc Kinh đã phá đám bằng cách “móc” thêm ràng buộc qua lời phát biểu của Ngoại trưởng Vương Nghị, rằng việc thúc đẩy COC phải đi kèm với “sự ổn định và không có can thiệp từ bên ngoài”, ám chỉ Mỹ.

Cú né này là cách để Bắc Kinh lấy cớ việc Mỹ tiến hành các hoạt động tự do hàng hải, tập trận…để trì hoãn quá trình đàm phán COC.

Trong khi lên án Mỹ, Trung Quốc liên tục đẩy mạnh hoạt động quân sự ở Biển Đông. Bằng chứng rõ ràng nhất là, điều động hai nhóm tác chiến tàu sân bay là Sơn Đông và Liêu Ninh tập trận riêng biệt ở Biển Đông và Thái Bình Dương. Đáng chú ý là, tàu sân bay Sơn Đông đã rời cảng nhà ở Tam Á, tỉnh Hải Nam để tham gia “các cuộc tập trận định hướng chiến đấu” ở Biển Đông.

Việc Trung Quốc phô diễn tàu sân bay ở Biển Đông và các vùng biển lân cận nhằm thể hiện sức mạnh tàu sân bay với các bên trong khu vực cũng như dằn mặt Mỹ. Với những động thái nêu trên, có thể thấy Bắc Kinh không bao giờ từ bỏ sử dụng sức mạnh quân sự mang tính răn đe ở Biển Đông.

Điều này hoàn toàn đi ngược lại với những gì nước này thường đề cập về “thiện ý” đối với COC. Cho nên ASEAN chớ nên hi vọng gì ở việc đàm phán, nó sẽ còn kéo dài. Bởi COC có thể là cái thòng lọng tự thít vào cổ Bắc Kinh.

BDN

Loading

Views: 0

Mỹ-Nga-Trung những thách thức của lịch sử

Trong khi Mỹ và các nước đồng minh đang dồn sức hỗ trợ cho Ukraine trong cuộc chiến chống lại Nga thì gần đây các nhà quân sự chính trị của Mỹ lại lên tiếng cảnh báo cho rằng Trung Quốc mới thật sự là đối thủ lâu dài, đe dọa vị trí số một của Mỹ.

Cuộc chiến giữa Nga và Ukraina bùng nổ, nhiều người dự báo rằng đây có thể là tiền đề để Trung Quốc có thể tấn công Đài Loan thực hiện quyết tâm một Trung Quốc. Nga bị Mỹ và đồng minh cấm vận, Trung Quốc không bày tỏ sự đồng tình hay phản đối mà giúp Nga bằng việc gia tăng việc mua dầu và khí đốt của Nga, sẵn sàng thanh toán bằng đồng Rup và đồng nhân dân tệ.

Gần đây Mỹ kêu gọi Anh, Pháp và một số nước không bán máy móc, vật tư để Trung Quốc phát triển công nghiệp điện tử. Trong thực tế, Trung Quốc đã tích cực đầu tư để không phụ thuộc vào Mỹ và các nước khác trong lĩnh vực này. Nhiều người dự báo rằng với trình độ và tiềm lực khoa học hiện nay Trung Quốc đủ sức để tự chủ vươn lên vượt qua Mỹ không chỉ trong lĩnh vực điện tử mà cả trong nhiều lĩnh vực khác.

Sở dĩ Mỹ cố dồn sức và kêu gọi các nước đồng minh liên tục cung cấp vũ khí, tài chính với mức độ lớn chưa từng có là hy vọng Ukraine có thể ngăn chặn cuộc tiến công của Nga. Nếu thành công đây sẽ là bài học răn đe Trung Quốc nếu muốn tấn công Đài Loan.

Mỹ muốn Trung Quốc hiểu rằng nếu Trung Quốc tấn công Đài Loan thì Mỹ và các nước đồng minh sẽ hỗ trợ Đài Loan chống lại Trung Quốc. Trong lịch sử Mỹ- Trung đã từng đối đầu ở Triều Tiên nhưng rồi cũng phải chấp nhận ngừng bắn, xác định giới tuyến chia đôi Bắc – Nam Triều Tiên.

Lúc đó Trung Quốc vừa mới trải qua chiến tranh, tiềm lực quân sự còn chưa đủ mạnh, kinh tế gặp nhiều khó khăn, nhưng Trung Quốc đã chặn đứng được cuộc tiến công của Mỹ. Còn ngày nay, cả quân sự, kinh tế và khoa học kỹ thuật đã ngang bằng với Mỹ thì sự hậu thuẫn của Mỹ cho Đài Loan không làm Trung Quốc lo ngại.

Trong chiến tranh thế giới thứ hai, thời kỳ đầu, Liên Xô cũng gần như đơn độc chống lại cuộc tiến công như vũ bão của phát xít Đức. Chỉ đến khi Liên Xô phản công thắng lợi thì Mỹ và các nước mới nhảy vào tham chiến. Người Mỹ lúc đó cũng học bài học từ Trung Quốc là tọa sơn quan hổ đấu.

Cuộc chiến ở Ukraine hiện nay không chỉ có Nga mà Trung Quốc và một số nước cũng không muốn Mỹ và đồng minh chiến thắng trong cuộc chiến này.

Mỹ thực sự đang đứng trước hai đối thủ Nga, Trung có thể làm Mỹ mất vị trí số một và xóa đi biểu tượng thế giới một cực mà Mỹ đang cố níu giữ.

BDN

Loading

Views: 0

Từ rất sớm người phương Tây đã khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

Hoạt động chủ quyền của vua Gia Long ở Hoàng Sa và Trường Sa không chỉ được lưu trữ, các bộ sử chính thức của vương triều, được thực thi và trở thành sứ mệnh thiêng liêng ở các địa phương mà còn được chứng thực của những người phương tây với thái độ khâm phục.

Bản đồ do Jodocus Hondius vẽ năm 1613.

Jean Batiste (1769-1825) là sĩ quan hải quân của Pháp đến nam kỳ năm 1794 đã viết hồi ký xác nhận: “Xứ Đàng Trong mà Quốc vương ngày nay mang danh hiệu Hoàng Đế bao gồm xứ Nam Hà theo đúng nghĩa của nó, xứ Bắc Hà, một phần vương quốc của Cao Miên, một vài đảo có nhỏ có người ở không xa bờ biển và quần đảo Hoàng Sa, gồm có những đảo nhỏ bãi đá ngầm và mỏm đá không có người ở. Chỉ đến năm 1816 thì nhà vua hiện nay (vua Gia Long) mới chiếm hữu được đảo này”.

Giám mục người Pháp Jean Louis Taberd đã từng nhiều năm tuyên giáo ở Nam Kỳ, Trung Kỳ đầu thế kỷ XIX viết rằng: “Quần đảo Pracel hay Pracels là khu vực chằng chịt những hòn đảo nhỏ, đá ngầm và bãi cát, hình như được kéo dài cho đến 11° độ vĩ bắc và khoảng 107° kinh đông Paris. Một số nhà hàng hải đã vượt qua được những tảng đá ngầm này với một sự mạo hiểm có phần may mắn nhiều hơn là khôn ngoan, nhưng một số đã gặp phải nạn khi cố gắng vượt qua. Những người dân sứ Đàng Trong gọi khu vực đó là Cồn Vàng…Vào năm 1816 nhà vua (vua Gia Long) đã tới long trọng cắm lá cờ của mình và đã chính thức giữ chủ quyền ở các bãi đá này, mà chắc chắn sẽ không một ai sẽ tìm cách tranh giành với ông ta”.

Johann Gottfried Sommer trong mục “Cochinchina” (Đàng Trong) sách Taschenbuch zur Verbreitung geographischer Kenntnisse xuất bản tại Praha (Séc) năm 1839 xác nhận rằng: “Ngoài biển của vương quốc Đàng Trong có rất rất nhiều đảo … Dân Đàng Trong sinh sống tối tận đảo Ko-Khram, đảo này nằm dưới vĩ tuyến 13… Năm 1816 vua Đàng Trong đã chiếm hữu bãi đá san hô nguy hiểm và không có người sinh sống, gồm nhiều bãi đá và cồn cát có tên là Pracels. Không ai có thể phản đối chủ quyền của Đàng Trong về phần đất mới chiếm của vương quốc này?.

Năm 1850, M. A Dubois de Jancigny, cựu đại uý, phái viên của Chính phủ Pháp ở Trung Quốc và Đông Dương đã viết cuốn sách “Nhật Bản- Đông Dương đế quốc Miến Điện (Ava), Siam, Annam”, trong đó khẳng định “Đã từ 34 năm nay (tức từ năm 1816 đến 1850), quần đảo Pracels (mà những người Annam gọi là Cát Vàng), thật ra là một chốn mê cung chằng chịt những hòn đảo nhỏ, đá ngầm và bãi cát … Quần đảo đã bị các người xứ Đàng Trong (Cochinchina) chiếm giữ”.

Qua ghi chép của những người Phương Tây nói trên đã khẳng định: ngay từ năm 1816 vua Gia Long đã thực thi hai chủ quyền ở hai hòn đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

BDN

Loading

Views: 0

TQ bắt đầu “xâm chiếm” Nam Cực

Trung Quốc đã đe dọa Đài Loan, thách thức các nước láng giềng ở Biển Đông, đụng độ với Ấn Độ trên dãy Himalaya, và tìm cách phá vỡ trật tự quốc tế do Hoa Kỳ lãnh đạo ở khắp mọi nơi, từ châu Phi cận Sahara và Nam Mỹ, cho đến không gian vũ trụ và không gian mạng. Giờ đây, Trung Quốc đang mở ra một mặt trận khác trong nỗ lực trở thành một siêu cường toàn cầu, đó chính là Nam Cực.

Ảnh minh họa.

Bắc Kinh đã sử dụng sức mạnh kinh tế và sức mạnh quân sự ngày càng tăng của mình, để khẳng định vai trò là một quốc gia “cận Bắc Cực”, nhằm tìm kiếm vai trò kinh tế và an ninh khi trái đất nóng lên, khiến các nguồn tài nguyên và tuyến đường thương mại ở Bắc Cực trở nên dễ tiếp cận hơn.

Ở bên kia thế giới, Trung Quốc đang mở rộng dấu ấn của mình ở Nam Cực, để trở thành một “cường quốc vùng cực” vào cuối thập kỷ này.

Jacob Stokes , thành viên cấp cao của Chương trình An ninh Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương tại Trung tâm An ninh Mỹ Mới, có trụ sở tại Washington cho biết: “ Trung Quốc có lợi ích khi được coi là một bên tham gia quan trọng trong tất cả các khu vực . “Khả năng hoạt động của họ ở [các vùng cực] là ‘đẳng cấp thế giới’, nếu không muốn nói là ‘hàng đầu thế giới’.”

Luật an ninh quốc gia của Bắc Kinh đã tạo ra một khuôn khổ pháp lý để thực hiện các yêu sách của mình. Bên cạnh đó, Trung Quốc đang tăng cường sự hiện diện ở Nam Cực, thông qua các dự án khoa học, liên doanh thương mại và đầu tư cơ sở hạ tầng.

Các nhà phân tích của viện Brookings cho biết, các nhà lãnh đạo quân sự Trung Quốc mô tả các vùng cực là “biên giới chiến lược”, và là khu vực cạnh tranh quân sự với phương Tây.

Mặc dù bảy quốc gia bao gồm Argentina, Úc, Chile, Pháp, New Zealand, Na Uy và Anh — đã đưa ra yêu sách lãnh thổ đối với các phần của Nam Cực, nhưng không một quốc gia đơn lẻ nào tuyên bố chủ quyền đối với khu vực băng giá rộng lớn này.

Vùng cực nam được điều chỉnh bởi Hiệp ước Nam Cực, được ký kết tại Washington vào tháng 12/1959. Hiệp ước giữa 54 quốc gia quy định rằng, Nam Cực chỉ được sử dụng cho “mục đích hòa bình”, rằng không có yêu sách lãnh thổ mới nào được tôn trọng, và bất kỳ nghiên cứu khoa học nào thu thập được về lục địa, được chia sẻ với tất cả các quốc gia khác.

Tuy nhiên, Trung Quốc đã thành lập Vạn Lý Trường Thành làm trạm nghiên cứu đầu tiên của mình ở Nam Cực vào năm 1985, và xây dựng ít nhất bốn trạm khác bao gồm Trung Sơn, Côn Lôn, Đài Sơn và một căn cứ bí mật trên Biển Ross.

Các nhà khoa học khẳng định rằng, Nam Cực có trữ lượng tài nguyên thiên nhiên lớn. Nó cũng có vị trí chiến lược cho các hoạt động quân sự và không gian. Theo trang web The China Story cho biết, Trung Quốc đã có một khoản đầu tư quốc gia lớn nhất ở khu vực này.

Quân đội Hoa Kỳ, vốn mô tả Trung Quốc là “thách thức về tốc độ” của họ, đang theo dõi chặt chẽ các hoạt động của chính quyền Bắc Kinh ở Nam Cực. Ngũ Giác Đài đã thông báo vào mùa thu này rằng, họ đang triển khai thêm 420 phi công thuộc Lực lượng Vệ binh Quốc gia tới Nam Cực, như một phần của Chiến dịch Deep Freeze của quân đội, để hỗ trợ “nghiên cứu khí hậu và các hoạt động khoa học khác”.

Khi được hỏi liệu hoạt động tăng cường của Trung Quốc trong khu vực, có phải là nguyên nhân gây lo ngại hay không. Chuẩn Tướng Patrick S. Ryder, phát ngôn viên Ngũ Giác Đài nói với các phóng viên vào tháng 10 rằng, quân đội Hoa Kỳ đang hợp tác “rất chặt chẽ với Úc và New Zealand trong nhiều cuộc tập trận khắp khu vực”.

Tướng Ryder nói: “Chắc chắn chúng tôi biết rằng Trung Quốc hiện diện ở Nam Cực. “Chúng tôi tiếp tục nhận thấy ở một số khu vực nhất định, đặc biệt là Trung Quốc đã tuyên bố rằng, họ là một quốc gia ở Bắc Cực, trong khi thực tế không phải vậy, và Trung Quốc đã bắt đầu cạnh tranh các nguồn tài nguyên khác nhau trong khu vực đó, và đưa khả năng phòng thủ vào những lĩnh vực đáng lo ngại. Đây chính là điều mà chúng tôi sẽ tiếp tục theo dõi.”

Sử dụng kép

Đã có một số lo ngại rằng, Bắc Kinh sẽ sử dụng các cơ sở khoa học của mình ở Nam Cực cho các mục đích quân sự, chẳng hạn như giúp Quân đội Trung Quốc tăng cường các tính năng kiểm soát, và chỉ huy vệ tinh, cho một cuộc tấn công hỏa tiễn có thể xảy ra. Theo một nghiên cứu của Viện Chính sách Chiến lược Úc, Trung Quốc đã lắp đặt các trạm theo dõi vệ tinh mặt đất tại các trạm nghiên cứu vùng cực Trung Sơn và Côn Lôn.

Ngũ Giác Đài lo ngại rằng Trung Quốc đang tăng cường sự hiện diện của mình ở Nam Cực thông qua các dự án khoa học, và đầu tư vào cơ sở hạ tầng nghe có vẻ lành tính, nhưng “có thể nhằm củng cố vị thế của họ đối với các yêu sách trong tương lai, đối với tài nguyên thiên nhiên và quyền tiếp cận hàng hải”.

Các quan chức Bộ Quốc phòng cho biết, chiến lược của Trung Quốc ở Nam Cực, bao gồm việc khai thác các công nghệ “lưỡng dụng”, các cơ sở và nghiên cứu có mục đích khoa học, nhưng cũng có thể cải thiện khả năng của Quân đội Trung Quốc.

Ngũ Giác Đài cho biết trong một báo cáo gần đây trước Quốc hội rằng, “ Luật An ninh Quốc gia năm 2015 của Bắc Kinh, xác định các vùng cực, cùng với biển sâu và không gian vũ trụ, là những khu vực để phát triển và khai thác”

Ông Stokes , nhà phân tích tại Trung tâm An ninh Mỹ mới, cho biết, Trung Quốc đang tham gia vào nghiên cứu khoa học hợp pháp ở Nam Cực, bao gồm các nỗ lực liên quan đến các vấn đề khí hậu và môi trường, nhưng ông đồng ý rằng, một số hoạt động và tài sản của Bắc Kinh trong khu vực, có thể được chuyển sang sử dụng quân sự nếu cần thiết.

Các quan chức trong Bộ Giao thông Vận tải Trung Quốc, đã công bố việc phát triển một tàu phá băng hạng nặng, có thể bổ sung cho ít nhất hai chiếc khác đang được sử dụng, cho các dự án nghiên cứu vùng cực.

Ông Stokes cho biết, “Đó là những tàu phá băng thuộc sở hữu nhà nước. Chúng chắc chắn có thể được tận dụng trong tương lai cho mục đích quân sự”.

BDN

Loading

Views: 0

NATO sẽ liên minh với Hàn Quốc, Nhật Bản

Tổng thư ký NATO thăm Đông Á là diễn biến mới tiếp nối những gì mà NATO, Hàn Quốc và Nhật Bản cùng Mỹ đã “tâm sự với nhau” tại hội nghị thượng đỉnh NATO ở Madrid hồi cuối tháng 6 năm ngoái.

Tổng thư ký Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) Jens Stoltenberg tuần này thăm Hàn Quốc và Nhật Bản để bàn về việc thúc đẩy các nỗ lực chung mới trên trường quốc tế, từ cuộc chiến ở Ukraine cho đến những mối đe dọa mới ở Đông Á.
“Mối đe dọa ngày càng tăng”

Tại Madrid (Tây Ban Nha) ở thời điểm đó, Tổng thống Hàn Quốc Yoon Suk Yeol đã ta thán “mối đe dọa hạt nhân và tên lửa của Triều Tiên tiếp tục gia tăng” trong khi “bối cảnh toàn cầu đang phải đối mặt với những bất ổn gia tăng”.

Và rồi, ông đề xuất với NATO: “Nhằm dẫn Triều Tiên đi theo con đường phi hạt nhân hóa, chúng ta phải thể hiện rõ ràng rằng ý chí phi hạt nhân hóa Triều Tiên của cộng đồng quốc tế mạnh hơn ý chí liều lĩnh phát triển các chương trình vũ khí hạt nhân và tên lửa của họ”.Tin tức thế giới 31-1: Mỹ thử thành công tên lửa siêu vượt âm tốc độ hơn 6.000km/h Tin tức thế giới 31-1: Mỹ thử thành công tên lửa siêu vượt âm tốc độ hơn 6.000km/h ĐỌC NGAY

Vào thời điểm đó, tính từ đầu năm 2022 tới ngày 5-6-2022, Triều Tiên đã thực hiện 31 vụ phóng tên lửa đạn đạo, vượt kỷ lục hằng năm trước đó. Bình Nhưỡng cũng đã thử nghiệm hai tên lửa hành trình tầm xa vào tháng 1 cùng năm.

Từ ngày 17-8-2022 trở đi, Bình Nhưỡng thử nghiệm trở lại tên lửa hành trình, nâng tổng số vụ phóng tên lửa đạn đạo và các loại trong cả năm 2022 lên tới hơn 95 vụ (theo New York Times ngày 2-1-2023).

Từ hội nghị thượng đỉnh NATO hôm 29-6-2022 tới 29-1-2023 vừa qua đã trải qua đúng bảy tháng. Trong khoảng thời gian đó, Triều Tiên đã phóng ít nhất 60 tên lửa đạn đạo và các loại.

Theo chuyên gia quan hệ quốc tế Imran Khalid (cây bút của The Geopolitics), chỉ trong vòng ba giờ đồng hồ bước sang năm mới 2023, Triều Tiên đã thử nghiệm các bệ phóng tên lửa đa nòng siêu lớn “để gửi một thông điệp rõ ràng và mạnh mẽ tới thế giới bên ngoài về ý định tiếp tục mở rộng chương trình phát triển tên lửa và hạt nhân trong những ngày tới”.

Từ đó có thể hiểu tại sao, trong hai ngày 29 và 30-1 vừa qua, Hàn Quốc đã “trải thảm đỏ” tiếp tổng thư ký NATO, tiếp nối lộ trình “dấn thân” với NATO mà Tổng thống Yoon Suk Yeol đã đề ra tại hội nghị thượng đỉnh NATO cuối tháng 6 năm ngoái.

Tất nhiên, từ phía mình, Triều Tiên coi sự “xích lại gần nhau” giữa Hàn Quốc và NATO từ hội nghị thượng đỉnh NATO tháng 6 năm ngoái là một nguy cơ khó lường.

“Chuyến đi của Tổng thư ký NATO Jens Stoltenberg đến Hàn Quốc và Nhật Bản là tiền đề cho đối đầu và chiến tranh, bởi động thái này kéo theo đám mây đen của một cuộc Chiến tranh lạnh mới đến châu Á – Thái Bình Dương”, thông tấn xã KCNA của Triều Tiên tuyên bố.
Trao đổi những gì?

Cũng chính vì coi trọng vị thế mới của Hàn Quốc đối với NATO, ông Jens Stoltenberg tới Seoul lần này để cảm ơn Hàn Quốc vì đã cung cấp các mặt hàng viện trợ phi sát thương cho Ukraine, đồng thời kêu gọi Hàn Quốc tăng hỗ trợ quân sự cho Ukraine mà cụ thể là đạn dược.
Nhà lãnh đạo NATO trấn an tổng thống Hàn Quốc rằng một số nước khác cũng đã từng nghiêm cấm cung cấp vũ khí cho các quốc gia có xung đột song nay đã thay đổi chính sách này.

Nếu như Seoul gật đầu, đổi lại Seoul sẽ được gì? Điều này chỉ có ông Stoltenberg, ông Yoon cùng các bộ trưởng ngoại giao và quốc phòng Hàn Quốc biết.

Tất nhiên là có cả phía Mỹ. Bởi thế, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Lloyd Austin vào hôm 30-1 cũng bay tới Seoul để gặp Tổng thống Yoon và người đồng cấp Lee Jong Sup.

Cựu tổng thống Brazil Bolsonaro xin gia hạn visa ở lại Mỹ Ông Zelensky: Nga đã bắt đầu phản công lớn Google đâm lo vì ChatGPT

Trước chuyến thăm của ông Austin, trên trang chủ Bộ Quốc phòng Mỹ chiều 30-1 vẫn chỉ báo trước rằng “quân đội hai nước sẽ tìm cách tăng cường huấn luyện sẵn sàng chung, bao gồm cả việc mở lại các cuộc tập trận bắn đạn thật ở nước này”.

Sở dĩ có thông báo này là do từ cuối năm ngoái, Hàn Quốc và Mỹ đã có xu hướng ngưng tập trận theo yêu cầu của Bình Nhưỡng nhằm tạo điều kiện cho đàm phán…

Tuy nhiên, có lẽ hai bên nhận thấy sự cần thiết của việc nối lại tập trận khi Seoul tự thấy “bó tay” trước các hoạt động xâm nhập của các máy bay không người lái Triều Tiên hồi cuối năm ngoái.

Song vấn đề không chỉ có vậy mà còn vì xu hướng rời xa của Mỹ, bắt đầu là chuyện thủy quân lục chiến Mỹ rời Okinawa của Nhật để rút về đảo Guam của Mỹ…

Gần đây nhất, hôm 19-1 Bộ Quốc phòng Mỹ ra lệnh cho lực lượng Mỹ tại Hàn Quốc thu xếp gửi trang thiết bị sang Ukraine.

Tất nhiên, Bộ Quốc phòng Mỹ cũng kèm theo lời trấn an rằng “sẽ không tác động gì tới các hoạt động của lực lượng này cũng như khả năng thực hiện cam kết sắt đá bảo vệ đồng minh Đại Hàn Dân Quốc”.

Một nỗi lo của Hàn Quốc nữa là nếu nước này đồng ý với yêu cầu của NATO về việc tăng trợ giúp quân sự cho Ukraine thì Nga sẽ “bỏ nhỏ” điều gì cho Triều Tiên?
NATO hối thúc Hàn Quốc tăng cường hỗ trợ Ukraine

Trong cuộc gặp Tổng thống Yoon Suk Yeol ở Seoul vào ngày 30-1, Tổng thư ký NATO Jens Stoltenberg hối thúc Hàn Quốc đẩy mạnh hỗ trợ quân sự cho Ukraine.

Ông Stoltenberg giải thích các sự kiện ở châu Âu và Bắc Mỹ đều có liên hệ đến các khu vực khác.

Ông cho biết nếu Nga “chiến thắng” ở Ukraine thì sẽ gửi thông điệp đến các nước khác, như Trung Quốc, rằng họ có thể đạt được điều mình muốn bằng vũ lực. Vì vậy, NATO muốn tăng cường hợp tác với châu Á để giúp quản lý các mối đe dọa toàn cầu.

Dù vậy, ông Yoon nói rằng luật của Hàn Quốc cấm cung cấp vũ khí cho các nước đang có xung đột. Tuy nhiên, ông Stoltenberg nói rằng nhiều nước như Đức, Thụy Điển, Na Uy đã điều chỉnh chính sách để xuất khẩu vũ khí cho Kiev.

BDN

Loading

Views: 0

Nga: Nếu Thế chiến 3 nổ ra, sẽ không bắt đầu từ vũ khí như bây giờ

Phó chủ tịch Hội đồng An ninh Nga, ông Dmitry Medvedev đã chỉ trích những biện minh của phương Tây về việc cung cấp xe tăng hay máy bay chiến đấu cho Kiev nhằm tránh Thế chiến thứ 3.

Theo Hãng thông tấn TASS của Nga, ông Medvedev – cựu tổng thống và thủ tướng Nga – lên tiếng chỉ trích phương Tây trong bài đăng trên ứng dụng Telegram của ông hôm 28-1: “Thứ nhất, việc bảo vệ Ukraine, điều mà không ai cần ở châu Âu, sẽ không cứu được thế giới già cỗi khỏi bị trừng phạt nếu có bất cứ điều gì xảy ra.

Thứ hai, một khi Chiến tranh thế giới thứ 3 nổ ra, thật không may, nó sẽ không có dịp diễn ra trên xe tăng hay thậm chí là máy bay chiến đấu. Mà mọi thứ chắc chắn sẽ tan thành mây khói ngay sau khi cuộc chiến bắt đầu”.

Bài viết trên ứng dụng Telegram của ông Medvedev nhằm vào phát biểu của Bộ trưởng Quốc phòng Ý Guido Crosetto, khi ông này cho rằng Chiến tranh thế giới thứ 3 sẽ nổ ra nếu xe tăng Nga tiến đến Kiev và “biên giới châu Âu”.

Ông Crosetto nói vũ khí được gửi đến Ukraine là nhằm ngăn chặn sự leo thang chiến tranh.
Cảnh báo của ông Medvedev cũng nhằm phản ứng lại lời kêu gọi từ Vương quốc Anh nhằm cung cấp cho Kiev tất cả vũ khí mà Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) có.

BDN

Loading

Views: 0

Nhìn lại trật tự thế giới hiện nay

Sau Chiến tranh Lạnh, trật tự trong một thế giới đơn cực do Mỹ dẫn đầu dựa trên quy tắc tự do, đề cao giá trị của dân chủ, thị trường tự do, nhân quyền và pháp quyền, mà không quan tâm tới chủ quyền và ranh giới quốc gia. Trên thực tế, trật tự này phụ thuộc vào sự thống trị và mệnh lệnh của sức mạnh quân sự, chính trị, kinh tế của Hoa Kỳ.

Lính Thủy quân lục chiến Mỹ ở phía bắc Kuwait chuẩn bị lên đường sau khi nhận được lệnh vượt biên giới Iraq vào ngày 20/3/2003.

Tuy nhiên, những năm gần đây cho thấy trật tự của một thế giới đơn cực thống trị đã không còn như những thập kỷ sau khi Liên Xô sụp đổ, hệ thống Xã hội Chủ nghĩa tan rã. Các cường quốc lớn đã thể hiện hành vi theo đuổi mục đích riêng của họ, làm phương hại đến trật tự quốc tế và tìm cách thay đổi trật tự đó, bằng cách sử dụng sức mạnh quân sự tranh chấp lãnh thổ, đầu tư các dự án kinh tế làm suy yếu chủ quyền, bác bỏ một trật tự thế giới đơn cực do Mỹ dẫn đầu. Nhiều quốc gia không hài lòng với thế giới hiện tại, khi các nhà lãnh đạo của các quốc gia và các tổ chức quốc tế đã không đưa ra được các biện pháp để ngăn chặn cuộc đại suy thoái kinh tế, ứng phó với biến đổi khí hậu, cuộc khủng hoảng nợ ở các nước đang phát triển, sự thảm bại toàn cầu của bệnh dịch Covid-19 kéo dài trong nhiều năm. Thế giới bao phủ sự hoài nghi ngày càng tăng với các thiết chế quốc tế về toàn cầu hóa – hiệp định thương mại, dân chủ nhân quyền, nhân đạo, vai trò của Đại hội đồng Liên hợp quốc và Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc đã không ngăn chặn được các cuộc chiến tranh xâm lược, hoạt động khủng bố quốc tế và dòng người di cư do đói nghèo và chiến tranh.

Khi nhận thấy điều này, các quốc gia đã tìm cách thay đổi nó để tồn tại và có lợi cho mình. Đây có thể được xem là một xu hướng của thế giới hiện nay. Xu hướng này gây bất ổn do xung đột giữa những cường quốc muốn thay đổi để đem lại lợi ích riêng cho mình. Vấn đề này đã diễn ra hàng thập kỷ nay khi các nước mới trỗi dậy không theo trật tự do Mỹ dẫn đầu. Đó là một thách thức toàn cầu của những năm tới.

Các cường quốc trên thế giới theo đuổi lợi ích riêng, nhưng ở họ có điểm chung là coi trật tự thế giới hiện tại là không phù hợp, cần phải xem xét lại. Các nhà quan sát tình hình đã nhận xét: các cường quốc lớn thể hiện hành vi có thể được gọi là “chủ nghĩa xét lại”. Họ theo đuổi mục đích riêng và tìm cách thay đổi trật tự đó.

Hoa Kỳ, với tư cách là siêu cường lớn nhất sau Chiến tranh Lạnh, là một trong những cường quốc định ra các thiết chế quốc tế và do Hoa Kỳ dẫn dắt đã có nhiều thành công trong nửa thế kỷ qua. Song, bản thân Hoa Kỳ đã có nhiều hành vi phá vỡ những thiết chế quốc tế do chính mình lập ra. Cuộc tấn công quân sự của Mỹ vào Kosovo, xóa bỏ nhà nước Nam Tư từ những năm 90 của thế kỷ trước; cuộc tấn công vào Iraq, Afghanistan, can thiệp nội trị các nước gây ra các cuộc cách mạng màu, bạo loạn lật đổ các chế độ không thân Mỹ ở Arab, Libya, Syria, Afghanistan… cho thấy Mỹ đã không coi trọng chủ quyền của các nước, vi phạm nghiêm trọng Hiến chương của Liên hợp quốc. Chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ bị đứt gãy, nhiều chương trình quốc gia của Hoa Kỳ không đạt được mục tiêu, nền kinh tế Hoa Kỳ rơi vào suy thoái, vai trò của nước Mỹ suy giảm nhiều ở thập kỷ đầu thế kỷ XXI. Chính sách làm mới nước Mỹ dưới thời Tổng thống Donald Trump với mục tiêu hướng nội “nước Mỹ trên hết”, ông Trump đã quay lưng lại với các thể chế quốc tế do chính Hoa Kỳ xây dựng. Ông đòi cải tổ lại Liên hợp quốc, đòi cải tổ Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), và rút khỏi Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), rút khỏi Hiệp định Paris về Biến đổi khí hậu, rút khỏi Tổ chức Nhân quyền quốc tế và phê phán kịch liệt Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) khi dịch bệnh Covid-19 lan tràn toàn cầu. Chính sách “Nước Mỹ trên hết” của ông Trump có nguy cơ làm tan rã khối Bắc Đại Tây Dương, chia rẽ giữa Mỹ và các đồng minh, đẩy họ phải tìm đường đi cho mình khi chiếc ô che của Mỹ không còn. Cách nhìn của Hoa Kỳ với trật tự thế giới gây bất lợi cho Mỹ, nước Mỹ bị đe dọa bởi các cường quốc đang trỗi dậy, trật tự thế giới bị xáo trộn.

Dưới thời Tổng thống Biden, lấy tư cách là siêu cường toàn cầu duy nhất, Hoa Kỳ đưa ra cam kết “xây dựng thế giới tốt đẹp hơn”. Biden chia thế giới theo ý thức hệ giữa các nền dân chủ và chế độ chuyên quyền. Việc các nước lớn như Trung Quốc và Nga đe dọa an ninh Hoa Kỳ và châu Âu đã thành cơ hội để Biden thành công trong việc đoàn kết lại với châu Âu vốn bị ông Trump chia rẽ trước đó. Mỹ trở lại vai trò lãnh đạo châu Âu chống Nga tấn công quân sự Ukraine.

Trung Quốc là nước đã rất thành công trong trật tự toàn cầu do Hoa Kỳ dẫn đầu, giờ đây đang trỗi dậy hướng tới “vị trí trung tâm của vũ trụ”. Trung Quốc đang tìm cách sắp xếp lại cán cân quyền lực ở châu Á và tạo tiếng nói mạnh mẽ hơn trong các vấn đề quốc tế. Song ảnh hưởng của Trung Quốc bị tranh chấp bởi cường quốc khác nên chưa có được vai trò lãnh đạo khu vực châu Á – Thái Bình Dương và Đông Nam Á, mặc dù trong những năm vừa qua Trung Quốc muốn thiết lập vị trí này. Vấn đề Đài Loan rất dễ xảy ra xung đột, cùng với tranh chấp lãnh thổ với các nước Đông Nam Á, Ấn Độ và Nhật Bản là những vấn đề khó khăn về an ninh đối với Trung Quốc. Trung Quốc đã và đang phá vỡ cân bằng quyền lực ở khu vực châu Á. Có thể thấy rõ trong hơn một thập kỷ nay, chính sách đối ngoại của Trung Quốc hướng tới thay đổi trật tự toàn cầu. Tuy nhiên, Trung Quốc chưa đưa ra được thiết chế nào của trật tự thế giới để thu hút các nước và mang lại vai trò lãnh đạo thế giới cho mình.

Nước Nga do Putin lãnh đạo chưa bao giờ chấp nhận trật tự toàn cầu do Mỹ lãnh đạo. Putin mang nỗi ám ảnh bị Mỹ và NATO bội ước khi mở rộng NATO đến sát biên giới Nga. Putin phẫn nộ khi thấy nước Nga bị các nước châu Âu cô lập và giúp Ukraine chống lại Nga, và khi nước này muốn gia nhập NATO. Sự sụp đổ của Liên Xô, biên giới nước Nga thu hẹp như ngày nay, Putin trút cơn giận dữ vào lịch sử là sự cộng hưởng đã thôi thúc Putin đòi lại lãnh thổ nước Nga thời Sa hoàng. Cuộc tấn công quân sự vào Ukraine xuất phát từ bất bình này, với mục tiêu giành lại ảnh hưởng của Nga đối với Ukraine, đẩy NATO ra xa nước Nga; hợp tác với Trung Quốc hạ thấp vai trò lãnh đạo toàn cầu của Mỹ, gây chia rẽ, rối loạn châu Âu khi khối này còn phụ thuộc vào nguồn cung ứng năng lượng, lương thực từ Nga. Tuy nhiên, Nga đang gặp nhiều khó khăn khi bị Mỹ và châu Âu tách khỏi lục địa châu Âu sau khi Nga tấn công quân sự Ukraine; sức mạnh kinh tế, quân sự của Nga đã suy giảm.

Các nước Đức, Pháp vẫn còn ám ảnh nỗi sợ hãi bị chính quyền Donald Trump ruồng bỏ. Đức coi chiến dịch quân sự của Nga với Ukraine là bước ngoặt thách thức trật tự quốc tế, khiến thủ tướng Đức phải đưa ra quyết định chi 100 tỉ euro để tăng cường xây dựng quân đội riêng của nước mình, không trông chờ vào NATO và Mỹ đảm bảo an ninh cho Đức như trước thời Donald Trump. Trong khi Đức vẫn ủng hộ Ukraine chống Nga, thủ tướng Đức Olaf Scholz vẫn đến Nga gặp Putin, đến Trung Quốc gặp Tập Cận Bình. Các nhà quan sát tình hình cho rằng chuyến đi của ông Scholz tới Nga và Trung Quốc không quá phụ thuộc vào EU và Mỹ.

Tổng thống Pháp Emmanuel Macron, sau cú “đâm sau lưng” của Mỹ và Úc trong dự án tàu ngầm, mặc dù quan hệ Pháp – Mỹ đã được đoàn kết trở lại để chống Nga tấn công Ukraine, nhưng ông Macron vẫn liên lạc với Putin, đưa ra lời kêu gọi cần kết thúc chiến tranh ở Ukraine “không làm mất mặt Nga”. Sau khi tái cử, Tổng thống Pháp Macron đang tìm lối đi riêng cho nước Pháp. Ông đả kích vai trò lãnh đạo của Mỹ về vấn đề năng lượng, thương mại, việc đối xử không công bằng với đồng minh. Ông Macron đang tìm cách thay đổi trật tự quốc tế và thiết lập vai trò lãnh đạo của Pháp ở châu Âu. Ông đã đưa ra sáng kiến thành lập “Cộng đồng chính trị châu Âu”, là một tổ chức liên kết 27 thành viên EU với 17 quốc gia và vùng lãnh thổ ở châu Âu (trừ Nga không tham gia) với mục tiêu xây dựng một nền tảng phối hợp chính sách cho các nước châu Âu trên toàn châu lục, thúc đẩy đối thoại và hợp tác chính trị nhằm giải quyết các vấn đề cùng quan tâm, tăng cường an ninh, ổn định, thịnh vượng của lục địa châu Âu.

Nhật Bản dưới thời Thủ tướng Shinzo Abe và tiếp theo là Thủ tướng Fumio Kishida đang chuyển từ một cường quốc tập trung vào kinh tế, theo chủ nghĩa hòa bình, hướng nội, sang chính sách can dự nhiều hơn, thực hiện chính sách đối ngoại thể hiện vai trò quan trọng của một cường quốc ở khu vực châu Á, tham gia Bộ tứ Kim cương do Hoa Kỳ dẫn dắt, cam kết mạnh mẽ đối với nguyên tắc Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương xuất phát từ nỗi sợ hãi trước sự trỗi dậy của Trung Quốc.

Ấn Độ được hưởng lợi từ trật tự quốc tế do Mỹ lãnh đạo, nay cũng đang tìm kiếm một ghế thường trực trong Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc để có tiếng nói mạnh mẽ hơn trong hệ thống quốc tế, tương xứng với tầm quan trọng kinh tế và địa chính trị của nước này.

Các nhà quan sát tình hình chỉ ra rằng hiện nay, các cường quốc lớn nghi ngờ về trật tự dựa trên luật lệ; với các nước nhỏ yếu hơn thì niềm tin vào tính hợp pháp và công bằng của hệ thống quốc tế đang bị xói mòn, điều này xuất hiện ở các quốc gia phía Nam toàn cầu. Họ đã chứng kiến Liên hợp quốc, Quỹ Tiền tệ Quốc tế, Ngân hàng Thế giới, Tổ chức Thương mại Thế giới, G20 và các tổ chức khác đã không hành động trong các vấn đề khẩn cấp như cuộc khủng hoảng nợ đang gây ra cho các nước đang phát triển, nó ngày càng tồi tệ hơn do đại dịch covid-19 và khủng hoảng năng lượng, lương thực do cuộc chiến tranh Nga – Ukraine. Theo thống kê của Quỹ Tiền tệ Quốc tế, đã có trên 50 quốc gia đứng trước nguy cơ khủng hoảng nợ nghiêm trọng, điển hình là Sri Lanka, Pakistan, Afghanistan.

Các nhà quan sát tình hình còn chỉ ra rằng trong vài thập kỷ gần đây đã xảy ra nhiều cuộc xâm lược, can thiệp vũ trang, nhiều chế độ sụp đổ có sự can thiệp ngầm của các cường quốc. Việc Nga tấn công vào một quốc gia có chủ quyền như Ukraine đầu năm 2022 là một ví dụ về sự vi phạm nghiêm trọng chủ quyền quốc gia và Hiến chương Liên hợp quốc. Nhiều cường quốc phương Tây cũng đã gây ra những hành động như Nga. Hành vi này của các cường quốc khiến cho nhiều nước đang phát triển cảm thấy bất an, lo sợ và mất niềm tin vào trật tự thế giới hiện nay; niềm tin vào trụ cột của hệ thống đang bị xói mòn.

Nhiều năm trước đây, các hành động quân sự hoặc các lệnh trừng phạt của các cường quốc chống lại một quốc gia nào đó đều được đưa ra Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc hoặc các diễn đàn đa phương khác thông qua. Song ngày nay, chế độ trừng phạt và can thiệp quân sự đối với một quốc gia cụ thể lại dựa vào sức mạnh của Mỹ và phương Tây. Điều đó đã làm cho thể chế quốc tế ngày càng kém hiệu quả hơn, tính hợp pháp giảm dần. Hệ thống luật pháp quốc tế không hạn chế hoặc ngăn chặn được các hành vi của những kẻ có quyền lực. Các thiết chế được lập ra sau Chiến tranh Thế giới Thứ hai và sau Chiến tranh Lạnh đã bắt đầu mất hiệu lực, điển hình là tình trạng phổ biến hạt nhân ở Đông Bắc Á, Bắc Triều Tiên phát triển vũ khí hạt nhân, Nhật Bản và Úc mua tàu ngầm hạt nhân và chấp nhận vũ khí hạt nhân của Mỹ được tái lập ở những nước này.

Các nhà quan sát tình hình cho rằng thế giới đã không còn một nguyên tắc tổ chức trung tâm và không tồn tại một bá chủ. Tình trạng vô chính phủ được mô tả đang len lỏi vào các mối quan hệ quốc tế. Không một cường quốc nào đưa ra những điều kiện trật tự hiện tại và các cường quốc không tuân theo một bộ nguyên tắc và chuẩn mực rõ ràng. Họ đang theo đuổi mục tiêu của riêng mình.

Nga và Trung Quốc ngày nay càng tỏ ra không chấp nhận những khía cạnh của trật tự phương Tây, đặc biệt là chuẩn mực liên quan tới con người và nghĩa vụ của các quốc gia. Cả Nga và Trung Quốc viện dẫn nguyên tắc chủ quyền nhà nước như một lá chắn để hoạt động theo ý muốn, tìm cách thiết lập các nguyên tắc mới trong các lĩnh vực không gian mạng và công nghệ mới. Cả hai quốc gia này sử dụng sức mạnh kinh tế và sức mạnh quân sự cứng rắn để đối xử với các nước láng giềng như Ukraina, ở biển Đông, biển Hoa Đông và biên giới Ấn Độ đã gây tổn hại cho thể chế quốc tế và gây lo sợ cho các quốc gia. Các hành vi của các cường quốc hiện nay đang đẩy thế giới tới một cuộc Chiến tranh Lạnh mới bởi tính lưỡng cực rất rõ rệt của hai khối: một “thế giới tự do” và một tập hợp các quốc gia phương Tây gọi là các “chế độ chuyên quyền”. Liên minh xuyên Đại Tây Dương được củng cố dưới chính quyền Biden; Trung Quốc và Nga hợp tác với nhau trong một liên minh “không giới hạn” để chống lại phương Tây.

Những phản ứng của thế giới về cuộc chiến ở Ukraine và các lệnh trừng phạt của phương Tây đối với Nga cho thấy không có khối thống nhất nào ngoài liên minh xuyên Đại Tây Dương, thế giới phân thành hai khối chống Nga và không chống Nga chiếm tỉ lệ cao qua bỏ phiếu ở Đại Hội đồng Liên hợp quốc.

Hoa Kỳ và Trung Quốc ngày càng phụ thuộc nhau về kinh tế. Hai đối thủ của nhau nằm ở hai cực, nhưng giải pháp Hoa Kỳ và Trung Quốc đưa ra lại càng làm rạn nứt địa chính trị thế giới. Nền kinh tế toàn cầu đang phân mảnh thành các khối thương mại và khu vực, sự cạnh tranh giữa các cường quốc để giành ưu thế kinh tế và chính trị ngày càng gay gắt. Trong quá trình này, một thế giới nguy hiểm hơn nhiều đang xuất hiện.

Trong bối cảnh của thế giới hiện nay, các quốc gia đang tìm cách đối phó với thế giới của các cường quốc theo chủ nghĩa xét lại, một thế giới giữa các trật tự và chuẩn bị một tương lai không chắc chắn. Một giải pháp là hướng nội – các nước lớn như Hoa Kỳ, Trung Quốc, Ấn Độ và những nước khác đều đã làm như vậy trong những năm gần đây. Họ nhấn mạnh tính tự cường dưới hình thức này hay hình thức khác: mô hình “tuần hoàn kép” của Trung Quốc, cam kết của Biden “xây dựng nước Mỹ trở lại tốt hơn”, Ấn Độ dưới thời Thủ tướng Modi theo đuổi tự lực cánh sinh. Các nước này theo đuổi mục tiêu độc lập hơn về kinh tế, đảm bảo an toàn về quân sự. Tất cả các cường quốc lúc này đều tìm cách mở rộng quốc phòng và hạt nhân. Chi tiêu quốc phòng toàn cầu lần đầu tiên vượt ngưỡng 2.000 tỉ USD vào năm 2021, bất chấp sự suy thoái kinh tế và đại dịch Covid-19.

Một phản ứng khác của “các nước xét lại” đối với thế giới là các quốc gia lập ra các liên minh đặc biệt. Trong thập kỷ vừa qua đã xuất hiện một loạt các thỏa thuận đa phương như Bộ tứ Kim cương gồm Mỹ, Nhật, Úc, Ấn Độ; khối BRICS (gồm Brazil, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc, Nam Phi); Tổ chức hợp tác Thượng Hải (gồm Trung Quốc, Nga, Kazakhstan, Kyrgyzstan, Tajikistan và Uzbekistan); nhóm 12U2 gồm Ấn Độ, Israel, Các Tiểu Vương quốc Ả Rập Thống nhất và Hoa Kỳ; và mới đây là Cộng đồng Chính trị châu Âu gồm 44 quốc gia ở lục địa châu Âu. Sau chiến sự Ukraine cũng xuất hiện nhiều thỏa thuận giữa Nga với Iran, Thổ Nhĩ Kỳ, Ả Rập Xê-út, một số quốc gia Mỹ La tinh và châu Phi. Những thỏa thuận này phục vụ cho những mục đích cụ thể, chia thế giới thành nhiều mảng cạnh tranh lẫn nhau.

Các quốc gia nhỏ hơn, tuy đứng trong khối này khối khác, hoặc không theo liên minh nào, thì tìm cách cân bằng mối quan hệ của họ với các cường quốc lớn hơn. Phản ứng của Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) trước sự tranh chấp ngày càng gia tăng giữa Mỹ và Trung Quốc là một ví dụ cho xu hướng này. Gần đây, nhiều quốc gia châu Phi, Mỹ La tinh, châu Á từng nhiều năm có quan hệ chặt chẽ với phương Tây nhưng lại chống lại các lệnh trừng phạt phương Tây áp đặt vào Nga sau khi Nga tấn công quân sự Ukraine. Hành vi cân bằng và phòng ngừa rủi ro của các nước nói trên sẽ khuyến khích theo đuổi các giải pháp cho các vấn đề về kinh tế, thương mại, hay tranh chấp chính trị cục bộ địa phương. Tuy nhiên, hành động ở cấp địa phương không đủ đối phó với những vấn đề lớn của toàn cầu như khủng hoảng nợ, chống dịch covid-19, chống biến đổi khí hậu, khủng hoảng năng lượng, lương thực và chống đói nghèo…

Các nhà quan sát tình hình nhận xét rằng “thế giới của những người theo chủ nghĩa xét lại” là một thế giới giữa những trật tự nơi các vấn đề lớn của thời đại phát triển không đều; những vấn đề lớn của thời đại như chiến tranh ở Ukraine, biến đổi khí hậu và đại dịch bệnh đã không được giải quyết khi trật tự cũ tan rã và trật tự mới đang cố ra đời. Lợi thế nằm ở các quốc gia hiểu rõ cân bằng lực lượng và quan niệm về một trật tự tương lai hợp tác phục vụ lợi ích chung. Song, năng lực của nhiều cường quốc đã giảm sút khi chủ nghĩa xét lại lan rộng làm cho các cuộc khủng hoảng trở nên dễ xảy ra nguy hiểm hơn, hậu quả của nền chính trị trong nước xung đột (Mỹ – EU). Không một cường quốc nào có tầm nhìn để đưa ra được những thay đổi trong hệ thống quốc tế. Hiện nay, cán cân quyền lực đang chuyển dịch nhanh chóng, nhưng không mang lại một trật tự ổn định trong thời gian tới. Thay vào đó là một thế giới hỗn loạn từ cách ứng xử của các cường quốc, thế giới rơi vào khủng hoảng, khi sự bất mãn của các quốc gia với hệ thống quốc tế ngày càng gia tăng. Chủ nghĩa đa phương lúc này chưa thích hợp, các thỏa thuận quốc tế chỉ dừng lại ở sự ghi nhận mà không có hành động.

Thế giới trong những năm tới đang hướng tới đa cực và hỗn loạn, nhiều thiết chế quốc tế mất dần hiệu lực song Mỹ vẫn là siêu cường số một chi phối trật tự quốc tế, mặc dù sức mạnh quân sự và kinh tế đã suy giảm nhưng vẫn còn vượt trội so với các cường quốc khác.

BDN

Loading

Views: 0