Kategorie-Archiv:Nachrichten Allg.

Một số thông tin liên quan đến chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa

Sử sách Trung Hoa suốt từ các đời Tần, Hán đến tận sau Thế chiến thứ hai không có tài liệu nào xác nhận Biển Đông với quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa thuộc chủ quyền của Trung Quốc. 

Bản đồ Đông Ấn Độ do Jodocus Hondius I vẽ năm 1613 ghi nhận sự liên hệ mật thiết giữa hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (tác giả đặt tên là Pracel), rất sát với vùng biển miền Trung Việt Nam (tác giả đặt tên là Costa de Pracel).

Trước đây, biển Đông được người Trung Quốc và giới Hàng Hải gọi là Trung Quốc Nam Hải hay là Biển Hoa Nam, hay là South China Sea. Người Philippines từ năm 2012 gọi là Biển Tây Philippines (West Philippines Sea). Quần đảo Hoàng Sa được người Trung Quốc gọi là Tây Sa, tiếng Anh là Paracel. Còn quần đảo Trường Sa, người Trung Quốc gọi là Nam Sa, tiếng Anh là Spratly. Trong khi đó, không ít bản đồ phương Tây vẽ trước thế kỷ thứ 19, thư tịch cổ Trung Hoa do người Trung Hoa viết lại đã thừa nhận Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam.

Phía Trung Quốc thường xuyên tuyên truyền quyền của họ đối với biển Đông có từ hơn 2000 năm trước, khi mà cả quận Giao Chỉ là của Trung Quốc. Nhưng những chứng cứ chủ yếu lại chỉ từ những ghi chép của người đương thời và người đời sau về các con đường hàng hải từ Trung Quốc ra nước ngoài, hoặc các hoạt động thám hiểm, buôn bán, đánh cá… qua đó có ghi chép về lịch sử, địa lý, phong tục ở các vùng mà những người chứng kiến đã đi qua. Cũng có những tài liệu nói người đánh cá Trung Hoa, Nhật Bản, Việt Nam và các nước khi buôn bán, đánh cá, hoặc gặp thiên tai trên biển đã từng sống trên các đảo tùy theo mùa vụ. Nhưng cụ thể là vào mùa nào, vụ nào, bao nhiêu lâu, chưa thấy tài liệu nào ghi chép rõ. Chỉ riêng điều đó thì cũng không có ý nghĩa về mặt chủ quyền.

Các nhà nghiên cứu đôi khi phát hiện sự nhầm lẫn hoặc cố tình nhầm lẫn những người làm sử thiếu khách quan. Theo luật pháp quốc tế, việc thực thi chủ quyền và quyền chủ quyền trên các biển đảo ngày nay không phụ thuộc vào việc phát hiện, thám hiểm hay thực thi việc buôn bán, làm ăn trên biển. Cũng không phụ thuộc vào sự hiểu biết của người quan sát về biển đảo. Bởi từ thế kỷ thứ 7, người châu Âu hay là những người ViKing, gồm những nhà thám hiểm, nhà buôn, chiến binh, và cả những hải tặc đã tung hoành trên nhiều vùng biển của trái đất. Những ghi chép của người Anglo-Saxon về Hải Dương từ lâu đã là nguồn tra cứu phong phú và quý giá của nhân loại. Tiếp theo là những người Ấn Độ, Trung Quốc, Philippines, Việt Nam cũng đã có mặt ở nhiều vùng biển trên Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương.

Phương Đông không có các ViKing, ít các nhà thám hiểm nên người Phương Đông có mặt trên biển chủ yếu là để buôn bán, làm ăn và đánh cá. Trước đây, phía Trung Quốc còn đưa thêm nhà thám hiểm người Hồi tên là Trịnh Hòa và hồ sơ tranh chấp biển đảo. Nhưng thực ra, Trịnh Hòa chỉ đi ngang qua biển Đông. Các ghi chép về 7 chuyến đi của ông cũng không thấy nói gì đến Hoàng Sa và Trường Sa cả. Từ năm 1405 – 1433, Minh Thành Tổ đã cử đô đốc Thái Giám Trịnh Hòa chỉ huy đoàn thám hiểm của Trung Quốc hạ Tây Dương bảy lần. Họ đã đi đến Ấn Độ và biển Ả Rập nhằm thiết lập mối quan hệ bang giao với trên 30 quốc gia vùng Duyên Hải, triển khai con đường tơ lụa trên biển tại Ấn Độ, Châu Phi và cả Trung Đông.

Những chuyến hải trình của Trịnh Hòa trên thực tế không hề dừng ở Biển Đông. Trạm chân duy nhất của đoàn trong khu vực này chính là Đồ Bàn, thủ phủ của nước Chiêm Thành lúc bấy giờ. Sau khi Minh Thành Tổ mất, triều Minh đã phê phán những cuộc hải trình này chỉ là phô diễn, làm hao tiền tốn của làm suy yếu nền kinh tế quốc gia. Gần đây, khi đụng đến những vấn đề Biển Đông, các chuyến thám hiểm của Trịnh Hòa đã không còn được phía Trung Quốc nhắc đến như trước đó nữa.

Trên thực tế, kể từ Định ước Berlin năm 1885, nguyên tắc quyền phát hiện và nguyên tắc chủ quyền lịch sử đã không còn phù hợp, bị thay thế bởi nguyên tắc chiếm hữu thực sự và có hiệu lực. Ngày nay, nguyên tắc chiếm hữu biển đảo còn được quy định một cách chặt chẽ hơn. Nó bao gồm thực sự, không gián đoạn, hòa bình và minh bạch. Nghĩa là, nếu giả sử như luật pháp quốc tế vẫn còn căn cứ vào chuyện là luận thuyết chủ quyền lịch sử hay là sự phát hiện biển đảo để xác định chủ quyền thì quyền chiếm hữu và quyền sở hữu các châu lục ngày nay hầu hết đã thuộc về các nhóm Viking và các nhà thám hiểm hay là các tay cướp biển châu Âu.

Chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa được các triều đại phong kiến Việt Nam thực thi từ rất sớm. Có tài liệu nói là từ thế kỷ thứ 15, nhưng rõ nét nhất là từ đầu thế kỷ thứ 17 đến tận năm 1932, khi Pháp chính thức tuyên bố kế thừa và tiếp tục quyền chủ quyền tại hai quần đảo này.

Các triều đại phong kiến Việt Nam đều đã chiếm hữu và thực thi chủ quyền thực tế đối với Hoàng Sa và Trường Sa. Quá trình này diễn ra một cách liên tục với những hoạt động kinh tế xã hội rất hòa bình. Lúc đó cũng chưa hề có tranh chấp về mặt pháp lý, ít nhất từ thế kỷ thứ 17, Hoàng Sa đã không còn là lãnh thổ vô chủ nữa.

Năm 1688, Hoàng Sa đã trở thành địa danh nổi tiếng được các nhà hàng hải Phương Tây biết đến qua biển đến Biên niên sử Hàng Hải với các vụ mắc cạn của tàu Lamps. Dưới thời vua Louis XIV, khi đi từ Pháp sang Trung Quốc, Hoàng Sa được biết đến như một bãi cát nguy hiểm ở vùng biển Đông Việt Nam. Tàu bè quốc tế đến vùng này, nếu không biết và đề phòng có thể bị mắc cạn, đói khát và chết.

Đến thời các chúa Nguyễn, tức là từ giữa thế kỷ thứ 16 cho đến khi Tây Sơn chiến thắng năm 1777, hàng năm các chúa Nguyễn đều phái người ra Hoàng Sa làm nhiệm vụ trên đảo nhằm thực thi chủ quyền, thu hoạch sản vật trên đảo cùng những sản vật của các tàu bị đắm trôi dạt vào đảo.

Trong sách Lịch triều Hiến chương loại chí, quyển “Chi ngũ dư địa chí”, trang 11A-12A, Phan Huy Chú đã ghi chép: “Thời các chúa Nguyễn đặt đội Hoàng Sa, 70 suất người xã An Vĩnh luân phiên đi hàng năm vào tháng 3, nhận chỉ thị sai đi mang sáu tháng lương, dùng năm chiếc thuyền nhỏ chương buồm xuất dương ba ngày ba đêm là đến đảo. Đến đây mặc tình đánh bắt cá ăn, nhặt được rất nhiều đồ vật quý, lại lấy được hải sản rất nhiều. Tháng 8 trở về, vào cửa eo Thuận An để đến thành Phú Xuân”.

Năm 1753, một sự kiện có liên quan đến chủ quyền của Hoàng Sa xảy ra với những người lính của đội Bắc Hải đã được Lê Quý Đôn ghi chép khá kỹ trong Phủ biên tạp lục. Đó là: “Hoàng Sa gần Hải Nam, Châu Liêm, người đi thuyền thường gặp người Bắc Quốc đánh cá ngoài biển, hỏi thăm biết được họ là người huyện Văn Xương, Quỳnh Châu, quan Chính đường sưu tra công văn trong đó kể rằng vào tháng 7 năm Càn Long thứ 18 (1753), 10 người lính thuộc đội Cát Liêm, xã An Bình, huyện Chương Nghĩa, Quảng Ngãi ngày nay, đến Vạn Lý Trường Sa thu thập các vật. Tám tên lính lên bờ thu thập, chỉ có hai người lưu lại giữ thuyền, chợt có một cơn bão nổi lên, đưa thuyền ra đến tận cảng Thanh Lam ở Hải Nam, Trung Quốc. Viên quan Trung Quốc ở đây bèn cho điều tra, sau khi biết sự thật đành cho áp giải trở về. Chúa Nguyễn Phúc Chu đã sai cai bạ Thuận Hóa thức thượng hầu gửi thư phúc đáp”. Sự kiện này cũng là một bằng chứng cho thấy người Trung Quốc không coi Hoàng Sa là của mình.

Năm 1816, vua Gia Long chính thức chiếm hữu đảo Hoàng Sa, ra lệnh cắm cờ trên đảo và đo thủy trình. Xin nhắc lại là chính thức vào năm 1816, Việt Nam ra lệnh cắm cờ trên đảo Hoàng Sa. Khâm sứ Pháp tại Đông Dương lúc đó là Jules Brévié đã ra lệnh thành lập cơ quan hành chính quần đảo Hoàng Sa và cho dựng trên quần đảo một tấm bia có dòng chữ là “Cộng hòa Pháp – Vương quốc An Nam – Quần đảo Hoàng Sa”. Năm 1816 – 1835, vua Minh Mạng cho xây đền, đặt bia, móng, đóng cọc, rồi trồng cây.

Đội Hoàng Sa và đội Bắc Hải được trao nhiệm vụ khai thác, tuần tiễu, thu thuế trên đảo và nhiệm vụ biên phòng bảo vệ hai quần đảo. Hai đội lính hải quân này tiếp tục duy trì công việc cho đến khi người Pháp vào Đông Dương. Việc quản lý hành chính các đảo đã được triều Nguyễn duy trì nhằm giúp đỡ các tàu bè cũng như là để thu thuế ngư dân trong vùng.

Theo nhà nghiên cứu Vũ Quang Việt, các dữ kiện lịch sử chiếm hữu Hoàng Sa cho thấy Việt Nam đã có tuyên bố rõ ràng và thực thi quyền của mình ở Paracel ít nhất suốt 70 năm trước, từ năm 1770 cho tới khi vua Gia Long chính thức khẳng định chủ quyền vào năm 1816 và tiếp tục cho đến thời Minh Mạng. Được ghi rõ ràng trong Chính sử Việt Nam cho đến năm 1837.

Thời gian có mặt của Việt Nam ở Paracel, tức quần đảo Hoàng Sa, như vậy, là đã kéo dài liên tục ít nhất là 74 năm, từ năm 1774, được ghi nhận trong chính sử. Ý chí và hành động nhằm khẳng định chủ quyền được vua Gia Long và vua Minh Mạng đã thể hiện trong văn bản “Các chuyến ra đảo”. Dù chỉ kéo dài nhiều nhất là 6 tháng nhưng liên tục từ năm này qua năm khác như thế là đủ. Nước Pháp công nhận việc thực thi chủ quyền của các chúa đại phong kiến Việt Nam tại hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và chịu trách nhiệm kế thừa.

Năm 1884, hiệp ước Patenôtre Huế đã áp đặt chế độ thuộc địa của Việt Nam. Nước Pháp có nghĩa vụ bảo hộ, giữ gìn sự toàn vẹn lãnh thổ của xứ An Nam.

Ngày 9/6/1885, hiệp ước Pháp – Thanh tại Thiên Tân chấm dứt xung đột Pháp – Thanh. Việt Nam đã chính thức vĩnh viễn thoát khỏi chế độ phong kiến với phương Bắc.

Ngày 26/6/1887, thêm một hiệp ước Pháp – Thanh nữa được ký kết về vấn đề biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc. Nghĩa là từ đây, mọi tuyên bố hay hành vi của Pháp về Hoàng Sa, Trường Sa được hiểu và trên thực tế là đại diện cho Việt Nam, của Việt Nam.

Năm 1895, con tàu La Bona và năm 1896 con tàu Imeji Maru đã bị đắm ở gần Hoàng Sa. Những người đánh cá ở đảo Hải Nam đã đến thu lượm đồng nát từ hai chiếc tàu đắm này. Các công ty bảo hiểm của hai con tàu này đã lên tiếng phản đối với chính quyền Nhà Thanh. Chính quyền Nhà Thanh trả lời rằng họ không chịu trách nhiệm, lấy lý do là Hoàng Sa không phải là lãnh thổ của Trung Quốc, cũng không phải là lãnh thổ của Việt Nam.

Năm 1899, toàn quyền Pondichéry đề nghị chính phủ Pháp xây dựng ngọn hải đăng tại Hoàng Sa nhưng việc này không thành vì lý do tài chính.

Năm 1909, Tổng đốc Lưỡng Quảng đã ra lệnh cho Đô đốc Lý Chuẩn đổ bộ lên quần đảo Hoàng Sa, cuộc đổ bộ này kéo dài không quá 24 giờ. Họ lên Hoàng Sa, kéo cờ và bắn súng để biểu thị chủ quyền của Trung Quốc. Tuy nhiên, chưa đầy 24 giờ thì lại rút đi.

Sự kiện này không gây ra phản ứng gì của các nước, kể cả là Pháp, đại diện cho An Nam, vì Pháp cho rằng đó chỉ là một nghi thức hải quân nhân chuyến thăm sát đảo này. Điều này cũng làm lộ ra mâu thuẫn trong các lập luận của Trung Quốc. Nếu quần đảo Hoàng Sa đã được Trung Quốc chiếm cứ thực sự từ lâu thì tại sao Lý Chuẩn lại không biết điều này và đã hành xử như là kiểu người đầu tiên phát hiện ra quần đảo vậy?

Đến năm 1920, một công ty Nhật Bản là Mitsui Busan Kaisha xin phép Pháp khai thác quần đảo Hoàng Sa, đã bị Pháp từ chối. Cũng kể từ đó, Pháp kiểm soát thuế quan và tuần tiễu trên đảo.

Đến tháng 3/1921, Tổng đốc Lưỡng Quảng lại tuyên bố sáp nhập Hoàng Sa với đảo Hải Nam. Pháp không phản đối, nhưng ngay sau đó, các nhà nghiên cứu và hoạt động xã hội người Pháp ở Hà Nội đã chỉ trích Ông Toàn quyền Đông Dương về thái độ hững hờ này. Đến tháng 3/1925, Toàn quyền Đông Dương lúc đó là Martial Henri Merlin long trọng tuyên bố là quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là lãnh thổ của Pháp. Chính phủ bảo hộ thuộc địa nhận trách nhiệm về chủ quyền của mình ở Hoàng Sa và Trường Sa, đẩy mạnh các hoạt động tuần tra, kiểm soát và nghiên cứu khoa học. Cũng kể từ năm 1925, Viện Hải dương học Nha Trang đã tiến hành những thí nghiệm khoa học đầu tiên trên quần đảo Hoàng Sa do Tiến sĩ Gruvel tổ chức.

Năm 1927, Tàu de Maleisie đã viễn thăm quần đảo Trường Sa. Đầu năm 1930, ba tàu của Pháp là La Malicieuse, L’Alerte, L’Astrobale đã khảo sát, chuẩn bị cho việc chiếm hữu quần đảo Trường Sa.

Ngày 13/4/1930, Toàn quyền Đông Dương là Pasquier đã điều tàu La Malicieuse ra quần đảo Trường Sa. Tại đây, Đại úy hải quân De Lattrie đã nhân danh nước Pháp bắn 21 loạt đại bác, tuyên bố chủ quyền đối với toàn bộ tất cả các hòn đảo ở Trường Sa và các vùng biển phụ cận, và kéo cờ trên đảo Bão Tố (tức đảo Spratly, nay còn được gọi là đảo Trường Sa lớn). Văn bản báo cáo ghi rõ: “Trường Sa nằm ở 8 độ 39 phút Vĩ Bắc và 111 độ 55 phút Kinh Đông”.

Ngày 23/9/1930, Pháp gửi thông báo ngoại giao tới tất cả các nước có liên quan về chủ quyền của Pháp trên quần đảo Trường Sa. Trong thông báo ghi rõ: “Phủ Toàn quyền Đông Dương ra thông cáo để thông báo cho các nước thứ ba biết về việc Cộng hòa Pháp chiếm hữu toàn bộ quần đảo Spratly”. Thông báo này cũng được đăng trên công báo của Phủ Toàn quyền.

Năm 1931, Trung Hoa ra lệnh khai thác phân chim tại quần đảo Hoàng Sa và bán quyền khai thác cho công ty Anglo-Chinese Development. Tuy nhiên, Pháp đã phản đối.

Năm 1932, Pháp chính thức tuyên bố An Nam có chủ quyền lịch sử lâu đời trên quần đảo Hoàng Sa, sáp nhập quần đảo Hoàng Sa với tỉnh Thừa Thiên Huế. Nghĩa là, Pháp công nhận và chịu trách nhiệm thừa kế chủ quyền của Việt Nam từ trước đó. Tiếp tục thực thi chủ quyền tại hai quần đảo này. Đây là một bước đi quan trọng và là sự kiện đặc biệt có ý nghĩa trong việc chiếm hữu và thực thi chủ quyền một cách liên tục đối với lãnh thổ quốc gia.

Năm 1933, quần đảo Trường Sa được sáp nhập với tỉnh Bà Rịa. Pháp đã ra thông báo chính thức về sự chiếm hữu của các đảo Trường Sa trên nhật báo của Pháp. Pháp cũng đề nghị với Trung Quốc là đưa vấn đề này ra tòa án quốc tế, nhưng Trung Quốc đã từ chối. Việc thuyết phục các nhà cầm quyền Pháp tại Đông Dương quan tâm một cách thiết thực hơn đối với chủ quyền của Việt Nam tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vào những năm đầu thế kỷ 20 là một quá trình không đơn giản, bởi lúc đó, khác với ngày nay, việc chiếm hữu các đảo ở xa chỉ mang đến sự tốn kém, phức tạp, nguy hiểm, rất ít lợi ích.

Chính chủ quyền hiển nhiên đã có từ lâu trong lịch sử của các vương triều An Nam đối với biển đảo mới là nguyên nhân chủ yếu thúc đẩy các quan chức Pháp tại Hà Nội thiết tha hơn và cảm thấy có trách nhiệm nặng nề hơn với Hoàng Sa và Trường Sa. Công đầu trong việc thúc đẩy này thuộc về tờ tuần báo Thức tỉnh Kinh tế Đông Dương. Tờ tuần báo L’Éveil Economique de l’indochine, ra số đầu tiên vào thứ bảy ngày 16/6/1917 và số cuối cùng là vào năm 1934. Người sáng lập và là chủ bút, cũng là tác giả của nhiều bài viết trong tuần báo này là Henri Cucherousset, ông qua đời tại Hà Nội vào năm 1934 và cũng là người đặc biệt yêu mến Hoàng Sa, chiến đấu không mệt mỏi cho chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa.

Trong 835 số tuần báo, chính phủ Pháp và An Nam đã triệt để giải quyết tranh chấp Hoàng Sa với chính quyền quân phiệt Quảng Đông lúc đó đã ly khai khỏi Trung Quốc, cho nên, chính quyền Quảng Đông không được Trung Quốc và các nước khác thừa nhận. Ông Henri Cucherousset đã đưa vấn đề ra Thượng viện và Hạ viện Pháp, vì lý do là Toàn quyền Đông Dương ở Hà Nội đã không nỗ lực quan tâm đến vấn đề Hoàng Sa.

Về trách nhiệm của nước Pháp và các quan chức Pháp tại Đông Dương, tác giả trách cứ một số quan chức Đông Dương vô trách nhiệm đối với chủ quyền của Quần đảo Hoàng Sa và nhờ đó các chính khách đã quan tâm đến vấn đề quần đảo Hoàng Sa hơn.

Ngày 14/3/1933, Pháp cho đội tàu gồm La Malicieuse, L’Alerte, L’Astrobale và De Lanessan từ Sài Gòn đến Trường Sa, ghé qua hàng loạt các cụm đảo, cụm này gồm Trường Sa Đông, Đá Đông, Đá Tây và Đá Châu Viên, bãi san hô gồm; đảo Ba Bình, đảo Bàn Than, đảo Sơn Ca, đảo Núi Thị, Én Đất, Nam Yết, Đá Lạc, Ga Ven, bãi san hô Loại Ta, cụm rạn Thị Tứ và rạn Thám Hiểm phía Bắc. Tại từng địa điểm đi qua, người Pháp đã tổ chức nghi lễ chiếm hữu tại các đảo chính thuộc nơi đó.

Ngày 19/7/1933, Bộ Ngoại giao Pháp ra thông báo về tuyên bố chủ quyền của Pháp, kèm theo danh sách liệt kê tên các đảo đã chiếm hữu, gồm sáu thực thể. Thứ nhất là Trường Sa Lớn, tuyên bố chủ quyền ngày 13/11930. Đảo An Bang, tuyên bố chủ quyền ngày 7/4/1933. Đảo Ba Bình, tuyên bố chủ quyền ngày 10/4/1933. Nhóm Song Tử gồm Song Tử Đông và Song Tử Tây, tuyên bố chủ quyền cũng ngày 10/4/1933. Đảo Loại Ta, tuyên bố chủ quyền ngày 11/4. Đảo Thị Tứ, tuyên bố chủ quyền ngày 12/4. Pháp tuyên bố những hòn đảo nói trên và các đảo phụ thuộc của từng hòn đảo này đều thuộc chủ quyền của Pháp.

Sau đó, Pháp lần lượt thông báo cho các quốc gia có thể có lợi ích tại Trường Sa biết về hành động của Pháp. Trừ Nhật Bản, tất cả các nước được thông báo trong đó có Trung Quốc, Hà Lan Mỹ đều không có phản đối hoặc không có phản hồi.

Ngày 21/12/1933, Thống đốc Nam Kỳ là Jean-Felix Krautheimer ký Nghị định số 4702, sát nhập một số đảo trên và các đảo phụ thuộc vào tỉnh Bà Rịa. Tuy nhiên, năm 1937, bất chấp sự phản đối của Pháp, Nhật đã chiếm tất cả các đảo ở ngoài khơi Đông Dương và đổi tên thành Shiman Gunto, tức là Tân Nam Quần đảo và đặt Hoàng Sa, Trường Sa dưới quyền Tài phán của Cao Hùng, Đài Loan.

Trong suốt thời gian Thế chiến thứ hai, cả hai quần đảo đều bị Nhật tuyên bố là đang bị Nhật chiếm đóng. Tuy nhiên, Nhật không cho quân đồn trú hay là tuần tra trên hai quần đảo.

Năm 1938, Pháp đã cho xây dựng bia đá, xây hải đăng, đài khí tượng và đưa bộ đội biên phòng người Việt ra để bảo vệ đảo Pattle, (tức là Đảo Hoàng Sa của Quần đảo Hoàng Sa).

Ngày 4/4/1939, chính phủ Pháp gửi đi công hàm phản đối quyết định của Nhật và bảo lưu chủ quyền của Pháp tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Ngày 6/5/1939, Toàn quyền Đông Dương Jules Brévié ký Nghị định số 3282, tách đơn vị hành chính Hoàng Sa thành hai đơn vị là Croissant và các đảo phụ thuộc, Am Phichit và các đảo phụ thuộc.

Khi chiến tranh thế giới thứ hai sắp kết thúc, ba cường quốc là Anh, Mỹ và Trung Quốc lúc bấy giờ, Tưởng Giới Thạch đại diện cho Trung Quốc đã nhóm họp tại Cairo, Ai Cập vào ngày 27/11/1943, để bàn về những quyết định hậu chiến và ra Tuyên bố Cairo.

Về biển đảo ở Thái Bình Dương tuyên bố đã viết rõ: Nhật Bản phải bị loại ra khỏi tất cả các đảo ở Thái Bình Dương mà Nhật đã cướp hoặc chiếm đóng kể từ khi bắt đầu cuộc Thế chiến thứ nhất năm 1914 và tất cả những lãnh thổ mà Nhật đã chiếm của Trung Quốc như Mãn Châu lý Đài Loan và bành hồ sẽ được trả lại cho Cộng hòa Trung Hoa.

Tuyên bố này không có liên quan gì đến hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Điều này có nghĩa rằng, Tuyên bố Cairo khẳng định các lãnh thổ mà Nhật Bản đã chiếm của Trung Quốc chỉ có Mãn Châu Lý, Đài Loan và Bành Hồ.

Ngày 26/7/1945, tại Potsdam của nước Đức bại trận, các nguyên thủ quốc gia của các nước thắng trận, bao gồm Harry Truman của Mỹ, Winston Churchill của Anh và Tưởng Giới Thạch khẳng định lại các điều khoản của Tuyên bố Cairo sẽ được thực hiện.

Tuyên bố Potsdam về các điều khoản cho sự đầu hàng của Nhật Bản tương tự như một tối hậu thư đối với Nhật. Sự thực thì Trung Quốc lúc đó đã quá thỏa mãn với phần thưởng hậu chiến có được là Mãn Châu, Đài Loan và Bành Hồ mà không có Hoàng Sa và Trường Sa trong đó.

Ngày 15/8/1945, Nhật Bản thua trận, phải rút khỏi Đông Dương, ngày 26/8/1945, quân đội Nhật phải rút khỏi Hoàng Sa và Trường Sa.

Tháng 6/1946, Pháp khôi phục lại sự có mặt của mình tại Hoàng Sa, tại đảo An Vĩnh, nhưng ngay sau đó đã phải rút đi vì lý do chi viện cho cuộc chiến đang căng thẳng ở miền Bắc Việt Nam.

Chúng tôi một lần nữa muốn lưu ý rằng suốt chiều dài lịch sử cho đến tận những năm 1945, ngoài nỗ lực thị uy của chính quyền Quảng Đông vào năm 1909, cho quân lên đảo bắn mấy phát súng rồi rút, Trung Quốc không hề có sự chiếm cứ thực sự, liên tục hay sự quản lý hành chính thực tế nào trên các đảo ở biển Đông.

Cuối năm 1946, Tưởng Giới Thạch đưa quân chiếm đóng đảo Ba Bình ở Trường Sa. Tháng 1/1947, xua quân lên chiếm Phú Lâm của Hoàng Sa. Ngay lập tức, Pháp đã phản đối việc xâm phạm trái phép này của Trung Quốc, và cử một phân đội ra quần đảo Hoàng Sa, lập đồn binh và xây trạm khí tượng. Các trạm khí tượng này về sau đã hoạt động liên tục trong suốt 26 năm, với những nhân viên Việt Nam cần mẫn, cho đến khi Trung Hoa Đại Lục cưỡng chiếm bằng quân sự vào năm 1974.

Ngày nay, thông tin về khí tượng, thủy văn phát đi từ Hoàng Sa vẫn được toàn thế giới biết đến với danh nghĩa là một trạm khí tượng của một hòn đảo nhiệt đới Việt Nam.

Cũng năm 1947, Pháp đã đề nghị đưa vấn đề tranh chấp ra trọng tài quốc tế, nhưng Trung Quốc lại một lần nữa từ chối.

Tháng 10/1949, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ra đời, chính phủ Trung Hoa Dân Quốc chạy ra Đài Loan.

Tháng 5/1950, quân Đài Loan phải rút ra khỏi các đảo Phú Lâm ở Hoàng Sa, đảo Ba Bình ở Trường Sa. Các trại đồn chú của Pháp tiếp tục được duy trì ở Hoàng Sa.

Năm 1950, chính phủ Pháp đã chính thức chuyển giao cho chính phủ Bảo Đại quyền quản lý quần đảo này. Một năm sau đó, với thế giới và với Hoàng Sa, Trường Sa đã diễn ra một sự kiện quan trọng, đó là hội nghị San Francisco ở California, nước Mỹ, giữa lực lượng đồng minh với Nhật Bản. Trước khi hội nghị San Francisco diễn ra, Trung Quốc Đại Lục đã thể hiện yêu sách của họ đối với các quần đảo qua tuyên bố của Bộ Trưởng ngoại giao Chu Ân Lai nhưng chính quyền Tưởng Giới Thạch không phản ứng gì. Lúc đó, đa số các nước vẫn công nhận chính phủ Trung Hoa Dân Quốc của Tưởng Giới Thạch mới là đại diện chính thức cho Trung Quốc. Hội nghị San Francisco diễn ra từ ngày 4/9 – 8/9/1951, có phái đoàn của 51 quốc gia tham dự, để thảo luận về vấn đề chấm dứt chiến tranh tại châu Á- Thái Bình Dương và mở ra quan hệ với Nhật Bản thời hậu chiến.

Trong hội nghị này, Trung Hoa đại lục và Trung Hoa Dân Quốc đều không được tham dự, do Mỹ và Liên Xô không thống nhất được ai mới là đại diện chính thức cho quyền lợi của Trung Quốc.

Ngày 6/9/1951, ngoại trưởng Liên Xô là Gromyko đã đề nghị 13 khoản tu chính, trong đó có khoản tu chính liên quan đến việc Nhật Bản nhìn nhận chủ quyền của Trung Quốc đại lục đối với quần đảo Hoàng Sa. Hội nghị bác bỏ với 46 phiếu trống, một phiếu trắng và hai phiếu thuận. Danh nghĩa chủ quyền của Trung Quốc đối với các quần đảo ở ngoài khơi Biển Đông đã bị cộng đồng quốc tế bác bỏ rõ ràng trong khuôn khổ của một hội nghị quốc tế.

Đến ngày 7/9/1951, cũng tại hội nghị, Thủ tướng, kiêm Ngoại trưởng Chính phủ Bảo Đại là Trần Văn Hữu đã tuyên bố, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là lãnh thổ của Việt Nam.

Ông đã nói rằng, cần phải thành thật lợi dụng tất cả mọi cơ hội để dập tắt các mầm mống chiến tranh sau này. Chúng tôi xác nhận chủ quyền đã có từ lâu đời của chúng tôi trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Kết thúc hội nghị là việc ký kết hòa ước với Nhật. Trong hòa ước này, ở điều hai, đoạn F có ghi rõ: Nhật Bản phải khước từ mọi chủ quyền và đòi hỏi đối với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Sau hội nghị tại San Francisco, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vẫn do chính quyền Bảo Đại quản lý. Đến năm 1954, hai quần đảo này được đặt dưới sự quản lý của chính quyền Việt Nam Cộng hòa.

Tháng 5/1956, quân đội viễn chinh Pháp rút khỏi Đông Dương. Đội tuần tra của Pháp trên đảo Hoàng Sa được thay thế bởi đội tuần tra của chính phủ Việt Nam Cộng hòa. Nhưng khi đó, chính quyền Trung Quốc Đại Lục đã bí mật cho quân đội bộ binh chiếm phần phía Đông của quần đảo Hoàng Sa, là các đảo thuộc cụm đảo An Vĩnh (phía Trung Quốc gọi là Tuyên Đức quần đảo). Trong khi đó, ở phía Tây, nhóm lưỡi liềm (còn gọi là Nguyệt Thiềm) thì vẫn do quân đội Việt Nam Cộng hòa đóng trên đảo Pattle nắm giữ.

Ngày 22/8/1956, một đơn vị hải quân của Việt Nam Cộng hòa đã cắm cờ trên quần đảo Trường Sa và dựng bia. Đến ngày 13/7/1961, Tổng thống Việt Nam Cộng hòa là Ngô Đình Diệm ký sắc lệnh số 174 về việc đặt quần đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Nam và thành lập tại quần đảo này một xã lấy tên là xã Định Hải thuộc quận Hòa Vang.

Ngày 4/9/1958, Trung Quốc ra tuyên bố về hải phận 12 hải lý, áp dụng cho cả quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đến ngày 14/9/1958, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là ông Phạm Văn Đồng đã gửi công thư cho Thủ tướng Quốc vụ viện Trung Quốc Chu Ân Lai, thông báo tán thành và tôn trọng quyết định về hải phận 12 hải lý của Trung Quốc. Công thư này không hề nói gì về Hoàng Sa và Trường Sa.

Tháng 1/1974, Trung Quốc tiến quân chiếm các đảo ở Hoàng Sa lúc đó đang do quân đội Việt Nam Cộng hòa đóng giữ, 75 sĩ quan và binh sĩ Sài Gòn hy sinh. Trung Quốc chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa.

Như vậy, từ năm 1974, trong vấn đề chủ quyền ở Hoàng Sa, Việt Nam đã bị tước mất yếu tố vật chất, nhưng chủ quyền của Việt Nam vẫn không bị gián đoạn do được đảm bảo bằng yếu tố tinh thần.

Tháng 12/1982, huyện Hoàng Sa trực thuộc tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng được thành lập. Nhưng điều quan trọng hơn, theo luật quốc tế, từ đầu thế kỷ 20, việc dùng vũ lực để chinh phục một lãnh thổ đã bị lên án và không được chấp nhận. Nghị quyết của Đại hội đồng Liên hợp quốc ngày 24/10/1970 ghi rõ: lãnh thổ của một quốc gia không thể là một đối tượng chiếm đoạt bởi một quốc gia khác bằng cách đe dọa sử dụng vũ lực hoặc là sử dụng vũ lực. Bất kỳ sự chiếm đóng lãnh thổ nào bằng sự đe dọa sử dụng vũ lực hoặc là sử dụng vũ lực đều là bất hợp pháp. Do đó, các hành động dùng vũ lực của Trung Quốc là đi ngược lại với luật pháp quốc tế. Trung Quốc không thể mang lại danh nghĩa pháp lý cho đất nước này đối với quần đảo Hoàng Sa.

Đối với Trường Sa, ngày 14/2/1975, Chính phủ Việt Nam Cộng hòa tuyên bố chính sách về chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa. Tháng 5/1975, Việt Nam thống nhất hai miền. Quân đội Nhân dân Việt Nam thay thế quân đội Việt Nam Cộng hòa tại quần đảo Trường Sa.

Năm 1977, Việt Nam ra tuyên bố lãnh hải đất nước, kể cả lãnh hải của các quần đảo. Khoảng thời gian này, một số quốc gia Đông Nam Á khác cũng đã chiếm một số đảo ở quần đảo Trường Sa.

Tháng 3/1988, lần đầu tiên Trung Quốc đặt chân lên quần đảo Trường Sa bằng cách đưa quân tới xâm lược bãi đá Colin, bãi đá Len Đao và đảo Gạc Ma. Do ba bãi đá này không có quân đội đồn trú nên hải quân Việt Nam phải đưa quân ra bảo vệ.

Ngày 11/3/1988, tàu HQ 604 lữ đoàn 125 của thuyền trưởng Vũ Phi Trừ xuất phát từ vịnh Cam Ranh với 70 chiến sĩ của Trung đoàn 82 và 22 bộ đội của lữ đoàn 146 ra xây dựng cụm đảo Gạc Ma. Khi đang vận chuyển vật liệu lên đảo thì ba tàu chiến Trung Quốc áp sát, giật cờ, nã súng xâm chiếm đảo Gạc Ma. Sau đó, tàu Trung Quốc tiếp tục tấn công tàu HQ 605 đang bảo vệ và xây dựng đảo Len Đao và tàu HQ 505 canh giữ đảo Colin.

Trận chiến này đã làm hai tàu chiến của Việt Nam bị chìm, một tàu hỏng, 64 sĩ quan và chiến sĩ hy sinh, chín người bị phía Trung Quốc bắt giữ làm tù binh. Trung Quốc còn chặn không cho tàu mang cờ chữ thập đỏ ra cứu hộ. Phía Trung Quốc bị hư hại tàu chiến, thương vong 24 thủy binh. Kể từ đó, Trung Quốc đã chiếm đóng đảo Gạc Ma.

Tháng 4/1988, Trung Quốc thành lập tỉnh thứ 33 bao gồm đảo Hải Nam và hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa.

Tháng 5/1989, Trung Quốc chiếm thêm một số đảo nhỏ trên quần đảo Trường Sa. Năm 1990, Trung Quốc đề nghị khai thác chung quần đảo Trường Sa. Năm 1992, Trung Quốc chiếm thêm một số đảo nữa. Năm 1994, đụng độ giữa Việt Nam và một số tàu cá Trung Quốc nghiên cứu cho công ty Crestone.

Tháng 2/1995, Trung Quốc lại huy động quân đội đánh chiếm đá Vành Khăn, một đảo đá nhỏ lúc đó đang do Philippines chiếm đóng. Hiện nay, họ đang sử dụng sức mạnh để bao vây và chiếm đóng bãi cạn Cỏ Mây. Đây là bãi cạn nằm về phía Đông, gần với đá Vành Khăn. Tuy nhiên, vẫn chưa thành công.

Như vậy, tổng số bãi đá, bãi cạn mà phía Trung Quốc đã dùng sức mạnh để đánh chiếm ở quần đảo Trường Sa cho đến nay là bảy vị trí, bao gồm đá Châu Viên, đá Chữ Thập, cụm đá Gaven, đá Gạc Ma, đá Subi, đá Tư Nghĩa và đá Vành Khăn. Philippines cũng là nước tuyên bố chủ quyền ở Trường Sa.

Philippines bắt đầu tranh chấp chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa bằng sự kiện ngày 17/5/1951, tổng thống Philippines tuyên bố các đảo ở quần đảo Trường Sa phải thuộc về lãnh thổ gần nhất là Philippines.

Trong cuộc họp báo ngày 15/9/1956, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Philippines khẳng định rằng, nhóm đảo Trường Sa, trong đó có đảo Ba Bình và đảo Trường Sa, phải thuộc về chủ quyền Philippines vì chúng nằm gần Philippines nhất. Quần đảo Trường Sa chỉ cách Philippines có 300 km. Từ năm 1971 – 1973, Philippines đưa quân ra chiếm đóng năm đảo.

Từ năm 1977 – 1978, Philippines chiếm thêm hai đảo. Năm 1979, Tổng thống Philippines Marcos ra sắc lệnh gộp toàn bộ quần đảo Trường Sa, trừ đảo Trường Sa lớn, vào trong một đơn vị hành chính gọi là Kalayaan, thuộc lãnh thổ Philippines.

Năm 1980, Philippines chiếm đóng thêm một đảo nữa nằm về phía Nam của Trường Sa. Đó là đảo Công Đỏ. Hiện nay Philippines đang chiếm đóng 9 vị trí trong quần đảo Trường Sa, bao gồm bảy đảo, đá san hô và hai bãi cạn, rạn san hô. Cụ thể bao gồm; đảo Bến Lạc, đảo Bình Nguyên, đảo Loại Ta, đảo Song Tử Đông, đảo Thị Tứ, đảo Vĩnh Viễn, đảo Loại Ta Tây, đá Công Đỏ, bãi Cỏ Mây.

Trên thực địa tại Trường Sa, Malaysia cũng đang nắm giữ mấy đảo, mở đầu bằng sự việc Sứ quán Malaysia ở Sài Gòn ngày 3/2/1971 đã gửi công hàm cho Bộ Ngoại giao Việt Nam Cộng hòa và hỏi rằng đảo Trường Sa hiện thời thuộc nước Cộng Hòa Morac Songhrati và nó có thuộc về lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa hay Việt Nam Cộng hòa có yêu sách gì đối với quần đảo đó hay không?

Ngày 20/2/1971, chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã trả lời rằng, quần đảo Trường Sa thuộc lãnh thổ của Việt Nam, mọi xâm phạm chủ quyền ở quần đảo này đều bị coi là vi phạm luật pháp quốc tế. Đến tháng 12/1979, chính phủ Malaysia xuất bản bản đồ gộp vào lãnh thổ Malaysia khu vực phía Nam Trường Sa, bao gồm đảo An Bang và Thuyền Chài, đã từng do quân đội Việt Nam Cộng Hòa đóng giữ. Từ năm 1983 – 1984, Malaysia cho quân chiếm đóng ba bãi ngầm ở phía Nam Trường Sa là Hoa Lau, Kiệu Ngựa, Kỳ Vân. Đến năm 1988, họ chiếm đóng thêm hai bãi ngầm nữa là Én Đất và Thám Hiểm. Đến nay, số điểm đóng quân của Malaysia là năm điểm, đều nằm ở phía Nam quần đảo Trường Sa, tất cả đều là các rạn san hô. Cụ thể là đá Én Ca, đá Hoa Lau, đá Kỳ Vân, đá Kiệu Ngựa, bãi Thám Hiểm.

Tiếp theo là Đài Loan. Đài Loan hiện đang chiếm đóng đảo Ba Bình, đây là hòn đảo lớn nhất của quần đảo Trường Sa và mở rộng thêm một bãi cạn, đá san hô.

Brunei tuy được coi là một bên tranh chấp liên quan đến khu vực quần đảo Trường Sa, nhưng trên thực tế Brunei chưa chiếm đóng một vị trí cụ thể nào. Yêu sách của họ là ranh giới vùng biển và thềm lục địa được thể hiện trên bản đồ có phần chồng lấn lên khu vực phía Nam Trường Sa.

Các bạn hãy cùng nhìn lại một lần nữa toàn cảnh thực trạng ở Trường Sa. Việt Nam hiện đang chiếm giữ 21 đảo, đá. Trung Quốc 7. Philippines 9. Malaysia 5. Đài Loan 1. Brunei không chiếm đảo nào. Như vậy, có tới sáu quốc gia và vùng lãnh thổ tuyên bố chủ quyền với quần đảo Trường Sa của Việt Nam.

Quay trở lại với câu chuyện của Trung Quốc ở quần đảo Trường Sa, những sự kiện điển hình vừa dẫn ở trên đã cho thấy ý đồ và những bước đi của nhà cầm quyền Trung Quốc trong nhiều thế kỷ qua đã diễn ra theo một logic đáng ngại cho hòa bình và công pháp quốc tế.

Nhưng không dừng ở đó, ngày 26/2/2011 và ngày 30/11/2012, tàu Trung Quốc đã vào đến tận khu vực thềm lục địa của Việt Nam và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, cắt cáp địa chấn, cáp thu tín hiệu của tàu Bình Minh 02 thuộc tập đoàn Petro Việt Nam.

Đến tháng 5/2014, Trung Quốc lại đưa giàn khoan khổng lồ Hải Dương 981. Cùng với đó là hàng chục máy bay chiến đấu, hàng trăm tàu quân sự vào thềm lục địa và đặc quyền kinh tế của Việt Nam.

Ngày 26/5/2014, tàu Trung Quốc số 11209 đã đâm chìm tàu cá DNA 90152 của ngư dân Đà Nẵng trong ngư trường truyền thống của Việt Nam, cách vị trí giàn khoan này 17 hải lý.

Tháng 6/2014, Trung Quốc tiếp tục đưa nhiều dàn khoan khác xuống biển Đông, trong đó có giàn khoan Nam Hải 09, đặt hạ ngay tại cửa vịnh Bắc Bộ, nơi đang được chờ phân định giữa Việt Nam và Trung Quốc. Thực chất, đây là một cuộc xâm lăng với tất cả các dấu hiệu vừa cổ điển, vừa chưa từng có trong tiền lệ. Cổ điển vì nó đã vượt biên giới, có vũ khí, hành động đơn phương với mưu đồ cưỡng chiếm, đánh thổ và thôn tính lâu dài. Nhưng lại chưa có tiền lệ vì sử dụng lãnh thổ di động, chưa nổ súng và có thể không nổ súng, nhưng vẫn có khả năng biến lãnh thổ quốc gia khác thành vùng tranh chấp rồi mới cưỡng đoạt.

Giấc Mơ Trung Hoa trên thực tế đã dần trút bỏ lớp lá nho che đậy nhưng cũng không kém phần trơ trẽn của nó. Những gì mà Trung Quốc đang làm khác xa với những gì mà Trung Quốc nói.

BDN

Loading

Views: 0

Những tiên đoán thú vị về năm 2024

942 câu thơ của bác sĩ chiêm tinh tiên tri người Pháp Nostradamus được cho là những dự đoán sự kiện xảy ra trong tương lai, nhiều người đã nhắc đến khi tiên đoán của ông về COVID-19 trở thành sự thật.

Những lời tiên tri của vị triết gia người Pháp Nostradamus đã được nhiều người tìm kiếm trong năm 2024 sau sự kiện động đất tại Nhật Bản hôm 1/1, kéo theo nguy cơ sóng thần.

Trước đó, trong văn bản Les Propheties’ năm 1955, nhà tiên tri từng cảnh báo: “Trái đất khô cằn sẽ trở nên khô cằn hơn và sẽ có những trận lụt lớn”. Đồng thời, ông dự đoán năm 2024, thế giới sẽ chứng kiến ​​một “nạn đói rất lớn do làn sóng sâu bệnh” ập đến.

Dưới đây là một số lời tiên tri có thể thành sự thật trong năm 2024:

Đối đầu với Trung Quốc

Trong một đoạn thơ, nhà tiên tri đã dự đoán: “Đối thủ Đỏ sẽ trở nên tái nhợt vì sợ hãi, khiến Đại dương vĩ đại phải khiếp sợ”. “Đối thủ Đỏ” được cho là ám chỉ Trung Quốc. Nhiều người cho rằng sự kiện được nhắc đến có thể là cuộc xung đột hải quân trong bối cảnh căng thẳng leo thang liên quan tới bán đảo Đài Loan. Tình hình này đã được nhiều quốc gia quan tâm và đang tìm cách hạ nhiệt căng thẳng.

Điều này có thể ứng với sự kiện Tổng thống Mỹ Joe Biden nỗ lực cải thiện quan hệ với Trung Quốc trong cuộc gặp Chủ tịch Tập Cận Bình vào tháng 11/2023. Trong buổi làm việc, hai nhà lãnh đạo đã thảo luận về nhiều vấn đề, bao gồm bán đảo Đài Loan, fentanyl và biến đổi khí hậu.

Tuy nhiên, ứng với dự đoán của Nostradamus, việc này chưa đủ để làm “tan băng” quan hệ.

Sự hỗn loạn trong Hoàng gia Anh

Tác giả người Anh và nhà bình luận Nostradamus Mario Reading trước đây từng nói về dự đoán của nhà chiêm tinh người Pháp về cái chết của Nữ hoàng Elizabeth II. Trong đó, nhà tiên tri Nostradamus từng nói rằng “Vua của quần đảo” bị “đuổi ra ngoài bằng vũ lực” và sau đó được thay thế bởi “một người không ngờ đến”.

Trong phân tích của ông Reading, lời tiên chi có thể ám chỉ Vua Charles III thoái vị do “các cuộc công kích liên tục vào cả ông và người vợ thứ hai”, và người thay thế ông có thể là con trai thứ Harry, chứ không phải Thái tử William – con trai cả của ông.

Thảm hoạ khí hậu

Với diễn biến khí hậu hiện nay, nhiều người tin rằng lời tiên tri của ông Nostradamus trong năm 2024 có thể thành hiện thực.

Cuộc khủng hoảng khí hậu đã bắt đầu với các vụ cháy rừng, lũ lụt và hạn hán ngày càng gia tăng trên toàn cầu trong những năm gần đây, đặc biệt là vào năm 2023.

Tuy nhiên, đáng nói, những hiện tượng này đã được ông tiên đoán từ nhiều thế kỷ trước. Trong đó, ông từng viết: “Đất khô sẽ ngày càng khô cằn và sẽ có các trận lũ lụt lớn”.

Nhà triên tri cũng cảnh báo những cơn bão sẽ dẫn đến nạn đói.

Trước đó, một vài lời tiên tri của Nostradamus được cho là chính xác khi so sánh với những gì xảy ra vào năm 2022 và 2023, bao gồm cuộc xung đột tại Ukraine khiến chi phí sinh hoạt tăng cao. Cụ thể, trong lời tiên tri từ nhiều thế kỷ trước, ông từng viết: “Giá lúa mì sẽ tăng cao đến mức người đàn ông phải ăn thịt đồng loại của mình”.

Kể từ tháng 2/2022, giá lúa mì thậm chí còn tăng lên mức cao hơn mức đã thấy sau cuộc khủng hoảng tài chính vào cuối những năm 2000 và hiện chỉ mới bắt đầu giảm trở lại mức trước xung đột.

Tuy có nhiều điểm được cho là tương đồng, nhưng những tiên đoán này vẫn chỉ mang tính tham khảo và không có nghĩa lúc nào cũng chính xác.

BDN

Loading

Views: 0

Mỹ điều tàu chiến tới tập trận “Hổ mang Vàng 2024” tại Thái Lan

Siêu tàu đổ bộ USS Somerset và “căn cứ viễn chinh di động” USS Miguel Keith của Mỹ với hơn 4.000 quân nhân sẽ được triển khai trong cuộc tập trận Hổ mang Vàng 2024 (Cobra Gold 2024) diễn ra tại Thái Lan từ ngày 26/2 đến ngày 8/3 tới đây.

Tổng Tham mưu trưởng Lực lượng Vũ trang Hoàng gia Thái Lan, Tướng Thitichai Tiantong cho biết hơn 4.000 binh sĩ của quân đội Mỹ sẽ nằm trong số 9.590 binh sĩ từ 30 quốc gia tham gia cuộc tập trận thường niên “Hổ mang Vàng 2024” tại Thái Lan.

Hai tàu đổ bộ của Mỹ là USS Miguel Keith và USS Somerset cũng sẽ tham gia diễn tập. Tàu USS Miguel Keith, thuộc lớp Lewis B Puller của Hải quân Mỹ trong khi tàu USS Somerset là siêu tàu vận tải đổ bộ thuộc lớp San Antonio.

Theo ông Kurtis A Leffler, Trưởng trưởng Nhóm Cố vấn quân sự chung của Mỹ tại Thái Lan, phía Mỹ năm nay sẽ tập trung nhiều hơn vào hoạt động tập trận đổ bộ.

Đại sứ quán Mỹ tại Thái Lan cũng cho biết trong khuôn khổ cuộc tập trận năm nay, lực lượng hải quân hai nước Thái Lan và Mỹ cũng sẽ phối hợp trục với xác tàu HTMS Sukhothai của Thái Lan đã bị chìm cách bờ biển Prachuap Khiri Khan của Thái Lan khoảng 35 km vào tháng 12/2022 sau khi gặp bão.

Binh sỹ từ 7 quốc gia gồm Thái Lan, Mỹ, Singapore, Nhật Bản, Indonesia, Hàn Quốc và Malaysia sẽ tham gia các hoạt động chính trong cuộc tập trận, trong khi Trung Quốc, Australia và Ấn Độ sẽ cử đoàn tham gia các hoạt động diễn tập cứu trợ nhân đạo và cứu trợ thiên tai.

10 quốc gia khác bao gồm Bangladesh, Canada, Pháp, Mông Cổ, Nepal, New Zealand, Philippines, Fiji, Anh và Brunei sẽ tham dự cuộc tập trận nhóm có tên gọi “Tăng cường lập kế hoạch đa quốc gia”. Trong khi đó, 10 quốc gia còn lại là Campuchia, Lào, Brazil, Pakistan, Việt Nam, Đức, Thụy Điển, Hy Lạp, Kuwait và Sri Lanka sẽ tham gia hoạt động diễn tập nhóm khác có tên gọi “Đội liên lạc quan sát viên tổng hợp.”

Bắt đầu tổ chức từ năm 1982, Hổ mang Vàng hiện là một trong những cuộc tập trận thường niên có quy mô lớn nhất và kéo dài nhất ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Cuộc tập trận được tổ chức nhằm tăng cường khả năng tương tác giữa quân đội Thái Lan và Mỹ cũng như lực lượng quân sự của các quốc gia trong khu vực.

BDN

Loading

Views: 0

Bàn về sự được – mất trong tranh chấp tại Biển Đông

Bước sang thế kỷ 21 thế giới đã thay đổi rất nhiều đã dẫn tới xu hướng mới của thời đại đó là, đối thoại thay cho đối đầu bằng những cuộc chiến đẫm máu. Nhìn vào gương nước Nga hiện nay, khi dùng vũ lực với Ukraine sẽ biết, dẫu có đánh được họ đi chăng nữa, thì cũng sẽ bị cả thế giới lên án cấm vận, khiến cho nền kinh tế và vị thế ngoại giao bị suy yếu đi rất nhiều.

Bản thân Việt Nam cũng ý thức được tầm quan trọng của ngoại giao đa phương. Chúng ta nâng cấp quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với những cường quốc hàng đầu thế giới như Nga, Mỹ, Trung Quốc, Ấn Độ và Hàn Quốc. Việc gia tăng ngoại giao đa phương giúp Việt Nam có thể tự chủ trong đường lối phát triển, tránh tình trạng trở thành chư hầu của bất kỳ một quốc gia nào và quan trọng hơn, là gắn chặt lợi ích của một số cường quốc vào lợi ích của Việt Nam. Điều này giúp cho Việt Nam giảm thiểu nguy cơ bị kéo vào một cuộc chiến tranh tổng lực bất đối xứng.

Từ ý trên, ta có thể rút ra rằng, trong vấn đề biển đảo hiện nay, chúng ta không thể dùng đơn thuần quân sự hay là cắt đứt quan hệ đối tác với đối thủ phương Bắc được. Phương pháp tốt nhất vẫn là vừa hợp tác vừa đấu tranh. Trong vấn đề đấu tranh ngoại giao nhất định phải luôn kiên trì, bền bỉ, không ngừng nghỉ. Chúng ta vẫn luôn lên tiếng phản đối, không bỏ qua bất kỳ một hành động nào, dù là nhỏ nhất của phía Trung Quốc nếu gây tổn hại tới lợi ích của ta. Trên biển Đông, ta cũng kiên quyết hỗ trợ và bảo vệ cho ngư dân bám biển.

Trong tình thế như hiện nay, chỉ cần ta bỏ qua, ta im lặng trước một số hành động của họ, thì dần dà chúng ta sẽ mất đi lợi ích vĩnh viễn. Thế nhưng, cũng cần phải thực tế, làm sao đừng để lợi bất cập hại. Cơ sở để giải quyết các tranh chấp ở Biển Đông là tranh thủ luật pháp quốc tế. Thế giới sẽ ủng hộ chúng ta, không chỉ vì ta mà còn vì lợi ích của chính họ. Chẳng ai muốn một Trung Quốc bành trướng rồi trở thành siêu cường và có thể tùy tiện áp đặt mọi sở thích cũng như tham vọng của họ lên toàn thế giới.

Năm 1956, khi Pháp buộc phải rút khỏi Việt Nam theo Hiệp định Genève 1954, trong bối cảnh ta chưa củng cố và quản lý tốt các vùng biển đảo, Trung Quốc đã tranh thủ chiếm cụm đảo phía đông quần đảo Hoàng Sa. Tới năm 1974, được sự thỏa hiệp của Mỹ, Trung Quốc đã khiêu khích, dẫn tới sự manh động nổ súng trước của quân Việt Nam Cộng hòa, rồi lấy cớ mạnh tay đánh chiếm toàn bộ Hoàng Sa. Đối với Trường Sa, chúng ta là nước đầu tiên làm chủ cả một vùng biển đảo rộng lớn, nhưng chúng ta cũng chỉ đóng giữ được một số đảo nổi.

Không chỉ Trung Quốc, năm 1971 Philippines, cũng đã lấn chiếm 5 đảo phía đông Trường Sa. Rồi tới năm 1973, họ lấn tiếp hai đảo ở phía bắc. Với Malaysia, năm 1979, họ đã chiếm được bảy đảo của phía nam Trường Sa. Đặc biệt, năm 1988, nhân cuộc chiến tranh biên giới phía Tây Nam, ta đang tập trung vào việc rút quân khỏi Campuchia, Trung Quốc đã tranh thủ đánh chiếm thêm 7 bãi đá ngầm ở Trường Sa. Bắt đầu là bãi đá Chữ Thập, mà ngày nay họ đã cải tạo thành một pháo đài.

Như vậy, hậu quả của các cuộc xung khắc thực là tai hại nhất là khi có các nước lớn sát vách như Trung Quốc. Họ luôn tranh thủ cơ hội để xâm lấn đất của ta. Rồi dù có bình thường hóa trở lại thì việc đòi lại những gì đã mất là rất khó. Nhất là những vùng hải đảo xa xôi, họ hoàn toàn có thể bịa ra căn cứ pháp lý chủ quyền như hiện nay mọi người vẫn thấy về cái “đường lưỡi bò”.

Việt Nam có sợ Trung Quốc không?

Câu trả lời đương nhiên là không! Chúng ta đã chiến đấu với họ cả nghìn năm nay và chưa bao giờ chúng ta chịu khuất phục họ hoàn toàn. Thế nhưng, với tương quan tiềm lực hiện nay giữa hai nước, nếu phải bước vào một cuộc chiến, dù là tổng thể hay xé lẻ ra là điều nên tránh. Chắc tất cả chúng ta đều chưa quên cuộc chiến 10 năm dài đằng đẵng ở biên giới phía Bắc đã khiến đất nước khó khăn thế nào.

Mặc dù, tháng 3/1979, Trung Quốc đã rút hết quân khỏi lãnh thổ Việt Nam, thế nhưng tiếng súng tại mặt trận biên giới vẫn chưa hề ngưng trong 10 năm tiếp theo. Việt Nam phải căng mình trên hai mặt trận là Campuchia và biên giới phía bắc, phải tiêu tốn nhân lực, vật lực vô cùng cho quân đội. Phải duy trì một đội quân khổng lồ và chịu nhiều thiệt hại to lớn về kinh tế trong suốt 10 năm trời đen tối.

Vì lẽ đó, mục tiêu duy trì sự ổn định, hòa bình trong khu vực là yếu tố tiên quyết trong cuộc chiến này. Đứng từ góc nhìn của Việt Nam, càng bất ổn, càng xung đột, nước yếu hơn sẽ càng thiệt hại so với nước lớn.

Với bộ máy tuyên truyền khổng lồ và đồ sộ, bất cứ một hành động thiếu cẩn trọng nào của phía Việt Nam cũng sẽ trở thành một sơ hở để Trung Quốc khai thác triệt để. Chính vì vậy, việc những thế lực chống phá hải ngoại thường xuyên kích động, chửi bới rồi chê bai chính quyền trong nước cũng chỉ nhằm một mục đích là kích động tâm lý của người dân, hướng tới những cục diện hỗn loạn hơn là đúng với ý đồ của phía Trung Quốc.

Chúng ta liên tục và thường xuyên phản đối cấp quốc gia và quốc tế đối với những tuyên bố của Trung Quốc và những hành động hành xử chủ quyền, hợp tác khai thác tài nguyên trong vùng tranh chấp. Chúng ta liên tục, thường xuyên công khai và chính thức khẳng định chủ quyền lãnh thổ mà Trung Quốc cũng tuyên bố. Chúng ta bác bỏ những tuyên bố chính thức của phía Trung Quốc. Chúng ta cũng liên tục nâng cấp vũ khí, liên tục hiện đại hóa hải quân, không quân, liên tục mua sắm mới và tự chủ sản xuất mới trong khi đang có tranh chấp biển đảo với Trung Quốc. Chúng ta cũng nhiều lần tập trận bắn đạn thật, phóng tên lửa thật ở Trường Sa trên vùng biển Đông, ngay cả trên những vùng Trung Quốc coi là chủ quyền của họ và tuyên bố chủ quyền.

Việt Nam công khai và chính thức, quang minh chính đại làm những hành động trực tiếp như trên khiến cả thế giới biết Việt Nam đang có tranh chấp bất đồng về biển đảo, lãnh hải, lãnh thổ với Trung Quốc. Việt Nam luôn đặt chủ quyền lên trên hết.

Tất cả những gì liên quan tới chủ quyền lãnh thổ Việt Nam đều đã làm những gì có thể làm, những gì trong khả năng thực tế mà thế và lực của Việt Nam hiện nay có thể làm.

Năm 1988, trong chiến dịch CQ 88 ở Trường Sa, chúng ta không thể để leo thang chiến tranh thành một chiến quy mô lớn trên biển. Trong tất cả những hành động đó, có thể thấy rõ ràng xưa nay Việt Nam luôn đặt chủ quyền lên trên hết. Vì chủ quyền, khi cần đánh, chúng ta vẫn đánh, ta không hy sinh chủ quyền chỉ vì muốn hòa bình. Ta không dùng chủ quyền để đánh đổi hòa bình phụ thuộc.

Những năm tháng chống Trung Quốc thời gian 1979 – 1989 đã cho chúng ta thấy rất rõ sự nhất quán. Chúng ta vừa đánh để bảo vệ chủ quyền, vừa tìm cách giữ cho nó trong sự kiểm soát, không để bất kỳ một thế lực nào thứ ba lợi dụng, khoét sâu, kích động làm leo thang cuộc chiến này. Cố gắng vãn hồi hòa bình, cố gắng tránh xung đột quy mô lớn. Người làm chính trị luôn lo tới cái lợi lớn của đất nước, cái tổng thể, cái chung nhất, cái lâu dài, cái bền vững. Không thể để những tiểu tiết làm hư đại sự, không vì muốn thỏa mãn những cảm tính, những tự ái nhất thời mà làm hỏng đại cuộc.

Đồng thời, không để thế lực thứ ba nào đó lợi dụng tình hình căng thẳng để mà trục lợi. Thử hỏi rằng, nếu Việt Nam chuyển sang chống Trung Quốc giống như giai đoạn 1979 – 1989, thì liệu rằng những con người đó có trở về nước, có chung tay với đất nước, chính quyền mà chống Trung Quốc hay không? Câu trả lời rõ ràng là không. Trái lại, họ sẽ lại càng lợi dụng mà phá thêm, thậm chí có thể là mong muốn Trung Quốc chiến thắng. Như họ đã từng mong muốn rằng Trung cộng đánh thẳng vào Hà Nội mà giết sạch Việt cộng đi như năm 1979, Fulro và những nhóm khủng bố tiền thân của Việt Tân, mà điển hình nhất là cái tên Hoàng Cơ Minh, đã từng nhân cơ hội chiến tranh mà đục nước béo cò, thừa nước đục thả câu, rồi thừa cơ đánh phá vào trong nước, đem tiền giả, chất cấm, súng đạn vào tấn công trong nước. Những kinh nghiệm lịch sử vẫn còn rành rành. Mối quan hệ phức tạp Việt – Trung chính là một trong những chiêu bài để họ nắm lấy, khai thác và lợi dụng để thực hiện mục đích tối hậu đó, vì lợi ích riêng của chính bản thân họ, bất chấp lợi ích chung của đất nước và dân tộc.

Người làm chính trị có thực tâm và thực tài là những người biết phân biệt giữa cái lợi của một người, cái lợi của một nhóm người và cái lợi tổng thể của tất cả dân tộc, đất nước. Chủ quyền cũng như hòa bình chính là cái lợi lớn đó. Lãnh đạo có tài và có tâm phải luôn biết đặt nặng và coi trọng vào cái lợi lớn, vào cái lợi chung của tất cả.

BDN

Loading

Views: 0

TQ âm thầm thay loạt tướng cấp cao: “Bão ngầm” – điểm nóng trong kế hoạch lớn của ông Tập

Đài CNN (Mỹ) cho rằng, trung tâm của đợt cải tổ mới nhất là lực lượng tên lửa của quân đội Trung Quốc.

Loạt tướng lĩnh Trung Quốc mất chức
Theo CNN, trong phần lớn thời gian của năm 2023, một “cơn bão” đã âm thầm diễn ra tại Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA): Nhiều tướng lĩnh quyền lực lần lượt bị bãi miễn các chức vụ mà không có lý do được công bố, bao gồm Bộ trưởng Quốc phòng.

Dấu hiệu rõ ràng diễn ra vào thứ Sáu (5/1), khi Tân Hoa Xã thông báo, Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc (tức Quốc hội) Trung Quốc chính thức bãi nhiệm tư cách đại biểu đối với 9 sĩ quan cấp cao của PLA.

Giới chuyên gia chuyên nghiên cứu về quân đội Trung Quốc chỉ ra, nguyên nhân của đợt bãi miễn trên có thể liên quan đến vấn đề tham nhũng: Có thể là do việc mua sắm và phát triển các thiết bị tiên tiến vốn là yếu tố then chốt trong nỗ lực của Chủ tịch Tập Cận Bình nhằm hiện đại hóa PLA và đưa PLA thành một lực lượng chiến đấu đẳng cấp thế giới.

CNN cho rằng, trung tâm của đợt cải tổ mới nhất là lực lượng tên lửa của PLA, quân chủng được thành lập để giám sát kho vũ khí tên lửa hạt nhân và đạn đạo đang mở rộng nhanh chóng của Trung Quốc.

Chủ tịch Tập Cận Bình đã mô tả lực lượng này là “cốt lõi của răn đe chiến lược, là trụ cột chiến lược cho vị thế cường quốc của đất nước và là nền tảng để xây dựng an ninh quốc gia”.

James Char, nhà nghiên cứu và theo dõi PLA lâu năm tại Trường Nghiên cứu Quốc tế S. Rajaratnam ở Singapore, cho biết: “Ngay bây giờ, ông Tập Cận Bình và ban lãnh đạo cấp cao của Trung Quốc đã thấy rõ ràng rằng đội ngũ chỉ huy lực lượng tên lửa đã bị tổn hại”.

Char nói: “Nếu điều này tiếp tục diễn ra trong thời gian dài, nó chắc chắn sẽ có tác động tiêu cực đến khả năng chiến đấu tổng thể của PLA”.

Điểm nóng trong nỗ lực cải tổ PLA
Trong số 9 quan chức PLA bị bãi nhiệm tư cách đại biểu, thì 5 quan chức có liên quan đến lực lượng tên lửa.

Đáng chú ý nhất là tướng Lý Ngọc Siêu, người đột ngột bị thay thế chức tư lệnh vào tháng 7/2023 cùng với chính ủy. Người tiền nhiệm của Lý và hai cựu phó chỉ huy cũng có tên trong danh sách, đồng thời là một quan chức phụ trách mua sắm thiết bị của lực lượng.

Ba nhân vật bị bãi nhiệm tư cách đại biểu khác cũng tham gia mua sắm vũ khí – hai người đến từ Cục Phát triển Thiết bị của PLA, trong khi người còn lại giám sát thiết bị cho Hạm đội Nam Hải của Hải quân PLA trước khi trở thành chỉ huy lực lượng này.

Vị tướng còn lại bị bãi nhiệm là cựu Tư lệnh Không quân PLA.

Char nói: “Bằng sự liên kết của chín nhân sự này… chúng ta ít nhiều có thể đoán được rằng tham nhũng là nguyên nhân chính đằng sau…”.

Việc bãi nhiệm 9 nhân sự này diễn ra chỉ hai ngày sau khi ba giám đốc điều hành hàng không vũ trụ của tổ hợp công nghiệp quân sự Trung Quốc bị tước bỏ vai trò trong cơ quan cố vấn chính trị hàng đầu.

Một số nhà phân tích cho rằng, động thái này là một dấu hiệu nữa cho thấy cuộc điều tra tham nhũng trong hoạt động mua sắm quân sự của lực lượng tên lửa – một lĩnh vực cực kỳ bí mật và sinh lợi với số tiền lên tới hàng tỷ USD.

“Kể từ năm 2016, lực lượng tên lửa của PLA đã đầu tư rất nhiều thiết bị đắt tiền”, ông Char nói, đề cập thời điểm ông Tập Cận Bình bắt đầu tiến hành cải cách quân đội trên diện rộng.

Trong vài năm qua, các bức ảnh vệ tinh đã cho thấy việc xây dựng hàng trăm hầm chứa tên lửa đạn đạo liên lục địa trên sa mạc Trung Quốc và Bộ Quốc phòng Mỹ dự đoán Trung Quốc có thể có khoảng 1.500 đầu đạn hạt nhân vào năm 2035 nếu nước này tiếp tục mở rộng kho dự trữ với tốc độ cấp số nhân hiện nay.

Ý nghĩa trong chiến đấu
Theo cựu Giám đốc bộ phận điều hành của Trung tâm tình báo hỗn hợp – Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương của hải quân Mỹ Carl O.Schuster, lực lượng tên lửa sẽ đóng vai trò then chốt trong bất kỳ cuộc xung đột nào liên quan đến vấn đề Đài Loan (Trung Quốc) hoặc Biển Đông – hai điểm nóng tiềm tàng giữa Mỹ và Trung Quốc – bằng cách dẫn đầu các cuộc tấn công đầu tiên của PLA.

Do tầm quan trọng chiến lược của quân chủng này, câu hỏi quan trọng là vụ việc vừa qua có ảnh hưởng đến hoạt động hoặc khả năng sẵn sàng chiến đấu của lực lượng này hay không.

Schuster cho rằng, đến nay, Trung Quốc vẫn chưa thực hiện bất kỳ thay đổi nào đối với các vị trí chỉ huy và nhân viên cấp tác chiến.

“Các lãnh đạo cấp cao đã tham gia vào việc phát triển lực lượng nhưng hiện tại chưa thể tham gia vào các hoạt động và lập kế hoạch”, chuyên gia Mỹ nói rằng, dù vậy xét về tổng thể, “khả năng chiến đấu của PLA khó có thể bị tổn hại ở bất kỳ mức độ đáng kể nào”.

Là một phần trong cải cách quân sự của Chủ tịch Tập Cận Bình, “các tài sản của lực lượng tên lửa thực tế ngày càng được tích hợp nhiều hơn vào hệ thống chỉ huy chung trên chiến trường của PLA. Vì vậy, điều này có nghĩa là khả năng tiến hành các cuộc tấn công tên lửa của PLA chỉ là một phần của các hoạt động chung lớn hơn, sẽ khó có thể bị tổn hại” – ông Schuster nhấn mạnh.

Các chuyên gia cho rằng, về lâu dài, Chủ tịch Trung Quốc sẽ cần làm trong sạch bộ máy của PLA, đặc biệt là các đơn vị liên quan đến hệ thống vũ khí của nước này, trong bối cảnh căng thẳng địa chính trị gia tăng.

Chuyên gia Char nói: “Việc chống tham nhũng rất quan trọng vì trong tương lai, ông [Tập Cận Bình] muốn đảm bảo lực lượng tên lửa PLA sở hữu các thiết bị sát thương hoạt động hiệu quả trên chiến trường”.

BDN

Loading

Views: 0

Tàu hải cảnh TQ yêu cầu máy bay quân sự Nhật rời khỏi không phận đảo tranh chấp

Kyodo News ngày 3.2 loan tin tàu hải cảnh Trung Quốc trong tháng trước bắt đầu đưa ra cảnh báo yêu cầu máy bay của Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản (SDF) rời khỏi không phận trên và xung quanh quần đảo tranh chấp Senkaku/Điếu Ngư.

Kyodo News dẫn một số nguồn thạo tin cho hay cảnh báo qua liên lạc vô tuyến nói trên dựa trên tuyên bố của Bắc Kinh rằng máy bay SDF có thể vi phạm không phận lãnh thổ của Trung Quốc xung quanh quần đảo Senkaku/Điếu Ngư và đã được đưa ra nhiều lần kể từ tháng 1.

Cũng theo các nguồn tin, Tokyo đã bác bỏ tuyên bố nói trên và nói với Bắc Kinh thông qua các kênh ngoại giao rằng những cảnh báo như thế là “hoàn toàn không thể chấp nhận được”.

Tokyo không công bố động thái mới của Bắc Kinh trong nỗ lực dường như không muốn làm tổn hại thêm quan hệ song phương, theo Kyodo News. Hiện chưa có thông tin về phản ứng của Trung Quốc.

Các nguồn tin còn nói rằng trong số các tàu hải cảnh Trung Quốc đưa ra cảnh báo cho máy bay SDF khi đi vào vùng tiếp giáp bên ngoài vùng biển Nhật xem là lãnh hải có một tàu được trang bị pháo 76 mm với tầm bắn khoảng 12 km.

Trước đây, các tàu quân sự Trung Quốc đã yêu cầu máy bay thuộc Lực lượng Phòng vệ biển của Nhật rời khỏi không phận gần quần đảo Senkaku/Điếu Ngư. Một quan chức chính phủ Nhật khẳng định đây là lần đầu tiên các tàu hải cảnh thường xuyên đi quanh Senkaku/Điếu Ngư đưa ra cảnh báo đối với các máy bay SDF trong “không phận chủ quyền Nhật”.

Việc đưa ra cảnh báo có thể mới được bổ sung vào nhiệm vụ của Lực lượng Hải cảnh Trung Quốc, lực lượng thường xuyên cử tàu tới vùng biển gần Senkaku/Điếu Ngư và truy đuổi các tàu đánh cá Nhật trong vùng biển khu vực, theo Kyodo News.

Trước đó, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình đã kêu gọi củng cố yêu sách chủ quyền của Bắc Kinh đối với quần đảo Senkaku/Điếu Ngư trong chuyến thăm hiếm hoi tới văn phòng chỉ huy khu vực biển Hoa Đông của Lực lượng Hải cảnh Trung Quốc ở Thượng Hải vào ngày 29.11.2023, theo Kyodo News.

Trong chuyến thăm ngày 29.11, ông Tập nhấn mạnh Bắc Kinh cần phải “không ngừng tăng cường” các nỗ lực bảo vệ chủ quyền về quần đảo Senkaku/Điếu Ngư, theo Kyodo News dẫn các nguồn tin thạo tin.

Lực lượng Hải cảnh Trung Quốc sau đó được cho là đã soạn thảo kế hoạch duy trì sự hiện diện của các tàu hải cảnh gần quần đảo Senkaku/Điếu Ngư hằng ngày trong năm 2024 và tiến hành kiểm tra các tàu đánh bắt cá của Nhật trong khu vực, nếu cần thiết.

BDN

Loading

Views: 0

TQ phóng thành công tên lửa Jielong-3

Ngày 3/2, Trung Quốc phóng thành công Jielong-3, tên lửa đẩy loại nhỏ nhưng có khả năng mang tải trọng lớn với chi phí cạnh tranh.

Theo China News, Jielong-3 được Trung tâm Phóng Vệ tinh Thái Nguyên phóng ngoài khơi vùng biển Dương Giang (thuộc tỉnh Quảng Đông, miền nam Trung Quốc), để đưa 9 vệ tinh vào quỹ đạo. Đây là lần phóng thứ ba của Jielong-3, sau lần đầu tiên vào tháng 12/2022 và lần thứ 2 cách đây một tháng.

Tên lửa đẩy Jielong-3 được Tập đoàn Khoa học công nghệ hàng không vũ trụ Trung Quốc (CASC) phát triển, có khả năng mang trọng tải 1.500kg vào quỹ đạo 500km, và có thể phóng từ trên biển hoặc mặt đất.

CASC từng tuyên bố rằng Jielong-3 có thể mang theo hơn 20 vệ tinh với chi phí phóng dưới 10.000 USD/kg, một mức giá cạnh tranh trên toàn cầu trong phân khúc tên lửa hạng nhỏ.

Theo Reuters, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã kêu gọi mở rộng các ngành công nghiệp chiến lược, bao gồm cả lĩnh vực không gian thương mại, coi đây là chìa khóa để xây dựng các “chòm sao vệ tinh” phục vụ liên lạc, cảm biến từ xa và định vị.

Đóng vai trò then chốt trong việc xây dựng mạng lưới vệ tinh thương mại của Trung Quốc là khả năng mở rộng hệ thống phóng, đa dạng hóa các loại tên lửa để phù hợp với kích cỡ hàng hóa khác nhau, giảm chi phí phóng và tăng số lượng địa điểm phóng vệ tinh, bao gồm cả việc xây dựng thêm cảng vũ trụ và sử dụng tàu phóng trên biển.

Ngoài CASC, lĩnh vực phóng vệ tinh thương mại của Trung Quốc còn có sự tham gia của nhiều công ty khác như Công ty Năng lượng Thiên hà (Galactic Energy). Tên lửa Ceres-1 của công ty này thực hiện chuyến bay đầu tiên vào tháng 11/2020. Điểm nổi bật của Ceres-1 là khả năng mang theo trọng tải 300kg lên quỹ đạo 500km.

Công ty Năng lượng Thiên hà đã thực hiện 7 vụ phóng Ceres-1 trong năm 2023, so với 4 vụ trong giai đoạn năm 2020 – 2022.

Trong cuộc đua không gian thương mại của Trung Quốc, không thể không nhắc đến Landspace. Năm 2023, công ty này đã ghi dấu lịch sử với tên lửa Zhuque-2, thực hiện thành công vụ phóng vệ tinh đầu tiên trên thế giới sử dụng nhiên liệu khí metan và oxy hóa lỏng. Đây được coi là một bước đột phá trong việc sử dụng nhiên liệu giá rẻ cho tên lửa ở Trung Quốc.

Với thị trường tên lửa cỡ lớn, Orienspace được thành lập từ năm 2020, đã thực hiện một bước đột phá vào tháng 1 năm nay với vụ phóng tên lửa Gravity-1 từ con tàu ngoài khơi tỉnh Sơn Đông (phía đông Trung Quốc).

Gravity-1 có khả năng đưa trọng tải lên tới 6.500kg lên quỹ đạo Trái Đất thấp, trở thành phương tiện phóng mạnh mẽ nhất do một doanh nghiệp tư nhân Trung Quốc phát triển.

Tên lửa hạng nhỏ có thể mang trọng tải 2.000kg, phù hợp với các vệ tinh nhỏ và siêu nhỏ. Trong khi tên lửa hạng trung có thể mang trọng tải 20.000kg, phù hợp với các vệ tinh quan sát Trái Đất, viễn thông và các nhiệm vụ khoa học.

Cuối cùng là tên lửa hạng nặng có thể mang trọng tải hơn 20.000kg, thường được sử dụng cho các sứ mệnh liên hành tinh, lắp đặt trạm vũ trụ và phóng các vệ tinh lớn. Tên lửa Falcon do SpaceX phát triển có sức trở 64.000kg lên quỹ đạo.

BDN

Loading

Views: 0

30 năm Mỹ bỏ cấm vận – Từ cựu thù trở thành đối tác chiến lược toàn diện

Ngày 3/2 năm nay là kỷ niệm 30 năm ngày Tổng thống Mỹ Bill Clinton tuyên bố bãi bỏ lệnh cấm vận đối với Việt Nam, mở đường cho tiến trình bình thường hóa quan hệ hai nước, đưa hai cựu thù xích lại gần nhau, trở thành đối tác chiến lược toàn diện.

Nỗ lực ra khỏi “cấm vận”

Sau khi chiến tranh Việt Nam kết thúc, tháng 5/1975, Tổng thống Gerald R. Ford đã ký lệnh áp đặt cấm vận thương mại với Việt Nam. Dẫu có những nỗ lực ngoại giao từ hai phía để thay đổi tình hình, lệnh cấm vận cuối cũng đã kéo dài gần 20 năm vì nhiều lý do khác nhau.

Đại hội lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức vào năm 1986 đã đặt nền móng cho quá trình đổi mới tư duy nói chung và trong lĩnh vực đối ngoại nói riêng. Báo cáo Chính trị của Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam nêu rõ quan điểm Việt Nam muốn mở rộng quan hệ với các tổ chức quốc tế; mở rộng quan hệ với tất cả các nước trên nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình. Riêng đối với Mỹ, Việt Nam sẽ “tiếp tục bàn bạc để giải quyết các vấn đề nhân đạo do cuộc chiến tranh để lại và sẵn sàng cải thiện quan hệ song phương vì lợi ích, hòa bình, ổn định ở Đông Nam Á”.

Sau khi Hiệp ước Paris chấm dứt chiến tranh Campuchia được ký kết năm 1991, bang giao giữa Việt Nam và các nước trong Cộng đồng các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) chuyển dần sang đối thoại, hợp tác. Sự cải thiện quan hệ trong nội bộ ASEAN đã giúp cải thiện quan hệ của Việt Nam với thế giới nói chung, đặc biệt là với Mỹ.

Từ năm 1991, Mỹ nới lỏng dần lệnh cấm vận đối với Việt Nam, mở đường cho tiến trình bình thường hóa quan hệ hai nước.

Ngày 29/9/1990, Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Nguyễn Cơ Thạch đã có cuộc gặp với Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ James Baker tại Washington. Cuộc gặp này đã mở ra các cuộc gặp, làm việc, đàm phán quan trọng trong những năm tiếp theo.

Tháng 6/1991, Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức Đại hội toàn quốc lần thứ VII, đề ra đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế. Đại hội lần thứ VII đã xác định bình thường hóa quan hệ với Mỹ là một chủ trương đối ngoại quan trọng, đáp ứng nguyện vọng của đông đảo nhân dân hai nước, có lợi cho hoà bình, ổn định và phát triển ở khu vực.

Trong năm 1992, Việt Nam và Mỹ đã có nhiều cuộc tiếp xúc để thảo luận về vấn đề tìm kiếm quân nhân Mỹ mất tích trong chiến tranh Việt Nam. Trong ba ngày từ 17- 19/10/1992, phái đoàn của J. Vessey, đặc phái viên của Tổng thống Mỹ, đến Hà Nội nhằm thảo luận về các biện pháp tăng cường hợp tác việc tìm kiếm các quân nhân Mỹ bị mất tích trong chiến tranh Việt Nam.

Việc xử lý khối tài sản của Việt Nam bị Mỹ tịch thu và tài sản của Mỹ bị Việt Nam tịch thu cũng được tiến hành trong giai đoạn này. Sau khi chiến tranh kết thúc, chính quyền Mỹ trình Quốc hội một nghị định để tất cả những công dân Mỹ có tài sản bị mất mát, bị tịch thu ở Việt Nam trước 30/4/1975 làm tờ khai, sau đó tổng hợp lại để thương lượng với Việt Nam.

Năm 1989, Hội đồng Thương mại Mỹ – Việt Nam (USVTC), trực thuộc Trung tâm Quốc tế tại Washington D.C đã được thành lập. USVTC luôn đi đầu trong các nỗ lực vận động dư luận, chính phủ và quốc hội Mỹ dỡ bỏ cấm vận, tiến đến bình thường hoá với Việt Nam.

Tháng 11/1992, Tổng thống George H. W. Bush lần đầu tiên gửi thư cho Chủ tịch nước Việt Nam Lê Đức Anh qua đặc phái viên J. Vessey về quan hệ ngoại giao song phương. Ngày 14/12/1992, Tổng thống Mỹ Bush tuyên bố bãi bỏ một phần lệnh cấm vận đối với Việt Nam.

Đầu năm 1993, ông Bill Clinton được bầu làm Tổng thống. Là người từng chống việc Mỹ tham chiến ở Việt Nam, Tổng thống Bill Clinton đã tích cực thúc đẩy tiến trình bình thường hóa quan hệ giữa hai nước.

Hàng loạt vấn đề vướng mắc, trở ngại đã lần lượt được giải quyết để đến ngày 3/2/1994, Tổng thống Bill Clinton đã tuyên bố bãi bỏ lệnh cấm vận đối với Việt Nam.

Mở ra dòng chảy đầu tư, thương mại

Sau khi bỏ cấm vận, Bộ thương mại Mỹ cũng đã chuyển Việt Nam từ nhóm Z, tức nhóm bị hạn chế thương mại gồm Bắc Triều Tiên, Cuba, Việt Nam, lên nhóm Y là nhóm ít bị hạn chế thương mại hơn, gồm Liên Xô và các nước thuộc khối Vacsava cũ như Albania, Mông Cổ, Lào, Campuchia…

Ngày 26/6/1994, Mỹ và Việt Nam đã nhất trí trao đổi các văn phòng đại diện liên lạc nhằm cụ thể hóa việc thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức giữa hai nước. Và ngày 11/7/1995, Tổng thống Bill Clinton đã công bố “bình thường hóa quan hệ” với Việt Nam, đánh dấu trang mới trong lịch sử quan hệ ngoại giao của hai nước. Trong bài phát biểu của mình, Tổng thống Bill Clinton nhấn mạnh “bước đi này cũng sẽ giúp đất nước chúng ta tiến lên phía trước về một vấn đề chia rẽ người Mỹ với nhau quá lâu rồi”.

Tiếp đó, ngày 6/8/1995, Ngoại trưởng Warren Christopher thăm Hà Nội và chính thức mở Đại sứ quán Mỹ tại Việt Nam, đồng thời Việt Nam cũng mở Đại sứ quán tại Washington D.C.

Ngay khi lệnh cấm vận vẫn còn hiệu lực, ngày 30/10/1985, một đoàn 30 doanh nghiệp Mỹ thuộc các ngành sản xuất xe hơi, máy bay, chế tạo máy, điện lực, điện thoại, du lịch đến thăm Hà Nội. Trong chuyến thăm này, các doanh nghiệp Mỹ đã được Thủ tướng Phạm Văn Đồng tiếp đón.

Luật Đầu tư nước ngoài 1987 đã khiến cho dòng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam liên tục gia tăng cuối thập niên 1980, đầu thập niên 1990. Trong bối cảnh đó, một số công ty của Mỹ cũng bắt đầu muốn đầu tư vào Việt Nam.

Năm 1989, các công ty Mỹ như General Electric, IBM, Boeing, Ford… thông qua các hình thức khác nhau đã đến Việt Nam tìm cơ hội đầu tư. Tháng 11/1991, Mỹ bắt đầu cho phép các doanh nghiệp tổ chức đoàn đi Việt Nam, trong đó một số doanh nghiệp bắt đầu đặt văn phòng đại diện để chuẩn bị cho hoạt động đầu tư.

Đến tháng 12/1992, Văn phòng kiểm soát tài sản nước ngoài của Mỹ đã cấp tổng cộng 160 giấy phép cho các công ty Mỹ để hoạt động tại Việt Nam. Trong số này, 27 công ty đã có hoạt động thực sự, và 18/27 công ty này đã được Bộ Thương mại Việt Nam cấp giấy phép mở Văn phòng đại diện.

Trong khi đầu tư trực tiếp (FDI) của Mỹ vào Việt Nam từ 1988 đến 1993, khi lệnh cấm vận chưa được dỡ bỏ, chỉ đạt 3,3 triệu USD, thì chỉ sau năm đầu tiên lệnh cấm vận được dỡ bỏ (1994), con số này đạt trên 266 triệu USD, tức trên 80 lần của toàn bộ 6 năm trước.

Như vậy, sau hơn một năm bỏ cấm vận, Mỹ đã chuyển từ vị trí thứ 11 (1994) lên vị trí thứ 8 trong tổng số trên 50 quốc gia, vùng lãnh thổ có vốn đầu tư FDI vào Việt Nam. Nếu chỉ tính riêng năm 1995 thì Mỹ đã chuyển lên vị trí thứ 6, chỉ sau Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc, Singapore và Thụy Điển.

Điều quan trọng hơn là sau khi Mỹ dỡ bỏ lệnh cấm vận, các nhà đầu từ các quốc gia khác đã yên tâm đầu tư vào Việt Nam.

Với các diễn biến quan trọng sau đó như việc hai nước ký kết Hiệp định thương mại Việt Nam – Mỹ vào năm 2000, Việt Nam gia nhập WTO năm 2007 sau nhiều năm đàm phán, chủ yếu với Mỹ, dòng vốn đầu tư của Mỹ vào Việt Nam đã có sự gia tăng rất đáng kể, mặc dù vẫn chưa xứng với tiềm năng.

Theo thống kê của Bộ Kế hoạch và đầu tư, tính đến cuối năm 2022, Mỹ đang đứng thứ 11 trên tổng số 143 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam với tổng vốn đăng ký FDI còn hiệu lực tính đến tháng 10/2023 là 11,8 tỷ USD và 1.306 dự án.

Tuy nhiên trong khi quan hệ đầu tư còn khiêm tốn, quan hệ thương mại đã có sự tăng trưởng rất nhanh chóng. Năm 2021, xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và Mỹ đạt 111,56 tỷ USD, tăng gần 21 tỷ USD so với mốc 90,8 tỷ USD trong năm 2020. Trong lịch sử ngoại thương của Việt Nam, Mỹ là đối tác thương mại thứ hai đạt được mốc 100 tỷ USD kim ngạch xuất nhập khẩu (sau Trung Quốc).

Nhân chuyến thăm Việt Nam vào năm 2023 của Tổng thống Mỹ Joe Biden, hai nước đã tuyên bố nâng cấp quan hệ lên đối tác chiến lược toàn diện, mở ra nhiều cơ hội hợp tác quan trọng trong tương lai. Sau 30 năm thoát khỏi lệnh cấm vận, Việt Nam giờ đây đang dần trở thành một đối tác kinh tế quan trọng của Mỹ.

BDN

Loading

Views: 0

Gửi thông điệp răn đe TQ – Mỹ điều động 3 tàu sân bay đến châu Á

Quân đội Mỹ đã tăng gấp đôi nỗ lực răn đe Trung Quốc và CHDCND Triều Tiên bằng cách triển khai ba tàu sân bay tới Tây Thái Bình Dương, theo tờ Nikkei Asia hôm 1.2.

Hải quân Mỹ đã cho phép phóng viên từ một số cơ quan truyền thông, trong đó có cả Nikkei Asia, lên tàu sân bay USS Carl Vinson khi tàu này tham gia cuộc tập trận với Nhật Bản ở biển Philippines ngày 31.1.

Tàu USS Carl Vinson đi theo đội hình cùng với một tàu sân bay khác của Mỹ là USS Theodore Roosevelt và tàu khu trục trực thăng JS Ise của Nhật. Tham gia cuộc tập trận còn có 9 tàu khác, theo tuyên bố từ Lực lượng Phòng vệ biển của Nhật Bản.

Ngoài ra, tàu sân bay USS Ronald Reagan, tàu sân bay tiền phương duy nhất của Mỹ đóng tại Yokosuka ở Nhật, hiện đang ở cảng nhà, nghĩa là ba trong số 11 tàu sân bay của Mỹ đang ở Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương. Đây dường như là lần đầu tiên sau hai năm, 3 tàu sân bay Mỹ được bố trí gần cái gọi là chuỗi đảo thứ nhất, nối liền đảo Okinawa của Nhật và Đài Loan với Philippines, theo Viện Hải quân Mỹ.

Theo một quan chức Hải quân Mỹ, một tàu do thám thuộc hải quân Trung Quốc đã bị phát hiện cách tàu sân bay USS Carl Vinson từ 8 đến 16 km. Tàu Trung Quốc này bị nghi là đang thu thập thông tin tình báo về khả năng và hoạt động của Mỹ và Nhật Bản trong cuộc tập trận nói trên, theo Nikkei Asia.

Chuẩn Đô đốc Christopher Alexander, chỉ huy nhóm tác chiến tàu sân bay USS Theodore Roosevelt, khẳng định “việc tàu [hải quân Trung Quốc] đến đây cùng chúng tôi không khiến chúng tôi lo ngại”. Ông nhấn mạnh: “Vào lúc này, chúng tôi ở đây để tăng cường mối quan hệ với các đồng minh và đối tác của mình, đồng thời để thể hiện rằng chúng tôi có thể ứng phó với bất kỳ cuộc khủng hoảng hoặc tình huống bất ngờ nào đang xảy ra ở Tây Thái Bình Dương”.

Trước đó, vào tháng 11.2023, Hải quân Mỹ cũng đã mời một số cơ quan truyền thông tới quan sát các cuộc tập trận của tàu sân bay ở biển Philippines, cho thấy rằng họ mong muốn công chúng chú ý nhiều hơn đến các hoạt động của mình ở Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, theo Nikkei Asia.

Trong khi kế hoạch triển khai tàu sân bay được cho là đã hoàn tất từ nhiều tháng trước, một loạt cuộc tập trận có tác dụng nhắc nhở rằng quân đội Mỹ không phớt lờ khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương trong lúc một cuộc chiến tranh khu vực có thể nổ ra ở Trung Đông.

“Đó là một thông điệp răn đe. Việc gửi thông điệp này sẽ tiếp diễn bất kể điều kiện ở những nơi khác trên thế giới như thế nào vì Trung Quốc là một mối đe dọa ngày càng tăng”, nhà khoa học chính trị cấp cao Jeffrey Hornung tại tổ chức nghiên cứu Rand Cooperation (Mỹ) nhận định.

Ngoài ra, chuyên gia Patrick Cronin, giám đốc an ninh châu Á-Thái Bình Dương tại Viện Hudson (Mỹ), nhận định: “Với cuộc chiến ở châu Âu và nguy cơ xung đột rộng hơn ở Trung Đông, Hải quân [Mỹ] biết đây là thời điểm quan trọng để tăng cường răn đe và trấn an các đồng minh rằng Mỹ sẵn sàng hành động nếu lợi ích của nước này bị đe dọa”.

Ở Trung Đông, USS Dwight Eisenhower là tàu sân bay duy nhất của Mỹ xử lý căng thẳng gia tăng trong khu vực. Tàu sân bay USS Gerald Ford, được điều đến phía đông Địa Trung Hải, đã rời khu vực vào tháng 1 và được thay thế bằng tàu đổ bộ tấn công USS Bataan.

Hiện chưa có thông tin về phản ứng của Trung Quốc cũng như Triều Tiên đối với động thái trên của Mỹ.

BDN

Loading

Views: 0

NATO tạo mạng lưới “hành lang quân sự” trên khắp châu Âu

Các kế hoạch đang được tiến hành nhằm tạo ra một mạng lưới “hành lang quân sự” trên khắp châu Âu, nới lỏng qui định hạn chế trao đổi thiết bị và nhân sự giữa các quốc gia.

Tờ Times đưa tin, vào tháng 11/2023, Giám đốc hậu cần châu Âu của NATO, Trung tướng Alexander Sollfrank đã kêu gọi các nước trong khu vực thiết lập các khu vực cho phép quân đội và đạn dược di chuyển nhanh chóng trong trường hợp xảy ra xung đột lớn với Nga.

Tờ Times lưu ý rằng ý tưởng này đã được các nhà lãnh đạo quân sự đưa ra trong nhiều năm, đồng thời cho biết các cuộc đàm phán về việc tạo ra các hành lang “hiện đang được tiến hành” và kết quả có thể được công bố trước hội nghị thượng đỉnh tiếp theo của NATO vào tháng 7.
Tờ báo này cho biết “mớ hỗn độn các quy định hạn chế trao đổi và vận chuyển thiết bị quân sự” ở EU đã tạo ra “sự đau đầu đáng kể” đối với các nhà hoạch định NATO.

“Các cuộc tập trận xuyên biên giới thường liên quan đến số lượng giấy tờ chóng mặt, có thể gây tốn kém thời gian quan trọng trong một cuộc khủng hoảng quân sự”, tờ báo nói thêm.

Trong một cuộc phỏng vấn với Times, Sollfrank cho biết các thành viên khối quân sự do Mỹ đứng đầu phải bắt đầu ngay lập tức, nỗ lực “giảm bớt hoặc điều chỉnh tình trạng quan liêu” bất cứ khi nào có thể.

“Mọi người đều có thể bắt đầu. Cứ làm đi. Và đừng chờ đợi. Bởi vì cuối cùng chúng ta không còn thời gian để lãng phí nữa”, ông cảnh báo.

Người đứng đầu hậu cần nêu ví dụ về việc lính dù bị cấm sử dụng dù của các quốc gia thành viên khác, ngay cả khi không có lý do gì cho việc hạn chế đó.

“Vấn đề ở đâu, chẳng hạn như việc một lính nhảy dù từ quốc gia châu Âu A sử dụng dù từ quốc gia láng giềng B sau khi được huấn luyện về hệ thống này, hoặc gắn thiết bị từ quốc gia này vào trực thăng của quốc gia khác?” Ông nói, nếu không có vấn đề “kỹ thuật hoặc an ninh” nào liên quan thì sẽ không có trở ngại nào.

Trong những tuần gần đây, các quan chức cấp cao ở một số quốc gia châu Âu đã kêu gọi công dân của họ chuẩn bị cho một cuộc đối đầu quân sự tiềm tàng với Nga.

Tuy nhiên, Moskva đã nhiều lần khẳng định rằng họ không quan tâm đến việc tiến hành chiến tranh chống lại NATO. Tổng thống Nga Vladimir Putin bác bỏ những cảnh báo này là “vô nghĩa” và nói rằng Nga “không quan tâm” đến việc tấn công bất kỳ thành viên nào trong khối.

BDN

Loading

Views: 0

Nga triển khai vũ khí mới đến đảo Kuril tranh chấp với Nhật

Liên quan đến quần đảo tranh chấp, Thủ tướng Nhật Fumio Kishida nói Tokyo mong muốn có hiệp ước hòa bình với Nga, nhưng không từ bỏ các lệnh trừng phạt Nga.

Theo Hãng thông tấn Tass, Phó chủ tịch Hội đồng An ninh Nga Dmitry Medvedev ngày 30-1 nói Nga sẽ triển khai nhiều vũ khí mới đến quần đảo Kuril đang tranh chấp với Nhật Bản.

Theo đó, Nga và Nhật Bản chưa từng ký một hiệp ước hòa bình chính thức chấm dứt xung đột giữa hai bên liên quan đến quần đảo Kuril kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ 2.

Quần đảo Kuril, phía Tokyo gọi là lãnh thổ phương bắc, là trung tâm trong cuộc tranh chấp lãnh thổ giữa Nga và Nhật.

Ông Medvedev nói Nga không phản đối việc ký kết hiệp ước hòa bình với Nhật Bản, chỉ khi Tokyo không còn tranh chấp chủ quyền của quần đảo này với Nga.

Trong Sách xanh ngoại giao 2022 công bố ngày 22-4, Nhật Bản đã gọi bốn hòn đảo đang tranh chấp với Nga ở phía bắc nước này là “nơi bị Nga chiếm đóng trái phép”.

Trong khi đó, Điện Kremlin khẳng định bốn hòn đảo trên là một phần không thể thiếu của lãnh thổ Nga.

Cũng trong ngày 30-1, phát biểu trước Hạ viện, Thủ tướng Nhật Bản Fumio Kishida cho biết Nhật muốn ký kết hiệp ước hòa bình với Nga, nhưng đồng thời có ý định tiếp tục chính sách trừng phạt chống lại Nga và ủng hộ Ukraine.

“Chúng ta sẽ tiếp tục tích cực thúc đẩy các lệnh trừng phạt đối với Nga và ủng hộ Ukraine”, ông Kishida nói. Thủ tướng Nhật cũng nêu tình thế khó khăn trong quan hệ song phương Nhật – Nga, khi Matxcơva tiến hành cuộc chiến tại Ukraine.

“Tuy nhiên, Nhật Bản vẫn cam kết kiên quyết với lộ trình cho việc giải quyết tranh chấp lãnh thổ và kết thúc bằng một hiệp ước hòa bình”, ông Kishida nói thêm.

Tháng 3-2022, Bộ Ngoại giao Nga ra thông báo Matxcơva đã chấm dứt đàm phán với Tokyo cho một hiệp ước hòa bình, khi Nhật Bản đơn phương có các biện pháp hạn chế đối với Nga do cuộc chiến tại Ukraine.

Nga cũng đã rút khỏi đối thoại với Nhật Bản cho các hoạt động kinh tế chung ở phía nam quần đảo Kuril và ngăn chặn việc gia hạn tư cách đối tác đối thoại của Nhật Bản trong Tổ chức Hợp tác kinh tế Biển Đen.

BDN

Loading

Views: 0

Tàu chiến Nga tập trận tại Biển Đông

Tàu hộ tống Nguyên soái Shaposhnikov của Nga đã thực hiện cuộc tập trận chống ngầm tại Biển Đông, một phần trong chuyến hải trình xa từ hôm 22.1.

Tàu hộ tống Nguyên soái Shaposhnikov của Hạm đội Thái Bình Dương Nga đã thực hiện một cuộc tập trận chống ngầm tại Biển Đông, Reuters ngày 29.1 dẫn thông tin từ truyền thông Nga, vốn trích lại từ thông báo của hạm đội.

Nội dung của cuộc tập trận là tìm kiếm và tiêu diệt tàu ngầm. Cụ thể, sau khi phát hiện tàu ngầm của đối phương và xác định tọa độ nhờ máy bay trực thăng, tàu chiến phóng các ngư lôi và thả vũ khí chống ngầm để tiêu diệt.

Tàu Nguyên soái Shaposhnikov rời khỏi cảng Vladivostok ở vùng Viễn Đông của Nga vào ngày 22.1. Một biên đội tàu chiến của Hạm đội Thái Bình Dương Nga, gồm soái hạm Varyag và tàu Nguyên soái Shaposhnikov, đang trong chuyến hải trình xa bờ, gồm các hoạt động tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương, thăm cảng nước ngoài cho mục đích ngoại giao. Chưa rõ sứ mệnh này kéo dài bao lâu.

Trang tin Eurasian Times hôm 26.1 đưa tin hai tàu chiến nói trên đã thực hiện một cuộc tập trận chiến lược tại biển Hoa Đông, ngăn chặn một cuộc tấn công giả định trên không của đối phương.

Trong cuộc tập trận, các tàu chiến phô diễn chuyên môn bằng cách phát hiện nhiều mục tiêu trên không tiếp cận đội tàu, sau đó kích hoạt hệ thống tác chiến điện tử và hệ thống tên lửa chống máy bay để ngăn chặn mối đe dọa tiềm tàng.

Cuộc tấn công giả định trên không được thực hiện trên máy tính và không có tên lửa phòng không thực tế nào được phóng, Eurasian Times dẫn thông báo của Quân khu miền Đông của Nga.

BDN

Loading

Views: 0

Tham nhũng trong quân đội Ukraine

Tham nhũng trong quân đội là vấn đề đặc biệt nhạy cảm ở Ukraine. Cục an ninh tình báo của Ukraine SBU đã phát hiện ra một hệ thống gian lận khổng lồ ở ngay trong Bộ Quốc phòng. Cơ quan an ninh tình báo Ukraine SBU tuyên bố, đã phát hiện ra một kế hoạch tham nhũng trong việc mua vũ khí trị giá khoảng 40 triệu USD trong quân đội Ukraine.

Một cuộc điều tra „đã lật tẩy vụ gian lận giữa các quan chức Bộ Quốc phòng và giám đốc công ty cung cấp vũ khí Lviv Arsenal.“ Tuyên bố cho biết, vụ tham ô liên quan đến việc mua 100.000 quả đạn súng cối cho quân đội. 

“Theo điều tra, các quan chức cấp cao cũ và mới của Bộ Quốc phòng cùng người đứng đầu các công ty con đều có liên quan đến vụ tham ô”, SBU cho biết hôm thứ Bảy (giờ địa phương).

Theo SBU, hợp đồng mua đạn sũng cối với Lviv Arsenal đã được ký kết vào tháng 8 năm 2022, sáu tháng sau khi chiến tranh bắt đầu. Việc thanh toán đã được thực hiện trước khi nhận hàng và một khoản tiền được chuyển ra nước ngoài.

Tuy nhiên, theo tuyên bố, vũ khí chưa bao giờ được chuyển giao. 

“Căn cứ vào các báo cáo nghi chứng” – Thủ tục tố tụng pháp lý giai đoạn đầu chống lại 5 người trong Bộ và nhà cung cấp vũ khí đã được gửi lên tòa án Ukraine. Một nghi phạm đã bị bắt khi đang cố gắng vượt biên giới Ukraine. 

Bộ trưởng Quốc phòng Ukraine Oleksii Reznikov đã bị cách chức vào tháng 9 năm ngoái vì nhiều vụ tham nhũng khác nhau, mặc dù vị quan chức này có danh tiếng vững chắc khi đại diện cho Ukraine trong các cuộc thảo luận với các đồng minh phương Tây.

Cá nhân ông Oleksii Reznikov không bị cáo buộc tham nhũng, nhưng một số vụ tham nhũng đã xảy ra dưới sự quản lý của ông. Trong đó có một vụ liên quan cung cấp thực phẩm cho quân đội, một vụ khác liên quan đến việc mua trang phục.

Tham nhũng gây khó khăn cho Ukraine trong việc gia nhập EU và tổn hại đến tinh thần chiến đấu người dân Ukraine.

Biên dịch Lê Hoàng

Nguồn:

https://www.zdf.de/nachrichten/politik/ausland/betrug-korruption-waffenbeschaffung-militaer-verteidigungsministerium-ukraine-krieg-russland-100.html

Loading

Views: 0

Nga – Triều Tiên lập đơn vị không quân chung khiến Mỹ lo lắng

Vị chuyên gia Mỹ đã chỉ ra những cách mà Nga và Triều Tiên có thể tăng cường hợp tác quốc phòng trong tương lai và hành động này sẽ khiến Mỹ phải lo ngại.

Triều Tiên trong những năm gần đây đã đầu tư nhiều vào việc hiện đại hóa các cơ sở không quân của mình và trình làng các loại tên lửa không đối không nội địa mới.

Công việc này bắt đầu vào năm 2021 tại một trong những căn cứ không quân quan trọng nhất của nước này, đó là sân bay Sunchon. Sân bay này nằm cách Bình Nhưỡng 45 km về phía đông bắc. Đây là căn cứ chính, có đường băng lớn, các nhà chờ máy bay, sân đỗ và đường lăn hiện đại.

Nhiều chuyên gia phân tích cho rằng, Triều Tiên đã hiện đại hóa toàn diện hệ thống phòng không trên mặt đất với các thế hệ hệ thống tên lửa đất đối không mới ngày càng hiện đại, vì vậy họ sẽ tìm cách đầu tư vào việc mua bổ sung các máy bay chiến đấu mới để đóng vai trò hỗ trợ trên không.

Triều Tiên nỗ lực mua máy bay chiến đấu

Thương vụ mua máy bay chiến đấu gần đây nhất của Triều Tiên được biết đến là 30 chiếc chiến đấu cơ thế hệ thứ ba MiG-21BiS, mua từ Kazakhstan năm 1997.

Tuy nhiên, đơn đặt hàng này chưa bao giờ được thực hiện do sự can thiệp của Mỹ đã gây áp lực lên Kazakhstan. Điều này nêu bật những khó khăn Bình Nhưỡng phải đối mặt trong thời kỳ hậu Xô Viết, nơi tất cả các đối tác thương mại lớn ngoại trừ Iran đều hết sức thận trọng để tránh làm mất lòng Washington.

Các nguồn tin Triều Tiên cũng cho biết, nước này tiếp tục được cấp phép sản xuất máy bay chiến đấu thế hệ thứ tư MiG-29 với sự hỗ trợ của Nga cho đến đầu những năm 2000, trong đó những chiếc MiG do Triều Tiên chế tạo đã bay lần đầu tiên vào năm 1993 và 15 chiếc đã được sản xuất vào cuối thập kỷ này.

Sau đó Triều Tiên cũng đã tìm cách mua máy bay chiến đấu Su-35 của Nga để bổ sung cho lực lượng không quân nhằm thay thế những chiếc MiG-29. Tuy nhiên có hai yếu tố chính đã ngăn cản Moskva bán máy bay mới cho Triều Tiên khi đó.

Đầu tiên là việc duy trì quan hệ với Hàn Quốc và Mỹ, điều mà từ những năm 1990 đã được Moskva ưu tiên trong chiến lược hướng đông của mình. Và rào cản thứ hai là do các nghị quyết của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc cấm các nước xuất khẩu vũ khí cho Triều Tiên.

Cách Nga hỗ trợ Triều Tiên

Chuyên gia về an ninh Triều Tiên AB Abrams nhận định rằng, Nga có thể tìm cách để vượt qua lệnh cấm vận vũ khí của Hội đồng Bảo an LHQ và ông chỉ ra Moskva có hai phương án chính để đạt được điều này.

Đầu tiên, có thể Nga sẽ xuất khẩu máy bay chiến đấu sang Triều Tiên, những loại máy bay mà Triều Tiên đã có sẵn như MiG-29. Để đối phó với các câu hỏi từ phương Tây thì họ có thể giải thích rằng, đây là những chiếc máy bay đã được sản xuất và nâng cấp trong chính Triều Tiên.

Hiện Triều Tiên đang biên chế một trung đoàn máy bay MiG-29, bất cứ hình ảnh được chụp bằng vệ tinh nào mà phương Tây đưa ra đều có thể được giải thích đơn thuần là những chiếc MiG-29 được đưa ra khỏi kho và đây là những chiếc máy bay được giao trước khi lệnh cấm vận được áp dụng.

Những chiếc MiG-29 mới của Triều Tiên có thể sẽ được hưởng lợi từ hệ thống điện tử hàng không, radar mới và tích hợp những vũ khí hiện đại hơn. Vị chuyên gia này nhấn mạnh rằng, MiG-29 có chi phí hoạt động tương đối thấp và vẫn là máy bay chiến đấu tối ưu cho nhu cầu phòng thủ của Triều Tiên hiện nay.

Lựa chọn thứ hai được Abrams nhấn mạnh có thể mang lại nhiều biến đổi hơn cho cán cân quyền lực ở Đông Á là việc “chia sẻ hệ thống vũ khí và thành lập các đơn vị chung giữa hai nước”. Ví dụ tiêu biểu là các đơn vị không quân của Liên Xô trong Chiến tranh Triều Tiên và việc Mỹ chia sẻ vũ khí hạt nhân cho các hoạt động chung với các thành viên NATO ở châu Âu.
Vị chuyên gia này chỉ ra rằng, “Nếu Triều Tiên mua những loại máy bay chiến đấu mới của Nga, chẳng hạn như máy bay chiến đấu Su-35 và Su-57 – những chiếc máy bay được lãnh đạo Kim Jong-un thị sát trong chuyến thăm Nga vào tháng 9/2023. Những chiếc máy bay này có thể sẽ có nhân viên Nga đi cùng để hoạt động tại các căn cứ của Triều Tiên và được thông báo là hoạt động dưới sự chỉ đạo của một đơn vị chung do Nga quản lý. Những máy bay chiến đấu tầm xa như vậy rất dễ dàng bay qua Hàn Quốc từ các sân bay của Triều Tiên nằm sát biên giới Nga, trong khi vẫn đảm bảo được các nhiệm vụ như đánh chặn máy bay ném bom Mỹ trong phạm vi khu vực”.

Abrams nói thêm rằng “các đơn vị này sẽ chỉ được trang bị cho nhiệm vụ phòng không nên không có khả năng triển khai vũ khí hạt nhân và có thể sẽ không được trang bị vũ khí không đối đất”. Biện pháp này “sẽ là chìa khóa để xua tan mọi lời chỉ trích rằng, Nga đang cung cấp vũ khí cho Triều Tiên và phớt lờ các nghị quyết của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc.
Đánh giá của Abrams được đưa ra sau khi Nga đã tăng gấp đôi sản lượng máy bay chiến đấu thế hệ thứ năm Su-57 trong năm 2023, với số lượng dự kiến ​​sẽ tăng thêm 80-90% vào năm 2024, cho phép đáp ứng các đơn đặt hàng trong nước và sẽ bảo đảm cho xuất khẩu.

Trước đó, Nga cũng đã chia sẻ vũ khí hạt nhân cho Belarus vào năm 2023 theo một thỏa thuận tương tự như những thỏa thuận mà Mỹ tiến hành với các đồng minh châu Âu.

BDN

Loading

Views: 0

Thúc đẩy hợp tác Việt Nam – Mỹ trong 3 lĩnh vực quan trọng

Chiều 25/1, Thủ tướng Phạm Minh Chính tiếp ông Jose Fernandez, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Mỹ phụ trách tăng trưởng kinh tế, môi trường và năng lượng, đang thăm và làm việc tại Việt Nam.

Thủ tướng hoan nghênh chuyến thăm của Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Mỹ để tiếp tục hiện thực hóa, triển khai cụ thể các thỏa thuận của lãnh đạo cấp cao hai nước trong chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Mỹ Joe Biden tháng 9/2023.

Thủ tướng đề nghị Thứ trưởng tiếp tục thúc đẩy phía Mỹ khẩn trương xem xét công nhận Việt Nam có nền kinh tế thị trường và bãi bỏ các hạn chế liên quan xuất khẩu công nghệ cao với Việt Nam; tiếp tục mở rộng và làm sâu sắc hơn nữa hợp tác trên tất cả các lĩnh vực theo tinh thần lợi ích hài hòa, rủi ro chia sẻ, trong đó có các lĩnh vực mới, mang tính đột phá, như đổi mới sáng tạo, trí tuệ nhân tạo, hợp tác về chuỗi cung ứng, chuyển đổi xanh và đặc biệt là đẩy mạnh hợp tác về chuỗi cung ứng bán dẫn.

Thủ tướng cũng đề nghị Mỹ tích cực hỗ trợ Việt Nam nâng cao năng lực tham gia Khuôn khổ kinh tế Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương vì sự thịnh vượng (IPEF) đang tiếp tục được đàm phán; triển khai khuôn khổ quan hệ Đối tác Chuyển đổi năng lượng công bằng (JETP), hỗ trợ Việt Nam thực hiện mục tiêu giảm phát thải ròng khí nhà kính về “0” vào năm 2050, đặc biệt là về tài chính, chuyển giao công nghệ, nâng cao năng lực, trên cơ sở phù hợp với điều kiện kinh tế-xã hội của Việt Nam.

Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Mỹ cho biết, chuyến thăm nhằm tiếp tục cụ thể hóa, thúc đẩy khuôn khổ quan hệ Đối tác Chiến lược toàn diện giữa hai nước; thông báo kết quả làm việc với các bộ, ngành về nội dung này trong chuyến thăm.

Ông cho biết, phía Mỹ đang rất tích cực tiếp tục xem xét, giải quyết các vấn đề mà Thủ tướng đã nêu liên quan quy chế kinh tế thị trường và các hạn chế liên quan xuất khẩu công nghệ cao.

Cho rằng cần tận dụng thời cơ hiện nay để thúc đẩy quan hệ hai nước và đánh giá cao tinh thần khởi nghiệp tại Việt Nam, ông Jose Fernandez nhấn mạnh, cần phát huy nhanh chóng những tiềm năng rất lớn của Việt Nam trong lĩnh vực bán dẫn. Mỹ sẽ tiếp tục hỗ trợ để phát triển hệ sinh thái bán dẫn tại Việt Nam, trong đó có hợp tác đào tạo nhân lực, thúc đẩy thương mại bán dẫn.

Phía Hoa Kỳ cũng sẽ thúc đẩy hợp tác trong các lĩnh vực chuyển đổi năng lượng sạch và khoáng sản thiết yếu. Đánh giá cao cam kết của Việt Nam về giảm phát thải ròng, ông cho biết qua trao đổi với ông, có khoảng 15 doanh nghiệp Mỹ đang mong muốn đầu tư ngay vào Việt Nam khoảng 8 tỷ USD trong lĩnh vực năng lượng sạch, đề nghị Việt Nam tiếp tục tháo gỡ các vấn đề liên quan đến thủ tục pháp lý.

Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Mỹ đề xuất tổ chức đối thoại giữa hai bên về các lĩnh vực kinh tế quan trọng nói trên.

Hoan nghênh các đề xuất này, Thủ tướng cho biết Việt Nam đang tích cực triển khai nhanh chương trình đào tạo 50.000-100.000 nhân lực chất lượng cao cho lĩnh vực bán dẫn; hoàn thiện cơ sở pháp lý (sửa đổi Luật Điện lực) với lĩnh vực năng lượng tái tạo; hoàn thiện các quy hoạch trong lĩnh vực đất hiếm; qua đó tạo thuận lợi, thu hút đầu tư vào các dự án cụ thể, thúc đẩy hợp tác, phát triển trong 3 lĩnh vực nói trên.

Đánh giá cao thông điệp nhất quán của Mỹ ủng hộ một Việt Nam “mạnh, độc lập, tự cường và thịnh vượng”, Thủ tướng nêu rõ, Việt Nam sẵn sàng cùng Mỹ triển khai quan hệ Đối tác Chiến lược toàn diện theo hướng ngày càng thực chất, đi vào chiều sâu, ổn định trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và thể chế chính trị của nhau; phù hợp với lợi ích của nhân dân hai nước và đóng góp cho hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực.

BDN

Loading

Views: 0

Lực lượng lục quân Việt Nam sẽ có sự thay đổi lớn và con đường hiện đại hóa bộ binh

Được xem là lực lượng quan trọng nhất, chủ chốt nhất trong lịch sử chiến tranh kéo dài gần 5000 năm của nhân loại, là thành phần mà máy móc AI không thể thay thế được, đó chính là Lục quân, nơi lòng can đảm và sự dũng cảm của con người được thử thách qua từng giây, từng phút. Thuận theo dòng lịch sử chiến tranh, các đơn vị lục quân ngày nay cũng ngày càng được hiện đại hóa mà như người ta vẫn nói đó là “trang bị tới tận răng”. Vậy, Việt Nam đã đi tới đâu trên con đường này?

Con người chính là yếu tố quan trọng nhất trong một cuộc chiến. Nhờ có yếu tố này mà chiến tranh đã trở thành một môn nghệ thuật với đầy biến số có thể xảy ra. Binh pháp từ Đông sang Tây, tự cổ chí kim, mỗi khi nhắc tới xây dựng quân đội nói chung hay lục quân nói riêng đều không hẹn mà gặp đúc kết lại thành một câu nói, “Binh cốt tinh, không cốt đông”. Điều này chính xác với cả những quân đội hiện đại ngày nay.

Việt Nam lúc cao điểm nhất vào những năm 1980, khi chiến sự vẫn đang nổ ra trên hai đầu đất nước, từng có lúc quân số lên tới 1,6 triệu quân thường trực, chia thành 9 quân đoàn và 13 quân khu, chủ yếu là Lục quân. Điều này đã tạo ra những gánh nặng khổng lồ về kinh tế và lực lượng lao động. Chính vì vậy, ngay sau khi chiến sự hai đầu ổn định, Bộ Quốc phòng đã phải cắt giảm quân đội liên tục xuống như mức hiện này là 450.000 quân, chia thành 4 quân đoàn chủ lực, 7 Quân khu và 1 Bộ Tư lệnh Thủ đô, trong đó lục quân chiếm đến 80% nhân lực. Điều này cũng dễ hiểu, bởi Việt Nam phía Tây và phía Bắc đều là đất liền, đặc biệt mối họa phương Bắc luôn thường trực trong suốt hàng ngàn năm lịch sử. Vậy nhưng, như đã từng nói, “Binh cốt tinh, không cốt đông”. Chính vì vậy, việc tinh gọn biên chế lực lượng Bộ Binh vẫn là chủ trương hiện nay của Việt Nam, ít nhất là đến năm 2030.

Quân đội nhân dân Việt Nam dự kiến lấy cấp sư đoàn làm đơn vị cơ bản để xây dựng và chính thức thành lập Quân chủng Lục quân, để có thể xây dựng theo các mô hình sư đoàn mạnh, tăng thêm về tăng thiết giáp, pháo binh, phòng không, có thể biên chế trung đoàn bộ binh cơ giới, sư đoàn nhẹ, tổ chức như sư đoàn hiện nay, biên chế ở cấp quân khu, nhất là những quân khu ở địa hình rừng núi, tổ chức Bộ Tư lệnh Lục quân chỉ huy lực lượng cơ động chiến lược, gồm các sư đoàn mạnh và các lữ đoàn binh chủng hiện đại. Ở thời điểm hiện tại Việt Nam đang tiến hành sáp nhập các quân đoàn chủ lực. Cụ thể, có quân đoàn 1, Binh đoàn Quyết Thắng hợp nhất với Quân đoàn 2, Binh đoàn Hương Giang, sáp nhập lại thành Quân đoàn 12 trong năm 2023. Sau đó sẽ là Quân đoàn 3 và Quân đoàn 4 cũng sẽ được sáp nhập trong thời gian tới.

Một câu hỏi được đặt ra đó là: sáp nhập như vậy có nghĩa là sẽ giảm quân số, liệu có ảnh hưởng gì tới đất nước khi có chiến tranh hay không? Như chúng ta đã biết, quân đoàn là những nắm đấm chủ lực dùng để phản công lại kẻ thù khi có chiến tranh. Việc số lượng ít hơn có ảnh hưởng gì tới sức mạnh tổng thể hay không?

Sau khi tìm hiểu sâu, chúng tôi nhận thấy rằng đây cũng là xu hướng chung của toàn thế giới và Việt Nam đã có sự học tập và tham khảo kinh nghiệm của rất nhiều cường quốc, đặc biệt là từ quân đội Mỹ. Tất nhiên là có sự điều chỉnh cho phù hợp với tình hình của Việt Nam vì chúng ta không có ngân sách quốc phòng và nguồn nhân lực khổng lồ cũng như những mục đích giống họ. Theo đó, Hoa Kỳ đã lấy các đơn vị sư đoàn làm đơn vị cơ bản. Thế nhưng, một sư đoàn của họ được trang bị đầy đủ từ xe tăng, pháo tự hành, pháo phóng loạt…. Thậm chí, chính Hoa Kỳ cũng đang chuyển dần từ việc lấy sư đoàn làm cơ bản thành lữ đoàn làm đơn vị cơ bản. Trở lại với nội dung chính, Việt Nam chủ trương xây dựng quân đội tinh, gọn và mạnh. Làm sao để đạt được mục tiêu đó?

Thực ra, đây là ba nội dung có vấn đề khác nhau, nhưng có một mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Vậy nên, trong quá trình điều chỉnh tổ chức quân đội, không được xem nhẹ bất cứ một nội dung nào.

Tinh có nghĩa là Tinh nhuệ, muốn nói tới chất lượng con người và vũ khí trang bị. Gọn có nghĩa là các đầu mối tổ chức cơ quan, đơn vị phải được xây dựng cân đối, đồng bộ, hợp lý, khoa học giữa các thành phần lực lượng, không được để chồng chéo chức năng, nhiệm vụ. Mạnh nghĩa là sức mạnh quân đội phải hội tụ được ba yếu tố đó là tổ chức con người, vũ khí trang bị và nghệ thuật quân sự Việt Nam, tạo thành một sức mạnh tổng hợp vượt trội.

Vì vậy quân đội mạnh không nhất thiết là phải đông đảo. Với việc sáp nhập hai quân đoàn, Việt Nam có thể từng bước cắt giảm tới hàng vạn bộ đội, tạo ra dư địa ngân sách cho hiện đại hóa quân đội. Suy cho cùng, mục tiêu của Việt Nam vẫn là tiến tới cơ giới hóa 100% quân đội.

Thay vì có một trung đoàn xe tăng T-54 cũ, chỉ cần một tiểu đoàn T-90 mới đã đạt được sức mạnh vượt trội, mà quân số lại ít hơn nhiều. Nếu nhìn rộng ra, một quân đoàn với trang bị mạnh mẽ, hiện đại, sức chiến đấu cao còn hơn hai quân đoàn cũ. Mặt khác, việc tinh gọn lực lượng đồng nghĩa là sẽ có thêm ngân sách quốc phòng để hiện đại hóa từ trang bị cá nhân đến cơ giới hóa quân đội.

Nếu các bạn theo dõi Thời sự Quốc phòng vào năm 2022, kỷ niệm 55 năm thành lập Sư đoàn 10, đã cho thấy bộ mặt của các sư đoàn tương lai của Việt Nam. Sư đoàn 10 là đơn vị được cải tổ biên chế để trở thành sư đoàn bộ binh đủ quân thời bình, chỉ ở cấp sư đoàn thôi mà đã có biên chế cả xe tăng, pháo cao xạ tầm thấp, pháo tự hành 122 mm và cả pháo phản lực nữa.

Ở các phân đội bộ binh, cũng được tăng cường hỏa lực, có cả tên lửa chống tăng B-72, súng phóng lựu liên thanh AGS-17, súng chống tăng RPG-29. Thay thế súng AK-47 kiểu cũ bằng súng tiểu liên STV, biên chế cấp sư đoàn đã như vậy, thì hỏi biên chế cấp quân đoàn kiểu mới còn mạnh mẽ như thế nào? Chắc là chúng ta cũng có thể hình dung ra được.

Thứ hai, trong điều kiện hiện nay, chiến tranh không phải sẽ xảy ra lập tức theo kiểu nay tuyên chiến, mai đánh luôn. Kẻ thù cũng cần điều kiện chính trị, tìm thời cơ hội thích hợp để đẩy nước ta vào hoàn cảnh rối loạn, rồi mới có thể ra tay. Vì vậy, từ khi tình hình căng thẳng đến khi chiến sự, nhiều khi kéo dài hàng tháng, thậm chí là cả năm trời. Chừng đó thời gian là đủ để Việt Nam huy động các lực lượng dự bị động viên hay các đơn vị biên chế, thiếu đơn vị khung thường trực thì sẽ được bổ sung thêm trang bị, sắp xếp thành các đơn vị đủ quân, đủ hỏa lực, không loại trừ khả năng khi có chiến tranh sẽ quay về như cũ vì lực lượng dự bị của Việt Nam lên đến 5 triệu quân, chưa kể chúng ta mới chỉ nói tới các quân đoàn, còn chưa nói tới các quân khu, các lực lượng địa phương, các đơn vị bán vũ trang.

Thứ ba, mang tiếng là có một quân đoàn bao gồm 3 sư đoàn bộ binh và nhiều lữ đoàn binh chủng hợp thành, nhưng thực ra trong thời bình, mỗi quân đoàn cũng chỉ có một sư đoàn bộ binh đủ quân mà thôi. Còn lại là biên chế thiếu, biên chế không thường trực. Mỗi quân khu cũng chỉ có một sư đoàn bộ binh đủ quân. Tức là như hiện nay, cả nước sẽ có 11 sư đoàn bộ binh đủ quân. Đây chính là lực lượng sẵn sàng chiến đấu cao nhất để đáp trả các đòn tấn công bất ngờ của kẻ thù xâm lược.

Vậy, khi sáp nhập 4 quân đoàn xuống thành 2 quân đoàn, trước đây mỗi quân đoàn sẽ có một sư đoàn đủ quân, bây giờ mỗi quân đoàn mới duy trì từ hai hoặc ba sư đoàn bộ binh đủ quân. Như vậy, số sư đoàn đủ quân không giảm đi mà còn tăng thêm. Điểm mấu chốt chính là số quân đoàn giảm đi, nhưng số sư đoàn đủ quân vẫn giữ nguyên. Quân đoàn mới được tăng cường về vũ khí trang bị, thiên về cơ động, sẵn sàng chiến đấu, giảm bớt các đơn vị biên chế thiếu, chuyển các chức năng như quản lý dự bị động viên về cho các quân khu. Đây chính là cách tổ chức quân đội chuyên nghiệp hóa theo kinh nghiệm từ các nước tiên tiến. Nếu ta để ý, thì việc sáp nhập quân đoàn đã gần như gạo nấu thành công rồi mới công bố cho toàn dân biết. Năm 2022, đã xuất hiện những thông tin về việc này, thế nhưng chỉ dưới dạng tin đồn, đến tháng 10/2023, Bộ Quốc phòng mới có tuyên bố chính thức thì Quân đoàn 1 và 2 đã được sáp nhập. Như vậy, ngay trong thời điểm này, có khi Quân đoàn 3 và 4 cũng đang sáp nhập sắp xong rồi cũng nên, ai mà biết được chứ.

Một vấn đề khác, khi nói tới Lục quân nói chung và bộ binh nói riêng, đó là trang bị cá nhân của người lính. Việt Nam, từ trước tới nay, có hai vấn đề được quan tâm nhất, đó là trang bị đại trà áo giáp chống đạn cho người lính và thay thế vũ khí bộ binh kiểu cũ. Trong nhiều năm, mỗi khi nhắc tới trang bị áo giáp chống đạn, chúng ta chỉ thường được thấy chúng trang bị cho những đơn vị đặc biệt như Trinh sát Đặc công, Đặc nhiệm Biên phòng, Đặc công chống khủng bố… Nhưng, đến năm 2023, đã xuất hiện những hình ảnh cho thấy việc tiến hành trang bị đại trà áo giáp chống đạn đang được triển khai.

Ngày 16/9/2023, trong cuộc diễn tập tác chiến phòng thủ Quân khu 3, Đại tướng Phan Văn Giang, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, đã tham gia chỉ đạo thực binh bắn đã thật tại Trường bắn Quốc gia khu vực 1. Kết thúc diễn tập tác chiến phòng thủ Quân khu 3, điều đặc biệt ở đây đó là theo hình ảnh được quay trực tiếp ta có thể thấy rằng, các chiến sĩ Quân khu 3 đều được trang bị áo chống đạn hạng trung, mặc dù mũ thì vẫn là mũ A2 chỉ có tác dụng chống mảnh văng thế nhưng đem lại một cái nhìn khác biệt hoàn toàn.

Theo những hình ảnh được công bố, các chiến sĩ Quân khu 3 được trang bị áo giáp bộ binh hạng trung lắp tấm da cường chống đạn, đây là một kiểu tấm kính được bọc thép hoặc sản xuất bằng vật liệu tổng hợp gốm hợp chất, được lắp vào vật mang hoặc áo chống đạn có thể được sử dụng độc lập hoặc kết hợp với các loại áo giáp khác.

Từ trước tới nay, việc nghiên cứu và sản xuất áo giáp chống đạn được giao cho Nhà máy Z117, vấn đề nan giải trong việc trang bị áo giáp đại trà cho quân đội không phải là công nghệ hạn chế mà là chưa chốt được phương án cuối cùng cho quân đội. Trong 20 năm qua, Nhà máy Z117 đã nghiên cứu, thiết kế, để chế tạo, sản xuất số lượng lớn áo giáp chống đạn cho quân đội. Thế nhưng, vấn đề là chưa chốt được thiết kế cuối cùng, đến tận năm 2023, Viện Công nghệ Quốc phòng mới chốt được phương án tối ưu, phát triển vật liệu gốm và vật liệu composite cấp độ chống đạn đạt tiêu chuẩn của Mỹ, tấm da cường chống đạn được chế tạo từ 100% composite dama, có thể chống được đạn súng tiểu liên AK47 cỡ 7,62 ly x39 theo tiêu chuẩn ở cự ly 15 m. Sau khi được định hình, các miếng gốm này sẽ được nung trong nhiệt độ thích hợp để miếng gốm kết khối đúng theo tiêu chuẩn. Đây là sản phẩm của đề tài khoa học cấp Nhà nước Nghiên cứu chế tạo do Tiến sĩ Tạ Văn Khoa cán bộ phòng vật liệu Viện Công nghệ, làm chủ nhiệm đề tài. Áo giáp chống đạn được chế tạo từ 100% composite denama có trọng lượng nhẹ phù hợp để trang bị cho bộ đội Việt Nam. Từ đây, các nhà khoa học của Viện Công nghệ đã mở ra khả năng tự chủ cho việc sản xuất hàng loạt với giá thành rẻ hơn nhập ngoại. Điều đáng nói ở đây, là việc làm chủ công nghệ chế tạo từ A – Z trong nước đã được hoàn thành từ tận năm 2012 và đã có nhiều mẫu thiết kế mới ra mắt thế nhưng phải mất tới 10 năm mới chốt được phương án.

Tháng 9 vừa qua, lần đầu tiên, đơn vị bộ binh của cả một quân khu được trang bị áo giáp chống đạn. Điều này cho thấy rằng việc trang bị đại trà cũng đang được triển khai trên từng quân khu một.

Tại sao chưa trang bị cho các quân đoàn đầu mà là các quân khu đảm bảo công tác quốc phòng địa phương vì từ đó sẽ được đúc kết kinh nghiệm cho việc trang bị mới và tổ chức ở cấp quân đoàn chủ lực. Hơn nữa, việc xây dựng lực lượng quân khu mạnh cũng là mạnh từ gốc. Tuy nhiên, đây thì cũng chỉ là bước đầu mà thôi. Trang bị của người lính đâu chỉ có áo chống đạn, còn cả mũ, ba lô, vũ khí, nhìn đêm, đủ thứ. Đặc biệt là mũ, khi mà các đơn vị bộ binh vẫn sử dụng mũ A2 không chống được đạn, còn rất nhiều phụ kiện nữa.

Vấn đề đến vũ khí cá nhân, như đã nói phần trên, đây là một trong những chủ trương xây dựng quân đội tinh, gọn và mạnh. Với sư đoàn 10 Quân khu 3 là tiêu chuẩn khi Việt Nam thay thế súng trường AK-47 kiểu cũ bằng loại STV, dựa trên thiết kế Galil ACE của Israel. Nói chung, sư đoàn 10 chính là sư đoàn kiểu mẫu cho các đơn vị về sau, còn việc trong tương lai có trang bị thêm hay cái tiến gì không thì thời gian mới trả lời được. Cùng với đó loại bỏ dần các loại vũ khí phóng lựu và chống tăng kiểu cũ, thay thế bằng các loại hiện đại được nội địa hóa trong nước. Vậy nhưng, đây mới chỉ là những bước đầu tiên mà thôi.

Do thời thế thay đổi, Việt Nam phải ưu tiên các đơn vị hải quân, không quân, tác chiến điện tử… được tiến thẳng lên hiện đại trước. Còn Lục quân sẽ là từng bước tiến lên hiện đại. Vậy nên, có một bức tranh toàn cảnh thì ta mới có thể thấy đầu tư trang bị của Việt Nam cho lục quân vẫn là khá thấp và khá chậm chạp so với các đơn vị khác.

BDN

Loading

Views: 0

Biển Đông là tài sản chung toàn cầu cần được bảo tồn bảo vệ

Biển Đông có diện tích hơn 3,6 triệu km2 có vai trò, vị trí vô cùng quan trọng về kinh tế, quân sự và môi trường.

Biển Đông là vùng biển có hệ sinh thái biển đa dạng sinh học nhất hành tinh này. Nguồn hải sản phong phú ở đây đã tạo việc làm cho hàng triệu người và nuôi sống hàng trăm triệu người của các quốc gia ven Biển Đông mà còn cung cấp nguồn hải sản cho hàng triệu người trên thế giới. Hệ sinh thái biển ở đây, đặc biệt là các rạn san hô không chỉ đảm bảo môi trường biển bền vững cho khu vực mà cho cả Thái Bình Dương. Biển Đông cũng là nơi có nhiều tài nguyên đặc biệt là dầu mỏ và khí đốt góp phần bảo đảm an ninh năng lượng chung cho khu vực và thế giới, giúp cho nhiều quốc gia trong khu vực trở lên thịnh vượng.

Biển Đông là nơi diễn ra các hoạt động thương mại quốc tế có tổng giá trị hơn 5.300 tỷ USD mỗi năm. Đây là con đường hàng hải nối từ Thái Bình Dương sang Ấn Độ Dương có tầm quan trọng bậc nhất trên thế giới. Các nền kinh tế lớn nhất, nhì thế giới như Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc đều phải vận chuyển hàng hóa trên con đường này.

Cũng chính vì Biển Đông có vai trò, vị trí quan trọng như vậy, khi các quốc gia ven biển đều cho rằng kinh tế biển là hết sức quan trọng thì việc tranh chấp chủ quyền, khai thác tài nguyên biển ở Biển Đông càng trở lên phức tạp, xung đột liên tục diễn ra.

Trong các quốc gia ven Biển Đông, hầu hết có nền kinh tế chưa phát triển, kinh tế biển mới phát triển vài thập kỷ gần đây và quan hệ tương đối hòa bình thì Trung Quốc ngày càng làm cho Biển Đông dậy sóng.

Trước hết là việc Trung Quốc thôn tính các đảo, quần đảo bất chấp chủ quyền của các nước đe dọa an ninh hàng hải và hòa bình trong khu vực.

Về môi trường, Trung Quốc cũng bị các nhà nghiên cứu về biển cho là Trung Quốc hủy hoại môi trường biển của Biển Đông nhiều nhất và lớn nhất. Trung Quốc đã ngang nhiên bồi đắp các đảo ngầm ở khu vực quần đảo Trường Sa, hủy hoại hàng loạt rạn san hô cả một vùng rộng lớn.

Trung Quốc có đội tàu đánh bắt cá khổng lồ. Chính phủ Trung Quốc nói rằng đội tàu đánh bắt xa bờ của họ khoảng 2.600 chiếc, nhưng Viện Phát triển hải ngoại của Anh cho rằng đội tàu này có tới 17.000 chiếc. Những tàu này được trang bị nhiều thiết bị điện tử để tìm kiếm nguồn cá và đánh bắt theo kiểu tiêu diệt. Hiện nay, Trung Quốc đánh bắt và tiêu thụ hải sản hơn bất kỳ quốc gia nào khác.

Trung Quốc cũng được cho là đã thải ra 1/3 lượng rác thải nhựa gây ô nhiễm các đại dương trong đó có Biển Đông.

Biển Đông là một phần trong tài sản chung toàn cầu cần phải được bảo tồn và bảo vệ. Các nước trong khu vực, đặc biệt là Trung Quốc cần phải ý thức được điều đó.

BDN

Loading

Views: 0

Mỹ lo ngại “mối đe dọa an ninh” từ việc Triều Tiên hợp tác với Nga

Một quan chức cấp cao của Nhà Trắng nói rằng bản chất “mối đe dọa an ninh” mà Triều Tiên gây ra có thể thay đổi rất nhiều trong thập kỷ tới vì mối quan hệ chưa từng có tiền lệ của nước này với Nga.

“Điều chúng tôi đang nhìn thấy giữa Nga và Triều Tiên là mức độ hợp tác chưa từng có tiền lệ trong lĩnh vực quân sự”, ông Pranay Vaddi – Giám đốc cấp cao về kiểm soát vũ khí của Nhà Trắng, phát biểu ngày 18/1.

“Tôi dùng từ ‘chưa từng có tiền lệ’ một cách chủ ý, nghĩa là chúng tôi chưa từng nhìn thấy điều này trước đây”, ông nói.

Quan chức này cho rằng Mỹ không chỉ chú ý đến sự giúp đỡ của Triều Tiên cho Nga trong chiến dịch quân sự ở Ukraine, chủ yếu bằng các hệ thống tên lửa, mà “điều đó có thể đi theo một hướng khác nữa”.

“Điều đó có thể nâng cao năng lực của Triều Tiên như thế nào? Điều đó có nghĩa gì đối với thế trận răn đe mở rộng ở khu vực với Hàn Quốc và Nhật Bản? Tôi nghĩ bản chất của Triều Tiên như một mối đe dọa ở khu vực có thể thay đổi mạnh trong thập kỷ tới vì sự hợp tác này”, ông Vaddi nói.

Quan chức này cho biết, Mỹ sẽ tiếp tục hợp tác với Hàn Quốc tế bảo đảm “năng lực răn đe phối hợp” đáng tin cậy ngay cả khi mối đe dọa từ Triều Tiên tăng lên, hàm ý nói đến “chiếc ô hạt nhân” của Mỹ để bảo vệ các đồng minh.

Ngày 17/1, Nga cho biết đang phát triển quan hệ với Triều Tiên trên mọi lĩnh vực, bao gồm các lĩnh vực nhạy cảm. Phát biểu được đưa ra sau khi Ngoại trưởng Triều Tiên có chuyến thăm Mátxcơva để hội đàm với người đồng cấp Sergei Lavrov và hội kiến Tổng thống Nga Vladimir Putin.

Nga làm sâu sắc hợp tác với Triều Tiên trong mấy năm gần đây. Washington cho rằng Bình Nhưỡng cung cấp tên lửa cho Mátxcơva, đổi lại Nga sẽ chia sẻ công nghệ vũ khí cho Triều Tiên.

BDN

Loading

Views: 0

Châu Âu với nguy cơ suy thoái kinh tế vì xung đột ở Biển Đỏ

Lần thứ hai trong 3 năm, một cuộc xung đột ở khu vực lân cận của châu Âu đe dọa làm suy yếu nền kinh tế vốn đang gặp khó khăn của lục địa già.

Lần này, các cuộc tấn công của lực lượng Houthi ở Yemen nhắm vào các tàu chở hàng ở Biển Đỏ đã buộc nhiều hãng vận tải phải lựa chọn hành trình an toàn hơn nhưng dài hơn và tốn kém hơn đi vòng qua Mũi Hảo Vọng ở cực Nam châu Phi.

Việc thay đổi tuyến đường đang làm tăng chi phí vận chuyển hàng hóa và khiến các nhà bán lẻ lo ngại về tình trạng khan hiếm hàng hóa. Một số nhà máy đã tạm dừng hoạt động do thiếu các linh kiện cần thiết. Nếu mối đe dọa vẫn tiếp diễn, các nhà kinh tế cho rằng, lạm phát ở châu Âu có thể tăng trở lại, đẩy lùi khả năng cắt giảm lãi suất cơ bản.


Ana Boata, nhà kinh tế trưởng tại công ty bảo hiểm Allianz Trade, cho biết: “Đây rõ ràng là một trong những rủi ro lớn, nó có thể làm giảm tăng trưởng và làm tăng lạm phát. Chúng ta có thể nói về nguy cơ suy thoái”.

Các tàu đi qua Biển Đỏ vận chuyển khoảng 40% hàng hóa trao đổi giữa châu Âu và châu Á. Lực lượng Houthi ban đầu tuyên bố nhắm mục tiêu vào các tàu của Israel hoặc những tàu đi đến các cảng của nước này, nhưng trên thực tế mục tiêu của họ bao gồm cả các tàu quốc tế. Điều đó đã thúc đẩy nhiều công ty vận tải chuyển hướng sang tuyến đường đi vòng qua Mũi Hảo Vọng.

Tuần trước, Tesla cho biết sự chậm trễ trong việc giao linh kiện do thay đổi lộ trình vận chuyển đường biển sẽ buộc hãng phải tạm thời đình chỉ sản xuất tại nhà máy lớn duy nhất ở châu Âu.

Nhà máy tại Bỉ của Volvo Cars, hãng sản xuất ô tô Trung Quốc-Thụy Điển, cũng phải ngừng sản xuất trong 3 ngày.

Các nhà máy của Volkswagen không bị ảnh hưởng nhưng hãng này vẫn tiếp tục theo dõi tình hình và liên hệ chặt chẽ với các nhà cung cấp.

Oxford Economics ước tính, một con tàu di chuyển với tốc độ 16,5 hải lý/giờ từ Đài Loan (Trung Quốc) đến Hà Lan qua Biển Đỏ và Kênh đào Suez sẽ mất khoảng 25,5 ngày. Nếu hành trình chuyển hướng đi vòng qua Mũi Hảo Vọng, thời gian sẽ tăng lên khoảng 34 ngày, thậm chí có thể còn kéo dài hơn nữa nếu các tàu chuyển hướng phải chờ tiếp thêm nhiên liệu.

Thời gian di chuyển kéo dài thêm sẽ làm giảm năng lực vận chuyển hàng năm của mỗi tàu và có thể tác động dây chuyền đến chi phí vận chuyển hàng hóa. Theo Chỉ số Freightos Baltic, chi phí trung bình để vận chuyển hàng hóa trong một container đi khắp toàn cầu đã tăng gấp đôi trong khoảng thời gian từ ngày 22/12/2023 đến ngày 12/1/2024.

Đối với châu Âu, tác động của cuộc khủng hoảng phần lớn sẽ phụ thuộc vào mức độ và thời gian gián đoạn. Các nhà kinh tế tại Allianz Trade tính toán rằng khoảng thời gian chi phí vận chuyển tăng gấp đôi kéo dài hơn 3 tháng có thể đẩy tỷ lệ lạm phát của khu vực đồng euro lên 0,75 điểm phần trăm và làm giảm tăng trưởng kinh tế gần 1 điểm phần trăm. Với nền kinh tế khu vực đồng euro vốn đã suy yếu, điều đó có thể đẩy khu vực này vào tình trạng thu hẹp trong năm 2024.

Paolo Gentiloni, quan chức kinh tế hàng đầu của Liên minh châu Âu, nói rằng tình hình ở Biển Đỏ “cần được theo dõi chặt chẽ” vì nó có thể khiến giá năng lượng và lạm phát tăng trở lại.
Bối cảnh đã khác thời kỳ đại dịch Covid-19

Dù vậy, sự gián đoạn đối với chuỗi cung ứng ở châu Âu hiệu nay ít nghiêm trọng hơn so với tình trạng tắc nghẽn năm 2020 và 2021. Tác động kinh tế của chúng có thể sẽ nhỏ hơn tương ứng. Các doanh nghiệp cũng đã rút ra bài học từ sự gián đoạn trong đại dịch Covid-19 và hiện có lượng hàng lưu kho lớn hơn so với thời điểm đó.

Ông chủ IKEA, Jesper Brodin cho biết xung đột ở Biển Đỏ đã khiến hành trình vận chuyển bằng đường biển của họ kéo dài thêm khoảng 10 ngày, thậm chí lâu hơn nhưng khách hàng của họ không bị ảnh hưởng.

“Sự khác biệt lớn ở thời điểm hiện nay là chúng tôi đã hồi phục sau đại dịch. Số lượng hàng trong kho của chúng tôi vẫn đủ để cung ứng cho khách hàng”, ông Brodin cho biết tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới ở Davos, Thụy Sĩ.

Nhà bán lẻ giảm giá Pepco cho biết xung đột ở Biển Đỏ ít ảnh hưởng đến lượng hàng sẵn có nhưng có thể ảnh hưởng đến nguồn cung trong những tháng tới nếu tình trạng này tiếp diễn. Các cuộc tấn công của Houthi vào tàu thương mại đã khiến giá cước vận chuyển giao ngay cao hơn và thời gian vận chuyển bị kéo dài hơn.

Có một số lý do khiến tác động của cuộc khủng hoảng ở Biển Đỏ đối với nền kinh tế châu Âu ít nghiêm trọng hơn so với các đợt tăng chi phí vận chuyển hàng hóa trước đây.

Patrick Lepperhoff, chuyên gia tư vấn của Inverto, một đơn vị của BCG, cho biết các cuộc khủng hoảng trước đây đã giúp các công ty chuẩn bị tốt hơn cho những cú sốc bất ngờ.

Ngoài sự chuẩn bị tốt hơn, môi trường kinh tế cũng khác so với thời kỳ đại dịch — một sự kiện toàn cầu ảnh hưởng đến chuỗi cung ứng trên toàn thế giới. Cuộc khủng hoảng hiện nay mang tính cục bộ, các nhà cung cấp có nhiều lựa chọn thay thế hơn và nhiều doanh nghiệp cũng giữ lượng hàng trong kho lớn hơn so với trước khi đại dịch xảy ra.

“Biển Đỏ không còn nguy hiểm đối với thương mại toàn cầu như những sự kiện cách đây vài năm”, ông Lepperhoff cho biết.

BDN

Loading

Views: 0

NATO huy động 90.000 quân tham gia cuộc tập trận chung

Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) đang triển khai cuộc tập trận lớn nhất kể từ Chiến tranh Lạnh, nhằm diễn tập cách quân đội Mỹ tăng viện cho các đồng minh châu Âu giáp Nga và ở sườn phía đông của liên minh nếu xung đột bùng lên với một đối thủ “ngang hàng”.

Khoảng 90.000 binh sĩ sẽ tham gia cuộc tập trận Steadfast Defender 2024 kéo dài đến tháng 5, chỉ huy hàng đầu của liên minh – Chris Cavoli cho biết hôm 18/1.

Cuộc tập trận còn có sự góp mặt của hơn 50 tàu chiến, từ tàu sân bay đến tàu khu trục, cùng hơn 80 máy bay chiến đấu, trực thăng và máy bay không người lái, cùng ít nhất 1.100 phương tiện chiến đấu bao gồm 133 xe tăng và 533 xe chiến đấu bộ binh.

Cuộc tập trận nhằm diễn tập việc NATO thực hiện các kế hoạch khu vực – kế hoạch phòng thủ đầu tiên mà liên minh này vạch ra trong nhiều thập kỷ, nêu chi tiết cách NATO sẽ phản ứng trước một cuộc tấn công.

NATO không đề cập đến Nga trong thông báo của mình. Nhưng tài liệu chiến lược hàng đầu của liên minh xác định Nga là mối đe dọa trực tiếp và rõ ràng nhất đối với an ninh của các nước thành viên NATO.

NATO cho biết: “Steadfast Defender 2024 sẽ thể hiện khả năng của NATO trong việc nhanh chóng triển khai lực lượng từ Bắc Mỹ và các khu vực khác của liên minh để củng cố khả năng phòng thủ của châu Âu”.

Việc tăng cường sẽ diễn ra trong một “kịch bản mô phỏng xung đột đang nổi lên với một đối thủ gần ngang hàng”, ông Cavoli nói với các phóng viên ở Brussels.
Theo NATO, cuộc tập trận cuối cùng có quy mô tương tự là Reforger – trong Chiến tranh Lạnh năm 1988 với 125.000 người tham gia. Cuộc tập trận Trident Juncture vào năm 2018 của NATO có 50.000 người tham gia.

Các binh sĩ tham gia cuộc tập trận sẽ đến từ các nước NATO và Thụy Điển – quốc gia đang kỳ vọng có thể sớm gia nhập liên minh. Nội dung tập trận bao gồm mô phỏng việc đưa nhân sự đến châu Âu cũng như diễn tập trên thực địa. Trong phần thứ hai của cuộc tập trận, trọng tâm sẽ là việc triển khai lực lượng phản ứng nhanh của NATO tới Ba Lan, sườn phía đông của liên minh.

Các địa điểm chính khác của cuộc tập trận sẽ là các quốc gia vùng Baltic được coi là có nguy cơ cao nhất trước một cuộc tấn công tiềm tàng của Nga, Đức – trung tâm tiếp viện – và các quốc gia ở rìa liên minh như Na Uy và Romania.

BDN

Loading

Views: 0