Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Lloyd Austin nhấn mạnh Washington sẽ tiếp tục sát cánh cùng các đồng minh và đối tác tại Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương nhưng sẽ không có một liên minh kiểu “NATO phiên bản châu Á” như nhiều lo ngại.
Bài phát biểu được nhiều người đón chờ của ông Lloyd Austin tại Đối thoại Shangri-La 2022 (SLD22) ở Singapore sáng nay 11-6 tập trung phần lớn vào các cam kết của Mỹ đối với khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương.
Ông khẳng định Mỹ sẽ tìm cách duy trì sự hiện diện của mình ở châu Á và cũng đồng thời hiểu sự cần thiết phải ngăn chặn xung đột tại khu vực.
Ông Austin cũng cho rằng các hành động cưỡng ép của nước lớn với nước nhỏ hơn, vấn đề hạt nhân của Triều Tiên và tình hình Myanmar sau chính biến,… là những vấn đề chỉ có thể giải quyết nếu các nước cùng thượng tôn luật pháp quốc tế.
Theo Bộ trưởng Austin, phần lớn các quốc gia tại Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương đều cùng chia sẻ tầm nhìn về một khu vực tự do và rộng mở, tự do hàng hải và hàng không, cũng như theo đuổi những gì phù hợp với lợi ích quốc gia mà không bị áp đặt bởi bất kỳ nước nào.
“Chúng tôi không tìm kiếm sự đối đầu hoặc xung đột. Chúng tôi cũng không tìm kiếm một cuộc chiến tranh lạnh mới, một NATO châu Á hay một khu vực bị chia cắt thành các khối thù địch”, người đứng đầu Lầu Năm Góc nhấn mạnh.
Vị bộ trưởng Mỹ nhấn mạnh Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương giữ vị trí trung tâm trong “đại chiến lược” của Washington, bởi vì không một khu vực nào có thể định hình tương lai thế giới hơn khu vực này.
“Chúng tôi sẽ làm phần việc của mình để quản lý những căng thẳng ở khu vực theo cách có trách nhiệm, ngăn chặn xung đột và theo đuổi hòa bình, thịnh vượng”, ông Austin cam kết.
Để làm được những điều này, ông Austin cho biết Mỹ sẽ tăng cường làm việc với các đồng minh và đối tác để giúp họ có được năng lực quân sự đủ sức bảo vệ lợi ích quốc gia và răn đe các hành vi xâm phạm.
Liên minh châu Âu (EU) muốn sử dụng “vũ khí” dầu mỏ nhằm gây sức ép với Nga khi chiến dịch quân sự tại Ukraine vẫn chưa có hồi kết, nhưng đây cũng được xem là “con dao hai lưỡi”.
Vào thập niên 1970, các quốc gia Ả Rập đã sử dụng “vũ khí dầu mỏ” để trừng phạt các chính phủ phương Tây vì đã hỗ trợ Israel trong cuộc chiến tranh Yom Kippur bằng cách giảm xuất khẩu dầu mỏ khiến giá dầu tăng vọt. Hiện nay, liên minh châu Âu (EU) cũng đang cố gắng sử dụng “dầu mỏ” như một loại vũ khí không có mùi thuốc súng nhằm làm “tê liệt” Nga. Tuy nhiên, sử dụng vũ khí này lại gây “sát thương” cho cả hai bên khi họ quá phụ thuộc lẫn nhau.
EU lệ thuộc vào nguồn cung cấp nhiên liệu hóa thạch giá rẻ từ Nga khi mua khoảng một nửa lượng dầu xuất khẩu của nước này, còn 40% nguồn thu của Nga đến từ việc xuất khẩu dầu mỏ và khí đốt cho EU. Đây cũng là một trong những nguồn thu nhập ngoại tệ sinh lợi nhất của Nga. Do đó, ngừng mua dầu mỏ để cắt nguồn thu tài chính của Nga trở thành một vũ khí mà EU muốn sử dụng để buộc Nga phải ngừng các hoạt động quân sự tại Ukraine. Động thái này được người đứng đầu chính sách đối ngoại và an ninh của EU Josep Borrell gọi là “quyết định mang tính bước ngoặt làm tê liệt” cỗ máy quân sự của Tổng thống Nga Vladimir Putin.
Vấn đề là liệu 27 quốc gia thành viên EU với các lợi ích gắn bó khác nhau với Nga, cũng như mức độ lệ thuộc dầu mỏ nặng nhẹ không đồng đều với Nga có làm cho “vũ khí dầu mỏ” này thật sự gây tổn thương cho nước Nga hay không.
Trước khi đi đến quyết định cấm nhập dầu mỏ từ Nga, phương Tây đã thực hiện 5 vòng cấm vận kinh tế với mục tiêu là các thực thể khác nhau của Nga nhằm cô lập phần lớn nền kinh tế của nước này khỏi phần còn lại của thế giới. Tuy nhiên, các biện pháp trừng phạt kinh tế, mặc dù khắc nghiệt, nhưng vẫn không làm thay đổi chính sách của Nga tại Ukraine. Do đó, việc tẩy chay dầu mỏ được kỳ vọng có thể trở thành điểm mấu chốt để có thể xoay chuyển cục diện tại Ukraine.
Vào cuối tháng 5, người đứng đầu các chính phủ thành viên EU đã đạt được một thỏa thuận trong giai đoạn cấm một phần đối với dầu và các sản phẩm dầu của Nga nhắm mục tiêu vào dầu thô vận chuyển bằng đường biển của Nga. Lệnh cấm của châu Âu sẽ cấm mua dầu thô của Nga như dầu diesel vào cuối năm nay, nhưng đối với các sản phẩm dầu tinh chế của Nga sẽ có hiệu lực vào năm tới. Tuy nhiên, EU cho biết cũng sẽ có một sự miễn trừ “tạm thời” đối với dầu được vận chuyển qua đường ống để cho các quốc gia thành viên EU như Hungary tiếp tục nhập khẩu dầu mỏ qua đường ống. Thủ tướng Hungary Viktor Orban, một người ủng hộ Tổng thống Nga Vladimir Putin, cho biết lệnh cấm năng lượng của Nga sẽ là một “quả bom nguyên tử” đối với nền kinh tế Hungary.
Liệu lệnh trừng phạt có hiệu quả?
Đây là một quyết định cấm vận không hề dễ dàng sau khi các nhà lãnh đạo trong khối EU đã tranh luận về vòng trừng phạt thứ 6 trong nhiều tuần. Về mặt lý thuyết, quyết định này rất có ý nghĩa với sự thống nhất và đoàn kết của EU, cũng như dũng cảm chính trị của các nhà lãnh đạo. Đó là việc các quốc gia EU sẵn sàng chịu đựng đau đớn về kinh tế để trừng phạt Nga khi chi phí nhiên liệu cao đã và đang gây ra đau đớn về kinh tế cho các quốc gia phải nhập khẩu nhiên liệu cũng như tiềm ẩn bất ổn chính trị cho các đảng cầm quyền ở châu Âu.
Tuy nhiên, lệnh cấm mang ý nghĩa “nửa vời” theo hai khía cạnh: lệnh cấm vận chỉ áp dụng đối với dầu mỏ, nhưng miễn trừ khí đốt; và thời gian có hiệu lực kéo dài tới cuối năm cho phép các quốc gia châu Âu tìm nguồn cung thay thế thay vì ngay lập tức. Thủ tướng Áo Karl Nehammer bày tỏ sự ủng hộ đối với lệnh cấm nhưng thừa nhận rằng nó sẽ “chắc chắn gây đau đớn” cho châu Âu. Ông Nehammer cũng bác bỏ quan điểm về một lệnh cấm tương tự đối với khí đốt, lưu ý rằng việc tìm kiếm một loại dầu thay thế dễ dàng hơn nhiều.
Để hoạt động tẩy chay dầu mỏ Nga của EU có hiệu quả, lệnh cấm phải hạn chế hoặc chấm dứt khả năng bán dầu của Nga ngay lập tức. Một cuộc tẩy chay hoàn toàn bắt đầu ngay lập tức như cách Mỹ và Anh đã áp đặt đối với Nga, rõ ràng sẽ hiệu quả hơn là việc hạn chế nguồn cung từ từ cho đến cuối năm. Các quốc gia thành viên EU đơn giản là không có khả năng cắt đứt hoàn toàn dòng sản phẩm năng lượng của Nga, ít nhất là không thể trong một sớm một chiều.
Lệnh cấm năng lượng của Nga sẽ là một “quả bom nguyên tử” đối với nền kinh tế Hungary. Thủ tướng Hungary Viktor Orban Theo Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA), châu Âu là điểm đến cho gần một nửa lượng dầu thô và chế phẩm dầu xuất khẩu của Nga trước cuộc xung đột Ukraine. EU đã nhập khẩu 2,2 triệu thùng dầu thô/ngày (bpd) vào năm 2021, bao gồm 0,7 triệu thùng/ngày thông qua đường ống, cũng như 1,2 triệu thùng/ngày đối với các sản phẩm dầu tinh chế.
Trong đó, Đức, nền kinh tế lớn nhất trong EU, là quốc gia mua dầu Nga hàng đầu của EU, nhập khẩu 687.000 thùng dầu thô/ngày và 149.000 thùng sản phẩm tinh chế/ngày theo số liệu vào tháng 11/2021. Đức cũng là nhà nhập khẩu dầu thô đường ống Nga lớn nhất của EU, đứng ở mức 555.000 thùng/ngày vào năm 2021. Hà Lan là nhà nhập khẩu dầu thô lớn thứ hai của Nga và là nhà nhập khẩu hàng đầu của EU đối với các sản phẩm dầu tinh chế của Nga. Hà Lan đã nhập khẩu dầu thô 414.000 thùng/ngày và 335.000 thùng/ngày sản phẩm tinh chế vào tháng 11/2021.
Do vậy, việc đưa nhà sản xuất dầu mỏ lớn thứ 3 thế giới ra khỏi thị trường năng lượng châu Âu thậm chí sẽ gây ra tình trạng thiếu hụt trầm trọng với mức giá tăng nhanh vượt qua khả năng chịu đựng của các quốc gia EU. Chi phí trừng phạt Nga càng cao thì việc duy trì sự ủng hộ chính trị trong EU đối với các lệnh trừng phạt sẽ càng khó khăn hơn.
Tính toán của các bên
Câu hỏi chính là liệu Nga có thể tìm được những người mua khác cho dầu của mình thay thế cho EU hay không. Tất nhiên câu trả lời là có. Loại dầu thô của Nga, được gọi là Urals, chi phí sản xuất được dự tính chỉ khoảng từ 20-30 USD mỗi thùng, nên giá thành rẻ hơn các loại dầu mỏ khác. Dầu Urals của Nga hiện có giá khoảng 95 USD một thùng, trong khi dầu Brent là 120 USD. Trong khi đó, sự lo lắng về bất ổn nguồn cung do cuộc xung đột Ukraine đã đẩy giá dầu tăng vọt, dẫn đến doanh thu năng lượng cao kỷ lục cho Nga trong tháng 3 và tháng 4, hai tháng sau khi “chiến dịch quân sự đặc biệt” bắt đầu. Trong 4 tháng đầu năm 2022, Nga đã kiếm được một nửa doanh thu năng lượng theo kế hoạch của năm. Doanh thu của Nga từ xuất khẩu nhiên liệu hóa thạch đã tăng lên 62 tỷ euro trong 2 tháng đầu tiên của cuộc xung đột ở Ukraine, so với trung bình chỉ khoảng 12 tỷ euro một tháng trong năm 2021. Nước Nga vô tình trở nên “đắc lợi” từ lệnh cấm của châu Âu.
Vào năm ngoái, xuất khẩu khí đốt mang lại cho quốc gia này 60 tỷ USD, thì 4,3 triệu thùng dầu thô và 2,7 triệu thùng chế phẩm dầu mà Nga xuất khẩu mỗi ngày trong thời gian xảy ra xung đột đã mang lại nhiều gấp 3 lần.
Ngoài ra, không phải ai cũng đồng ý với EU. Các quốc gia như Trung Quốc và Ấn Độ đã ngay lập tức tăng mua dầu của Nga. Theo ước tính của Vortexa Analytics, nhập khẩu dầu từ Nga qua đường biển của Trung Quốc tăng kỷ lục gần 1,1 triệu thùng/ngày vào tháng 5 so với 800.000 thùng/ngày trong năm 2021. Đó là chưa kể Trung Quốc nhận khoảng 800.000 thùng dầu/ngày của Nga thông qua các đường ống. Điều đó sẽ đưa tổng nhập khẩu dầu từ Nga trong tháng 5 của Trung Quốc lên gần 2 triệu thùng/ngày, chiếm khoảng 15% tổng nhu cầu của Trung Quốc. Trong khi đó theo số liệu từ công ty Refinitiv Eikon, Ấn Độ đã mua tới 3,36 triệu tấn dầu thô Nga vào tháng 5/2022, gấp 9 lần so với trung bình mỗi tháng vào năm 2021, bất chấp sức ép từ phương Tây, đặc biệt là Mỹ.
Trả lời phỏng vấn tại Diễn đàn GLOBSEC Bratislava ở Slovakia vào ngày 3/6 về việc liệu Ấn Độ có giúp Nga tiến hành cuộc xung đột ở Ukraine bằng cách mua dầu của Nga, Ngoại trưởng Ấn Độ Subrahmanyam Jaishankar đã nói thẳng: “Mua khí đốt Nga không phải là tài trợ cho chiến tranh sao? Phải chăng chỉ có tiền Ấn Độ và dầu xuất đến Ấn Độ mới là tài trợ chiến tranh, còn khí đốt đến châu Âu thì không phải? Hãy công bằng về vấn đề này đi”. Ngoại trưởng Ấn Độ không kiêng nể khi chỉ trích lệnh cấm vận nửa vời của EU đối với dầu mỏ của Nga, trong khi EU vẫn tiếp tục nhập khí đốt của Nga.
Ông Jaishankar bảo vệ quan điểm rằng Ấn Độ không mua dầu Nga, mà chỉ mua dầu tốt nhất giá rẻ cho Ấn Độ. Ấn Độ hiện nay phải nhập khẩu tới 85% lượng dầu thô cho nhu cầu của mình, và cho thấy họ không có việc gì phải ngừng nhập dầu mỏ Nga. Do đó, vũ khí dầu mỏ mà EU sử dụng đối với Nga sẽ hiệu quả tới đâu vẫn còn là một câu hỏi lớn, khi không phải cường quốc nào trên thế giới cũng cùng quan điểm với phương Tây.
Thậm chí, ngay trong lòng EU cũng tồn tại những bất đồng về cách thực hiện. Vấn đề ai sẽ là bên “chịu đau” giỏi hơn, EU hay Nga, cho đến cuối năm nay? Trong khi đó, xung đột ở Ukraine vẫn tiếp diễn chưa biết đến khi nào.
Hôm 9/6, Bloomberg đưa tin, Đan Mạch và Hà Lan được cho sẽ không đồng ý việc cấp tư cách ứng viên EU cho Kiev.
Theo dự kiến Ủy ban châu Âu (EC) sẽ đưa ra ý kiến về việc Ukraine ứng cử tư cách thành viên EU vào tuần tới. Lãnh đạo EU cũng đã được lên lịch trình để thảo luận vấn đề này tại Brussels (Bỉ) một tuần sau đó.
Tuy nhiên, quá trình này có thể không diễn ra theo đúng kế hoạch. Dẫn các nguồn tin, Bloomberg cho biết Đan Mạch và Hà Lan được cho sẽ chặn tư cách thành viên EU của Ukraine.
Theo Bloomberg, các quan chức Đan Mạch lo ngại về hồ sơ tham nhũng và pháp quyền của Ukraine. Đan Mạch cho rằng Ukraine sẽ cần “cải thiện cơ bản khuôn khổ lập pháp và thể chế của mình” trong các lĩnh vực dân chủ, pháp quyền, nhân quyền, bảo vệ người thiểu số và các chính sách chống tham nhũng trước khi nước này được coi là ứng cử viên của EU.
Ukraine được xếp hạng là quốc gia tham nhũng nhất ở châu Âu và là một trong những nước có tình trạng tham nhũng nhất trên thế giới.
Các nước EU cảnh báo, việc Ukraine trở thành thành viên đẩy đủ của EU sẽ mất nhiều năm, thậm chí bước đầu tiên của tư cách ứng cử viên có thể còn “rất xa”.
Đầu tháng này, Thủ tướng Italia Mario Draghi cho biết hầu hết các nước lớn trong EU đều phản đối việc cấp tư cách thành viên EU cho Ukraine. Ông Draghi cũng lưu ý, các nước đều phải chờ vài năm để được trở thành ứng cử viên, chứ chưa nói đến việc trở thành thành viên EU.
Hôm 2/6, Chủ tịch EC Ursula von der Leyen tuyên bố sẽ không có đường tắt để gia nhập EU. Theo bà, quá trình này diễn ra nhanh hay chậm phụ thuộc vào chính quốc gia xin gia nhập cũng như sự hỗ trợ từ EU.
Trước đó, Thủ tướng Hà Lan Mark Rutte cảnh báo việc cấp cho Ukraine theo “lộ trình nhanh” trở thành thành viên EU sẽ không công bằng đối với các quốc gia như Thổ Nhĩ Kỳ và Montenegro – những quốc gia vẫn là ứng cử viên trong nhiều thập kỷ.
Thổ Nhĩ Kỳ đã nộp đơn xin gia nhập EU vào năm 1987 và được cấp tư cách ứng cử viên vào năm 1999. Các cuộc đàm phán về tư cách thành viên đã bị đình trệ kể từ đó.
Sau khi Nga phát động chiến dịch quân sự đặc biệt nhằm vào Ukraine hồi cuối tháng 2, Kiev đã đệ đơn xin gia nhập EU. Các nước thành viên EU đang tranh cãi về yêu cầu của Ukraine muốn đẩy nhanh tiến trình kết nạp nước này.
Lại có một biến thể Omicron mới: Nhánh (biến thể phụ) BA.5 là nguyên nhân chính phát sinh các ca nhiễm. Tình hình đáng lo ngại như thế nào?
Các ca nhiễm với biến thể Omicron mới nhất-BA.5 đang gia tăng. Đó là lý do tại sao Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) xếp loại biến thể phụ Omicron này là phải cần quan tâm nhất. Viện Robert Koch của Đức (RKI) cho rằng, BA.5 và các phân nhóm Omicron khác sẽ tiếp tục lây lan nhanh chóng vì khả năng truyền nhiễm của chúng cao hơn so với biến thể Delta và cảnh báo về sự gia tăng các ca nhiễm trùng ngay trong mùa Hè này.
„Tỷ lệ ca nhiễm tăng mạnh nhất hiện nay đều từ các dòng phụ BA.4 và BA.5“, RKI đưa tin vào ngày 9 tháng 6 và kết luận rằng, hai biến thể Omicron mới này có thể sớm chịu trách nhiệm cho phần lớn các trường hợp. Biến thể BA.5 đã chiếm mười phần trăm các ca lây nhiễm mới hiện nay. Đó là gấp đôi so với một tuần trước đó, vào đầu tháng Sáu.
BA.5 xuất hiện đầu tiên ở Nam Phi
Biến thể BA.5 đã gây lo ngại ở Nam Phi vào đầu tháng Năm. Tuy nhiên chỉ là một làn sóng lây nhiễm nhỏ hơn đợt trước và đang giảm dần. Trong khi đó, ở Bồ Đào Nha, loại biến thể phụ mới Omicron BA.5 đã gây ra 80% trên tổng số ca nhiễm mới. Cho đến nay, biến thể phụ không xác định này dễ lây lan hơn các biến thể trước đó. Nó cũng không thể được nhận biết bởi các kháng thể trung hòa và có thể lây lan nhanh hơn. Tuy nhiên, các diễn biến bệnh nhẹ hơn so với Delta.
Mũi tiêm nhắc lại có chống lại các biến thể Omicron không?
Sự bảo vệ được sinh ra bởi vắc-xin corona giảm theo thời gian khi nồng độ kháng thể giảm xuống. Điều tương tự cũng áp dụng cho những người đã trải qua nhiễm Coronavirus. Ngay cả những người đã được tiêm phòng và những người đã khỏi bệnh cũng không có được sự bảo vệ tối ưu chống lại các vi khuẩn dòng phụ Omicron mới và có thể bị nhiễm lại. BA.5 đã có chỗ đứng ở một số quốc gia – chẳng hạn như Bồ Đào Nha – nơi số lượng ca nhiễm mới đã tăng mạnh trong một thời gian rất ngắn. Vì vậy, các ca nhiễm mới với biến thể phụ vẫn có thể xảy ra mặc dù đã tiêm phòng và / hoặc đã từng bị nhiễm bệnh và xảy ra thường xuyên hơn so với biến thể Delta.
Số ca nhiễm nhiều hơn nhưng tử vong và nhập viện ít hơn
Theo các chuyên gia, điều này là do hàng triệu người hiện đã được chủng ngừa và có kháng thể, ngay cả khi nồng độ không cao. Khả năng miễn dịch cộng đồng nói chung cao hơn so với thời kỳ đầu của đại dịch. Tuy nhiên, RKI khuyến nghị các nhóm nguy cơ bệnh nền và người cao tuổi nên tiêm mũi nhắc lại để tăng số lượng kháng thể lên.
Các loại vắc-xin được tiêm đều có mục tiêu nhắm vào Spike-Protein (Protein của gai Virus), nó đã hoạt động tốt ở giai đoạn đầu của đại dịch. Hiện Virus đã đột biến theo cách mà các kháng thể không còn nhận biết được nữa và vì thế nó có thể trốn tránh dễ dàng, nhưng dường như các biến thể mới, bao gồm cả BA.5 lại ít nguy hiểm hơn. Một giả thuyết cho rằng các biến thể đó có thể rất nhanh chóng tấn công một cách ồ ạt đường hô hấp trên, nhưng các tế bào phổi lại rất ít bị ảnh hưởng. Trong những đợt nhiễm Coronavirus ban đầu, phổi bị ảnh hưởng nặng nề hơn, dẫn đến nhiều ca tử vong hơn.
Phòng chống lây nhiễm Omicron
Thời gian kể từ khi bị lây nhiễm đến khi thực sự xuất hiện các triệu chứng đầu tiên ở Omicron ngắn hơn so với biến thể Delta là 3 ngày. Hiện tại khả năng bảo vệ mà các loại vắc-xin đem lại để chống biến thể Omicron không phải là tối ưu, nhưng chúng vẫn giúp người ta khỏi các trường hợp nghiêm trọng. Tiêm chủng cơ bản có lẽ là đủ cho việc này. Tiêm phòng nhắc lại đảm bảo rằng nhiều kháng thể hơn được tạo ra để có được sự bảo vệ tốt hơn.
Mặc dù biến thể Omicron với nhiều dạng phụ khác nhau, thường có diễn biến nhẹ hơn nhiều so với Delta, các triệu chứng nghiêm trọng hiếm hoi cũng có thể xảy ra trong một số trường hợp. Và: Cho đến nay vẫn chưa rõ hết những hậu quả lâu dài mà biến chủng Omicron có thể gây ra.
Khi các quốc gia phương Tây bắt đầu áp đặt các biện pháp trừng phạt lên những người thân cận với nhà lãnh đạo Nga, bao gồm cả các thành viên trong gia đình ông, bí mật về cuộc sống riêng tư của vị tổng thống đang dần bị hé lộ.(phần 1)
Vladimir Putin không thích những kẻ tọc mạch.
Đó là năm 2008, và Tổng thống Nga, khi ấy 56 tuổi, sau 8 năm đứng trên đỉnh cao quyền lực, đã xuất hiện trong một cuộc họp báo tại Villa Certosa xa hoa ở xứ Sardinia. Bên cạnh là đồng minh thân cận nhất của ông ở Tây Âu, Silvio Berlusconi, ông trùm truyền thông kiêm Thủ tướng Ý nổi tiếng là đi theo chủ nghĩa khoái lạc, người chia sẻ với ông nhiều sở thích, từ những chuyện đùa thô tục, đến những đồ trang trí lộng lẫy và khối tài sản kếch xù.
Suốt mùa hè, hai cô con gái tuổi teen của Putin được vui vẻ chạy nhảy trong biệt thự rộng lớn, bí mật đến những khu mua sắm sang trọng, và chèo thuyền du ngoạn nhiều nơi, nhưng phải tuân theo một chỉ thị nghiêm ngặt là danh tính của họ phải được che giấu và khuôn mặt của họ không được ghi lại trên camera, theo lời một người am hiểu về dàn xếp này.
Chiến lược bảo vệ gia đình nghiêm ngặt đó đã có hiệu quả với Putin suốt nhiều năm, cho đến khi Nga xâm lược Ukraine vào tháng 2. Giờ đây, khi các quốc gia áp đặt các biện pháp trừng phạt lên những người thân cận nhất với ông – trong đó có cả những biện pháp được Anh chấp thuận vào thứ Sáu, dành cho người phụ nữ từ lâu được coi là tình nhân của ông, Alina Kabaeva, và vợ cũ của ông, Lyudmila Ocheretnaya – bức tường thành đang bắt đầu sụp đổ, theo đó tiết lộ thêm nhiều điều về đời tư của nhà lãnh đạo Nga.
Một vài trong số những bí mật gia đình phức tạp của Putin đến từ chính căn villa sang trọng, khi một phóng viên người Nga, Nataliya Melikova của tờ Nezavisimaya Gazeta, rón rén tiếp cận ‘vùng cấm.’ Vài ngày trước đó, một bài báo trên tờ Moskovsky Korrespondent cho rằng Putin và người vợ kết hôn 25 năm nay đã bí mật chia tay. Hấp dẫn hơn, tờ báo còn đưa tin rằng ông đã phải lòng Kabaeva, một vận động viên thể dục nhịp điệu nổi tiếng, từng giành Huy chương Vàng Olympic, người khi ấy chỉ mới 24 tuổi, bằng tuổi con gái ông, và đã trở thành gương mặt đại diện cho đảng chính trị của ông.
“Tôi luôn phản ứng tiêu cực khi gặp những người, với chiếc mũi sụt sịt và đầu óc dâm dục, thích can thiệp vào cuộc sống của người khác,” Putin nói, phủ nhận thông tin trong bài báo. Berlusconi đã giả vờ bắn Melikova bằng một khẩu súng máy tưởng tượng trong lúc Putin, người khi đó đã bị buộc tội giết hại một số nhà báo, gật đầu và mỉm cười. Vài ngày sau, Moskovsky Korrespondent phải tạm dừng hoạt động vì “lý do tài chính”.
Tổng thống Vladimir V. Putin của Nga và Silvio Berlusconi, khi đó là Thủ tướng Ý, vào năm 2008 tại Villa Certosa ở Sardinia. Nguồn Mario Laporta/Getty Images.
Putin không đơn thuần là một người cha bảo vệ con cái, người ‘muốn cho hai con gái của mình một cuộc sống bình thường, và coi sự an toàn của các con là vấn đề an ninh quốc gia.’ Là một cựu đặc nhiệm KGB thành thạo các mánh lới của cơ quan tình báo, biết cách bóp méo thông tin, và sở hữu khả năng của Thần Janus hai mặt – dễ dàng đóng nhiều vai khác nhau tùy thuộc vào tình huống, Putin đã che giấu cuộc sống cá nhân của mình trong bí mật và bọc kín nó bằng những tin đồn.
Ông có hai cô con gái được chính thức thừa nhận từ cuộc hôn nhân đầu tiên của mình, nhưng theo các hãng thông tấn độc lập của Nga và các bản tin quốc tế chưa được kiểm chứng, vị tổng thống có thể còn có thêm 4 người con với hai người phụ nữ khác. Tuy nhiên, ngay cả những cô con gái được thừa nhận của ông, hiện đã bước vào tuổi trung niên, cũng được giấu kín đến mức không thể nhận ra trên đường phố Moscow. Vợ cũ của Putin, người mà một số nhà viết tiểu sử tin rằng ông quyết định kết hôn để nâng cao cơ hội vào KGB vốn không thích tuyển người độc thân, về cơ bản đã biến mất thậm chí từ trước khi họ ly hôn.
Trong khu biệt thự của người Nga ở Thụy Sĩ, một bản kiến nghị đã bắt đầu xuất hiện vào tháng 3, yêu cầu cho hồi hương người được cho là tình nhân của tổng thống, Kabaeve – tức giận so sánh bà với tình nhân của Hitler, Eva Braun. Ở Lugano, người dân địa phương rỉ tai nhau về tòa nhà kính xanh nhìn ra hồ nơi Kabaeva đang sinh sống, và nói một cách đầy tự tin về bệnh viện nơi những đứa con được đồn đại của bà chào đời, và trường học mà chúng theo học. Nhưng họ chưa từng nhìn thấy bà.
Những đứa trẻ này không được xác minh danh tính và bị coi là vô hình. Trong một tòa nhà chung cư cao cấp ở Monte Carlo, cư dân vẫn thường lắc đầu trước câu hỏi liệu một người bạn gái và một đứa con khác của Putin có đang sở hữu tài sản ở đó, và về việc gia đình của người phụ nữ này cũng có chung địa chỉ với gia đình Kabaeva tại các tòa nhà sang trọng ở Moscow. Trong nhiều trường hợp, đây là những bóng ma, và như trong nhiều câu chuyện ma, những bóng ma được tạo ra là để gây hiệu ứng, hoặc bởi các nhà phê bình muốn phá bỏ hình ảnh tự tạo của Putin như một người bảo vệ các giá trị của gia đình, hoặc bởi những người ủng hộ ông nhằm củng cố hình ảnh về sự giàu có, cường tráng, và bí ẩn của Putin. Hoặc có thể những câu chuyện này đơn giản là có thật.
“Có rất nhiều câu chuyện. Có thể tất cả chúng đều đúng, hoặc chẳng có gì đúng cả. Và đó chính là lớp sương mù của Putin,” theo lời Nina Khrushcheva, giáo sư về các vấn đề quốc tế sinh ra ở Moscow, hiện đang giảng dạy tại trường New School ở New York. Theo bà, Putin vừa là một người sống cực kỳ bí mật, vừa là một người ưa thích sự phô trương, người đã chán ghét cách phương Tây miêu tả ông như một siêu tội phạm.
Putin vào năm 1985, cùng với người vợ lúc đó là Lyudmila, và con gái Katya của họ. Nguồn: Cơ quan Lưu trữ Nga/Picture Alliance, qua Getty Images)
Là cháu gái của Nikita Khrushchev, Khrushcheva nói rằng Putin sở hữu một thế giới quan phức tạp đặc trưng của Điện Kremlin, và giống như Stalin, ông chấp nhận và duy trì một thần thoại được tô điểm bằng sự thật. “Anh sẽ tạo ra thông tin sai lệch,” bà nói. “Anh tạo ra một bầu không khí về điều gì đó mà mọi người đều muốn phỏng đoán, mọi người đều thảo luận về nó, và mọi thứ đều là bí mật.”
Tuy nhiên, vẫn có những điều đủ sáng tỏ. Các thành viên trong gia đình Putin là những người được hưởng lợi từ một chế độ đạo tặc với Putin là người đứng đầu theo kiểu bố già mafia, được các tướng tá đầu sỏ cống nạp của cải, hoặc trao tặng những công việc béo bở hoặc những biệt thự sang trọng dành cho gia đình ông và những người mà ông có thiện cảm. Suốt hàng thập niên, rất ít người thành công trong việc xuyên thủng lớp bong bóng bảo vệ bao quanh họ và các nguồn lực của họ, nhưng cuộc xâm lược Ukraine của Putin đã thay đổi điều đó.
Tháng 4, người Mỹ cuối cùng đã nhả đạn vào giữa lớp sương mù, và áp đặt các biện pháp trừng phạt đối với hai con gái của ông, lấy lý do họ là thân nhân của một người bị trừng phạt – Putin – và khẳng định hai người đã ủng hộ ngành công nghiệp quốc phòng Nga, và đã trực tiếp nhận hàng tỷ đô la từ ngân quỹ do Putin giám sát. Các quan chức cho biết, chính phủ Mỹ suýt chút nữa đã trừng phạt cả Kabaeva, nhưng quyết định rút lại vào phút chót để tránh gây leo thang.
Các chuyên gia về lệnh trừng phạt cho rằng những biện pháp đó không nhằm gây thiệt hại tài chính cụ thể cho Putin, nhưng là để gửi cho ông một thông điệp rằng sự hung hăng của ông đã vượt quá ranh giới, và rằng phương Tây có thể nhìn rõ và tiếp cận thế giới riêng tư tưởng chừng vô hình và không thể chạm tới của ông.
Khi được hỏi về làn sóng trừng phạt của phương Tây nhắm vào gia đình Putin, Dmitri S. Peskov, người phát ngôn Điện Kremlin, trả lời, “Nhìn chung, các biện pháp trừng phạt không được Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc thông qua đều rất tệ, và quan trọng nhất là chúng vô ích. Trừng phạt nhắm vào gia đình, họ hàng, người quen, và các nhà báo là điều ngu xuẩn.” Khi được hỏi liệu Điện Kremlin có tin rằng các biện pháp trừng phạt đối với Kabaeva và những người thân của bà là hành vi xúc phạm cá nhân nhắm vào Putin hay không, Peskov nói thêm, “Đó chỉ là một quyết định ngu ngốc!”
Chi nhánh Hà Lan
Trên một khu đất đầy cỏ ở ngoại ô Amsterdam, những người biểu tình mới đây đã gửi một thông điệp tới Putin, thông qua cô con gái Maria. Nằm gần những lá cờ Ukraine được cắm ở giữa một trái tim làm bằng nến là một tấm biển đề gửi đến “Ave Maria Putin” có nội dung: “Có vẻ như bố cô là người rất khó tiếp cận, và rõ ràng là ngay cả tay sai cũng không thể ngăn cản ông. Nhưng chúng ta đều biết, bố và con gái lại là một câu chuyện khác,” và, “Chúng tôi cầu xin cô, Maria.”
Một lá cờ Ukraine đã được cắm trên mảnh đất nằm gần Amsterdam của Jorrit Faassen, chồng cũ của Maria Vladimirovna Vorontsova, người được biết đến là con gái lớn của Putin. Nguồn Dmitry Kostyukov chụp cho New York Times.
Địa điểm mà thoạt đầu có vẻ khó được chọn là nơi cầu xin – và một nhân vật khó mà nhận được lời cầu xin – đã trở nên có lý hơn, khi người ta biết rằng mảnh đất ấy gần đây đã được mua bởi Jorrit Faassen, một người đàn ông Hà Lan từng kết hôn và có ít nhất một đứa con với Maria Vladimirovna Vorontsova, cô con gái lớn được thừa nhận của Putin. Trong vòng 15 năm kể từ khi Vorontsova bắt đầu bí mật sống chung với Faassen ở Hà Lan, đã từng có lúc cô trở thành tâm điểm của sự phẫn nộ ở địa phương chống lại người cha độc đoán của mình.
Tình hình trở nên đặc biệt căng thẳng vào năm 2014, sau khi phe ly khai do Nga hậu thuẫn bắn rơi một máy bay của Malaysia Airlines khởi hành từ Amsterdam bay qua Ukraine, khiến 298 người thiệt mạng, trong đó có gần 200 người Hà Lan. Các thị trưởng trên khắp Hà Lan yêu cầu trục xuất Vorontsova, và lệnh giám sát cô ngày càng gay gắt hơn kể từ khi chiến tranh nổ ra ở Ukraine.
Gần đây, một tờ báo điều tra của Hà Lan, Follow the Money, đã liên hệ với Faassen – người hiện đang ở Nga.
Bằng chất giọng đặc trưng của người La Haye, Faassen gọi cuộc chiến ở Ukraine là một điều khó chịu, và phủ nhận việc mình từng là chồng của Vorontsova. “Anh ta không cảm thấy thoải mái,” biên tập viên phỏng vấn, Harry Lensink, cho biết.
Jan Daalder, trái, và Harry Lensink của “Follow the Money” tại văn phòng của họ ở Amsterdam. Nguồn Dmitry Kostyukov chụp cho New York Times.
Kể từ đó, các phóng viên cũng thấy khó chịu và lo lắng về việc điện thoại của họ bị nghe trộm. Một người đóng góp cho bài báo về Faassen đã nhận được thông báo rằng một người sử dụng máy chủ tại Moscow đã cố gắng hack tài khoản email của ông.
Tất cả những tức giận và lo lắng đó hoàn toàn khác xa với niềm vui trong bữa tiệc kỷ niệm của cặp đôi này vào năm 2008 ở Wassenaar, có lẽ là khu vực riêng tư nhất và giàu có nhất ở Hà Lan. “Đó là một bữa tiệc cưới,” Danny Plezier, một ca sĩ địa phương chuyên hát dân ca Hà Lan đã biểu diễn tại buổi tiệc, hồi tưởng lại.
Plezier cho biết các khách mời đã hát theo các bản nhạc nổi tiếng của mình, và ông đã bắt tay chú rể, người mà ông đã quen biết trong nhiều năm, cũng như bắt tay cô dâu mới. Plezier nói rằng mình không biết cô ấy là con gái của Putin và đã rời đi sau khi hoàn thành công việc.
Gần như chẳng một ai trong đám cưới biết về cô dâu, dù bạn bè của Faassen, những người chuyển đến Moscow làm việc vào năm 2006, đã ẩn ý trong các bài phát biểu ồn ào của mình. Họ nói đùa về thú tiêu khiển là tán tỉnh các cô gái Nga giàu có trong các câu lạc bộ ở Moscow.
Cha mẹ Maria không đến dự tiệc cưới ở Hà Lan của cô. Tuy nhiên, một số người Nga đã có mặt, bao gồm cả những người đàn ông lực lưỡng đứng nhìn từ quán bar trong vai người thân của cô dâu – cô gái trẻ đã hát một bài hát truyền thống, cảm động của Nga – sau đó vui vẻ nhảy theo điệu nhạc tango.
Một tòa nhà của bảo tàng nghệ thuật tư nhân Voorlinden ở Wassenaar, Hà Lan, nơi diễn ra tiệc cưới của Maria và Faassen vào năm 2008, trước khi nó trở thành quán cà phê và trung tâm hội họp cho một bảo tàng nghệ thuật mới. Nguồn Dmitry Kostyukov chụp cho New York Times.
Anh họ của chú rể Casper Faassen, hiện là một nghệ sĩ nổi tiếng ở Hà Lan, nói rằng lần tiếp theo ông nhìn thấy vợ của em họ mình, Maria, là trong bữa tiệc sinh nhật của người dì ở thị trấn Merenwijk gần đó. Trong lúc những vị khách còn đang loay hoay lựa chọn những món ăn Indonesia trên bàn tiệc, ông nói, Maria có vẻ điềm đạm nhưng khác biệt, trông thanh lịch trong bộ váy màu be, đứng với tư thế hoàn hảo, giống như một vũ công. Cô giao tiếp với mọi người, kể cả chồng mình, bằng thứ tiếng Anh lưu loát và chỉ nói được một chút tiếng Hà Lan.
Hai vợ chồng sau này đã đặt hàng một số tác phẩm nghệ thuật của Faassen. Người nghệ sĩ kể lại lần chuyển ba tấm ảnh mờ về những vũ công ballet trên nền lá vàng đến căn hộ của họ, nằm phía trên siêu thị Albert Heijn ở Voorschoten gần đó. Maria ra mở cửa, trong khi chồng cô, Jorrit, đang nằm dài trên chiếc ghế đặt trước ti vi. Khi bước vào, Casper nói đùa về việc em họ của mình là một củ khoai tây lười biếng, và nhớ lại rằng Maria đã đảo mắt đồng tình.
Cả Casper lẫn những người khác trong gia đình đều không biết danh tính thực sự của người phụ nữ có tên Maria Vladimirovna Vorontsova, và khi ấy đã trở thành Maria Faassen, nhưng với cha cô, thì luôn là Masha. Thế rồi, vào năm 2010, một tờ báo của Nga, New Times, đưa tin rằng Jorrit, đang là nhân viên trong một công ty tư vấn của Nga, đã ăn một trận đòn từ vệ sĩ của Matvey Urin, một chủ ngân hàng hàng đầu của Nga, người không biết mình đang đối đầu với ai, sau một vụ nổi cơn tam bành trên đường phố Moscow.
Urin nhanh chóng bị mất giấy phép hoạt động ngân hàng và nhóm vệ sĩ cuối cùng đã phải ngồi tù. Các phóng viên Nga đồn đoán rằng tay nhân viên người Hà Lan là con rể của Putin, nhưng Jorrit luôn phủ nhận điều đó.
Maria vào năm 2021 tại Diễn đàn Phụ nữ Á-Âu ở St. Petersburg, Nga. Nguồn Ekaterina Chesnokova/Sputnik, qua Associated Press.
Cặp đôi đã dành phần lớn thời gian của mình ở Moscow, nơi các tài liệu liệt kê Jorrit là một quan chức tại ngân hàng Gazprombank. Casper cho biết người em họ từng có lần đề nghị móc nối và bán tác phẩm của ông ở Nga. Nhưng sau đó, những tin đồn về huyết thống của Maria đã bắt đầu lan truyền, và nghệ sĩ, người khinh bỉ Putin vì kiềm chế dân chủ và đàn áp bạo lực, đã từ chối cơ hội làm ăn.
“Tôi nói, ‘Cảm ơn, nhưng không cần đâu,’” Casper nói và tránh xa cặp đôi này từ đó về sau.
Nhưng cư dân địa phương đã dần chú ý đến họ nhiều hơn. Vào một buổi chiều gần đây, xung quanh tòa nhà cao cấp sang trọng nơi Jorrit mua hai tầng trên cùng, một người hàng xóm gốc Ukraine đã tỏ ra bất bình với hai vợ chồng, trong khi Corien Zoetemelk, 57 tuổi, sống đối diện với căn hộ áp mái của họ, hồi tưởng mình đã nhìn thấy cặp đôi này nhiều lần, cả những khi họ đi xe trượt dọc con kênh bên dưới tòa nhà chung cư.
Bà nói, “Tôi đã nhìn thấy họ trên chiếc xe trượt. Lúc đó cô ấy đang mang thai.”
Trên ban công tầng hai của tòa nhà cạnh con kênh, một người đàn ông lớn tuổi nói rằng mình “đã có lần đi thang máy với cô ấy” và “cô ấy trông giống bố.” Người đàn ông cho biết cặp vợ chồng này cũng có một cậu con trai, hoặc chí ít thì mọi người đã từng thấy Jorrit, người tránh tiếp xúc với hàng xóm của mình, đi cùng với một cậu bé. Người đàn ông trên ban công ngừng nói khi bà vợ tức giận gọi ông vào nhà. “Họ có thể xử anh vì chuyện đó,” bà rít lên.
Một tòa nhà ở Voorschoten nơi Maria và Faassen từng sở hữu hai tầng trên cùng. Nguồn Dmitry Kostyukov chụp cho New York Times.
Sergei Roldugin, một nghệ sĩ cello kiêm anh bạn thân giàu có đến mức đáng kinh ngạc của Putin, hiện đã nằm trong danh sách trừng phạt của Mỹ và Liên minh châu Âu, đồng thời là cha đỡ đầu của Maria, từng nói với một phóng viên rằng cô có một cậu con trai vào năm 2012. Năm 2017, khi trả lời phỏng vấn của Oliver Stone, Putin thừa nhận rằng mình đã lên chức ông ngoại.
Một số người dân địa phương tin rằng họ đã nhìn thấy ông ngoại người Nga đến thăm cháu.
“Đúng là tôi đã thấy Putin,” Patricia Kortekaas, 62 tuổi, thành viên Hội đồng thành phố Voorschoten, nói khi bà đứng bên ngoài siêu thị mà Tổng thống Nga được cho là đã bước vào. Bà nhớ lại đã nhìn thấy ông, được vệ sĩ vây quanh, đứng ở kệ hàng cà phê và trà.
“Ông ấy trông có vẻ thận trọng,” bà kể lại. “Tôi nghĩ, ‘Ông ấy bị sao vậy?’” (Văn phòng của Putin đã phủ nhận chuyến thăm.)
Patricia Kortekaas nói rằng bà đã nhìn thấy Putin ở siêu thị sau lưng mình. Nguồn Dmitry Kostyukov chụp cho New York Times.
Đến thời điểm năm 2014, Maria đã trở thành một chuyên gia về bệnh lùn ở trẻ em. Dự án từ thiện của cô, Elfa-Endo, giúp đỡ trẻ em có vấn đề về nội tiết, cũng nhận được tài trợ từ Ngân hàng Alfa quyền lực – mà nay đang bị trừng phạt. Đó có thể là lý do Bộ Tài chính Mỹ quyết định trừng phạt cô, vì dẫn đầu “các chương trình do nhà nước [Nga] tài trợ, đã nhận hàng tỷ đô la từ Điện Kremlin để tiến hành các nghiên cứu di truyền học, do đích thân Putin giám sát.”
Những lệnh trừng phạt đó có thể làm tổn thương gia đình mới của cô ấy. Theo một báo cáo được công bố vào tháng 4, bởi hãng thông tấn độc lập Meduza của Nga và trang web tiếng Nga Current Time TV, khi đó Maria đã ly hôn với Jorrit và tái hôn với một người đàn ông Nga đang làm việc tại công ty khí đốt Novatek. Một nhà tài phiệt quyền lực, Gennady Timchenko, người nổi danh là chuyên lo liệu chuyện gia đình giúp Putin, và cũng là người nằm trong danh sách trừng phạt, gần đây đã nhận một ghế tại hội đồng quản trị của Novatek.
Hiện không thể liên lạc được với Maria. Faassen cũng không hồi đáp yêu cầu xin phỏng vấn mà phóng viên gửi cho cha anh ta – người đã nói: “Hãy biến đi”, tại nhà của ông, nơi các cửa sổ, theo truyền thống Hà Lan thường sẽ không được che lại, nhưng nay đã bị dán đầy giấy báo.
Cửa sổ tại nhà của cha Faassen đã bị dán kín giấy báo vào tháng 3. Nguồn Dmitry Kostyukov chụp cho New York Times.
Ngày 5.6, ông Richard Marles, Bộ trưởng Quốc phòng Australia cho biết một máy bay tuần sát, săn ngầm P-8A thuộc không quân nước này đã bị một máy bay chiến đấu J-16 của Trung Quốc ngăn chặn một cách nguy hiểm trong “hoạt động giám sát biển thông thường” trong không phận quốc tế ở Biển Đông vào ngày 26.5.
Máy bay do thám P-8A Poseidon của Australia vừa bị tiêm kích Trung Quốc quấy rối trên Biển Đông, trong khu vực thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. (Nguồn: Không quân Hoàng gia Australia)
Tại họp báo thường kỳ ngày 9.6, trả lời câu hỏi của phóng viên về thông tin máy bay Australia bị tiêm kích Trung Quốc quấy rối trong không phận thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng nhấn mạnh:
Việt Nam cho rằng hoạt động của tất cả các nước cần phù hợp với luật pháp quốc tế, Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) 1982 và các quy định của Tổ chức Hàng không dân dụng quốc tế (ICAO), không làm gia tăng căng thẳng khu vực, đóng góp thiết thực vào duy trì hòa bình, ổn định, an ninh, trật tự, hợp tác và phát triển của khu vực và quốc tế.
Một lần nữa, Việt Nam khẳng định có đầy đủ căn cứ pháp lý và bằng chứng lịch sử về chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, phù hợp với luật pháp quốc tế.
Trả lời về vụ chiến đấu cơ J-16 chặn máy bay tuần tra P-8 của Úc ở Biển Đông, phát ngôn viên Bộ Quốc phòng Trung Quốc Đàm Khắc Phi ngày 7.6 nói rằng máy bay Úc đã tiến vào không phận gần quần đảo Hoàng Sa và liên tục tiếp cận không phận của quần đảo Hoàng Sa để trinh sát bất chấp những cảnh báo liên tục từ phía Trung Quốc.
Ông Đàm nói rằng máy bay Úc đe dọa nghiêm trọng cái gọi là chủ quyền của và an ninh của Trung Quốc và các biện pháp đối phó của quân đội Trung Quốc được thực thi chuyên nghiệp, an toàn, hợp lý và hợp pháp.
Đáp lại, Thủ tướng Úc Anthony Albanese ngày 8.6 chỉ tuyên bố ngắn gọn rằng “Vụ việc xảy ra ở không phận quốc tế. Chấm hết”.
Có thể thấy các phát biểu từ hai phía không quá mâu thuẫn, vì Trung Quốc chỉ nói máy bay Úc tiếp cận không phận (ngay cả đối với không phận tự tuyên bố dựa theo đường cơ sở thẳng phi pháp ở quần đảo Hoàng Sa), chứ chưa tiến vào không phận.
Tuy nhiên, những phản ứng và phát biểu từ Trung Quốc khiến người ta không thể không nghĩ đến nguy cơ Bắc Kinh lợi dụng các sự việc này để tuyên bố thiết lập Vùng nhận diện phòng không (ADIZ) phi pháp ở xung quanh quần đảo Hoàng Sa trong tương lai.
Người phát ngôn Lê Thị Thu Hằng cho biết hợp tác giữa các quốc gia cần đóng góp tích cực vào hòa bình, an ninh, ổn định và thịnh vượng của khu vực cũng như trên toàn thế giới.
Bộ trưởng Quốc phòng Campuchia Tea Banh và Đại sứ Trung Quốc Vương Văn Thiên tại lễ động thổ dự án cải tạo căn cứ hải quân Ream (Campuchia). (Nguồn: CNN)
Tại họp báo thường kỳ ngày 9/6, trả lời câu hỏi của phóng viên về việc Campuchia, Trung Quốc động thổ dự án cải tạo căn cứ hải quân Ream ở tỉnh Sihanoukville (Campuchia) ngày 8/6 vừa qua, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng nhấn mạnh Việt Nam luôn mong muốn duy trì và củng cố quan hệ hợp tác tốt đẹp với các quốc gia trên toàn thế giới.
Đồng thời, việc hợp tác giữa các quốc gia cần đóng góp tích cực vào hòa bình, an ninh, ổn định và thịnh vượng của khu vực cũng như trên toàn thế giới.
Trước đó, ngày 8/6, Bộ trưởng Quốc phòng Campuchia, Đại tướng Tea Banh và Đại sứ Trung Quốc tại Campuchia Vương Văn Thiên đã có mặt tại căn cứ hải quân Ream ở tỉnh Sihanoukville (Campuchia) để dự lễ động thổ cải tạo. Máy móc xây dựng hạng nặng cũng xuất hiện tại địa điểm này.
Báo KhmerTimes dẫn lời Đại sứ Vương Văn Thiên cho biết dự án sẽ củng cố thêm tình hữu nghị sắt son giữa hai nước và giúp hiện đại hóa hải quân Campuchia: “Dự án không nhằm vào bất kỳ bên thứ ba nào và sẽ có lợi cho sự hợp tác chặt chẽ hơn giữa quân đội hai nước, thực hiện tốt hơn các nghĩa vụ quốc tế”.
Về phần mình, Bộ trưởng Quốc phòng Campuchia, Đại tướng Tea Banh cho biết dự án do Trung Quốc đầu tư, bao gồm nâng cấp và mở rộng một bệnh viện, cũng như tài trợ thiết bị quân sự và sửa chữa 8 tàu chiến của Campuchia.
Ông cũng nhấn mạnh: “Có những cáo buộc rằng căn cứ Ream khi hiện đại hóa sẽ do quân đội Trung Quốc độc quyền sử dụng. Không, hoàn toàn không phải như vậy”.
Trước đó, ngày 7/6, người phát ngôn chính phủ Phay Siphan cũng khẳng định Campuchia sẽ không cho phép Trung Quốc sử dụng độc quyền căn cứ Ream hoặc phát triển địa điểm này làm căn cứ quân sự.
Công việc của sinh viên tốt nghiệp Học viện Hải quân Mỹ sẽ là đảm bảo tự do hàng hải ở Biển Đông.
Phát biểu với các học viên tốt nghiệp Học viện Hải quân ngày 27/5, Tổng thống Mỹ Joe Biden nói rằng nhiệm vụ của họ sẽ là bảo đảm tự do hàng hải ở Biển Đông. (Nguồn: Reuters)
Tổng thống Mỹ Joe Biden nhấn mạnh thông điệp trên trong bài phát biểu trước 1.200 học viên sĩ quan hải quân tốt nghiệp ở Annapolis, bang Maryland ngày 27/5.
Ông chủ Nhà Trắng khẳng định, các sinh viên tốt nghiệp Học viện Hải quân Mỹ đang tham gia nghĩa vụ quân sự vào thời điểm xảy ra nhiều thách thức toàn cầu và họ sẽ được giao trách nhiệm góp phần “duy trì sự ổn định trong một thế giới bất định”.
“Mỗi người trong số các bạn, khi bước ra thế giới, sẽ không chỉ là một thành viên đáng tự hào của lực lượng vũ trang Mỹ, mà còn là những người đại diện và bảo vệ nền dân chủ của chúng ta.
Chúng tôi sẽ tìm đến các bạn để đảm bảo an ninh cho người dân Mỹ”.
Tổng thống Biden nêu rõ: “Các bạn sẽ bảo vệ các quy định quốc tế về đường bộ, bảo đảm tương lai của Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương tự do và rộng mở, đảm bảo quyền tự do hàng hải ở Biển Đông và hơn thế nữa, đảm bảo các tuyến đường biển này luôn thông thoáng và an toàn.
Các nguyên tắc hàng hải cơ bản lâu đời này là nền tảng của nền kinh tế toàn cầu và sự ổn định toàn cầu. Các bạn sẽ giúp tập hợp các đồng minh của chúng ta ở châu Âu và với các đồng minh ở Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương”.
Nhà lãnh đạo Mỹ cũng cho rằng nỗ lực của người đồng cấp Nga Vladimir Putin nhằm chia rẽ châu Âu bằng cách phát động chiến dịch quân sự ở Ukraine đã phản tác dụng.
Việt Nam đã lựa chọn “cân bằng thận trọng” đối với xung đột Ukraine. Nhưng ViệtNam có thể nỗ lực không chọn phe trong bao lâu?
Từ khi Nga xâm lược Ukraine hôm 24/2, Việt Nam luôn nhấn mạnh lập trường “không chọn bên” trong cuộc xung đột, cố gắng giữ khoảng cách trước tình huống đối đầu giữa các cường quốc tại khu vực Đông Âu. Dù vậy, các tranh luận vẫn nổ ra xung quanh việc Hà Nội cố gắng “đi dây” giữa Nga và Mỹ.
Từng là đồng minh của Liên Xô, Việt Nam đã chọn bỏ phiếu trắng trong nghị quyết của Liên Hợp Quốc lên án cuộc chiến của Nga tại Ukraine. Hà Nội kêu gọi các bên kiềm chế, sau đó bỏ phiếu chống trong nghị quyết đình chỉ tư cách thành viên của Nga tại Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc. Tuy nhiên, vào tháng 5, Việt Nam đã cung cấp 500.000 USD viện trợ nhân đạo hỗ trợ “người dân bị ảnh hưởng vì chiến sự ở Ukraine”. Dù khá khiêm tốn, khoản đóng góp phản ánh sự đồng cảm của Việt Nam đối với người dân tại quốc gia Đông Âu này. Hơn hết, động thái nói trên nhằm xua tan mối nghi ngờ của Washington dành cho thái độ lấp lửng mà Hà Nội thể hiện từ đầu cuộc chiến.
Tuy nhiên, các chuyên gia theo dõi chính sách đối ngoại Việt Nam vẫn tỏ ra hoài nghi về triển vọng mà Hà Nội có thể đạt được trong nỗ lực cân bằng khéo léo giữa các cường quốc. Một số ý kiến cho rằng cách phản ứng mơ hồ của Việt Nam trong cuộc xung đột ở Ukraine có thể tác động xấu đến quan hệ Việt – Mỹ vốn đang trên đà phát triển. Thậm chí, Việt Nam có thể dần rơi vào tình thế nan giải chiến lược mà nước này đang muốn tránh.
Trong bối cảnh đó, các lãnh đạo cấp cao của Hà Nội gần đây đã có một số bài phát biểu quan trọng, mà qua đó, có thể giúp giải mã phần nào lập trường của Việt Nam đối với vấn đề Ukraine cũng như với các nước lớn. Hôm 11/5, trong bài phát biểu tại Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS) ở Washington, Thủ tướng Phạm Minh Chính đã khẳng định: “Trong một thế giới đầy biến động, cạnh tranh chiến lược và nhiều sự lựa chọn, Việt Nam không chọn bên mà chọn chính nghĩa, sự công bằng, công lý và lẽ phải trên cơ sở các nguyên tắc của luật pháp quốc tế, Hiến chương Liên Hợp Quốc”. Với các nhà quan sát, thông điệp nói trên là sự đảm bảo rõ ràng cho “lập trường trung lập” của Việt Nam trong vấn đề Ukraine, bất chấp mức độ sâu sắc trong quan hệ Hà Nội – Moscow từng được vun đắp thông qua sự ủng hộ tinh thần và viện trợ cả trên lĩnh vực quân sự lẫn kinh tế của Liên Xô dành cho miền Bắc Việt Nam trước đây.
Bài phát biểu của ông Chính xoay quanh những nguyên tắc chung và các giá trị phổ quát. Trong đó, tính cả nội dung trao đổi cùng các khách mời, Thủ tướng Việt Nam hơn 60 lần đề cập đến các từ khoá “chân thành”, “tin cậy” và “trách nhiệm”. Từ phân tích diễn ngôn, ông Chính đang nỗ lực định hình nhận thức và hoạt động đối ngoại của Hà Nội theo hướng hợp tác thay vì cạnh tranh, hòa bình thay vì xung đột. Chưa nói đến việc Hà Nội có ủng hộ Tổng thống Vladimir Putin tiến hành cuộc xâm lược Ukraine hay không, bài phát biểu của ông Chính đã ngầm truyền tải thông điệp Việt Nam không “nghiêng” về phía Nga, đặc biệt là trong bối cảnh cạnh tranh Nga – Mỹ. Đối với các lãnh đạo Hà Nội, sẽ rất sai lầm nếu đánh đồng hành động không lên án Nga với việc Việt Nam ủng hộ cuộc xâm lược của Nga tại Ukraine.
Trong khi đó, phát biểu tại Hội nghị Đối ngoại toàn quốc triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội 13 của Đảng Cộng sản Việt Nam vào tháng 12/2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã tổng kết nét đặc sắc của trường phái ngoại giao “Cây tre Việt Nam”, trong đó “gốc vững, thân chắc, cành uyển chuyển”. Đồng thời, ông Trọng – nhân vật có sức ảnh hưởng bao trùm lên hoạt động đối ngoại Việt Nam – cũng đúc kết quan điểm chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh với ngành ngoại giao. Ông Trọng đã đề cập đến nhiều nội dung mấu chốt, trong đó đánh giá cao vị thế chiến lược của Việt Nam trong quan hệ với các nước láng giềng và các cường quốc, nhắc lại chủ trương “tôn trọng và giữ thể diện cho nước lớn”, đồng thời nhấn mạnh sách lược “cương nhu kết hợp” nhằm phục vụ cho lợi ích tối cao của quốc gia, dân tộc.
Chứng kiến đội ngũ lãnh đạo Việt Nam định hình chính sách đối ngoại, các nhà nghiên cứu quan hệ quốc tế có thể nhận thấy cách Hà Nội khéo léo đánh giá bối cảnh xung quanh. Một mặt, Việt Nam theo dõi sát sao các điểm nóng an ninh quốc tế, trong đó có tình hình ở Ukraine và diễn biến trên Biển Đông. Mặt khác, Việt Nam vẫn tìm cách tối đa hóa đòn bẩy địa chiến lược, thông qua đóng góp sáng kiến và thúc đẩy hoạt động đối ngoại năng động, nhằm tăng cường khả năng phục hồi của ASEAN. Kiên định chủ trương đối ngoại đa phương hóa, đa dạng hóa, Việt Nam đã thiết lập quan hệ đối tác chiến lược, toàn diện với 30 quốc gia. Bên cạnh đó, Việt Nam và Mỹ cũng nỗ lực tăng cường sự tin cậy và hiểu biết lẫn nhau, củng cố hợp tác song phương trên các lĩnh vực ngoại giao, kinh tế và quốc phòng. Xét về bản chất, quan hệ giữa hai nước được đánh giá ở mức “đối tác chiến lược trên mọi phương diện, ngoại trừ tên gọi chính thức”. Chuyến thăm gần đây của Thủ tướng Phạm Minh Chính tới Washington đã phản ánh thành tựu mang tính bước ngoặt đối với Việt Nam, mở ra triển vọng thúc đẩy quan hệ chặt chẽ hơn giữa hai quốc gia với các kế hoạch và cơ hội hợp tác trên nhiều lĩnh vực.
Trong khi đó, Việt Nam đã duy trì và phát triển “quan hệ đối tác chiến lược toàn diện” với Nga – thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc. Dù cuộc chiến ở Ukraine đang diễn ra, Nga vẫn là nhân tố quan trọng trên trường quốc tế. Hơn nữa, Moscow là đối tác quốc phòng chủ chốt của Việt Nam, cung cấp hơn 80% trang bị quân sự cho Hà Nội. Tháng 12/2021, Việt Nam và Nga đã ký kết một thỏa thuận trên lĩnh vực kỹ thuật – quân sự, nhằm mở rộng hợp tác về thương mại và công nghệ quốc phòng. Trên khía cạnh an ninh ở Biển Đông, Việt Nam cần Nga vì tiếng nói quan trọng của Moscow trong tam giác Nga-Việt-Trung. Nhìn chung, cơ hội thúc đẩy hợp tác song phương dựa trên mối quan hệ truyền thống giữa Việt Nam và Nga, dù nhỏ hay tương đối mờ nhạt, vẫn là vấn đề mà Hà Nội cần phải tính đến.
Trên thực tế, phương Tây đang tìm cách tách Nga khỏi nền kinh tế toàn cầu. Tuy nhiên, cô lập toàn diện Moscow có lẽ không phải là mục tiêu mà Mỹ và các nước châu Âu hướng đến, ngay cả khi Nga và các nước phương Tây đạt được đồng thuận hay ông Putin cho quân rút khỏi Ukraine. Do đó, đối với Việt Nam, lên án cuộc xâm lược của Nga hoặc tham gia các lệnh trừng phạt nhắm vào Moscow do Mỹ dẫn đầu đều không phải là các lựa chọn khôn ngoan, nhất là khi Hà Nội cố gắng duy trì đồng thời quan hệ truyền thống với Moscow và quan hệ chiến lược với Washington.
Tuy nhiên, quyết tâm giữ thái độ trung lập của Việt Nam trước cuộc xung đột tại Ukraine lại là câu chuyện khác. Giữa tình thế cô lập của Moscow trước các quốc gia phương Tây, việc Việt Nam phụ thuộc vào ngành công nghiệp quốc phòng Nga đang đặt ra những thách thức không nhỏ đối với Hà Nội. Bởi lẽ, thứ nhất, Việt Nam cần sự ủng hộ về ngoại giao và chính trị từ Nga, do Moscow là thành viên thường trực và giữ quyền phủ quyết ở Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc. Tuy nhiên, vị thế đang suy giảm của nước này khó có thể mang lại nhiều lợi ích cho Hà Nội, nhất là khi quan hệ Việt – Nga vốn khăng khít dần trở nên khó đoán và mang dáng dấp của một kiểu liên minh không chính thức. Thứ hai, trong ngắn hạn, rất khó để Việt Nam xem xét thay đổi đối tác cung cấp các loại vũ khí tấn công, kể cả đó là Mỹ, dù Hà Nội đã nỗ lực đa dạng hóa hoạt động trang bị quốc phòng. Mức giá hợp lý của trang bị từ Nga cùng các phương thức thanh toán thuận tiện sẵn có giúp Moscow trở thành bạn hàng lý tưởng trong mắt Việt Nam.
Ngoài ra, quan hệ Trung – Nga trở nên gắn kết hơn cũng là một vấn đề đáng chú ý. Một khi Nga ngày càng phụ thuộc vào nguồn hỗ trợ về kinh tế, công nghệ và quân sự từ Trung Quốc, Bắc Kinh có thể gây sức ép buộc Moscow hạn chế cung cấp vũ khí tấn công cho Hà Nội. Khả năng nói trên càng có cơ sở trong bối cảnh nền kinh tế Moscow đang chống chọi với hàng loạt lệnh trừng phạt mới. Đáp lại, nếu Nga sẽ tỏ ra miễn cưỡng trong việc tạm ngừng hoặc cắt giảm cung cấp trang bị cho Việt Nam thì Hà Nội sẽ hưởng lợi. Tuy nhiên, các trở ngại và hạn chế của ngành công nghiệp quốc phòng Nga vẫn có thể khiến Việt Nam gặp khó. Đơn cử, hoạt động tác chiến kém hiệu quả của khí tài nước này trên chiến trường Ukraine thời gian qua đã khiến dư luận quốc tế bất ngờ.
Nếu Trung Quốc tăng cường các hành vi cưỡng ép trên Biển Đông, trong khi Nga cắt giảm cung cấp vũ khí cho Việt Nam, Hà Nội nhiều khả năng sẽ xích lại gần hơn với Mỹ trong hoạt động trang bị quốc phòng. Khi đó, Washington có thể áp dụng quân bài chiến lược là “Đạo luật Chống lại đối thủ của Mỹ thông qua trừng phạt” (CAATSA) để thuyết phục Việt Nam giảm sự phụ thuộc vào vũ khí Nga và chuyển các đơn đặt hàng sang Washington. Nếu thành hiện thực, động thái nói trên có thể gây xói mòn quan hệ Việt – Nga, làm nảy sinh bất ổn trong quan hệ Việt – Trung, hay chí ít cản trở mục tiêu duy trì trạng thái cân bằng chiến lược giữa các cường quốc của Hà Nội.
Trong thời gian tới, Việt Nam nhiều khả năng sẽ tiếp tục “đi dây” giữa Mỹ và Nga, đồng thời theo đuổi vị thế “cân bằng đa cực” (multipolar balance) trong quan hệ đối ngoại. Trước mắt, quan hệ Việt – Nga khó có thể chứng kiến những thay đổi mang tính căn bản, nhất là khi xem xét lập trường thận trọng được Hà Nội theo đuổi lâu nay liên quan đến các vấn đề gây tranh cãi hay trước xung đột giữa các cường quốc. Dù vậy, cam kết không chọn phe của Việt Nam trong cạnh tranh nước lớn có thể sẽ đối mặt với nhiều thử thách, nhất là với bối cảnh quốc tế đầy biến động. Nhìn chung, nỗ lực của Hà Nội trong việc tạo dựng thế cân bằng chiến lược giữa Mỹ và Nga vẫn được duy trì, ít nhất là ở hiện tại.
Quan điểm trong bài viết là của riêng tác giả, không đại diện cho cơ quan mà tác giả đang làm việc hay cộng tác.
Một phiên bản tiếng Anh của bài viết đã được đăng trên The Diplomat.
Ngày 31/5, Philippines đã gửi công hàm ngoại giao phản đối việc Trung Quốc đơn phương áp đặt lệnh cấm đánh bắt cá tại Biển Đông.
Một ngư dân Philippines theo dõi tàu Cảnh sát biển Trung Quốc tuần tra trên Biển đông. (Nguồn: Reuters)
Trong tuyên bố, Bộ Ngoại giao Philippines nêu rõ, nước này phản đối việc Trung Quốc áp đặt lệnh cấm đánh bắt cá hằng năm tại Biển Đông, trong đó có vùng biển thuộc vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Philippines và Việt Nam.
Về vấn đề này, hôm 29/4, Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Thị Thu Hằng cũng nhấn mạnh: „Lập trường của Việt Nam đối với lệnh cấm đánh bắt cá của Trung Quốc ở Biển Đông là nhất quán, được khẳng định rõ trong những năm qua.
Theo đó, một phần phạm vi của lệnh cấm đánh bắt cá đã vi phạm chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam được xác định theo Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc ký năm 2000.
Việt Nam yêu cầu Trung Quốc tôn trọng chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa, quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với các vùng biển của mình khi triển khai các biện pháp bảo tồn nguồn tài nguyên sinh vật ở khu vực Biển Đông, không làm phức tạp tình hình, đóng góp vào duy trì hoà bình, ổn định, trật tự ở khu vực Biển Đông“.
Trong xu thế chung của thế giới và để Việt Nam có thể thực thi cam kết COP26, đảm bảo cung cấp điện năng ổn định, công suất lớn, có lẽ quay lại phát triển điện hạt nhân là vấn đề cần xem xét một cách toàn diện và kỹ lưỡng.
Năng lượng, đặc biệt là điện năng là lĩnh vực vô cùng quan trọng của một quốc gia. Một quốc gia có nguồn cung cấp điện năng ổn định, bền vững, giá thành hợp lý là chìa khóa cho sự phát triển, cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thành công.
Trong thời gian gần đây, vấn đề năng lượng và điện năng trở nên vô cùng nóng trên thế giới. Vấn đề biến đổi khí hậu và nóng ấm toàn cầu đang trở nên vô cùng cấp bách. Tại Hội nghị COP26 (tháng 11/2021) đa số các nước đã cam kết cân bằng phát thải CO2 vào 2050/2060, bằng việc chuyển đổi cơ cấu điện năng. Cụ thể là dần loại bỏ nhiệt điện than, giảm dần nhiệt điện khí và khí hóa lỏng (LNG), đẩy mạnh phát triển năng lượng tái tạo, và xem điện hạt nhân (ĐHN) là nguồn điện sạch không phát thải CO2 có thể đóng vai trò quan trọng trong cơ cấu nguồn điện.
Việt Nam cũng đưa ra cam kết cân bằng carbon vào năm 2050, và đây là một thách thức lớn cho một đất nước đang phát triển, có mức tăng trưởng điện năng hàng năm cao, trong khi nguồn thuỷ điện cạn kiệt. Thêm vào đó, cuộc khủng hoảng Ukraine bắt đầu từ 24/2/2022 đã đẩy giá dầu và khí lên cao, đặc biệt là khí, đồng thời cho thấy an ninh năng lượng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết.
Mỹ và các nước phương Tây đang loại bỏ, hoặc giảm dần sự phụ thuộc vào dầu và khí của Liên bang Nga. Để thực hiện được mục tiêu này, năng lượng hạt nhân đóng một vai trò rất quan trọng.
Tình hình phát triển điện hạt nhân trên thế giới
Tính đến thời điểm cuối tháng 3/2022, trên thế giới có 441 lò hạt nhân năng lượng đang vận hành, với tổng công suất lắp đặt 394.000 MWe, có 51 lò đang được xây dựng với tổng công suất khoảng 54.000 MWe. Điện hạt nhân vẫn giữ vai trò quan trọng trong cơ cấu nguồn điện của nhiều nước (32 nước có điện hạt nhân), và xu thế đang tiếp tục phát triển. Theo ý kiến của Tổng Giám đốc Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế (IAEA), ông Rafael Grossi: Trong 10 năm tới sẽ có thêm khoảng 10 nước mới phát triển điện hạt nhân.
Mỹ là nước có số lò hạt nhân nhiều nhất thế giới, 93 lò đang vận hành với tổng công suất khoảng 96.000 MWe, đóng góp khoảng 20% điện năng. Tiếp theo là Pháp, có 56 lò đang vận hành với tổng công suất 62.000 MWe, chiếm khoảng 75% lượng điện năng sản xuất quốc gia. Tiếp theo là Trung Quốc, hiện nay có 54 lò đang vận hành, tổng công suất hơn 51.000 MWe, đóng góp khoảng 5% điện năng. Từ sau Fukushima, Nhật Bản đã tái khởi động và hiện nay đang vận hành 10 lò hạt nhân. Nhật Bản tiếp tục tái khởi động các lò khác.
Trong bối cảnh sau COP26, Mỹ có chủ trương duy trì hoạt động các nhà máy ĐHN hiện có và đẩy mạnh phát triển các lò phản ứng tiên tiến (bao gồm lò nước nhẹ LWR tiên tiến và lò mô đun công suất nhỏ SMR) để chuyển đổi năng lượng sạch, với mục tiêu giảm phát thải 52% vào cuối năm 2030 và 100% năng lượng sạch năm 2035, nền kinh tế không phát thải vào năm 2050.
Chính phủ Nga có chiến lược giảm nhiên liệu hóa thạch, tăng tỷ lệ năng lượng hạt nhân từ 20% lên 37% trong tương lai gần, nhằm đảm bảo phát thải carbon thấp hơn châu Âu (EU) vào năm 2050. Hiện nay Nga là nước đang có kế hoạch xuất khẩu lò hạt nhân nhiều nhất thế giới. Nga đang xây dựng nhà máy ĐHN tại Akkuyu (Thổ Nhĩ Kỳ), Bangladesh với công nghệ lò nước nhẹ tiên tiến thế hệ III+ (AES2006/VVER-1200), đã đã ký thỏa thuận với nhiều nước xây dựng các nhà máy ĐHN mới (lò nước nhẹ LWR) như Hungary, Phần Lan, Czech, Slovakia, Ai Cập, một vài nước châu Mỹ, châu Phi. Tuy nhiên, do tình hình Ukraine và cấm vận của Mỹ và châu Âu, các dự án ĐHN của Nga với các nước có thể gặp nhiều khó khăn, hoặc có thể phải huỷ bỏ (tuỳ thuộc diễn biến tại Ukraine và các điều kiện dỡ bỏ cấm vận nếu Nga và Ukraine đạt được thỏa thuận hoà bình sớm). Việc Nga gặp khó khăn với các dự án ĐHN sẽ là điều kiện thuận lợi để Mỹ và Pháp, hoặc Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản có thể có cơ hội ký kết thỏa thuận và xây dựng nhà máy ĐHN tại các nước.
Trung Quốc – đất nước đã trải qua quá trình phát triển nóng nhiệt điện than, và có năng lực sản xuất pin mặt trời hàng đầu thế giới, đang tăng cường phát triển ĐHN để đối phó với khủng hoảng năng lượng toàn cầu. Trung Quốc cũng đặt mục tiêu tăng công suất lắp đặt hạt nhân từ 51.000 MWe từ cuối năm 2020 lên 70.000 MWe vào năm 2025 (chú ý rằng năm 2020, Trung Quốc đã không đạt được mục tiêu 58.000 MWe đặt ra).
Hiện nay, Trung Quốc đã tự phát triển được công nghệ lò nước nhẹ tiên tiến thế hệ III+ (Hua Long One), đang được Cơ quan Pháp quy Hạt nhân UK (ONR) đánh giá để cấp phép an toàn và đặt mục tiêu trở thành nước đứng đầu thế giới về ĐHN, phấn đấu năm 2035 có khoảng 180.000 MWe (khoảng 170-180 lò, nhiều hơn Mỹ và Pháp cộng lại), và năm 2050 sẽ có hơn 270 lò hạt nhân năng lượng. Ngành ĐHN của Trung Quốc là nền tảng quan trọng để họ phát triển các công nghệ cao về hạt nhân, công cụ rất quan trọng trong cạnh tranh vị trí số 1 thế giới, đảm bảo tiềm lực khoa học, công nghệ hỗ trợ cho an ninh, quốc phòng (tàu ngầm hạt nhân, tàu sân bay dùng lò hạt nhân, vũ khí hạt nhân …) và kiểm soát các vấn đề liên quan đến địa chính trị khu vực.
Về hợp tác quốc tế, Trung Quốc đang thúc đẩy xuất khẩu công nghệ ĐHN ra nước ngoài. Ngoài dự án đang đề xuất với UK, Trung Quốc đang có kế hoạch bán lò phản ứng Hua Long One sang Romania, Argentina, Kenya, Ả Rập Xê Út và các quốc gia nằm trong chiến lược “vành đai con đường” (dự kiến xuất khẩu 30 lò trong 10 năm tiếp theo).
Các nước châu Âu (EU): Sau sự cố Fukushima năm 2011, một số quốc gia EU có xu hướng giảm ĐHN, nhiều quốc gia EU vẫn duy trì phát triển ĐHN (các nước như Pháp, Anh (UK), Phần Lan, Hungary, Czech, Slovakia v.v…), một số quốc gia bắt đầu phát triển ĐHN như Thổ Nhĩ Kỳ, Ba Lan. Tuy nhiên, thời gian gần đây, xu thế phát triển ĐHN đang trở lại mạnh mẽ, đặc biệt sau khi xảy ra chiến tranh Nga – Ukraine, kèm theo kế hoạch của châu Âu trong việc giảm sự phụ thuộc vào dầu và khí từ Nga.
Gần đây nhất, Bỉ đã tuyên bố kéo dài thời gian vận hành các nhà máy ĐHN. Đức đang xem xét lại kế hoạch loại bỏ ĐHN vào năm 2022/2023 (cần phải kéo dài thời gian hoạt động để giảm phụ thuộc dầu và khí). Nước Anh cũng đã lên kế hoạch xây dựng 7 nhà máy mới và đặt mục tiêu 25% ĐHN trong cơ cấu nguồn điện, Pháp vẫn tiếp tục nỗ lực duy trì và phát triển ĐHN như là nguồn điện có độ tin cậy cao và không phát thải CO2.
Song song với việc Tập đoàn Điện lực Pháp (EDF) xây dựng các nhà máy ĐHN mới tại Anh Quốc, theo tuyên bố của Tổng thống Macron mới đây, Pháp có kế hoạch xây dựng thêm 14 lò hạt nhân thế hệ mới (lò nước nhẹ tiên tiến, thiết kế EPR1600 thế hệ III+) để thay thế các lò cũ phải đóng cửa, cũng như thêm công suất điện năng, cùng với phát triển năng lượng tái tạo. Dự kiến bắt đầu khởi công 2028, và 2035 tổ máy mới đầu tiên sẽ đi vào vận hành. Công nghệ lò SMR cũng được Pháp quan tâm và sẽ phát triển trong giai đoạn tới.
Ấn Độ đang thúc đẩy phát triển ĐHN mạnh mẽ. Quốc gia này đã chú trọng phát triển ngành hạt nhân nhiều thập niên trước. Bắt đầu từ việc nhập khẩu công nghệ lò nước nặng (CANDU) từ Canada, hiện nay Ấn Độ đã tự thiết kế chế tạo, lắp đặt và vận hành nhà máy ĐHN, công suất 700 MWe. Với kế hoạch được triển khai tốt, hiện nay Ấn Độ đã hoàn toàn tự chủ công nghệ ĐHN, từ nhà máy đến nhiên liệu, vật liệu thép hợp kim v.v… Ấn Độ cũng đã nhập công nghệ lò VVER từ Nga, đang có kế hoạch xây dựng lò AP1000 trong hợp tác với Mỹ và sẽ hợp tác với Pháp trong thời gian tới. Theo kế hoạch mới nhất, Ấn Độ sẽ bắt đầu xây 10 lò nước nặng công nghệ tiên tiến của họ. Lò tái sinh neutron nhanh (FBR) cũng là lĩnh vực mà Ấn Độ đi đầu (như Liên bang Nga).
Hàn Quốc có chương trình ĐHN thành công nhất thế giới. Hiện nay ĐHN đóng góp khoảng 35-40% điện năng của quốc gia này. ĐHN ở Hàn Quốc có giá thành thấp hơn điện than (nhập khẩu) và điện khí. Hàn Quốc đã có công nghệ tiên tiến thế hệ III+ (APR1400), xuất khẩu sang Tiểu Vương quốc Ả Rập (UAE) 4 lò (hiện nay đã bắt đầu vận hành những lò đầu tiên).
Tổng thống Hàn Quốc vừa đắc cử đã tuyên bố đẩy mạnh phát triển ĐHN, để đáp ứng các cam kết về khí hậu. Nhật Bản có Chiến lược Năng lượng mới, trong đó ĐHN vẫn tiếp tục phát triển, với tỷ lệ khoảng 20-22% (tiếp tục tái khởi động các lò cũ và xây dựng lò mới thế hệ III+, cũng như có thể phát triển công nghệ SMR).
Tóm lại
trong bối cảnh chống biến đổi khí hậu, thực hiện cam kết, để đảm bảo cung cấp điện năng ổn định, đảm bảo an ninh năng lượng, các nước tiếp tục phát triển ĐHN. Xu thế phổ biến là năng lượng tái tạo kết hợp cùng ĐHN. Các nước tiên tiến vẫn tiếp tục duy trì và phát triển ĐHN với việc tiếp tục vận hành các lò đang có, kéo dài thời gian vận hành, và xây mới lò nước nhẹ (LWR) công nghệ tiên tiến thế hệ III+, cùng với phát triển lò mô đun công suất nhỏ SMR sau khi công nghệ này được thương mại hóa và kiểm chứng.
Nguồn: Trích trong bài phản biện của TS. Trần Chí Thành – Viện năng lượng nguyên tử Việt Nam
Ngày 2/6, Bộ Ngoại giao Mỹ ra thông báo bày tỏ phản đối lệnh cấm đánh bắt cá theo mùa do Trung Quốc đơn phương áp đặt ở Biển Đông
Một tàu Cảnh sát biển của Trung Quốc trên Biển Đông. (Nguồn: The Manila Times)
Trên mạng xã hội Twitter, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Mỹ Ned Price viết: “Lệnh cấm đánh bắt cá đơn phương của Trung Quốc ở Biển Đông không phù hợp với phán quyết năm 2016 của Tòa trọng tài quốc tế và luật pháp quốc tế“.
Quan chức ngoại giao Mỹ „đề nghị Trung Quốc tuân thủ những nghĩa vụ của họ theo quy định của luật pháp quốc tế”.Trước đó, hôm 31/5, Philippines đã triệu một quan chức cấp cao của Đại sứ quán Trung Quốc tại Manila đến để phản đối tuyên bố cấm đánh bắt cá đơn phương của Bắc Kinh.Mỗi năm, Trung Quốc đều đơn phương đưa ra lệnh cấm đánh bắt cá mùa Hè, bắt đầu từ ngày 1/5 và kéo dài trong 3 tháng. Khu vực cấm đánh bắt cá nằm ở vùng biển phía Bắc vĩ độ 16 ở Biển Đông, gồm một phần vịnh Bắc Bộ và quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền Việt Nam.Về vấn đề này, hôm 29/4, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Thị Thu Hằng cũng nhấn mạnh: „Lập trường của Việt Nam đối với lệnh cấm đánh bắt cá của Trung Quốc ở Biển Đông là nhất quán, được khẳng định rõ trong những năm qua.
Theo đó, một phần phạm vi của lệnh cấm đánh bắt cá đã vi phạm chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam được xác định theo Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc ký năm 2000.
Việt Nam yêu cầu Trung Quốc tôn trọng chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa, quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với các vùng biển của mình khi triển khai các biện pháp bảo tồn nguồn tài nguyên sinh vật ở khu vực Biển Đông, không làm phức tạp tình hình, đóng góp vào duy trì hoà bình, ổn định, trật tự ở khu vực Biển Đông“.
Nga đang cân nhắc trao đổi tù binh thuộc Tiểu đoàn Azov của Ukraine lấy Viktor Medvedchuk, một tài phiệt được cho là có mối quan hệ mật thiết với Nga.
Chính trị gia đối lập của Ukraine Viktor Medvedchuk bị Kiev bắt giữ hôm 12/4.
“Chúng tôi sẽ nghiên cứu khả năng này”, hãng thông tấn RIA Novosti dẫn lời Leonid Slutsky, một thành viên cấp cao trong phái đoàn đàm phán của Nga với Ukraine, phát biểu tại thành phố ly khai Donetsk ở Đông Nam Ukraine hôm 21/5.
Ông Viktor Medvedchuk, 67 tuổi, là một tài phiệt và cũng là lãnh đạo đảng đối lập lớn nhất ở Ukraine bị nghi ngờ có mối quan hệ mật thiết với Nga. Ông cũng là một trong những người giàu nhất tại Ukraine.
Ông Medvedchuk từng đảm nhận nhiều vị trí trên chính trường Ukraine từ những năm 1990 như Chánh văn phòng của cựu Tổng thống Ukraine Leonid Kuchma giai đoạn 2002-2005. Ông Medvedchuk cũng từng đóng vai trò quan trọng trong các cuộc đàm phán hòa bình giữa chính quyền Ukraine với lực lượng ly khai thân Nga ở miền Đông khi chiến sự ở đây nổ ra từ năm 2014.
Năm ngoái, ông bị Kiev buộc tội phản quốc với hàng loạt cáo buộc, trong đó có cáo buộc bán bí mật quân sự cho Nga, tiếp tay cho khủng bố. Giới chức Ukraine đã quản thúc tại gia đối với ông Medvedchuk ngay từ ngày đầu tiên Nga mở chiến dịch quân sự ở nước này hồi cuối tháng 2, nhưng chỉ vài ngày sau, ông đã trốn ra ngoài và mai danh ẩn tích kể từ đó cho đến khi bị Mật vụ Ukraine bắt giữ hôm 12/4.
Ngay sau thông báo bắt giữ ông Medvedchuk, phía Ukraine đã đề nghị một cuộc trao đổi tù binh với Nga, theo đó sẽ đổi ông Medvedchuk lấy các binh sĩ Ukraine bị Nga bắt giữ. Tuy nhiên, Moscow đã bác bỏ đề nghị. Người phát ngôn Điện Kremlin Dmitry Peskov khẳng định, ông Medvedchuk không có bất cứ mối liên hệ nào với chiến dịch quân sự của Nga nhằm “phi quân sự hóa” Ukraine.
Ủy ban An ninh Quốc gia Ukraine (SBU) hồi tháng 4 đăng tải một đoạn video, trong đó ông Medvedchuk đề nghị Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky và Tổng thống Nga Vladimir Putin thỏa thuận đổi ông để lấy lực lượng phòng thủ và người dân Ukraine ở thành phố Mariupol.
Ngày 21/5, Bộ Quốc phòng Nga thông báo toàn bộ binh sĩ trú ẩn bên trong nhà máy gang thép Azovstal ở thành phố Mariupol đã đầu hàng lực lượng Nga. Nga cho biết số binh sĩ đầu hàng lên tới hơn 2.000 người. Những người bị thương được điều trị tại bệnh viện, trong khi số còn lại bị đưa vào nhà tù ở Donetsk.
Hiện chưa rõ số phận của những quân nhân tại Azovstal, mặc dù phía Kiev cho biết đang nỗ lực đàm phán trao đổi tù binh với Moscow. Tổng thống Zelensky cho hay, các cơ quan tình báo của nước này đã theo dõi sát sao quá trình lực lượng phòng thủ của Ukraine rút khỏi Azovstal cũng như quá trình chuẩn bị cho các cuộc đàm phán.
Trong số các binh sĩ Ukraine đầu hàng lực lượng Nga có các thành viên của Tiểu đoàn Azov, vốn là lực lượng dân quân theo chủ nghĩa dân tộc tại Ukraine. Tiểu đoàn Azov đã gia nhập Vệ binh Quốc gia Ukraine và trở thành lực lượng nòng cốt chống lại quân đội Nga ở thành phố Mariupol.
Ngày 26/5, Tòa án Tối cao Nga dự kiến sẽ xem xét đề nghị coi Tiểu đoàn Azov là “tổ chức khủng bố”. Động thái này có thể làm phức tạp thêm việc trao đổi các tù nhân giữa hai nước.
Sau động thái của Thổ Nhĩ Kỳ, Tổng thống Croatia Zoran Milanovic cho biết ông có kế hoạch ngăn Phần Lan và Thụy Điển gia nhập NATO.
Theo đó, hôm 18/5, Tổng thống Croatia Zoran Milanovic nói rằng ông có kế hoạch chỉ thị cho Đại sứ Mario Nobilo – đại diện thường trực của nước này tại NATO, ngăn Phần Lan và Thụy Điển gia nhập liên minh quân sự này.
Theo Tổng thống Zoran Milanovic, việc từ chối chấp thuận Phần Lan và Thụy Điển gia nhập NATO sẽ chuyển sự chú ý của dư luận quốc tế sang những vấn đề mà cộng đồng người Croatia ở nước láng giềng Bosnia-Herzegovina đang phải đối mặt.
Hệ thống bầu cử hiện tại ở nước láng giềng Bosnia-Herzegovina – nơi có cộng đồng sắc tộc Croat được công nhận bình đẳng theo hiến pháp năm 1995, được xem là một vấn đề với Croatia. Croatia đang muốn thúc đẩy Bosnia-Herzegovina sửa đổi luật bầu cử.
Croatia cho rằng, cần phải cập nhật luật bầu cử để người Croatia ở Bosnia-Herzegovina có thể bầu ra đại diện của chính họ. Thông lệ hiện tại là để các đại diện này được bầu bởi cộng đồng người Hồi giáo Bosnia, còn được gọi là Bosniaks.
Ông Zoran Milanovic tuyên bố: “Như tôi từng nói, người Croatia ở Bosnia-Herzegovina đối với tôi quan trọng hơn toàn bộ biên giới Nga – Phần Lan”.
Hôm 15/5, Thụy Điển và Phần Lan nộp đơn xin gia nhập NATO, chính thức phá vỡ quy chế trung lập. Tuy nhiên, theo quy định của NATO, một quốc gia chỉ có thể chính thức được kết nạp nếu như nhận được sự đồng ý từ tất cả các nước thành viên trong khối.
Trước Croatia, Thổ Nhĩ Kỳ phản đối kế hoạch kết nạp 2 quốc gia Bắc Âu này. Hôm 16/5, Tổng thống Thổ Nhĩ Kỳ Recep Tayyip Erdogan tuyên bố ông sẽ không chấp thuận Thụy Điển và Phần Lan trở thành thành viên NATO.
Theo Tổng thống Zoran Milanovic, Thổ Nhĩ Kỳ đã “chỉ ra cách đấu tranh vì lợi ích quốc gia”. Ông cho rằng Ankara đã phản đối bất kỳ thỏa thuận nào nhằm kết nạp Thụy Điển và Phần Lan vào NATO cho đến khi họ từ bỏ hỗ trợ các lực lượng liên hệ với đảng Công nhân người Kurd (PKK)”.
“Thổ Nhĩ Kỳ chắc chắn sẽ không thay đổi quyết định cho đến khi họ đạt được điều mình muốn”, ông Zoran Milanovic nói.
Tiến trình để Thụy Điển và Phần Lan gia nhập NATO đang đối mặt nhiều thử thách. Phản ứng trước thông tin 2 nước Bắc Âu nộp đơn xin gia nhập NATO,Tổng thống Vladimir Putin cho biết Nga không có vấn đề gì với Phần Lan hay Thụy Điển, nhưng Moskva sẽ phản ứng trước việc NATO mở rộng cơ sở hạ tầng quân sự tại hai nước này. Ông nói việc NATO mở rộng chính là vấn đề đối với Nga.
Chính phủ Canada dự định đến ngày 28/6/2024, các doanh nghiệp tại Canada phải loại bỏ hoặc ngừng sử dụng thiết bị 5G của Huawei và ZTE.
Biểu tượng Huawei và biểu tượng 5G.
Chính phủ liên bang Canada ngày 19/5 thông báo sẽ cấm sử dụng thiết bị của các tập đoàn công nghệ Huawei và ZTE của Trung Quốc trong hệ thống mạng 5G tại quốc gia Bắc Mỹ này, do những lo ngại liên quan vấn đề an ninh.
Phát biểu tại một cuộc họp báo ở Ottawa, Bộ trưởng Công nghiệp Canada Francois-Philippe Champagne cho biết Chính phủ Canada dự định loại các tập đoàn công nghệ Huawei và ZTE ra khỏi mạng lưới 5G tại nước này. Theo đó, đến ngày 28/6/2024, các doanh nghiệp tại Canada phải loại bỏ hoặc ngừng sử dụng thiết bị 5G của Huawei và ZTE.
Các doanh nghiệp đang sử dụng các thiết bị 4G của Huawei và ZTE cũng phải loại bỏ các thiết bị này trước ngày 31/12/2027.
Bộ trưởng Champagne nhấn mạnh quyết định này sẽ đảm bảo an toàn cho mạng thế hệ tiếp theo của Canada.
Bộ trưởng An ninh Công cộng Canada Marco Mendicino cho biết quyết định trên đánh dấu “một kỷ nguyên mới trong việc bảo vệ ngành viễn thông của Canada.”
Quyết định được đưa ra sau cuộc kiểm tra kỹ lưỡng của chính phủ đối với mạng 5G và các công nghệ không dây.
Ông Mendicino cho biết Canada sẽ soạn thảo một luật mới bảo vệ mạng 5G của Canada. Ông nêu rõ luật mới này sẽ “thiết lập một khuôn khổ để bảo vệ tốt hơn các hệ thống quan trọng đối với an ninh quốc gia của Canada và cung cấp cho chính phủ một công cụ mới để ứng phó với các mối đe dọa mạng đang nổi lên.”
Luật mới cũng sẽ giúp bảo vệ cơ sở hạ tầng trong các lĩnh vực tài chính, năng lượng và giao thông.
Với quyết định trên, Canada tham gia biện pháp của Liên minh chia sẻ thông tin tình báo Five Eyes – gồm Canada, Australia, Anh, New Zealand và Mỹ – cấm hoặc hạn chế sử dụng thiết bị 5G của Huawei.
Cho đến tuần này, Canada là thành viên duy nhất trong Five Eyes chưa thực hiện biện pháp này.
Một tướng cấp cao Mỹ nhận định nguy cơ xảy ra xung đột giữa các siêu cường ngày càng gia tăng.
Chủ tịch Hội đồng tham mưu trưởng liên quân Mỹ, Tướng Mark Milley.
Trong bài phát biểu ngày 21/5 tại Học viện Quân sự Mỹ ở West Point, Tướng Mark Milley, Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân Mỹ, cho rằng nguy cơ xảy ra xung đột nghiêm trọng giữa các cường quốc đang gia tăng.
“Chúng ta đang đối mặt với 2 cường quốc: Nga và Trung Quốc, cả 2 đều có năng lực quân sự mạnh mẽ và cả 2 đều có ý định thay đổi trật tự dựa trên luật lệ hiện tại”, ông Milley cáo buộc.
“Mỹ đang ở trong một thế giới ngày càng trở nên bất ổn hơn. Thế giới có nguy cơ rơi vào một cuộc xung đột quốc tế nghiêm trọng giữa các cường quốc. Và nguy cơ đó đang tăng lên, chứ không giảm đi”, ông Milley cho biết.
Phát biểu của Tướng Mỹ được đưa ra trong bối cảnh, căng thẳng giữa Nga và Mỹ cùng đồng minh phương Tây đang leo thang dồn dập sau sự kiện Moscow mở chiến dịch quân sự ở Ukraine gần 3 tháng trước.
Hồi giữa tháng, Phó Chủ tịch Hội đồng An ninh quốc gia Nga Dmitry Medvedev nhận định, việc phương Tây dồn vũ khí cho Ukraine trong chiến dịch quân sự với Nga có thể làm gia tăng nguy cơ xảy ra xung đột giữa Moscow và NATO. Kịch bản này có thể leo thang trở thành cuộc chiến hạt nhân, ông Medvedev cảnh báo.
“Các nỗ lực của các nước NATO nhằm đưa vũ khí tràn ngập vào Ukraine, huấn luyện quân đội Kiev sử dụng thiết bị của phương Tây, triển khai lính đánh thuê và tổ chức các cuộc tập trận gần biên giới của Nga sẽ làm tăng khả năng xảy ra xung đột trực tiếp và công khai giữa Nga và NATO thay vì cuộc chiến ủy nhiệm hiện tại”, ông Medvedev nói.
Ông Medvedev cảnh báo: “Luôn có nguy cơ một cuộc xung đột như vậy sẽ biến thành một cuộc chiến hạt nhân toàn diện. Đây sẽ là một kịch bản thảm khốc cho tất cả mọi người”.
Tuần trước, ông Medvedev tuyên bố Moscow sẽ không cho phép Thế chiến III xảy ra và Nga sở hữu thứ vũ khí khiến mọi đối thủ phải chùn bước.
“Chúng tôi sẽ không cho phép tình huống Thế chiến III xảy ra. Nhưng chúng tôi buộc phải luôn tự nhắc nhở rằng trong trường hợp xảy ra một cuộc tấn công vào đất nước của chúng tôi, chúng tôi có thể đưa ra phản ứng tức thời và siêu mạnh, đẩy lùi bất kỳ hành động khiêu khích nào đe dọa đất nước của chúng tôi”, ông Medvedev tuyên bố.
Cựu Tổng thống Nga nhấn mạnh rằng, lá chắn hạt nhân của Nga bao gồm một kho vũ khí tối tân và đáng tin cậy có thể “làm nguội đi tham vọng của những bên sẵn sàng phát động Thế chiến III hoặc thông qua một bên khác”.
Phát biểu trước Quốc hội Đức ngày 19/5 trước thềm Hội nghị Thượng đỉnh EU về Ukraine vào cuối tháng này, Thủ tướng Đức Olaf Scholz đã gọi cuộc chiến ở Ukraine là cuộc khủng hoảng lớn nhất mà EU từng đối mặt trong lịch sử của mình.
Ông Scholz cũng gọi cuộc chiến này là “một bước ngoặt lịch sử” và cho rằng các thành viên EU phải đương đầu với nó bằng sự đoàn kết.
“Sức ép từ bên ngoài càng lớn thì EU càng cần sát cánh và hành động cùng nhau. Chúng ta đều có một mục tiêu chung, đó là Nga sẽ không giành chiến thắng trong cuộc chiến này. Ukraine phải giành ưu thế”.
Thủ tướng Đức cũng giải thích đó là lý do tại sao Đức cung cấp hỗ trợ cho Ukraine, trong đó bao gồm cả các vũ khí hạng nặng và tiếp nhận người tị nạn Ukraine.
Ông Scholz cho biết, Đức sẽ không tiến hành bất kỳ động thái nào khiến NATO trở thành một phần của cuộc xung đột ở Ukraine. Ông nhấn mạnh Đức sẽ không thực hiện những biện pháp đơn lẻ. “Chúng tôi sẽ không làm bất kỳ điều gì khiến NATO trở thành một bên xung đột”, Thủ tướng Đức khẳng định.
Ngày 19/5, quân đội Trung Quốc bắt đầu tập trận ở Biển Đông, đúng thời điểm Tổng thống Mỹ Joe Biden bắt đầu chuyến công du Nhật Bản, Hàn Quốc.
Một cuộc tập trận của Hải quân Trung Quốc trên Biển Đông.
Văn phòng Cục An ninh Hàng hải Trung Quốc tại tỉnh Hải Nam cho biết cuộc tập trận bắt đầu từ ngày 19/5 và kéo dài tới ngày 23/5. Tất cả máy bay, tàu thuyền dân sự đều bị cấm vào khu vực tập trận.
Ngoài ra, cơ quan này không cung cấp thêm thông tin.
Đầu tháng 5 này, tàu sân bay Liêu Ninh đầu tiên của Trung Quốc đã đi vào Biển Nhật Bản.
Bộ Quốc phòng Trung Quốc cho biết tàu sân bay này đang tham gia “huấn luyện chiến đấu bình thường”, tuân thủ các chuẩn mực theo luật pháp quốc tế, nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động, không nhằm vào bất cứ bên nào.
Ngày 18/5, truyền thông Trung Quốc còn đưa tin, Trung Quốc đã điều hai máy bay ném bom tầm xa H-6 có khả năng mang vũ khí hạt nhân bay qua khu vực này.
Trong thời gian này, Tổng thống Mỹ Joe Biden có chuyến công du tới châu Á, thăm Hàn Quốc và Nhật Bản từ ngày 20-24/5 tới, tại đây ông sẽ gặp gỡ lãnh đạo hai nước.
Ngoài ra, tại Tokyo, Tổng thống Mỹ sẽ có cuộc gặp các nhà lãnh đạo trong nhóm Bộ Tứ gồm Mỹ, Australia, Ấn Độ và Nhật Bản.
Bốn quốc gia này cùng chia sẻ quan ngại về Trung Quốc cũng như việc nước này tăng cường các lực lượng vũ trang.
Về phần mình, Trung Quốc cho rằng nhóm Bộ Tứ là một phần trong nỗ lực của Mỹ để cản trở sự trỗi dậy về kinh tế và chính trị của Trung Quốc đồng thời Bắc Kinh cũng tỏ rõ bất bình với những động thái của Washington trong vấn đề Đài Loan.
Maksim Oreshkin, một phụ tá của Tổng thống Vladimir Putin, cho biết nỗ lực của Mỹ nhằm tiếp quản nguồn dự trữ ngũ cốc của Ukraine có thể gây ra một cuộc khủng hoảng nhân đạo ở nước này và dẫn đến tình trạng thiếu ngũ cốc trên toàn cầu.
Nga lên án phương Tây khiến nguy cơ về nạn đói toàn cầu tăng cao.
Theo quan chức này, một nạn đói toàn cầu có thể bùng phát vào mùa thu tới. Nguyên nhân chính dẫn đến nạn đói toàn cầu tiềm tàng này là do giá lúa mì trên thị trường thế giới tăng, xuất phát từ chính sách tiền tệ “vô trách nhiệm” của Washington, RT trích lời ông Maksim.
“Cho đến khoảng năm 2020, giá lúa mì trên thị trường thế giới vẫn ổn định, nhưng sau khi đồng USD tăng lên, bắt đầu vào khoảng tháng 7/2020, giá bắt đầu tăng mạnh,” ông Maksim nói, đề cập đến các biện pháp của Washington nhằm hạn chế tác động của dịch Covid- 19 đối với nền kinh tế nước này.
Tuy nhiên, theo ông Oreshkin, những hành động gần đây của chính quyền Tổng thống Mỹ Joe Biden có khả năng khiến tình hình vốn đã nguy cấp sẽ trở nên trầm trọng hơn.
“Trên thực tế, những gì Mỹ đang cố gắng làm với Ukraine hiện nay là lấy đi nguồn dự trữ ngũ cốc mà Ukraine hiện đang sở hữu. Đây chỉ là một hành động khác khiến Ukraine phải đối mặt với các vấn đề nhân đạo nghiêm trọng, nhưng cũng khiến cộng đồng toàn cầu gặp phải những vấn đề lớn”, quan chức này cảnh báo.
Tổng thống Nga Vladimir Putin gần đây cũng tuyên bố rằng mối đe dọa về nạn đói toàn cầu là kết quả từ “nỗi ám ảnh trừng phạt” của phương Tây.
Giá lúa mì đã tăng hơn 60% trong năm nay, với mức tăng đột biến mới nhất gây ra bởi gián đoạn nguồn cung do cuộc xung đột ở Ukraine và các lệnh trừng phạt của phương Tây đối với Moscow. Trong khi đó, 2 nước Nga, Ukraine chiếm gần 1/3 lượng lúa mì xuất khẩu của thế giới.
Tình hình càng trở nên trầm trọng hơn sau khi các nhà cung cấp ngũ cốc lớn là Nga, Kazakhstan và Ấn Độ cấm xuất khẩu để bảo vệ nguồn cung cấp lương thực trong nước.
Theo tin tức từ New Delhi, giá lúa mì kỳ hạn đã tăng 5,9% vào đầu tuần này, đạt mức cao nhất mọi thời đại là 12,68 USD/bushel (tương đương khoảng 36 lít) trên sàn giao dịch hàng hóa Chicago, trước khi điều chỉnh nhẹ trong những ngày tiếp theo. Tại thị trường châu Âu, giá đạt mức cao lịch sử khoảng 461 USD/tấn.
Trước nguy cơ về một nạn đói toàn cầu có thể xảy ra trong năm nay, Liên hợp quốc cũng đã tổ chức một cuộc họp cấp bộ trưởng về an ninh lương thực toàn cầu hôm 18/5, trong đó Tổng thư ký Liên hợp quốc António Guterres cho biết các sản phẩm thực phẩm và phân bón từ Nga, Ukraine và Belarus phải được phép bán trên thị trường thế giới nếu cộng đồng toàn cầu muốn ngăn chặn cuộc khủng hoảng lương thực đang diễn ra.
Ông Guterres nhấn mạnh: “Hãy nói rõ rằng, không có giải pháp nào hiệu quả hơn cho cuộc khủng hoảng lương thực ngoài sự tái hòa nhập của sản xuất lương thực Ukraine, cũng như thực phẩm và phân bón do Nga và Belarus sản xuất vào các thị trường thế giới”.
Đầu tháng này, ông Guterres cảnh báo rằng 1/5 nhân loại có nguy cơ đói nghèo do tình hình thị trường ngũ cốc hiện nay, với giá lúa mì tăng vọt sau các lệnh trừng phạt của phương Tây đối với Nga và Belarus.
Tổng thư ký LHQ cũng đề nghị Moscow nên ngừng chặn việc xuất khẩu thực phẩm từ các cảng của Ukraine. Đồng thời, phân bón và các sản phẩm thực phẩm từ Nga cũng nên được phép bán ra thị trường thế giới mà không gặp trở ngại.
Về phía Nga, Phó chủ tịch Hội đồng An ninh Nga ông Dmitry Medvedev mới đây lưu ý Nga sẵn sàng thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của mình, nhưng nước này cũng mong nhận được sự hỗ trợ từ các đối tác thương mại. Theo ông Medvedev, Moscow sẽ không xuất khẩu lương thực, thực phẩm nếu việc này khiến thị trường trong nước bị ảnh hưởng và tổn hại.
Tướng Kenneth Wilsbach, tư lệnh lực lượng phòng không Thái Bình Dương của Mỹ, xác nhận 2 chiến đấu cơ của Mỹ và Trung Quốc đã có cuộc chạm trán trên biển Hoa Đông.
Hai chiến đấu cơ này là Chengdu J-20 của Trung Quốc và F-35 của Mỹ. Đây là hai chiến đấu cơ thuộc thế hệ thứ 5 duy nhất trên thế giới.
Trang tin quân sự Mỹ Military Watch cho biết tướng Mỹ Kennneth Wilsbach đã không cho biết thời gian cụ thể của cuộc chạm trán giữa 2 chiến đấu cơ này.
Trong khi đó, báo South China Morning Post (SCMP) dẫn các nguồn tin từ quân đội Trung Quốc cho biết, các máy bay chiến đấu của Mỹ và Trung Quốc đã vài lần “chạm mặt” ở khu vực biển Hoa Đông.
Trong thời gian qua, Mỹ đã triển khai chiến đấu cơ F-35 tới khu vực Đông Á với số lượng đáng kể. Đó là biến thể F-35A được không quân sử dụng, biến thể F-35B được sử dụng trên các tàu sân bay tấn công của thủy quân lục chiến và biến thể F35-C được sử dụng trên các siêu tàu sân bay của hải quân, trong đó một chiếc bị rơi ở Biển Đông vào tháng 1-2022.
Ba biến thể F-35 này được đưa vào hoạt động lần lượt trong khoảng năm 2014 đến năm 2019.
Chiến đấu cơ F-35 của Mỹ được thiết kế nhẹ, có một động cơ với giá cả phải chăng, sản xuất số lượng lớn và có chi phí hoạt động thấp.
Chiến đấu cơ J-20 của Trung Quốc được cải thiện nhanh chóng kể từ khi đi vào hoạt động năm 2017. Đến tháng 10-2021, J-20 ra mắt thế hệ thứ năm với động cơ mới và biến thể 2 chỗ ngồi đầu tiên trên thế giới.
Cho đến nay, J-20 được trang bị tên lửa không đối không, phục vụ cho các cuộc giao tranh tầm xa và tầm ngắn tương ứng. Chiến đấu cơ này có cùng trọng lượng với chiến đấu cơ hạng nặng thế hệ thứ năm F-22 của Mỹ và Su-57 của Nga với khả năng ném bom chính xác.