Kategorie-Archiv:Aktuell

Hóa ra Mỹ đầu tư vào Al ở TQ nhiều nhất

Theo một báo cáo mới, các công ty Mỹ đã tham gia vào ít nhất 37% tổng giá trị giao dịch đầu tư vào lĩnh vực trí thông minh nhân tạo (AI) của Trung Quốc, từ năm 2015 đến 2021.

Camera an ninh với trí thông minh nhân tạo, có công nghệ nhận dạng khuôn mặt, được trưng bày tại Triển lãm Quốc tế về An toàn và An ninh Công cộng Trung Quốc lần thứ 14, tại Trung tâm Triển lãm Quốc tế Trung Quốc ở Bắc Kinh, Trung Quốc, 24/10/2018.

Một báo cáo mới của Trung tâm An ninh và Công nghệ Mới nổi của Đại học Georgetown cho thấy, các giao dịch có liên quan đến các nhà đầu tư Mỹ đổ vào các công ty về trí thông minh nhân tạo của Trung Quốc đạt tổng giá trị 40,2 tỷ USD trong khoảng thời gian từ năm 2015 đến 2021. Nhưng báo cáo cũng cho biết, không rõ bao nhiêu phần trăm số tiền đó được thực hiện bởi các nhà đầu tư Mỹ hay đối tác nước ngoài của họ.

Số tiền 40,2 tỷ USD này đã được trao cho 251 công ty về trí thông minh nhân tạo của Trung Quốc. Trong đó, 91% số giao dịch được thực hiện ở giai đoạn đầu tư vốn mạo hiểm.

Báo cáo lưu ý rằng, có những rủi ro với các khoản đầu tư như vậy vì chúng thường đi kèm với các lợi ích vô hình khác, trong đó có việc chuyên môn của Mỹ được chuyển giao cho các công ty có trụ sở tại Trung Quốc.

“Mặc dù dữ liệu của Crunchbase cho thấy đầu tư ra nước ngoài của Mỹ ít vào các công ty về trí thông minh nhân tạo của Trung Quốc, nhưng hoạt động tài chính, liên kết thương mại, và chuyên môn ngầm như thế, mà được chuyển từ các nhà đầu tư có trụ sở tại Mỹ sang các công ty mục tiêu trong hệ sinh thái trí thông minh nhân tạo đang bùng nổ của Trung Quốc, thì mang ý nghĩa vượt ra ngoài lĩnh vực kinh doanh”, báo cáo nêu rõ.

“Đặc biệt, các khoản đầu tư vốn mạo hiểm giai đoạn đầu có thể mang lại lợi ích vô hình ngoài vốn, bao gồm việc cố vấn và huấn luyện, công nhận tên tuổi, và cơ hội kết nối mạng lưới. Do đó, đầu tư ra nước ngoài của Mỹ vào công nghệ Trung Quốc, và đặc biệt là trí thông minh nhân tạo, đáng được chú ý và theo dõi thêm”.

Các công ty Mỹ đầu tư vào các công ty trí thông minh nhân tạo Trung Quốc
Các khoản đầu tư của Mỹ vào các công ty về trí thông minh nhân tạo có trụ sở tại Trung Quốc đã bị chỉ trích trong những năm gần đây, vì mức độ kiểm soát của chính quyền Trung Quốc đối với các công ty như vậy.

Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ), vốn cai trị Trung Quốc trong trại thái một quốc gia độc đảng, đã ban hành một số luật bắt buộc các công ty có trụ sở tại Trung Quốc cung cấp tất cả dữ liệu mà họ sở hữu cho chính quyền này khi có yêu cầu.

Điều này có nghĩa là bất kỳ dữ liệu hoặc công nghệ nào do các công ty có trụ sở tại Trung Quốc phát triển với sự hậu thuẫn của Mỹ đều có thể được ĐCSTQ trực tiếp sử dụng để cải thiện khả năng quân sự của mình, phù hợp với chiến lược “kết hợp quân-dân sự” của chính quyền này.

Hơn nữa, những khoản đầu tư như vậy trực tiếp thúc đẩy những nỗ lực của Trung Quốc nhằm vượt qua Mỹ để trở thành cường quốc công nghệ hàng đầu.

Điều này được thể hiện qua giá trị của các khoản đầu tư được thực hiện bởi các nguồn từ Mỹ vào các công ty trí thông minh nhân tạo của Trung Quốc. Các giao dịch đầu tư liên quan đến các nguồn từ Mỹ chỉ chiếm 17% tổng số giao dịch vào các công ty trí thông minh nhân tạo Trung Quốc, nhưng chiếm đến 37% tổng giá trị đầu tư của tất cả các giao dịch đó, theo báo cáo cho hay.

Đáng chú ý, các khoản đầu tư của Mỹ cũng bao gồm khoản đầu tư lớn vào các công ty Trung Quốc, mà nghiên cứu của các công ty này có thể mang lại lợi ích rõ rệt cho việc theo đuổi trí thông minh nhân tạo và các hệ thống tự động của quân đội Trung Quốc.

“Một số khoản đầu tư lớn nhất bao gồm khoản đầu tư riêng lẻ của Goldman Sachs vào 1KMXC, một công ty rô-bốt trí thông minh nhân tạo, cũng như khoản đầu tư của ba công ty đầu tư mạo hiểm có trụ sở tại Mỹ vào Geek+, một công ty rô-bốt di động tự động”, báo cáo nêu rõ.

BDN

Loading

Views: 0

Căng thẳng quan hệ Mỹ – Trung sau vụ khinh khí cầu thám của TQ

Vụ khinh khí cầu nghi do thám của Trung Quốc dẫn đến Mỹ hủy chuyến công du Bắc Kinh của Ngoại trưởng Antony Blinken vào phút chót và đánh dấu giai đoạn căng thẳng mới trong quan hệ song phương.

Hai ngày sau khi Lầu Năm Góc thông báo phát hiện một khinh khí cầu “lạ”, mà sau đó Trung Quốc xác nhận là của họ, Tổng thống Joe Biden tiếp thu đề nghị của giới quan chức quốc phòng là tiếp tục theo dõi và tạm thời không bắn hạ khinh khí cầu này, theo Đài CNN.
Mỹ “án binh bất động”

Ngày 2.2, Lầu Năm Góc loan tin về sự xuất hiện của một khinh khí cầu trên bầu trời Montana, nơi đặt hầm chứa 100 tên lửa đạn đạo liên lục địa (ICBM) ở Căn cứ Không quân Malmstrom. Chuẩn tướng Patrick Ryder, người phát ngôn Lầu Năm Góc, cho biết chính phủ Mỹ vài ngày qua vẫn theo dõi khinh khí cầu trong lúc nó băng ngang bầu trời Bắc Mỹ, bên trên độ cao diễn ra hoạt động hàng không dân dụng.
Trong buổi họp báo ngày 3.2, Thư ký báo chí Nhà Trắng Karine Jean-Pierre cho hay các tướng lĩnh Mỹ cho rằng chưa nên bắn hạ khinh khí cầu vì có thể dẫn đến nguy hiểm trên mặt đất, và Tổng thống Biden đồng ý. Tuy nhiên, chính quyền Washington vẫn chưa loại trừ khả năng xử lý khinh khí cầu, nếu có thể đảm bảo mọi thứ an toàn. Theo một quan chức quân sự, Bộ Tư lệnh Bắc Mỹ đang phối hợp với Cơ quan Hàng không vũ trụ Mỹ (NASA) để xác định điểm rơi trong trường hợp bắn khinh khí cầu.

Hôm qua (4.2), Lầu Năm Góc thông báo phát hiện khinh khí cầu thứ hai của Trung Quốc, lần này trên bầu trời Mỹ La tinh. Cùng ngày, Hãng AFP dẫn lời chuyên gia William Kim của tổ chức Sáng kiến Marathon ở Washington D.C cảnh báo rằng trong khi khinh khí cầu đầu tiên có bề ngoài giống loại khảo sát thời tiết, nhưng nó lại có những điểm đặc biệt.

Trung Quốc nói gì về khinh khí cầu “do thám” bị phát hiện ở Mỹ?

Theo đó, phía Mỹ phát hiện khinh khí cầu mang theo những thiết bị điện tử cung cấp chỉ dẫn và thu thập thông tin, được vận hành bằng các bảng điện mặt trời. Nó cũng được trang bị công nghệ điều hướng tiên tiến mà hiện Mỹ vẫn chưa áp dụng. Chuyên gia Kim cũng lưu ý có thể Trung Quốc sử dụng công nghệ trí thông minh nhân tạo (AI) cho khinh khí cầu. Đây là công nghệ cho phép ghi nhận những thay đổi trong không khí, điều chỉnh cao độ và hướng tới nơi muốn đến.

Bên cạnh đó, ông Kim cho hay không dễ bắn hạ một khinh khí cầu. Trong vụ một khinh khí cầu thời tiết “nổi loạn” vào năm 1998, Canada điều hai tiêm kích CF-18 nã hơn 1.000 viên đạn loại 20 mm về phía khinh khí cầu, nhưng không thể bắn rơi nó lập tức. Tất nhiên, một phương án khác là dùng tên lửa không đối không để đối phó, nhưng lúc đó Không quân Hoàng gia Canada không áp dụng vì tốn kém.
Theo thông tin từ Bộ Ngoại giao Trung Quốc ngày 3.2, khinh khí cầu bị phát hiện trên bầu trời Montana là loại dân sự, phục vụ nghiên cứu khoa học và thời tiết. Khinh khí cầu đã bay lạc sang Mỹ ngoài ý muốn. Đến hôm qua, Bộ Ngoại giao Trung Quốc cáo buộc giới chính khách và truyền thông Mỹ đã “lợi dụng” vụ việc để làm mất uy tín Bắc Kinh.

Mỹ cam kết sử dụng vũ khí hạt nhân bảo vệ Hàn Quốc

Tại cuộc họp báo chung với Ngoại trưởng Hàn Quốc Park Jin ở Washington D.C hôm 3.2, ông Blinken khẳng định Mỹ vẫn cam kết sử dụng mọi năng lực quân sự hiện có, bao gồm hạt nhân, để bảo vệ Hàn Quốc. Theo Yonhap, một số người bắt đầu đặt nghi vấn về cam kết cũng như sự sẵn sàng của Mỹ trong việc sử dụng vũ khí hạt nhân bảo vệ Hàn Quốc. Và ông Blinken một lần nữa khẳng định Mỹ sẽ làm mọi điều có thể để bảo vệ đồng minh, trong bối cảnh CHDCND Triều Tiên phóng hơn 90 tên lửa trong năm 2022.

Tuy nhiên, sự xuất hiện của khinh khí cầu Trung Quốc trong không phận Mỹ đã phá hỏng cơ hội hàn gắn quan hệ giữa Bắc Kinh và Washington thông qua chuyến thăm của Ngoại trưởng Antony Blinken. Lẽ ra chuyến bay của ông Blinken đến Bắc Kinh đã khởi hành vào tối 3.2 (giờ Mỹ). Tuy nhiên, nhà ngoại giao đã gọi điện cho ông Vương Nghị, Ủy viên Bộ Chính trị – Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại T.Ư Đảng Cộng sản Trung Quốc, và thông báo hoãn chuyến công du.

“Trong cuộc điện đàm hôm nay (3.2) với ông Vương Nghị, tôi khẳng định sự hiện diện của khinh khí cầu do thám trong không phận Mỹ đã vi phạm sự toàn vẹn lãnh thổ Mỹ và luật quốc tế, và đó là hành vi vô trách nhiệm. Việc (Trung Quốc) quyết định hành động như thế vào thời điểm trước chuyến thăm của tôi đã gây bất lợi cho những cuộc thảo luận thực chất mà chúng tôi chuẩn bị”, Reuters dẫn lời ông Blinken. Nhà ngoại giao nói rằng Mỹ chắc chắn rằng khinh khí cầu trên có mục đích do thám

BDN

Loading

Views: 0

Đàm phán COC – “ba mươi chưa phải Tết”

Đàm phán của các thành viên ASEAN với Trung Quốc về Bộ quy tắc ứng xử trên Biển Đông (COC) là câu chuyện được bàn đi bàn lại đã hàng chục năm nay. Nhưng càng bàn thì càng rơi vào bế tắc. Trung Quốc đã nhiều lần đưa ra các lý do trì hoãn.

Hơn hai năm qua, Trung Quốc lấy lý do đại dịch Covid-19 hoành hành nên không thể tiến hành đàm phán. Bước vào năm 2023, đại dịch về cơ bản đã được khống chế. Để rồi xem Bắc Kinh còn nại ra cớ nào khác?

Hôm qua, 4/2, sau cuộc họp kéo dài hai ngày tại thủ đô Jakarta của Indonesia, các ngoại trưởng Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á – ASEAN cam kết sẽ nhanh chóng kết thúc các cuộc đàm phán với Trung Quốc về Bộ quy tắc ứng xử trên Biển Đông (COC), nhằm ngăn ngừa xung đột tại vùng biển tranh chấp này.

Trong nhiều năm qua, Trung Quốc và các quốc gia thành viên ASEAN, trong có 5 nước, 6 bên tranh chấp về chủ quyền với quần đảo Trường Sa là Việt Nam, Trung Quốc, Philippines, Malaixia, Brunei và Đài Loan. Còn tranh chấp về chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa chỉ liên quan Việt Nam và Trung Quốc.

Trung Quốc và các thành viên ASEAN đã nhiều lần mở các cuộc đàm phán về COC, bao gồm các chuẩn mực và các quy định để ngăn ngừa nổ ra xung đột tại các khu vực tranh chấp trên Biển Đông, thế nhưng không có sự đồng thuận.

Tại phiên họp đầu năm, Ngoại trưởng Indonesia, bà Retno Marsudi tuyên bố là Indonesia, với tư cách chủ tịch luân phiên của ASEAN năm 2023, sẵn sàng chủ trì các vòng đàm phán kế tiếp về COC. Vòng đầu tiên sẽ diễn ra vào tháng 3. Các nước thành viên ASEAN cam kết sẽ kết thúc các cuộc thảo luận “sớm nhất có thể được”, đồng thời cam kết thúc đẩy việc thực hiện Bản tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC).

Lý do Trung Quốc dây dưa trong việc đàm phán COC là do “Mỹ cố tình cản trở”. Bắc Kinh nhiều lần cáo buộc Washington can thiệp vào điều mà họ gọi là tranh chấp riêng giữa các nước châu Á. Cụ thể, Lầu năm góc thường xuyên điều chiến hạm và chiến đấu cơ đến Biển Đông để tiến hành các cuộc tuần tra bảo vệ tự do hàng hải và hàng không ở vùng biển này. Thực chất, theo Bắc Kinh, “trò hề” này quá lố và quá cũ (!).

Năm nay nước chủ nhà Indonesia tuy không nằm trong số các quốc gia tranh chấp chủ quyền Biển Đông với Trung Quốc, nhưng vẫn kịch liệt phản đối việc Bắc Kinh đòi chủ quyền trên một phần của vùng đặc quyền kinh tế của Indonesia ở khu vực phía bắc quần đảo Natuna.

Theo các nhà phân tích, dù dịch Covid-19 đã tạm lui, song không vì thế mà tiến trình đàm phán COC sẽ được thúc đẩy. Ngược lại, nó sẽ tiếp tục bị trì hoãn do các tranh chấp chưa được giải quyết, cũng như sự cạnh tranh địa chính trị gay gắt giữa Mỹ và Trung Quốc.

Điều đáng lo ngại là, một khi các cuộc đàm phán đi vào thực chất, việc thương lượng sẽ trở nên căng thẳng hơn và sự can thiệp từ Mỹ và các cường quốc khác ngoài khu vực sẽ khiến cho việc đạt được đồng thuận càng trở nên khó khăn.

Trong mấy năm qua, các chuyên gia Trung Quốc và “chuyên gia quốc tế” bị Bắc Kinh mua chuộc đã có những bài viết xuyên tạc sự thật, đổi trắng thay đen, cho rằng tình hình bất ổn ở Biển Đông chủ yếu là do sự can dự và các hoạt động quân sự của Mỹ.

Với lập luận như vậy, Bắc Kinh đã chối bỏ trách nhiệm về việc gia tăng quân sự hóa, xây dựng hạ tầng, triển khai vũ khí và điều động lực lượng gây rối, chèn ép các nước yếu thế hơn ở Biển Đông.

Những tưởng đàm phán đã kết thúc vào năm 2017. Khi đó, ASEAN và Trung Quốc đã đạt thỏa thuận dự thảo khung của COC. Thế nhưng, người châu Á có câu “Ba mươi chưa phải Tết”. Khi đó, Bắc Kinh đã phá đám bằng cách “móc” thêm ràng buộc qua lời phát biểu của Ngoại trưởng Vương Nghị, rằng việc thúc đẩy COC phải đi kèm với “sự ổn định và không có can thiệp từ bên ngoài”, ám chỉ Mỹ.

Cú né này là cách để Bắc Kinh lấy cớ việc Mỹ tiến hành các hoạt động tự do hàng hải, tập trận…để trì hoãn quá trình đàm phán COC.

Trong khi lên án Mỹ, Trung Quốc liên tục đẩy mạnh hoạt động quân sự ở Biển Đông. Bằng chứng rõ ràng nhất là, điều động hai nhóm tác chiến tàu sân bay là Sơn Đông và Liêu Ninh tập trận riêng biệt ở Biển Đông và Thái Bình Dương. Đáng chú ý là, tàu sân bay Sơn Đông đã rời cảng nhà ở Tam Á, tỉnh Hải Nam để tham gia “các cuộc tập trận định hướng chiến đấu” ở Biển Đông.

Việc Trung Quốc phô diễn tàu sân bay ở Biển Đông và các vùng biển lân cận nhằm thể hiện sức mạnh tàu sân bay với các bên trong khu vực cũng như dằn mặt Mỹ. Với những động thái nêu trên, có thể thấy Bắc Kinh không bao giờ từ bỏ sử dụng sức mạnh quân sự mang tính răn đe ở Biển Đông.

Điều này hoàn toàn đi ngược lại với những gì nước này thường đề cập về “thiện ý” đối với COC. Cho nên ASEAN chớ nên hi vọng gì ở việc đàm phán, nó sẽ còn kéo dài. Bởi COC có thể là cái thòng lọng tự thít vào cổ Bắc Kinh.

BDN

Loading

Views: 0

Mỹ-Nga-Trung những thách thức của lịch sử

Trong khi Mỹ và các nước đồng minh đang dồn sức hỗ trợ cho Ukraine trong cuộc chiến chống lại Nga thì gần đây các nhà quân sự chính trị của Mỹ lại lên tiếng cảnh báo cho rằng Trung Quốc mới thật sự là đối thủ lâu dài, đe dọa vị trí số một của Mỹ.

Cuộc chiến giữa Nga và Ukraina bùng nổ, nhiều người dự báo rằng đây có thể là tiền đề để Trung Quốc có thể tấn công Đài Loan thực hiện quyết tâm một Trung Quốc. Nga bị Mỹ và đồng minh cấm vận, Trung Quốc không bày tỏ sự đồng tình hay phản đối mà giúp Nga bằng việc gia tăng việc mua dầu và khí đốt của Nga, sẵn sàng thanh toán bằng đồng Rup và đồng nhân dân tệ.

Gần đây Mỹ kêu gọi Anh, Pháp và một số nước không bán máy móc, vật tư để Trung Quốc phát triển công nghiệp điện tử. Trong thực tế, Trung Quốc đã tích cực đầu tư để không phụ thuộc vào Mỹ và các nước khác trong lĩnh vực này. Nhiều người dự báo rằng với trình độ và tiềm lực khoa học hiện nay Trung Quốc đủ sức để tự chủ vươn lên vượt qua Mỹ không chỉ trong lĩnh vực điện tử mà cả trong nhiều lĩnh vực khác.

Sở dĩ Mỹ cố dồn sức và kêu gọi các nước đồng minh liên tục cung cấp vũ khí, tài chính với mức độ lớn chưa từng có là hy vọng Ukraine có thể ngăn chặn cuộc tiến công của Nga. Nếu thành công đây sẽ là bài học răn đe Trung Quốc nếu muốn tấn công Đài Loan.

Mỹ muốn Trung Quốc hiểu rằng nếu Trung Quốc tấn công Đài Loan thì Mỹ và các nước đồng minh sẽ hỗ trợ Đài Loan chống lại Trung Quốc. Trong lịch sử Mỹ- Trung đã từng đối đầu ở Triều Tiên nhưng rồi cũng phải chấp nhận ngừng bắn, xác định giới tuyến chia đôi Bắc – Nam Triều Tiên.

Lúc đó Trung Quốc vừa mới trải qua chiến tranh, tiềm lực quân sự còn chưa đủ mạnh, kinh tế gặp nhiều khó khăn, nhưng Trung Quốc đã chặn đứng được cuộc tiến công của Mỹ. Còn ngày nay, cả quân sự, kinh tế và khoa học kỹ thuật đã ngang bằng với Mỹ thì sự hậu thuẫn của Mỹ cho Đài Loan không làm Trung Quốc lo ngại.

Trong chiến tranh thế giới thứ hai, thời kỳ đầu, Liên Xô cũng gần như đơn độc chống lại cuộc tiến công như vũ bão của phát xít Đức. Chỉ đến khi Liên Xô phản công thắng lợi thì Mỹ và các nước mới nhảy vào tham chiến. Người Mỹ lúc đó cũng học bài học từ Trung Quốc là tọa sơn quan hổ đấu.

Cuộc chiến ở Ukraine hiện nay không chỉ có Nga mà Trung Quốc và một số nước cũng không muốn Mỹ và đồng minh chiến thắng trong cuộc chiến này.

Mỹ thực sự đang đứng trước hai đối thủ Nga, Trung có thể làm Mỹ mất vị trí số một và xóa đi biểu tượng thế giới một cực mà Mỹ đang cố níu giữ.

BDN

Loading

Views: 0

Từ rất sớm người phương Tây đã khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

Hoạt động chủ quyền của vua Gia Long ở Hoàng Sa và Trường Sa không chỉ được lưu trữ, các bộ sử chính thức của vương triều, được thực thi và trở thành sứ mệnh thiêng liêng ở các địa phương mà còn được chứng thực của những người phương tây với thái độ khâm phục.

Bản đồ do Jodocus Hondius vẽ năm 1613.

Jean Batiste (1769-1825) là sĩ quan hải quân của Pháp đến nam kỳ năm 1794 đã viết hồi ký xác nhận: “Xứ Đàng Trong mà Quốc vương ngày nay mang danh hiệu Hoàng Đế bao gồm xứ Nam Hà theo đúng nghĩa của nó, xứ Bắc Hà, một phần vương quốc của Cao Miên, một vài đảo có nhỏ có người ở không xa bờ biển và quần đảo Hoàng Sa, gồm có những đảo nhỏ bãi đá ngầm và mỏm đá không có người ở. Chỉ đến năm 1816 thì nhà vua hiện nay (vua Gia Long) mới chiếm hữu được đảo này”.

Giám mục người Pháp Jean Louis Taberd đã từng nhiều năm tuyên giáo ở Nam Kỳ, Trung Kỳ đầu thế kỷ XIX viết rằng: “Quần đảo Pracel hay Pracels là khu vực chằng chịt những hòn đảo nhỏ, đá ngầm và bãi cát, hình như được kéo dài cho đến 11° độ vĩ bắc và khoảng 107° kinh đông Paris. Một số nhà hàng hải đã vượt qua được những tảng đá ngầm này với một sự mạo hiểm có phần may mắn nhiều hơn là khôn ngoan, nhưng một số đã gặp phải nạn khi cố gắng vượt qua. Những người dân sứ Đàng Trong gọi khu vực đó là Cồn Vàng…Vào năm 1816 nhà vua (vua Gia Long) đã tới long trọng cắm lá cờ của mình và đã chính thức giữ chủ quyền ở các bãi đá này, mà chắc chắn sẽ không một ai sẽ tìm cách tranh giành với ông ta”.

Johann Gottfried Sommer trong mục “Cochinchina” (Đàng Trong) sách Taschenbuch zur Verbreitung geographischer Kenntnisse xuất bản tại Praha (Séc) năm 1839 xác nhận rằng: “Ngoài biển của vương quốc Đàng Trong có rất rất nhiều đảo … Dân Đàng Trong sinh sống tối tận đảo Ko-Khram, đảo này nằm dưới vĩ tuyến 13… Năm 1816 vua Đàng Trong đã chiếm hữu bãi đá san hô nguy hiểm và không có người sinh sống, gồm nhiều bãi đá và cồn cát có tên là Pracels. Không ai có thể phản đối chủ quyền của Đàng Trong về phần đất mới chiếm của vương quốc này?.

Năm 1850, M. A Dubois de Jancigny, cựu đại uý, phái viên của Chính phủ Pháp ở Trung Quốc và Đông Dương đã viết cuốn sách “Nhật Bản- Đông Dương đế quốc Miến Điện (Ava), Siam, Annam”, trong đó khẳng định “Đã từ 34 năm nay (tức từ năm 1816 đến 1850), quần đảo Pracels (mà những người Annam gọi là Cát Vàng), thật ra là một chốn mê cung chằng chịt những hòn đảo nhỏ, đá ngầm và bãi cát … Quần đảo đã bị các người xứ Đàng Trong (Cochinchina) chiếm giữ”.

Qua ghi chép của những người Phương Tây nói trên đã khẳng định: ngay từ năm 1816 vua Gia Long đã thực thi hai chủ quyền ở hai hòn đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

BDN

Loading

Views: 0

TQ bắt đầu “xâm chiếm” Nam Cực

Trung Quốc đã đe dọa Đài Loan, thách thức các nước láng giềng ở Biển Đông, đụng độ với Ấn Độ trên dãy Himalaya, và tìm cách phá vỡ trật tự quốc tế do Hoa Kỳ lãnh đạo ở khắp mọi nơi, từ châu Phi cận Sahara và Nam Mỹ, cho đến không gian vũ trụ và không gian mạng. Giờ đây, Trung Quốc đang mở ra một mặt trận khác trong nỗ lực trở thành một siêu cường toàn cầu, đó chính là Nam Cực.

Ảnh minh họa.

Bắc Kinh đã sử dụng sức mạnh kinh tế và sức mạnh quân sự ngày càng tăng của mình, để khẳng định vai trò là một quốc gia “cận Bắc Cực”, nhằm tìm kiếm vai trò kinh tế và an ninh khi trái đất nóng lên, khiến các nguồn tài nguyên và tuyến đường thương mại ở Bắc Cực trở nên dễ tiếp cận hơn.

Ở bên kia thế giới, Trung Quốc đang mở rộng dấu ấn của mình ở Nam Cực, để trở thành một “cường quốc vùng cực” vào cuối thập kỷ này.

Jacob Stokes , thành viên cấp cao của Chương trình An ninh Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương tại Trung tâm An ninh Mỹ Mới, có trụ sở tại Washington cho biết: “ Trung Quốc có lợi ích khi được coi là một bên tham gia quan trọng trong tất cả các khu vực . “Khả năng hoạt động của họ ở [các vùng cực] là ‘đẳng cấp thế giới’, nếu không muốn nói là ‘hàng đầu thế giới’.”

Luật an ninh quốc gia của Bắc Kinh đã tạo ra một khuôn khổ pháp lý để thực hiện các yêu sách của mình. Bên cạnh đó, Trung Quốc đang tăng cường sự hiện diện ở Nam Cực, thông qua các dự án khoa học, liên doanh thương mại và đầu tư cơ sở hạ tầng.

Các nhà phân tích của viện Brookings cho biết, các nhà lãnh đạo quân sự Trung Quốc mô tả các vùng cực là “biên giới chiến lược”, và là khu vực cạnh tranh quân sự với phương Tây.

Mặc dù bảy quốc gia bao gồm Argentina, Úc, Chile, Pháp, New Zealand, Na Uy và Anh — đã đưa ra yêu sách lãnh thổ đối với các phần của Nam Cực, nhưng không một quốc gia đơn lẻ nào tuyên bố chủ quyền đối với khu vực băng giá rộng lớn này.

Vùng cực nam được điều chỉnh bởi Hiệp ước Nam Cực, được ký kết tại Washington vào tháng 12/1959. Hiệp ước giữa 54 quốc gia quy định rằng, Nam Cực chỉ được sử dụng cho “mục đích hòa bình”, rằng không có yêu sách lãnh thổ mới nào được tôn trọng, và bất kỳ nghiên cứu khoa học nào thu thập được về lục địa, được chia sẻ với tất cả các quốc gia khác.

Tuy nhiên, Trung Quốc đã thành lập Vạn Lý Trường Thành làm trạm nghiên cứu đầu tiên của mình ở Nam Cực vào năm 1985, và xây dựng ít nhất bốn trạm khác bao gồm Trung Sơn, Côn Lôn, Đài Sơn và một căn cứ bí mật trên Biển Ross.

Các nhà khoa học khẳng định rằng, Nam Cực có trữ lượng tài nguyên thiên nhiên lớn. Nó cũng có vị trí chiến lược cho các hoạt động quân sự và không gian. Theo trang web The China Story cho biết, Trung Quốc đã có một khoản đầu tư quốc gia lớn nhất ở khu vực này.

Quân đội Hoa Kỳ, vốn mô tả Trung Quốc là “thách thức về tốc độ” của họ, đang theo dõi chặt chẽ các hoạt động của chính quyền Bắc Kinh ở Nam Cực. Ngũ Giác Đài đã thông báo vào mùa thu này rằng, họ đang triển khai thêm 420 phi công thuộc Lực lượng Vệ binh Quốc gia tới Nam Cực, như một phần của Chiến dịch Deep Freeze của quân đội, để hỗ trợ “nghiên cứu khí hậu và các hoạt động khoa học khác”.

Khi được hỏi liệu hoạt động tăng cường của Trung Quốc trong khu vực, có phải là nguyên nhân gây lo ngại hay không. Chuẩn Tướng Patrick S. Ryder, phát ngôn viên Ngũ Giác Đài nói với các phóng viên vào tháng 10 rằng, quân đội Hoa Kỳ đang hợp tác “rất chặt chẽ với Úc và New Zealand trong nhiều cuộc tập trận khắp khu vực”.

Tướng Ryder nói: “Chắc chắn chúng tôi biết rằng Trung Quốc hiện diện ở Nam Cực. “Chúng tôi tiếp tục nhận thấy ở một số khu vực nhất định, đặc biệt là Trung Quốc đã tuyên bố rằng, họ là một quốc gia ở Bắc Cực, trong khi thực tế không phải vậy, và Trung Quốc đã bắt đầu cạnh tranh các nguồn tài nguyên khác nhau trong khu vực đó, và đưa khả năng phòng thủ vào những lĩnh vực đáng lo ngại. Đây chính là điều mà chúng tôi sẽ tiếp tục theo dõi.”

Sử dụng kép

Đã có một số lo ngại rằng, Bắc Kinh sẽ sử dụng các cơ sở khoa học của mình ở Nam Cực cho các mục đích quân sự, chẳng hạn như giúp Quân đội Trung Quốc tăng cường các tính năng kiểm soát, và chỉ huy vệ tinh, cho một cuộc tấn công hỏa tiễn có thể xảy ra. Theo một nghiên cứu của Viện Chính sách Chiến lược Úc, Trung Quốc đã lắp đặt các trạm theo dõi vệ tinh mặt đất tại các trạm nghiên cứu vùng cực Trung Sơn và Côn Lôn.

Ngũ Giác Đài lo ngại rằng Trung Quốc đang tăng cường sự hiện diện của mình ở Nam Cực thông qua các dự án khoa học, và đầu tư vào cơ sở hạ tầng nghe có vẻ lành tính, nhưng “có thể nhằm củng cố vị thế của họ đối với các yêu sách trong tương lai, đối với tài nguyên thiên nhiên và quyền tiếp cận hàng hải”.

Các quan chức Bộ Quốc phòng cho biết, chiến lược của Trung Quốc ở Nam Cực, bao gồm việc khai thác các công nghệ “lưỡng dụng”, các cơ sở và nghiên cứu có mục đích khoa học, nhưng cũng có thể cải thiện khả năng của Quân đội Trung Quốc.

Ngũ Giác Đài cho biết trong một báo cáo gần đây trước Quốc hội rằng, “ Luật An ninh Quốc gia năm 2015 của Bắc Kinh, xác định các vùng cực, cùng với biển sâu và không gian vũ trụ, là những khu vực để phát triển và khai thác”

Ông Stokes , nhà phân tích tại Trung tâm An ninh Mỹ mới, cho biết, Trung Quốc đang tham gia vào nghiên cứu khoa học hợp pháp ở Nam Cực, bao gồm các nỗ lực liên quan đến các vấn đề khí hậu và môi trường, nhưng ông đồng ý rằng, một số hoạt động và tài sản của Bắc Kinh trong khu vực, có thể được chuyển sang sử dụng quân sự nếu cần thiết.

Các quan chức trong Bộ Giao thông Vận tải Trung Quốc, đã công bố việc phát triển một tàu phá băng hạng nặng, có thể bổ sung cho ít nhất hai chiếc khác đang được sử dụng, cho các dự án nghiên cứu vùng cực.

Ông Stokes cho biết, “Đó là những tàu phá băng thuộc sở hữu nhà nước. Chúng chắc chắn có thể được tận dụng trong tương lai cho mục đích quân sự”.

BDN

Loading

Views: 0

NATO sẽ liên minh với Hàn Quốc, Nhật Bản

Tổng thư ký NATO thăm Đông Á là diễn biến mới tiếp nối những gì mà NATO, Hàn Quốc và Nhật Bản cùng Mỹ đã “tâm sự với nhau” tại hội nghị thượng đỉnh NATO ở Madrid hồi cuối tháng 6 năm ngoái.

Tổng thư ký Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) Jens Stoltenberg tuần này thăm Hàn Quốc và Nhật Bản để bàn về việc thúc đẩy các nỗ lực chung mới trên trường quốc tế, từ cuộc chiến ở Ukraine cho đến những mối đe dọa mới ở Đông Á.
“Mối đe dọa ngày càng tăng”

Tại Madrid (Tây Ban Nha) ở thời điểm đó, Tổng thống Hàn Quốc Yoon Suk Yeol đã ta thán “mối đe dọa hạt nhân và tên lửa của Triều Tiên tiếp tục gia tăng” trong khi “bối cảnh toàn cầu đang phải đối mặt với những bất ổn gia tăng”.

Và rồi, ông đề xuất với NATO: “Nhằm dẫn Triều Tiên đi theo con đường phi hạt nhân hóa, chúng ta phải thể hiện rõ ràng rằng ý chí phi hạt nhân hóa Triều Tiên của cộng đồng quốc tế mạnh hơn ý chí liều lĩnh phát triển các chương trình vũ khí hạt nhân và tên lửa của họ”.Tin tức thế giới 31-1: Mỹ thử thành công tên lửa siêu vượt âm tốc độ hơn 6.000km/h Tin tức thế giới 31-1: Mỹ thử thành công tên lửa siêu vượt âm tốc độ hơn 6.000km/h ĐỌC NGAY

Vào thời điểm đó, tính từ đầu năm 2022 tới ngày 5-6-2022, Triều Tiên đã thực hiện 31 vụ phóng tên lửa đạn đạo, vượt kỷ lục hằng năm trước đó. Bình Nhưỡng cũng đã thử nghiệm hai tên lửa hành trình tầm xa vào tháng 1 cùng năm.

Từ ngày 17-8-2022 trở đi, Bình Nhưỡng thử nghiệm trở lại tên lửa hành trình, nâng tổng số vụ phóng tên lửa đạn đạo và các loại trong cả năm 2022 lên tới hơn 95 vụ (theo New York Times ngày 2-1-2023).

Từ hội nghị thượng đỉnh NATO hôm 29-6-2022 tới 29-1-2023 vừa qua đã trải qua đúng bảy tháng. Trong khoảng thời gian đó, Triều Tiên đã phóng ít nhất 60 tên lửa đạn đạo và các loại.

Theo chuyên gia quan hệ quốc tế Imran Khalid (cây bút của The Geopolitics), chỉ trong vòng ba giờ đồng hồ bước sang năm mới 2023, Triều Tiên đã thử nghiệm các bệ phóng tên lửa đa nòng siêu lớn “để gửi một thông điệp rõ ràng và mạnh mẽ tới thế giới bên ngoài về ý định tiếp tục mở rộng chương trình phát triển tên lửa và hạt nhân trong những ngày tới”.

Từ đó có thể hiểu tại sao, trong hai ngày 29 và 30-1 vừa qua, Hàn Quốc đã “trải thảm đỏ” tiếp tổng thư ký NATO, tiếp nối lộ trình “dấn thân” với NATO mà Tổng thống Yoon Suk Yeol đã đề ra tại hội nghị thượng đỉnh NATO cuối tháng 6 năm ngoái.

Tất nhiên, từ phía mình, Triều Tiên coi sự “xích lại gần nhau” giữa Hàn Quốc và NATO từ hội nghị thượng đỉnh NATO tháng 6 năm ngoái là một nguy cơ khó lường.

“Chuyến đi của Tổng thư ký NATO Jens Stoltenberg đến Hàn Quốc và Nhật Bản là tiền đề cho đối đầu và chiến tranh, bởi động thái này kéo theo đám mây đen của một cuộc Chiến tranh lạnh mới đến châu Á – Thái Bình Dương”, thông tấn xã KCNA của Triều Tiên tuyên bố.
Trao đổi những gì?

Cũng chính vì coi trọng vị thế mới của Hàn Quốc đối với NATO, ông Jens Stoltenberg tới Seoul lần này để cảm ơn Hàn Quốc vì đã cung cấp các mặt hàng viện trợ phi sát thương cho Ukraine, đồng thời kêu gọi Hàn Quốc tăng hỗ trợ quân sự cho Ukraine mà cụ thể là đạn dược.
Nhà lãnh đạo NATO trấn an tổng thống Hàn Quốc rằng một số nước khác cũng đã từng nghiêm cấm cung cấp vũ khí cho các quốc gia có xung đột song nay đã thay đổi chính sách này.

Nếu như Seoul gật đầu, đổi lại Seoul sẽ được gì? Điều này chỉ có ông Stoltenberg, ông Yoon cùng các bộ trưởng ngoại giao và quốc phòng Hàn Quốc biết.

Tất nhiên là có cả phía Mỹ. Bởi thế, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Lloyd Austin vào hôm 30-1 cũng bay tới Seoul để gặp Tổng thống Yoon và người đồng cấp Lee Jong Sup.

Cựu tổng thống Brazil Bolsonaro xin gia hạn visa ở lại Mỹ Ông Zelensky: Nga đã bắt đầu phản công lớn Google đâm lo vì ChatGPT

Trước chuyến thăm của ông Austin, trên trang chủ Bộ Quốc phòng Mỹ chiều 30-1 vẫn chỉ báo trước rằng “quân đội hai nước sẽ tìm cách tăng cường huấn luyện sẵn sàng chung, bao gồm cả việc mở lại các cuộc tập trận bắn đạn thật ở nước này”.

Sở dĩ có thông báo này là do từ cuối năm ngoái, Hàn Quốc và Mỹ đã có xu hướng ngưng tập trận theo yêu cầu của Bình Nhưỡng nhằm tạo điều kiện cho đàm phán…

Tuy nhiên, có lẽ hai bên nhận thấy sự cần thiết của việc nối lại tập trận khi Seoul tự thấy “bó tay” trước các hoạt động xâm nhập của các máy bay không người lái Triều Tiên hồi cuối năm ngoái.

Song vấn đề không chỉ có vậy mà còn vì xu hướng rời xa của Mỹ, bắt đầu là chuyện thủy quân lục chiến Mỹ rời Okinawa của Nhật để rút về đảo Guam của Mỹ…

Gần đây nhất, hôm 19-1 Bộ Quốc phòng Mỹ ra lệnh cho lực lượng Mỹ tại Hàn Quốc thu xếp gửi trang thiết bị sang Ukraine.

Tất nhiên, Bộ Quốc phòng Mỹ cũng kèm theo lời trấn an rằng “sẽ không tác động gì tới các hoạt động của lực lượng này cũng như khả năng thực hiện cam kết sắt đá bảo vệ đồng minh Đại Hàn Dân Quốc”.

Một nỗi lo của Hàn Quốc nữa là nếu nước này đồng ý với yêu cầu của NATO về việc tăng trợ giúp quân sự cho Ukraine thì Nga sẽ “bỏ nhỏ” điều gì cho Triều Tiên?
NATO hối thúc Hàn Quốc tăng cường hỗ trợ Ukraine

Trong cuộc gặp Tổng thống Yoon Suk Yeol ở Seoul vào ngày 30-1, Tổng thư ký NATO Jens Stoltenberg hối thúc Hàn Quốc đẩy mạnh hỗ trợ quân sự cho Ukraine.

Ông Stoltenberg giải thích các sự kiện ở châu Âu và Bắc Mỹ đều có liên hệ đến các khu vực khác.

Ông cho biết nếu Nga “chiến thắng” ở Ukraine thì sẽ gửi thông điệp đến các nước khác, như Trung Quốc, rằng họ có thể đạt được điều mình muốn bằng vũ lực. Vì vậy, NATO muốn tăng cường hợp tác với châu Á để giúp quản lý các mối đe dọa toàn cầu.

Dù vậy, ông Yoon nói rằng luật của Hàn Quốc cấm cung cấp vũ khí cho các nước đang có xung đột. Tuy nhiên, ông Stoltenberg nói rằng nhiều nước như Đức, Thụy Điển, Na Uy đã điều chỉnh chính sách để xuất khẩu vũ khí cho Kiev.

BDN

Loading

Views: 0

Nga: Nếu Thế chiến 3 nổ ra, sẽ không bắt đầu từ vũ khí như bây giờ

Phó chủ tịch Hội đồng An ninh Nga, ông Dmitry Medvedev đã chỉ trích những biện minh của phương Tây về việc cung cấp xe tăng hay máy bay chiến đấu cho Kiev nhằm tránh Thế chiến thứ 3.

Theo Hãng thông tấn TASS của Nga, ông Medvedev – cựu tổng thống và thủ tướng Nga – lên tiếng chỉ trích phương Tây trong bài đăng trên ứng dụng Telegram của ông hôm 28-1: “Thứ nhất, việc bảo vệ Ukraine, điều mà không ai cần ở châu Âu, sẽ không cứu được thế giới già cỗi khỏi bị trừng phạt nếu có bất cứ điều gì xảy ra.

Thứ hai, một khi Chiến tranh thế giới thứ 3 nổ ra, thật không may, nó sẽ không có dịp diễn ra trên xe tăng hay thậm chí là máy bay chiến đấu. Mà mọi thứ chắc chắn sẽ tan thành mây khói ngay sau khi cuộc chiến bắt đầu”.

Bài viết trên ứng dụng Telegram của ông Medvedev nhằm vào phát biểu của Bộ trưởng Quốc phòng Ý Guido Crosetto, khi ông này cho rằng Chiến tranh thế giới thứ 3 sẽ nổ ra nếu xe tăng Nga tiến đến Kiev và “biên giới châu Âu”.

Ông Crosetto nói vũ khí được gửi đến Ukraine là nhằm ngăn chặn sự leo thang chiến tranh.
Cảnh báo của ông Medvedev cũng nhằm phản ứng lại lời kêu gọi từ Vương quốc Anh nhằm cung cấp cho Kiev tất cả vũ khí mà Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) có.

BDN

Loading

Views: 0

Nhìn lại trật tự thế giới hiện nay

Sau Chiến tranh Lạnh, trật tự trong một thế giới đơn cực do Mỹ dẫn đầu dựa trên quy tắc tự do, đề cao giá trị của dân chủ, thị trường tự do, nhân quyền và pháp quyền, mà không quan tâm tới chủ quyền và ranh giới quốc gia. Trên thực tế, trật tự này phụ thuộc vào sự thống trị và mệnh lệnh của sức mạnh quân sự, chính trị, kinh tế của Hoa Kỳ.

Lính Thủy quân lục chiến Mỹ ở phía bắc Kuwait chuẩn bị lên đường sau khi nhận được lệnh vượt biên giới Iraq vào ngày 20/3/2003.

Tuy nhiên, những năm gần đây cho thấy trật tự của một thế giới đơn cực thống trị đã không còn như những thập kỷ sau khi Liên Xô sụp đổ, hệ thống Xã hội Chủ nghĩa tan rã. Các cường quốc lớn đã thể hiện hành vi theo đuổi mục đích riêng của họ, làm phương hại đến trật tự quốc tế và tìm cách thay đổi trật tự đó, bằng cách sử dụng sức mạnh quân sự tranh chấp lãnh thổ, đầu tư các dự án kinh tế làm suy yếu chủ quyền, bác bỏ một trật tự thế giới đơn cực do Mỹ dẫn đầu. Nhiều quốc gia không hài lòng với thế giới hiện tại, khi các nhà lãnh đạo của các quốc gia và các tổ chức quốc tế đã không đưa ra được các biện pháp để ngăn chặn cuộc đại suy thoái kinh tế, ứng phó với biến đổi khí hậu, cuộc khủng hoảng nợ ở các nước đang phát triển, sự thảm bại toàn cầu của bệnh dịch Covid-19 kéo dài trong nhiều năm. Thế giới bao phủ sự hoài nghi ngày càng tăng với các thiết chế quốc tế về toàn cầu hóa – hiệp định thương mại, dân chủ nhân quyền, nhân đạo, vai trò của Đại hội đồng Liên hợp quốc và Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc đã không ngăn chặn được các cuộc chiến tranh xâm lược, hoạt động khủng bố quốc tế và dòng người di cư do đói nghèo và chiến tranh.

Khi nhận thấy điều này, các quốc gia đã tìm cách thay đổi nó để tồn tại và có lợi cho mình. Đây có thể được xem là một xu hướng của thế giới hiện nay. Xu hướng này gây bất ổn do xung đột giữa những cường quốc muốn thay đổi để đem lại lợi ích riêng cho mình. Vấn đề này đã diễn ra hàng thập kỷ nay khi các nước mới trỗi dậy không theo trật tự do Mỹ dẫn đầu. Đó là một thách thức toàn cầu của những năm tới.

Các cường quốc trên thế giới theo đuổi lợi ích riêng, nhưng ở họ có điểm chung là coi trật tự thế giới hiện tại là không phù hợp, cần phải xem xét lại. Các nhà quan sát tình hình đã nhận xét: các cường quốc lớn thể hiện hành vi có thể được gọi là “chủ nghĩa xét lại”. Họ theo đuổi mục đích riêng và tìm cách thay đổi trật tự đó.

Hoa Kỳ, với tư cách là siêu cường lớn nhất sau Chiến tranh Lạnh, là một trong những cường quốc định ra các thiết chế quốc tế và do Hoa Kỳ dẫn dắt đã có nhiều thành công trong nửa thế kỷ qua. Song, bản thân Hoa Kỳ đã có nhiều hành vi phá vỡ những thiết chế quốc tế do chính mình lập ra. Cuộc tấn công quân sự của Mỹ vào Kosovo, xóa bỏ nhà nước Nam Tư từ những năm 90 của thế kỷ trước; cuộc tấn công vào Iraq, Afghanistan, can thiệp nội trị các nước gây ra các cuộc cách mạng màu, bạo loạn lật đổ các chế độ không thân Mỹ ở Arab, Libya, Syria, Afghanistan… cho thấy Mỹ đã không coi trọng chủ quyền của các nước, vi phạm nghiêm trọng Hiến chương của Liên hợp quốc. Chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ bị đứt gãy, nhiều chương trình quốc gia của Hoa Kỳ không đạt được mục tiêu, nền kinh tế Hoa Kỳ rơi vào suy thoái, vai trò của nước Mỹ suy giảm nhiều ở thập kỷ đầu thế kỷ XXI. Chính sách làm mới nước Mỹ dưới thời Tổng thống Donald Trump với mục tiêu hướng nội “nước Mỹ trên hết”, ông Trump đã quay lưng lại với các thể chế quốc tế do chính Hoa Kỳ xây dựng. Ông đòi cải tổ lại Liên hợp quốc, đòi cải tổ Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), và rút khỏi Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), rút khỏi Hiệp định Paris về Biến đổi khí hậu, rút khỏi Tổ chức Nhân quyền quốc tế và phê phán kịch liệt Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) khi dịch bệnh Covid-19 lan tràn toàn cầu. Chính sách “Nước Mỹ trên hết” của ông Trump có nguy cơ làm tan rã khối Bắc Đại Tây Dương, chia rẽ giữa Mỹ và các đồng minh, đẩy họ phải tìm đường đi cho mình khi chiếc ô che của Mỹ không còn. Cách nhìn của Hoa Kỳ với trật tự thế giới gây bất lợi cho Mỹ, nước Mỹ bị đe dọa bởi các cường quốc đang trỗi dậy, trật tự thế giới bị xáo trộn.

Dưới thời Tổng thống Biden, lấy tư cách là siêu cường toàn cầu duy nhất, Hoa Kỳ đưa ra cam kết “xây dựng thế giới tốt đẹp hơn”. Biden chia thế giới theo ý thức hệ giữa các nền dân chủ và chế độ chuyên quyền. Việc các nước lớn như Trung Quốc và Nga đe dọa an ninh Hoa Kỳ và châu Âu đã thành cơ hội để Biden thành công trong việc đoàn kết lại với châu Âu vốn bị ông Trump chia rẽ trước đó. Mỹ trở lại vai trò lãnh đạo châu Âu chống Nga tấn công quân sự Ukraine.

Trung Quốc là nước đã rất thành công trong trật tự toàn cầu do Hoa Kỳ dẫn đầu, giờ đây đang trỗi dậy hướng tới “vị trí trung tâm của vũ trụ”. Trung Quốc đang tìm cách sắp xếp lại cán cân quyền lực ở châu Á và tạo tiếng nói mạnh mẽ hơn trong các vấn đề quốc tế. Song ảnh hưởng của Trung Quốc bị tranh chấp bởi cường quốc khác nên chưa có được vai trò lãnh đạo khu vực châu Á – Thái Bình Dương và Đông Nam Á, mặc dù trong những năm vừa qua Trung Quốc muốn thiết lập vị trí này. Vấn đề Đài Loan rất dễ xảy ra xung đột, cùng với tranh chấp lãnh thổ với các nước Đông Nam Á, Ấn Độ và Nhật Bản là những vấn đề khó khăn về an ninh đối với Trung Quốc. Trung Quốc đã và đang phá vỡ cân bằng quyền lực ở khu vực châu Á. Có thể thấy rõ trong hơn một thập kỷ nay, chính sách đối ngoại của Trung Quốc hướng tới thay đổi trật tự toàn cầu. Tuy nhiên, Trung Quốc chưa đưa ra được thiết chế nào của trật tự thế giới để thu hút các nước và mang lại vai trò lãnh đạo thế giới cho mình.

Nước Nga do Putin lãnh đạo chưa bao giờ chấp nhận trật tự toàn cầu do Mỹ lãnh đạo. Putin mang nỗi ám ảnh bị Mỹ và NATO bội ước khi mở rộng NATO đến sát biên giới Nga. Putin phẫn nộ khi thấy nước Nga bị các nước châu Âu cô lập và giúp Ukraine chống lại Nga, và khi nước này muốn gia nhập NATO. Sự sụp đổ của Liên Xô, biên giới nước Nga thu hẹp như ngày nay, Putin trút cơn giận dữ vào lịch sử là sự cộng hưởng đã thôi thúc Putin đòi lại lãnh thổ nước Nga thời Sa hoàng. Cuộc tấn công quân sự vào Ukraine xuất phát từ bất bình này, với mục tiêu giành lại ảnh hưởng của Nga đối với Ukraine, đẩy NATO ra xa nước Nga; hợp tác với Trung Quốc hạ thấp vai trò lãnh đạo toàn cầu của Mỹ, gây chia rẽ, rối loạn châu Âu khi khối này còn phụ thuộc vào nguồn cung ứng năng lượng, lương thực từ Nga. Tuy nhiên, Nga đang gặp nhiều khó khăn khi bị Mỹ và châu Âu tách khỏi lục địa châu Âu sau khi Nga tấn công quân sự Ukraine; sức mạnh kinh tế, quân sự của Nga đã suy giảm.

Các nước Đức, Pháp vẫn còn ám ảnh nỗi sợ hãi bị chính quyền Donald Trump ruồng bỏ. Đức coi chiến dịch quân sự của Nga với Ukraine là bước ngoặt thách thức trật tự quốc tế, khiến thủ tướng Đức phải đưa ra quyết định chi 100 tỉ euro để tăng cường xây dựng quân đội riêng của nước mình, không trông chờ vào NATO và Mỹ đảm bảo an ninh cho Đức như trước thời Donald Trump. Trong khi Đức vẫn ủng hộ Ukraine chống Nga, thủ tướng Đức Olaf Scholz vẫn đến Nga gặp Putin, đến Trung Quốc gặp Tập Cận Bình. Các nhà quan sát tình hình cho rằng chuyến đi của ông Scholz tới Nga và Trung Quốc không quá phụ thuộc vào EU và Mỹ.

Tổng thống Pháp Emmanuel Macron, sau cú “đâm sau lưng” của Mỹ và Úc trong dự án tàu ngầm, mặc dù quan hệ Pháp – Mỹ đã được đoàn kết trở lại để chống Nga tấn công Ukraine, nhưng ông Macron vẫn liên lạc với Putin, đưa ra lời kêu gọi cần kết thúc chiến tranh ở Ukraine “không làm mất mặt Nga”. Sau khi tái cử, Tổng thống Pháp Macron đang tìm lối đi riêng cho nước Pháp. Ông đả kích vai trò lãnh đạo của Mỹ về vấn đề năng lượng, thương mại, việc đối xử không công bằng với đồng minh. Ông Macron đang tìm cách thay đổi trật tự quốc tế và thiết lập vai trò lãnh đạo của Pháp ở châu Âu. Ông đã đưa ra sáng kiến thành lập “Cộng đồng chính trị châu Âu”, là một tổ chức liên kết 27 thành viên EU với 17 quốc gia và vùng lãnh thổ ở châu Âu (trừ Nga không tham gia) với mục tiêu xây dựng một nền tảng phối hợp chính sách cho các nước châu Âu trên toàn châu lục, thúc đẩy đối thoại và hợp tác chính trị nhằm giải quyết các vấn đề cùng quan tâm, tăng cường an ninh, ổn định, thịnh vượng của lục địa châu Âu.

Nhật Bản dưới thời Thủ tướng Shinzo Abe và tiếp theo là Thủ tướng Fumio Kishida đang chuyển từ một cường quốc tập trung vào kinh tế, theo chủ nghĩa hòa bình, hướng nội, sang chính sách can dự nhiều hơn, thực hiện chính sách đối ngoại thể hiện vai trò quan trọng của một cường quốc ở khu vực châu Á, tham gia Bộ tứ Kim cương do Hoa Kỳ dẫn dắt, cam kết mạnh mẽ đối với nguyên tắc Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương xuất phát từ nỗi sợ hãi trước sự trỗi dậy của Trung Quốc.

Ấn Độ được hưởng lợi từ trật tự quốc tế do Mỹ lãnh đạo, nay cũng đang tìm kiếm một ghế thường trực trong Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc để có tiếng nói mạnh mẽ hơn trong hệ thống quốc tế, tương xứng với tầm quan trọng kinh tế và địa chính trị của nước này.

Các nhà quan sát tình hình chỉ ra rằng hiện nay, các cường quốc lớn nghi ngờ về trật tự dựa trên luật lệ; với các nước nhỏ yếu hơn thì niềm tin vào tính hợp pháp và công bằng của hệ thống quốc tế đang bị xói mòn, điều này xuất hiện ở các quốc gia phía Nam toàn cầu. Họ đã chứng kiến Liên hợp quốc, Quỹ Tiền tệ Quốc tế, Ngân hàng Thế giới, Tổ chức Thương mại Thế giới, G20 và các tổ chức khác đã không hành động trong các vấn đề khẩn cấp như cuộc khủng hoảng nợ đang gây ra cho các nước đang phát triển, nó ngày càng tồi tệ hơn do đại dịch covid-19 và khủng hoảng năng lượng, lương thực do cuộc chiến tranh Nga – Ukraine. Theo thống kê của Quỹ Tiền tệ Quốc tế, đã có trên 50 quốc gia đứng trước nguy cơ khủng hoảng nợ nghiêm trọng, điển hình là Sri Lanka, Pakistan, Afghanistan.

Các nhà quan sát tình hình còn chỉ ra rằng trong vài thập kỷ gần đây đã xảy ra nhiều cuộc xâm lược, can thiệp vũ trang, nhiều chế độ sụp đổ có sự can thiệp ngầm của các cường quốc. Việc Nga tấn công vào một quốc gia có chủ quyền như Ukraine đầu năm 2022 là một ví dụ về sự vi phạm nghiêm trọng chủ quyền quốc gia và Hiến chương Liên hợp quốc. Nhiều cường quốc phương Tây cũng đã gây ra những hành động như Nga. Hành vi này của các cường quốc khiến cho nhiều nước đang phát triển cảm thấy bất an, lo sợ và mất niềm tin vào trật tự thế giới hiện nay; niềm tin vào trụ cột của hệ thống đang bị xói mòn.

Nhiều năm trước đây, các hành động quân sự hoặc các lệnh trừng phạt của các cường quốc chống lại một quốc gia nào đó đều được đưa ra Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc hoặc các diễn đàn đa phương khác thông qua. Song ngày nay, chế độ trừng phạt và can thiệp quân sự đối với một quốc gia cụ thể lại dựa vào sức mạnh của Mỹ và phương Tây. Điều đó đã làm cho thể chế quốc tế ngày càng kém hiệu quả hơn, tính hợp pháp giảm dần. Hệ thống luật pháp quốc tế không hạn chế hoặc ngăn chặn được các hành vi của những kẻ có quyền lực. Các thiết chế được lập ra sau Chiến tranh Thế giới Thứ hai và sau Chiến tranh Lạnh đã bắt đầu mất hiệu lực, điển hình là tình trạng phổ biến hạt nhân ở Đông Bắc Á, Bắc Triều Tiên phát triển vũ khí hạt nhân, Nhật Bản và Úc mua tàu ngầm hạt nhân và chấp nhận vũ khí hạt nhân của Mỹ được tái lập ở những nước này.

Các nhà quan sát tình hình cho rằng thế giới đã không còn một nguyên tắc tổ chức trung tâm và không tồn tại một bá chủ. Tình trạng vô chính phủ được mô tả đang len lỏi vào các mối quan hệ quốc tế. Không một cường quốc nào đưa ra những điều kiện trật tự hiện tại và các cường quốc không tuân theo một bộ nguyên tắc và chuẩn mực rõ ràng. Họ đang theo đuổi mục tiêu của riêng mình.

Nga và Trung Quốc ngày nay càng tỏ ra không chấp nhận những khía cạnh của trật tự phương Tây, đặc biệt là chuẩn mực liên quan tới con người và nghĩa vụ của các quốc gia. Cả Nga và Trung Quốc viện dẫn nguyên tắc chủ quyền nhà nước như một lá chắn để hoạt động theo ý muốn, tìm cách thiết lập các nguyên tắc mới trong các lĩnh vực không gian mạng và công nghệ mới. Cả hai quốc gia này sử dụng sức mạnh kinh tế và sức mạnh quân sự cứng rắn để đối xử với các nước láng giềng như Ukraina, ở biển Đông, biển Hoa Đông và biên giới Ấn Độ đã gây tổn hại cho thể chế quốc tế và gây lo sợ cho các quốc gia. Các hành vi của các cường quốc hiện nay đang đẩy thế giới tới một cuộc Chiến tranh Lạnh mới bởi tính lưỡng cực rất rõ rệt của hai khối: một “thế giới tự do” và một tập hợp các quốc gia phương Tây gọi là các “chế độ chuyên quyền”. Liên minh xuyên Đại Tây Dương được củng cố dưới chính quyền Biden; Trung Quốc và Nga hợp tác với nhau trong một liên minh “không giới hạn” để chống lại phương Tây.

Những phản ứng của thế giới về cuộc chiến ở Ukraine và các lệnh trừng phạt của phương Tây đối với Nga cho thấy không có khối thống nhất nào ngoài liên minh xuyên Đại Tây Dương, thế giới phân thành hai khối chống Nga và không chống Nga chiếm tỉ lệ cao qua bỏ phiếu ở Đại Hội đồng Liên hợp quốc.

Hoa Kỳ và Trung Quốc ngày càng phụ thuộc nhau về kinh tế. Hai đối thủ của nhau nằm ở hai cực, nhưng giải pháp Hoa Kỳ và Trung Quốc đưa ra lại càng làm rạn nứt địa chính trị thế giới. Nền kinh tế toàn cầu đang phân mảnh thành các khối thương mại và khu vực, sự cạnh tranh giữa các cường quốc để giành ưu thế kinh tế và chính trị ngày càng gay gắt. Trong quá trình này, một thế giới nguy hiểm hơn nhiều đang xuất hiện.

Trong bối cảnh của thế giới hiện nay, các quốc gia đang tìm cách đối phó với thế giới của các cường quốc theo chủ nghĩa xét lại, một thế giới giữa các trật tự và chuẩn bị một tương lai không chắc chắn. Một giải pháp là hướng nội – các nước lớn như Hoa Kỳ, Trung Quốc, Ấn Độ và những nước khác đều đã làm như vậy trong những năm gần đây. Họ nhấn mạnh tính tự cường dưới hình thức này hay hình thức khác: mô hình “tuần hoàn kép” của Trung Quốc, cam kết của Biden “xây dựng nước Mỹ trở lại tốt hơn”, Ấn Độ dưới thời Thủ tướng Modi theo đuổi tự lực cánh sinh. Các nước này theo đuổi mục tiêu độc lập hơn về kinh tế, đảm bảo an toàn về quân sự. Tất cả các cường quốc lúc này đều tìm cách mở rộng quốc phòng và hạt nhân. Chi tiêu quốc phòng toàn cầu lần đầu tiên vượt ngưỡng 2.000 tỉ USD vào năm 2021, bất chấp sự suy thoái kinh tế và đại dịch Covid-19.

Một phản ứng khác của “các nước xét lại” đối với thế giới là các quốc gia lập ra các liên minh đặc biệt. Trong thập kỷ vừa qua đã xuất hiện một loạt các thỏa thuận đa phương như Bộ tứ Kim cương gồm Mỹ, Nhật, Úc, Ấn Độ; khối BRICS (gồm Brazil, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc, Nam Phi); Tổ chức hợp tác Thượng Hải (gồm Trung Quốc, Nga, Kazakhstan, Kyrgyzstan, Tajikistan và Uzbekistan); nhóm 12U2 gồm Ấn Độ, Israel, Các Tiểu Vương quốc Ả Rập Thống nhất và Hoa Kỳ; và mới đây là Cộng đồng Chính trị châu Âu gồm 44 quốc gia ở lục địa châu Âu. Sau chiến sự Ukraine cũng xuất hiện nhiều thỏa thuận giữa Nga với Iran, Thổ Nhĩ Kỳ, Ả Rập Xê-út, một số quốc gia Mỹ La tinh và châu Phi. Những thỏa thuận này phục vụ cho những mục đích cụ thể, chia thế giới thành nhiều mảng cạnh tranh lẫn nhau.

Các quốc gia nhỏ hơn, tuy đứng trong khối này khối khác, hoặc không theo liên minh nào, thì tìm cách cân bằng mối quan hệ của họ với các cường quốc lớn hơn. Phản ứng của Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) trước sự tranh chấp ngày càng gia tăng giữa Mỹ và Trung Quốc là một ví dụ cho xu hướng này. Gần đây, nhiều quốc gia châu Phi, Mỹ La tinh, châu Á từng nhiều năm có quan hệ chặt chẽ với phương Tây nhưng lại chống lại các lệnh trừng phạt phương Tây áp đặt vào Nga sau khi Nga tấn công quân sự Ukraine. Hành vi cân bằng và phòng ngừa rủi ro của các nước nói trên sẽ khuyến khích theo đuổi các giải pháp cho các vấn đề về kinh tế, thương mại, hay tranh chấp chính trị cục bộ địa phương. Tuy nhiên, hành động ở cấp địa phương không đủ đối phó với những vấn đề lớn của toàn cầu như khủng hoảng nợ, chống dịch covid-19, chống biến đổi khí hậu, khủng hoảng năng lượng, lương thực và chống đói nghèo…

Các nhà quan sát tình hình nhận xét rằng “thế giới của những người theo chủ nghĩa xét lại” là một thế giới giữa những trật tự nơi các vấn đề lớn của thời đại phát triển không đều; những vấn đề lớn của thời đại như chiến tranh ở Ukraine, biến đổi khí hậu và đại dịch bệnh đã không được giải quyết khi trật tự cũ tan rã và trật tự mới đang cố ra đời. Lợi thế nằm ở các quốc gia hiểu rõ cân bằng lực lượng và quan niệm về một trật tự tương lai hợp tác phục vụ lợi ích chung. Song, năng lực của nhiều cường quốc đã giảm sút khi chủ nghĩa xét lại lan rộng làm cho các cuộc khủng hoảng trở nên dễ xảy ra nguy hiểm hơn, hậu quả của nền chính trị trong nước xung đột (Mỹ – EU). Không một cường quốc nào có tầm nhìn để đưa ra được những thay đổi trong hệ thống quốc tế. Hiện nay, cán cân quyền lực đang chuyển dịch nhanh chóng, nhưng không mang lại một trật tự ổn định trong thời gian tới. Thay vào đó là một thế giới hỗn loạn từ cách ứng xử của các cường quốc, thế giới rơi vào khủng hoảng, khi sự bất mãn của các quốc gia với hệ thống quốc tế ngày càng gia tăng. Chủ nghĩa đa phương lúc này chưa thích hợp, các thỏa thuận quốc tế chỉ dừng lại ở sự ghi nhận mà không có hành động.

Thế giới trong những năm tới đang hướng tới đa cực và hỗn loạn, nhiều thiết chế quốc tế mất dần hiệu lực song Mỹ vẫn là siêu cường số một chi phối trật tự quốc tế, mặc dù sức mạnh quân sự và kinh tế đã suy giảm nhưng vẫn còn vượt trội so với các cường quốc khác.

BDN

Loading

Views: 0

Biên đội tàu sân bay USS Nimitz của Mỹ đã trở lại Biển Đông

Sau khi ghé thăm căn cứ hải quân Singapore, biên đội tàu sân bay USS Nimitz của Mỹ đã trở lại Biển Đông trong hành trình thể hiện quyền tự do hàng không, hàng hải ở vùng biển này.
Biên đội tàu sân bay Mỹ trở lại Biển Đông – 1

Reuters dẫn thông cáo của Hải quân Mỹ cho hay, biên đội tàu sân bay USS Nimitz hôm 26/1 đã rời căn cứ không quân Changi của Singapore sau gần một tuần ghé thăm. Nhóm tàu đang quay trở lại Biển Đông.

Trước đó, biên đội tàu đã hoạt động ở biển Philippines và Biển Đông, thực hiện các hoạt động diễn tập như chống ngầm, phối hợp giữa lực lượng trên không và trên biển.

Biên đội gồm tàu sân bay USS Nimitz và khoảng 10 tàu khác như tàu tuần dương USS Bunker Hill, tàu khu trục USS Decatur, USS Wayne E. Meyer, USS Chung-Hoon. Hôm 5/1, tàu USS Chung-Hoon đã đi qua eo biển Đài Loan.

Chỉ huy biên đội tàu USS Nimitz, Chuẩn Đô đốc Christopher Sweeney, nói rằng chuyến đi của nhóm tàu là một phần trong nỗ lực thể hiện cam kết của Mỹ nhằm khẳng định quyền tự do hàng hải, hàng không ở tuyến đường huyết mạch đối với thương mại toàn cầu này.

“Chúng tôi sẽ hoạt động ở bất cứ nơi nào mà luật pháp quốc tế cho phép. Chúng tôi sẽ làm điều đó một cách an toàn và kiên quyết”, ông Sweeney nhấn mạnh. Ông cho biết, hoạt động trên thể hiện cam kết của Mỹ với các đồng minh và đối tác trong khu vực về thương mại tự do và cởi mở ở khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương.

BDN

Loading

Views: 0

Hàn Quốc sẽ phát triển vũ khí hạt nhân

Hôm thứ Tư, 11/1/2023, Tổng thống Hàn Quốc Yoon Suk Yeol lần đầu tiên nói rằng nếu mối đe dọa hạt nhân từ Triều Tiên tăng lên thì Hàn Quốc sẽ xem xét việc chế tạo vũ khí hạt nhân của riêng mình hoặc yêu cầu Mỹ triển khai lại vũ khí hạt nhân tại miền Nam bán đảo Triều Tiên.

Ngay sau cuộc họp ngắn về chính sách chung do Bộ Quốc phòng và Bộ Ngoại giao Hàn Quốc tổ chức hôm thứ Tư, ông Yoon nói thêm rằng chế tạo vũ khí hạt nhân vẫn chưa trở thành chính sách chính thức. Ông nhấn mạnh, Hàn Quốc giờ đây sẽ đáp trả mối đe dọa hạt nhân của Triều Tiên bằng cách tăng cường liên minh với Mỹ.

Một chính sách như vậy bao gồm việc tìm cách tăng độ tin cậy cho các cam kết của Washington. Mỹ đã cam kết bảo vệ các đồng minh bằng mọi năng lực phòng thủ, kể cả vũ khí hạt nhân.

Bình luận của ông Yoon đánh dấu lần đầu tiên một Tổng thống Hàn Quốc chính thức đề cập việc trang bị vũ khí hạt nhân cho nước này kể từ khi Mỹ rút toàn bộ vũ khí hạt nhân khỏi miền Nam bán đảo Triều Tiên vào năm 1991. Việc Washington rút vũ khí hạt nhân khỏi Hàn Quốc là một phần trong nỗ lực cắt giảm vũ khí hạt nhân toàn cầu của nước này.

“Có khả năng vấn đề sẽ trở nên xấu hơn và nước ta sẽ triển khai vũ khí hạt nhân chiến thuật hoặc tự chế tạo loại vũ khí đó“, ông Yoon nói, theo biên bản ghi chép các phát biểu do văn phòng của ông công bố. “Nếu như vậy thì với khả năng khoa học và công nghệ của mình, chúng ta sẽ có thể sớm có vũ khí hạt nhân riêng.”

Hàn Quốc là một bên ký kết Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân (NPT), cấm nước này tìm cách sở hữu vũ khí hạt nhân. Năm 1991, Hàn Quốc cũng đã ký một tuyên bố chung với Triều Tiên, cả hai miền đều đồng ý không “thử nghiệm, chế tạo, sản xuất, tiếp nhận, sở hữu, tàng trữ, triển khai hoặc sử dụng vũ khí hạt nhân”.

Nhưng Triều Tiên đã vi phạm thỏa thuận ấy bằng cách tiến hành 6 vụ thử hạt nhân kể từ năm 2006. Bất chấp nhiều năm đàm phán, Triều Tiên vẫn chưa loại bỏ bất kỳ đầu đạn hạt nhân nào. (Các quan chức Mỹ và Hàn Quốc nói rằng bất cứ lúc nào Triều Tiên cũng có thể tiến hành một vụ thử hạt nhân lần thứ bảy.)

Trong những tháng gần đây, khi Triều Tiên tuyên bố sẽ mở rộng kho vũ khí hạt nhân và đe dọa sử dụng nó để chống lại Hàn Quốc, các nhà phân tích Hàn Quốc và những người trong Đảng Quyền lực Nhân dân cầm quyền bảo thủ của ông Yoon ngày càng kêu gọi Seoul xem xét lại lựa chọn hạt nhân.

Các bình luận của ông Yoon trong tuần này dường như châm ngòi cho những cuộc thảo luận như vậy. Các cuộc thăm dò dư luận trong những năm gần đây cho thấy đa số người Hàn Quốc ủng hộ việc tái triển khai vũ khí hạt nhân của Mỹ tới Hàn Quốc, hoặc xây dựng kho vũ khí hạt nhân của riêng Hàn Quốc.

Trong nhiều thập niên, các nhà hoạch định chính sách ở Seoul đã từ chối lựa chọn đó, viện dẫn cái gọi là chiếc ô hạt nhân của Mỹ sẽ bảo vệ đất nước an toàn trước đe dọa từ Triều Tiên.

“Bình luận của Tổng thống Yoon có thể là một bước ngoặt trong lịch sử an ninh quốc gia của Hàn Quốc,” Cheon Seong-whun, nguyên giám đốc Viện Thống nhất Tổ quốc của Hàn Quốc, một viện nghiên cứu chính sách do chính phủ tài trợ ở Seoul, nói. “Nó có thể thay đổi nhận thức về việc đối phó với mối đe dọa hạt nhân của Triều Tiên.”

Những lời kêu gọi về vũ khí hạt nhân đã vang lên lúc mạnh lúc yếu tại Hàn Quốc trong nhiều thập niên, nhưng chưa bao giờ nhận được sự chú ý của ai, ngoại trừ một vài nhà phân tích và chính khách cánh hữu.

Vào những năm 1970, Hàn Quốc từng bắt đầu một chương trình vũ khí hạt nhân bí mật dưới thời cựu độc tài quân sự Park Chung-hee, khi Mỹ bắt đầu giảm sự có mặt về quân sự ở Hàn Quốc, khiến người dân Hàn Quốc lo sợ về một cuộc tấn công của Triều Tiên. Washington buộc Park phải từ bỏ chương trình trên và cam kết bảo vệ đồng minh dưới chiếc ô hạt nhân của Mỹ.

Cho tới nay Washington vẫn duy trì 28.500 lính Mỹ ở Hàn Quốc như một biểu tượng của liên minh. Nhưng trong những tháng gần đây, Triều Tiên tiếp tục thử tên lửa, một số tên lửa được thiết kể để mang đầu đạn hạt nhân tới Hàn Quốc. Nhiều người Hàn Quốc đặt câu hỏi liệu Mỹ có ngăn chặn Triều Tiên tấn công nước họ hay không, đặc biệt là vì làm như vậy thì các thành phố và căn cứ quân sự của Mỹ ở châu Á-Thái Bình Dương sẽ có nguy cơ bị tấn công hạt nhân. Những cam kết lặp đi lặp lại của Washington trong việc bảo vệ đồng minh của mình, thậm chí sử dụng vũ khí hạt nhân của chính mình nếu cần thiết, đã không xoa dịu được nỗi sợ hãi này.

Trong báo cáo Đánh giá tình hình hạt nhân năm 2022, một tài liệu phác thảo chính sách hạt nhân của Washington trong 5 đến 10 năm tới, chính Lầu Năm Góc đã lưu ý đến “tình thế tiến thoái lưỡng nan về răn đe” mà Triều Tiên đặt ra cho Mỹ. Báo cáo viết: “Một cuộc khủng hoảng hoặc xung đột trên bán đảo Triều Tiên có thể liên quan đến một số bên có vũ khí hạt nhân, làm tăng nguy cơ xảy ra một cuộc xung đột rộng lớn hơn”.

“Nếu Hàn Quốc có vũ khí hạt nhân, Mỹ sẽ không cần hỏi liệu họ có nên sử dụng vũ khí hạt nhân của mình để bảo vệ các đồng minh hay không và liên minh sẽ không bao giờ bị thử thách“, Cheong Seong-chang, nhà phân tích cấp cao tại Viện Sejong Hàn Quốc nói. “Nếu Hàn Quốc có vũ khí hạt nhân, Mỹ sẽ thực sự an toàn hơn.”

Ông Cheong cho rằng, bằng cách tuyên bố ý định tự trang bị vũ khí hạt nhân, Hàn Quốc có thể buộc Triều Tiên phải xem xét lại chương trình vũ khí hạt nhân và có thể khiến Trung Quốc gây sức ép buộc Bình Nhưỡng rút lại chương trình ấy. Từ lâu Trung Quốc đã lo sợ về một cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân trong khu vực Đông Á.

Để xây dựng kho vũ khí hạt nhân của mình, Hàn Quốc cần phải rút khỏi hiệp ước NPT. Các nhà phân tích cho rằng việc rút khỏi NPT là quá rủi ro đối với Hàn Quốc, vì làm như vậy có thể kích hoạt các lệnh trừng phạt quốc tế.

Một số nhà lập pháp liên kết với đảng của ông Yoon và các nhà phân tích như Cheong Seong-chang muốn tái tiếp nhận vũ khí hạt nhân của Mỹ vào miền Nam bán đảo Triều Tiên và đạt được thỏa thuận chia sẻ hạt nhân giữa Hàn Quốc với Mỹ, tương tự như thỏa thuận cho phép máy bay NATO mang vũ khí hạt nhân của Mỹ trong thời chiến.

Đại sứ quán Mỹ không bình luận ngay về tuyên bố của ông Yoon. Chính sách chính thức của Washington là phi hạt nhân hóa bán đảo Triều Tiên, với lo ngại rằng nếu Seoul chế tạo vũ khí hạt nhân thì việc đó có thể châm ngòi cho một cuộc chạy đua vũ trang trong khu vực, làm tiêu tan hy vọng giải trừ hạt nhân Triều Tiên.

Bản thân ông Yoon hôm thứ Năm đã nhắc lại rằng nước ông vẫn cam kết tuân theo NPT, ít nhất là cho đến thời điểm hiện tại. Ông nói vào hôm thứ Tư – và Bộ Quốc phòng của ông nhắc lại vào hôm thứ Năm – rằng sự răn đe chung cùng với Mỹ nên là một “cách tiếp cận thực tế” hơn đối với mối đe dọa từ Triều Tiên.

Chính phủ của ông cho biết Hàn Quốc và Mỹ sẽ bắt đầu tập trận vào tháng tới để kiểm tra khả năng phối hợp của họ nhằm đáp trả một cuộc tấn công hạt nhân của Triều Tiên và giúp tái khẳng định cam kết của Washington với các đồng minh. Ông Yoon cũng nói quân đội của ông sẽ đẩy mạnh chương trình “trừng phạt và trả đũa quy mô lớn” bằng cách tự trang bị tên lửa mạnh hơn và các vũ khí thông thường khác để đe dọa ban lãnh đạo Triều Tiên.

Căng thẳng trên bán đảo Triều Tiên tăng lên trong những tuần gần đây, với việc chính phủ của ông Yoon đáp trả các hành động khiêu khích của Triều Tiên bằng các động thái leo thang của mình, chẳng hạn như điều máy bay chiến đấu để phản ứng lại máy bay không người lái của Triều Tiên.

“Chúng ta phải đập tan mong muốn khiêu khích của Triều Tiên,” ông nói vào hôm thứ Tư.

BDN

Loading

Views: 0

Ấn Độ tập trận TROPEX-23 ở Ấn Độ Dương

Tập trận TROPEX ở khu vực Ấn Độ Dương được tổ chức 2 năm/lần, với sự tham gia của cả Lục quân, Không quân và Cảnh sát Biển Ấn Độ.

Ngày 25/1, Bộ Quốc phòng Ấn Độ thông báo Hải quân nước này đã phát động cuộc tập trận quân sự TROPEX-23 ở khu vực Ấn Độ Dương.
Theo Sputnik, các cuộc tập trận cấp độ tác chiến TROPEX được tổ chức 2 năm/lần, với sự tham gia của cả Lục quân, Không quân và Cảnh sát Biển Ấn Độ. Bộ Quốc phòng Ấn Độ nêu rõ: “TROPEX-23 được tổ chức trong 3 tháng đầu năm 2023.

Trong khuôn khổ của cuộc tập trận, tất cả các tàu chiến mặt nước của Hải quân Ấn Độ, bao gồm tàu khu trục, tàu quét mìn, tàu hộ tống, tàu ngầm và máy bay, tiến hành triển khai các hoạt động trên biển phức tạp để kiểm tra và tinh chỉnh sách lược về hoạt động của Hải quân, bao gồm hoạt động hậu cần và tương tác với các binh chủng khác”.

Bộ Quốc phòng Ấn Độ lưu ý rằng “quy mô và mức độ phức tạp của các cuộc tập trận này đã tăng lên trong những năm qua, tạo cơ hội để kiểm tra khả năng sẵn sàng chiến đấu của các hạm đội hỗn hợp của Hải quân Ấn Độ trong các hoạt động đối mặt với nhiều mối đe dọa”.

Bộ Quốc phòng Ấn Độ cho biết thêm cuộc tập trận trên biển cũng tạo điều kiện cho khả năng tương tác ở cấp độ tác chiến…giúp tăng cường hơn nữa khả năng tương tác và hoạt động chung trong các môi trường đầy thách thức.

BDN

Loading

Views: 0

Ngân sách quốc phòng Pháp tăng mạnh

Chi tiêu quốc phòng của Pháp sẽ tăng lên 400 tỷ euro cho giai đoạn 2024 – 2030.

Hãng thông tấn TASS (Nga) dẫn lời Tổng thống Pháp Emmanuel Macron mới đây cho biết ngân sách quốc phòng của nước này sẽ được tăng thêm 1/3 lên 400 tỷ euro trong giai đoạn 2024 – 2030.
“Quỹ được phân bổ cho quốc phòng sẽ được tăng thêm 1/3 trong giai đoạn từ 2024 đến 2030”, ông Macron nói trong cuộc họp với các lãnh đạo quân sự Pháp tại căn cứ không quân Mont-de-Marsan. Theo ông Macron, ngân sách quốc phòng Pháp sẽ đạt 400 tỷ euro.

Chi tiêu quốc phòng của Pháp cho giai đoạn 2019 – 2025 được lên kế hoạch ở mức 295 tỷ euro.Tổng thống Macron nhấn mạnh: “Ngân sách quốc phòng trên sẽ được dùng để cải tổ quân đội trong bối cảnh xung đột ở Ukraine. Việc hiện đại hóa quân đội sẽ tỷ lệ thuận với các mối đe dọa ngày càng gia tăng. Pháp đã và sẽ có một đội quân đủ khả năng đối đầu với những thách thức này”.

Chính phủ Pháp dự kiến sẽ đệ trình lên quốc hội dự luật ​​tăng chi tiêu quốc phòng dự kiến vào tháng 3 tới.

BDN

Loading

Views: 0

CSIS Mỹ: Quân đội Việt Nam rất có trách nhiệm khi mở rộng 9 đảo ở Trường Sa

Năm 2022 dường như khu vực Biển Đông nói chung và quần đảo Trường Sa nói riêng, khá yên bình kể từ sau khi Nga xâm lược Ukraina. Trung Quốc mặc dù có những sự kiện lớn trong nước gây sự chú ý của thế giới, như Đại hội Đảng lần thứ 20, đại dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, nhưng không như thường lệ có sự vụ trong nước là gây rối bên ngoài.

Tuy nhiên, cho tới thời điểm này, Trung Quốc với năng lực quân sự ngày càng tăng cao, họ càng củng cố quyết tâm hiện thực hóa yêu sách, chủ quyền phi lý tại Biển Đông. Tranh thủ lúc tình hình khá yên tĩnh như kênh Biendong.net từng nhiều lần cập nhật, việc mở rộng không gian sinh hoạt cho nhân dân huyện đảo Trường Sa đang diễn ra với tốc độ nhanh, ổn định. Trong 21 điểm đảo thuộc chủ quyền của Việt Nam tại Trường Sa, nhiều đảo chìm đang dần hiện ra mặt đất, biến thành đảo nổi, nhiều đảo nổi từ nhỏ hóa to, việc Trường Sa biến đổi khí hậu trong một thời gian ngắn. Dĩ nhiên không qua khỏi sự bàn tán của dư luận quốc tế.

Mới đây ấn phẩm Sáng kiến Minh bạch Hàng hải châu Á, thuộc Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS) có trụ sở tại Washington DC Hoa Kỳ đã có bài viết, đánh giá về hoạt động nạo vét ở quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam.

“Việt Nam đã và đang tăng tốc việc mở rộng hoạt động nạo vét bồi lấp tại một số tiền đồn của mình tại quần đảo Trường Sa vào nửa cuối năm 2022. Tạo ra khoảng 420 mẫu đất mới trong năm nay, nâng tổng số diện tích trong 10 năm qua lên tới 540 mẫu Anh. Công việc này, bao gồm hoạt động mở rộng tại 4 địa điểm được Sáng kiến Minh bạch Hàng hải châu Á xác định vào đầu năm nay và nạo vét tại 5 địa điểm mới được bổ sung, quy mô của công việc nạo vét bồi đắp. Mặc dù còn thua xa so với hơn 3.200 mẫu đất Anh được Trung Quốc tạo ra trong giai đoạn 2013-2016 lớn hơn đáng kể so với Việt Nam. Hoạt động của Hà Nội thể hiện một bước tiến lớn hướng tới việc củng cố vị thế của Việt Nam tại quần đảo Trường Sa”.

Về hoạt động chính, phạm vi hoạt động bồi đắp tại đảo Nam Yết rạn san hô Phan Vinh, Sơn Ca, Tiên Nữ đang mở rộng đáng kể, kể từ lần cuối cùng được ghi nhận vào mùa hè này. Tại Đảo Nam Yết, Phan Vinh, Sơn Ca đều đang được mở rộng quy mô lớn. Trong đó, tại Nam Yết và Phan Vinh đang diễn ra hoạt động nạo vét tạo một âu tàu, để đón tàu cỡ lớn. Tổng kích thước của đảo Nam Yết và Phan Vinh hiện nay đã lên tới mức 117 mẫu Anh và 119 mẫu Anh đều lớn hơn đảo Trường Sa Lớn cỡ 97 mẫu Anh. Lưu ý, trước đây đảo Trường Sa Lớn được coi là tiền đồn lớn nhất của Việt Nam tại quần đảo Trường Sa. Đặc biệt, Đá Tiên Nữ trước đây nơi đây chỉ có hai cấu trúc bê tông đặt trên nền đảo chìm, không gian sinh hoạt hạn chế, giờ đây có thể tự hào với 64 mẫu đất nhân tạo.

Cùng với hoạt động mở rộng ở các địa điểm cũ năm 2022, Việt Nam cũng bắt tay vào việc biến đổi diện tích tại 5 thực thể mới, mà trước đây chỉ là các tiền đồn nhỏ.

Từ tháng 11 năm 2021, công việc nạo vét đã diễn ra tại phía Đông Nam đá Thuyền Chài, trước khi công việc bồi lấp bắt đầu phần Đông Bắc vào tháng 5 năm 2022. Sau đó, lần lượt quá trình nạo vét khởi công tại rạn san hô Đá Lớn vào tháng 10, Đá Núi Le và Đá Lát vào tháng 11, sau cùng là Đá Tốc Tan vào tháng 12. Phạm vi của bãi bồi Thuyền Chài đã lên tới 58 mẫu Anh, cho thấy một điều một số thực thể sẽ là nơi được xây dựng các tiền đồn mới khá lớn. Trung tâm đã nghiên cứu của Mỹ đã khen ngợi về hoạt động bồi lấp của Việt Nam, không gây quá nhiều ảnh hưởng tới môi trường biển cả, hoạt động nào vét của Việt Nam liên quan đến việc sử dụng tàu nạo vét vỏ sò và thiết bị xây dựng, để xúc các phần rạn san hô nông và lắng đọng trầm tích trên khu vực được khoanh vùng để bồi lấp. Đây là một quá trình tốn nhiều thời gian hơn, nhiều công sức hơn nhưng ít ảnh hưởng tới môi trường biển hơn, so với hoạt động nạo vét của tàu nghiền san hô mà Trung Quốc sử dụng để xây dựng các đảo nhân tạo trái cho phép tại quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Có thể nói các hoạt động nạo vét của Việt Nam báo hiệu ý định củng cố các thực thể mà nước này đang đóng giữ tại Trường Sa.

Về phía Trung Quốc, rõ ràng họ biết rõ Việt Nam đang nỗ lực mở rộng các thực thể nhưng nhìn chung là họ im lặng về cấp ngoại giao, quốc phòng quốc tế. Do vậy, lịch sử cho thấy Bắc Kinh luôn để ý mọi thứ kể cả biến đổi nhỏ nhất và sẽ có phản ứng cho việc như vậy, chỉ là bao giờ và khi nào, đó là điều mà chúng ta phải đề phòng. Nhìn chung với tiềm lực ngân sách kỹ thuật và công nghệ của Việt Nam hiện nay, Việt Nam dù chỉ mở rộng diện tích gần bằng 1/6 diện tích mà Trung Quốc tiến hành cách đây 6 năm, nhưng đó là một nỗ lực vô cùng to lớn của Đảng Nhà Nước, Quân đội và Nhân dân Việt Nam.

Điều quan trọng chính người Mỹ cũng công nhận Việt Nam mở rộng đảo nhưng làm mọi thứ để không ảnh hưởng tới môi trường biển cả. Điều này rất khác với Trung Quốc, mặc dù họ nhiều tiền và công nghệ hơn hẳn Việt Nam. Vậy, việc Việt Nam tiến hành bồi lấp mở rộng đảo nổi đảo chìm ở Trường Sa có lợi ích gì?

Điều đầu tiên đó là không gian sinh sống cho Bộ đội và Nhân dân huyện đảo Trường Sa, nhiều bạn theo dõi tình hình Biển Đông chắc là không thể không nhớ hình ảnh các đảo chìm mà Việt Nam đóng giữ giai đoạn năm 1987-1988, với mấy túp lều thô sơ dựng giữa biển cả, các chiến sĩ đóng giữ chỉ đủ không gian để ngủ, mặc mỗi chiếc quần lót. Thế mà vẫn hiên ngang trước họng súng quân thù.

Tới đầu thập niên 2000, đời sống ở Trường Sa được cải thiện hơn nhiều so với 10 năm trước đó, hầu như các đảo chìm ta đã xây dựng được công sự bê tông cốt thép, đáp ứng được đời sống ở mức tạm được cho bộ đội. Do vậy, giữa tứ bể mênh mông biển cả, kể cả các đảo nổi thật sự đời sống của Trường Sa được coi là vô cùng khắc nghiệt, cộng với không gian hạn chế, việc sinh hoạt còn khó chưa nói tới việc tổ chức lực lượng phòng thủ, triển khai binh khí kỹ thuật hạng nặng. Do đó, việc mở rộng diện tích các đảo nổi cũng như đảo chìm ở quần đảo Trường Sa, cho phép Việt Nam cải thiện đời sống của Bộ đội và Nhân dân trên một số đảo. Cải thiện đời sống ở đây không chỉ bao gồm không gian nghỉ ngơi, mà còn là các cơ sở phục vụ y tế, cứu thương, các không gian để trồng trọt, chăn nuôi tăng gia sản xuất, các không gian để lắp đặt các thiết bị điện năng, cũng như cung cấp nước ngọt cho bộ đội.

Do đó, việc mở rộng được thêm diện tích đất cho phép ở một số điểm đảo có khả năng bố trí các loại vũ khí hạng , tầm xa, chính xác cao mà chúng ta có trong tay, nổi bật là hệ thống Rocket tầm xa Extra mà Việt Nam nhập khẩu từ Israel, đây là loại Rocket hạng nặng cỡ 300ly có tầm bắn 150km, bán kính lệch mục tiêu chỉ trong vòng 10m, chính xác 99%. Điều hay ho bệ phóng Israel khá gọn, có thể linh hoạt đặt cố định hoặc đặt trên xe tải, tàu vận tải khi cần. Đây là ưu điểm của hệ thống vũ khí kiểu mô đun, có thể nghĩ ra một tình huống giả định ta bố trí Extra trực tiếp tại Trường Sa, đưa các căn cứ đảo nhân tạo của Trung Quốc vào tầm ngắn. Ví dụ, như đường băng dài hơn 3.000m mà Trung Quốc xây dựng trái phép ở đá Vành Khăn, sau khi bồi lấp mở rộng đảo chìm chỉ cách đảo Sinh Tồn của Việt Nam đóng giữ khoảng 120km. Xin lưu ý, đây chỉ là ví dụ!

Hay là ngoài Extra, ta có thể bố trí các hệ thống tên lửa chống hạm như VCM01 tại khu vực Trường Sa, để tự chủ động phòng bị các cuộc tấn công của tàu địch. Dĩ nhiên phát hiện từ sớm, từ xa là điều tốt hơn cả. Việc mở rộng diện tích đảo đá cũng cho phép chúng ta tăng cường mạng lưới cảnh giới đường không, đường biển với việc bố trí các hệ thống radar hiện đại. Hiện nay, đã ghi nhận việc Việt Nam triển khai tại Trường Sa các hệ thống radar cảnh giới đường không P-18M với tầm chính xác khoảng 250km, có khả năng phát hiện các máy bay tàng hình. Đáng chú ý để bảo quản radar tốt hơn trước khi hậu khắc nghiệt trên biển, ở một số điểm đảo đã mở rộng Việt Nam đã xây dựng được các máy vòm khổng lồ để các cánh sóng liên tục bảo vệ tổ quốc từ sớm, từ xa.

Ngoài lợi ích khi có thêm đất, cần lưu ý rằng, ở nhiều điểm đảo kể cả đảo chìm lẫn đảo nổi. Việt Nam đang tích cực xây dựng các âu tàu, các âu tàu này sẽ là trạm hậu cần dịch vụ cho các đội tàu cá xa bờ, cung cấp chỗ tránh trú bão, cung cấp xăng dầu, cung cấp thiết bị y tế và sẵn sàng cứu hộ ngư dân đang ngày đêm phối hợp tham gia bảo vệ chủ quyền. Cùng với đó các âu tàu này cũng là căn cứ vững chắc cho lực lượng hải quân, cảnh sát biển, kiểm ngư trong nhiệm vụ tuần tra bảo vệ chủ quyền. Điều này có một lợi ích to lớn về thời gian, trước đây mỗi khi hết nhiên liệu lương thực các tàu của Việt Nam phải chạy về đất liền, vốn các Trường Sa hơn 500km. Trong các tình huống nóng bỏng, việc các lực lượng phải tạm rút vì lý do khách quan để lại lỗ hổng an ninh lớn trên biển, nhưng với các âu tàu ở Trường Sa giờ đây Việt Nam đã có một trạm hậu cần dày đặc, hỗ trợ hoạt động tuần tra đấu tranh bảo vệ chủ quyền dài ngày, với các âm mưu thâm độc của Trung Quốc tại quần đảo.

Chúng ta có thể ví von quần đảo Trường Sa giống như một tàu sân bay không thể chìm.

BDN

Loading

Views: 0

Sự kiện Bãi Cỏ Mây bóc trần màn kịch vụng về

Chẳng kiêng dè những ngày Tết nguyên đán cổ truyền của các nước Đông Nam Á, Trung Quốc vẫn cứ động binh ở Biển Đông. Điều này khiến cho không chỉ Philippines, Việt Nam và Đài Loan, mà nhiều quốc gia trong khu vực đều sửng sốt.

Chẳng là, hôm 9/1 (18 tháng Chạp), tàu hải cảnh Trung Quốc đã xua đuổi tàu cá của Philippines khỏi Bãi Cỏ Mây thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam (đang có tranh chấp giữa các nước Việt Nam, Philippines, Trung Quốc và Đài Loan). Truyền thông Philippines mới đưa tin về sự việc này vào ngày 20/1 (29 Tết) mới đây.

Càng ngạc nhiên hơn khi những lời hứa của các ông Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình và Tổng thống Philippines Ferdinand Marcos Jr. hồi đầu tháng 1/2023 vẫn còn “nóng” trên báo chí. Rằng, hai nhà lãnh đạo khẳng định, tăng cường quan hệ kinh tế và nối lại đàm phán về thăm dò dầu khí, thúc đẩy hợp tác thăm dò dầu khí ở các khu vực không tranh chấp; tiếp tục xử lý đúng đắn các vấn đề hàng hải thông qua tham vấn thân thiện. Ông Tập đồng ý “tìm giải pháp cho phép ngư dân Philippines tiếp cận các ngư trường truyền thống”.

Đúng là “lời nói gió bay”. Chưa thấy tham vấn thân thiện đâu chỉ thấy gia tăng khiêu khích và bạo lực!

Nói có sách mách có chứng. Thuyền trưởng tàu cá Philippines đã đưa ra một đoạn video cho giới chức Philippines ghi rõ hình ảnh tàu hải cảnh Trung Quốc mang ký hiệu CCG 5204 đuổi tàu cá Ken-Ken của Philippines khi tàu này hoạt động gần Bãi Cỏ Mây. Tàu Trung Quốc đã theo sát tàu cá của Philippines ở khoảng cách khoảng 800 mét và ra ký hiệu yêu cầu tàu cá phải lập tức ra khỏi khu vực này. Sau đó, tàu cá Philippines đã phải tháo lui.

Nhận được báo cáo, tuần duyên Philippines đã phái các tàu tuần tra đến khu vực để điều tra.Bộ ngoại giao Philippines đã đưa công hàm phản đối đến Đại sứ quán Trung Quốc.

Bãi Cỏ Mây không thuộc chủ quyền Trung Quốc. Nó là bãi cạn thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam bị Philippines chiếm giữ. Theo các nhà nghiên cứu, ở Biển Đông, sau bãi cạn Scarborough, bãi Cỏ Mây là điểm nóng an ninh thứ hai.

Bãi Cỏ Mây cách đảo Palawan của Philippines 105 hải lý. Đây là rạn san hô dài 15 km, rộng 5 km nằm trên cửa ngõ chiến lược đến bãi Cỏ Rong, nơi này có trữ lượng dầu khí khá lớn. Trung Quốc nhiều năm muốn “thu hồi” bãi này là vì thế.

Mười năm trước, tháng 5/2013, Philippines đã chính thức trao công hàm phản đối cho Đại sứ quán Trung Quốc tại Manila. Công hàm nêu rõ, một tàu chiến cùng hai tàu hải giám của Trung Quốc đã tuần tra bất hợp pháp và phong tỏa việc tiếp tế hậu cần cho các binh sĩ thủy quân lục chiến của Philippines tại khu vực nói trên.

Dịp này Bộ Ngoại giao Philippines khẳng định: Bãi Cỏ Mây là “một phần không thể tách rời của Philippines” (!), và yêu cầu Trung Quốc phải “rút ra khỏi khu vực này, vì nó thuộc vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của Philippines”.

Thế nhưng, Trung Nam Hải đã cười khẩy, cho rằng Manila ngoan cố. Sớm hay muộn cũng phải “trả” bãi này cho Trung Hoa đại lục. Từ đây nước này sử dụng “chiến lược bắp cải” đối với bãi Cỏ Mây. Hải quân Trung Quốc tiến hành bao bọc bãi cạn này bằng các lớp tàu khác nhau, với lớp trong cùng là các tàu cá, rồi đến các tàu hải giám, và các tàu hải quân sẽ tạo thành lớp ngoài cùng.

Mục tiêu của chiến lược này là nhằm ép buộc thủy quân lục chiến của Philippines phải rời bỏ tàu căn cứ vì thiếu tiếp tế hậu cần.

Trong mấy năm qua, mặc dù Washington đã gia tăng viện trợ quân sự cho Philippines, nhưng vẫn chưa rõ liệu Mỹ có áp dụng Hiệp ước phòng thủ chung Mỹ – Philippines trong trường hợp xảy ra xung đột giữa Philippines và Trung Quốc tại khu vực bãi Cỏ Mây hay không.

Về phía Trung Quốc, Bắc Kinh đang đặt cược khi cho rằng Mỹ sẽ không dám can thiệp để duy trì sự hiện diện của Manila ở bãi Cỏ Mây. Có lẽ Washington chỉ lên tiếng chống lại việc sử dụng vũ lực để cưỡng ép nhằm thay đổi hiện trạng đơn phương. Tàu hải quân Mỹ sẽ không dám đối đầu trực tiếp với tàu công vụ Trung Quốc tại các bãi cạn ở biển Đông.

Sức mạnh hải quân Philippines hiện thua xa hải quân Trung Quốc, khó có khả năng bảo vệ sự hiện diện của mình trong trường hợp Trung Quốc quyết tâm đánh bật Manila ra khỏi bãi Cỏ Mây. Có hai kịch bản cho một cuộc giao tranh quân sự tiềm năng giữa Philippines và Trung Quốc:

Nếu Trung Quốc vẫn tiếp tục phong tỏa việc tiếp tế hậu cần cho binh sĩ Philippines tại bãi Cỏ Mây, Manila có thể sẽ sử dụng trực thăng để thực hiện việc tiếp tế. Sự can thiệp của Trung Quốc vào các hoạt động này có thể dẫn đến tấn công quân sự.

Còn nếu Philippines cố gắng xây dựng cơ sở hạ tầng ở bãi Cỏ Mây, thì nhiều khả năng Bắc Kinh sẽ nắm bắt cơ hội này để công khai buộc tội Philippines là có hành động khiêu khích để khởi động cái gọi là “chiến lược bắp cải” của mình.

Cả hai kịch bản nói trên đều có nguy cơ dẫn đến leo thang xung đột quân sự. Và ngay cả khi tránh được xung đột, thì căng thẳng tăng cao vẫn có thể là một đòn giáng vào những nỗ lực khởi động các cuộc đàm phán về Bộ quy tắc ứng xử (COC) giữa Trung Quốc và các thành viên của ASEAN tại biển Đông.

Hàng chục năm đã trôi qua nhưng Washington vẫn thiếu một chiến lược hiệu quả để ngăn chặn việc Trung Quốc bắt nạt các nước nhỏ. Họ vẫn ngang nhiên sử dụng vũ lực nhằm cưỡng buộc và nỗ lực thay đổi hiện trạng đơn phương đối với các đảo, rạn san hô và bãi đá ngầm tranh chấp với các nước láng giềng ở biển Đông.

Xem ra các hoạt động ngoại giao giữa Trung Quốc với các nước trong khu vực chỉ là màn kịch vụng về. Đụng đến lợi ích cốt lõi dẫu là lợi ích phi pháp là họ sẵn sàng xổ toẹt mọi cam kết.

BDN

Loading

Views: 0

„Leopard“ cho Ukraine – Tại sao Thủ tướng Đức im lặng về vụ xe tăng?

  • Ngày càng không hiểu tại sao Đức chần chừ vụ cấp xe tăng „Leopard“
  • Mọi thứ đều sẽ quyết định tại văn phòng Thủ tướng, thế nhưng hầu như người ta không đưa ra thông tin gì
  • Tại sao Scholz không giải thích lập trường của mình?

Trong nhiều tháng nay, các nghị sĩ trong Liên minh Đèn giao thông và các nghị sĩ Liên minh Thiên chúa giáo đã thường xuyên gây áp lực thúc đẩy vụ giao xe tăng. Vai trò của những nghị sĩ này trong Quốc hội không phải là không đáng kể, vì họ không phải những „nghị gật“.

Chủ tịch Ủy ban Quốc phòng, Marie-Agnes Strack-Zimmermann, FDP, luôn ủng hộ sự hỗ trợ rộng rãi hơn cho Ukraine. Chủ tịch Ủy ban về các vấn đề của Liên minh châu Âu, Anton Hofreiter đảng Xanh, cũng vậy. Và chủ tịch Ủy ban đối ngoại, chính trị gia Michael Roth của SPD, cũng ủng hộ việc giao xe tăng. Ngoài ra, còn có Liên minh Thiên chúa giáo là lực lượng đối lập mạnh nhất, cũng tích cức thúc đẩy việc giao xe tăng.

Chỉ Văn phòng Thủ tướng quyết định

Sự kiện này thu hút được nhiều sự chú ý của công chúng, tuy nhiên tác động chính trị cho đến nay vẫn trong tầm kiểm soát, bởi vì duy chỉ có Văn phòng Thủ tướng mới chính là nơi đưa ra quyết định. Tân Bộ trưởng Quốc phòng Boris Pistorius mới đây đã nói rõ điều này trên chương trình ARD „Anne Will“.

Cho đến nay Thủ tướng Olaf Scholz không tỏ ra có dấu hiệu nào cho thấy ông bị áp lực chính trị cũng như áp lực truyền thông. Gần đây nhất ở Paris tại Cung điện Élysée, khi bị người ta thường xuyên hỏi, ông cũng thường xuyên lặp lại thái độ cương quyết nổi tiếng của mình là: Về vấn đề xe tăng, tôi muốn phối hợp hành động cùng với USA.

Biden, Scholz và Macron – là những người ra quyết định

Điều này có vẻ bất thường đối với các nền dân chủ phương Tây, nhưng quyết định về vấn đề xe tăng là nhằm vào lực lượng chính trị hàng đầu thế giới. Hiếm khi chính trị lại tập trung vào các cá nhân như vậy. Cung cấp hay không – duy chỉ người đứng đầu chính phủ sẽ quyết định điều đó, ngay cả khi họ có Bộ trưởng quốc phòng, Uỷ ban an ninh và Hệ thống chính trị thì khác.

Dù sao thì cuối cùng Tổng thống Mỹ Joe Biden, Thủ tướng Đức Olaf Scholz và Tổng thống Pháp Emmanuel Macron cũng phải gánh trách nhiệm. Họ phải cân nhắc mọi chi phí và lợi ích của việc đối phó lại cường quốc hạt nhân Nga. Liệu quyết định của họ có thể vượt qua ranh giới đỏ bằng sự viện trợ xe tăng chiến đấu cho Ukraine hay không? Họ cần phải xem xét, liệu các xe tăng chiến đấu chủ lực của phương Tây có thể trở thành tấm khăn đỏ làm cho con bò tót Putin lồng lên ở Crimea, nơi Hạm đội Biển Đen của Nga đang đồn trú và ngay cả khi Crimea là một phần lãnh thổ của Ukraine hay không?

Khối Đại Tây Dương kề vai sát cánh

Scholz đã luôn thể hiện kề vai sát cánh và tin tưởng Tổng thống Mỹ Biden, ông đã 80 tuổi và đã có một thời gian dài chứng kiến Chiến tranh Lạnh và biết rõ các quy tắc chính trị thực sự của nó.

Ngay khi nổ ra cuộc chiến Ukraine, chính phủ Đức nhanh chóng từ bỏ nguyên tắc cơ bản „không cung cấp vũ khí hạng nặng cho các vùng chiến sự“. Thế nhưng, từ vũ khí chống tăng đến pháo chống tăng cho đến bệ phóng tên lửa và xe bọc thép chở quân và tất cả các quyết định tiếp theo của Đức luôn được đưa ra cùng với sự đồng hành của Mỹ. Các quốc gia nhỏ khác, họ chỉ làm theo.

Các đồng minh phương Tây thống nhất với nhau cùng phối hợp hành động trong việc cung cấp vũ khí, không 1 quốc gia nào được phép tự ý đơn phương liều lĩnh nhanh nhẩu chuyển giao vũ khí để làm lộ mình trước Nga.

Tổng thống Nga Vladimir Putin luôn để ý cân nhắc xem, liệu việc chuyển giao vũ khí của phương Tây có thực sự biện minh được cho việc mở rộng cuộc xung đột sang NATO hay không. Người châu Âu cũng nhận thức được rằng họ không thể đơn độc chống lại kho vũ khí hạt nhân của Putin. Và chính vì thế, Thủ tướng Scholz thường xuyên cố gắng lôi kéo người Mỹ trở thành đồng minh quan trọng nhất và mạnh nhất tại châu Âu.

Ba Lan liên tục chỉ trích Chính phủ Liên bang

Tại hội nghị Ramstein vào thứ Sáu tuần trước, chỉ có một số quốc gia sẵn sàng tự tay giao xe tăng Leopard cho Ukraine. Tuy nhiên, muốn giao tăng „Leopard“ phải có sự đồng ý của Đức, vì Đức là nước sản xuất. Về vấn đề này Ba Lan luôn lớn tiếng chỉ trích Đức cản „mũi kỳ đà“. Thủ tướng Ba Lan Mateusz Morawiecki hôm nay tuyên bố rằng, sẽ đệ đơn xin xuất xe tăng „Leopard“ do Đức sản xuất cho Ukraine. Tuy nhiên ông cũng không đưa ra được là lúc nào nộp đơn. Bộ trưởng Ngoại giao Baerbock ít nhất đã nói trên truyền hình Pháp rằng, bà sẽ không phản đối việc giao hàng „Leopard“. Chính phủ Liên bang cũng tuyên bố rằng, họ sẽ xử lý đơn xin chuyển giao xe tăng „Leopard“ của Ba Lan một cách nhanh chóng và chính xác. Nhưng đến nay vẫn chưa thấy đơn đâu. Đức chỉ trích Balan đã dùng vụ lùm xùm về xe tăng „Leopard“ cho chiến dịch tranh cử.

Những điều khó nói

Đâu là cách tiếp cận chiến lược và mục tiêu mà Đức theo đuổi trong cuộc chiến Ukraine là gì? Không ai thực sự được biết.

Những chỉ trích từ Ba Lan, từ Liên minh „đèn giao thông“ và phe đối lập, cũng chỉ vì Chính phủ Liên bang không chịu giải thích rõ ràng lý do một cách cởi mở.

Thủ tướng cứ lặp đi lặp lại quan điểm của mình về vấn đề xe tăng, nhưng ông ấy chưa thực sự giải thích vì sao. Scholz muốn nắm tất cả át chủ bài trong tay và không để ai dòm ngó quân bài của mình. Người phát ngôn Chính phủ, ông Steffen Hebestreit cho biết, quá trình này „nó càng ít được công khai“ càng tốt.

Những tuyên bố như vậy cho thấy: Vấn đề nan giải về xe tăng chỉ được cân nhắc và quyết định trong một nhóm rất ít người.

Lê Hoàng biên dịch

Nguồn:

https://www.tagesschau.de/inland/innenpolitik/panzer-scholz-debatte-101.html

Loading

Views: 0

Philippines quay sang Nhật Bản để tăng cường sự hiện diện ở Biển Đông

Lực lượng tuần duyên Philippines ngày càng quay sang Nhật Bản trong nỗ lực tăng cường sự hiện diện ở Biển Đông, theo Đài NHK hôm nay 21.1.

Chỉ huy Lực lượng tuần duyên Philippines, phó đô đốc Artemio Abu, ngày 20.1 cho hay Manila sẽ đề nghị Tokyo hỗ trợ trong việc mua ít nhất 5 tàu tuần tra cỡ lớn của Nhật. Ông Abu cho biết thêm kế hoạch mua 5 tàu mới sẽ bao gồm hỗ trợ xây dựng một trụ sở mới, với một cầu cảng dành riêng cho 5 tàu tuần tra mới.

Phó đô đốc Abu tiết lộ kế hoạch trên với các phóng viên sau cuộc gặp với Chủ tịch Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản Tanaka Akihiko.
Lực lượng tuần duyên Philippines đã nhận được 12 tàu tuần tra của Nhật để chống lại các hoạt động ngày càng mạnh bạo của Trung Quốc trong khu vực, theo NHK.

Tổng thống Philippines Ferdinand Marcos Jr. dự kiến sẽ thăm Nhật Bản lần đầu tiên vào tháng tới và hai bên sẽ thảo luận về các biện pháp đẩy mạnh hợp tác.

BDN

Loading

Views: 0

Hệ thống tư bản toàn cầu đang gặp khủng hoảng, EU chia rẽ

Tổng thống Pháp Macron cho rằng, hệ thống tư bản toàn cầu đang bị khủng hoảng, bất lực trong xóa đói giảm nghèo. Theo ông, EU cũng bị chia rẽ do các khác biệt chưa được giải quyết.

Trả lời phỏng vấn của tờ El Pais mới đây, Tổng thống Pháp Macron bày tỏ ông tin rằng cuộc khủng hoảng mà châu Âu đang trải qua xoay quanh việc châu lục này chưa “tiêu hóa” đầy đủ thời kỳ hậu Chiến tranh Lạnh.
Ông Macron nói, Liên minh châu Âu (EU) đã vội vã mở rộng sang phía Đông do tin rằng “các vấn đề đã được giải quyết” khi Chiến tranh Lạnh chấm dứt. Tuy nhiên, Tổng thống Macron cho biết, EU hiện có 2 nhóm quốc gia với các quan điểm khác nhau về tương lai của khối. Theo ông, phần phía Đông của châu Âu muốn có quyền tự trị dân tộc nhiều hơn bên trong EU.

Khó khăn do sự khác biệt nói trên lan tràn không chỉ ở châu Âu mà tất cả các nền “dân chủ” phương Tây, theo nhà lãnh đạo Pháp.

Ông Macron cho rằng, bản thân hệ thống tư bản toàn cầu đang trong khủng hoảng do nó không còn khả năng đưa người dân ra khỏi đói nghèo mà chỉ khiến “các bất bình đẳng tăng vọt”, gây ra một “cuộc khủng hoảng lương tâm đối với các nền dân chủ”.

Tổng thống Pháp đã từ lâu cổ xúy cho việc xây dựng một cộng đồng chính trị châu Âu chặt chẽ hơn, hợp tác gần gũi vè năng lượng, vận tải và an ninh.

Ông Macron cũng ủng hộ việc châu Âu bớt phụ thuộc vào NATO và theo đuổi sự “tự trị chiến lược” với khối quân sự do Mỹ dẫn dắt này

BDN

Loading

Views: 0

Tổng thống Philippines chia sẻ những lo ngại về tình hình Biển Đông

Phát biểu tại hội nghị Diễn đàn Kinh tế thế giới ở Davos (Thụy Sĩ), Tổng thống Philippines Ferdinand Marcos Jr. chia sẻ những lo ngại về tình hình Biển Đông.

Hãng AFP ngày 19.1 dẫn lời Tổng thống Philippines Ferdinand Marcos Jr. chia sẻ rằng căng thẳng ở Biển Đông khiến ông “thao thức suốt đêm” và Manila giữ vững cam kết hòa bình tại đây.

Phát biểu tại hội nghị Diễn đàn Kinh tế thế giới 2023 ở Davos (Thụy Sĩ), ông cho biết Philippines đang dõi theo như “người ngoài cuộc” mỗi khi căng thẳng gia tăng giữa các tàu chiến Trung Quốc và Mỹ trong khu vực.

“Nếu có gì đó sai ở đây, chúng ta sẽ hứng chịu”, ông lo ngại và cho biết tình hình ở vùng biển này khiến ông trăn trở hầu như mọi lúc.

Nhà lãnh đạo đã thảo luận về tình hình Biển Đông trong cuộc gặp với Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình trong chuyến công du đến Bắc Kinh vào tháng trước.

“Tình hình rất năng động, liên tục thay đổi. Vì vậy, phải chú ý đến để đảm bảo rằng bạn ít nhất cũng nhận thức được tình hình hiện tại để có thể phản ứng,” ông cho biết.

Theo ông, Philippines theo cách tiếp cận rằng nước này không có tuyên bố trùng lắp với Trung Quốc ở Biển Đông mà là Bắc Kinh đưa ra yêu sách “trên lãnh hải” của Manila. Ông cho biết chính sách của Philippines là “cam kết hòa bình”.

Trong chuyến công du của ông Macros đến Bắc Kinh, Trung Quốc và Philippines đã cam kết giải quyết các bất đồng trên biển thông qua “tham vấn hữu nghị”.

Mỹ và các đồng minh đang gia tăng tuần tra ở Biển Đông để đối trọng với sự phô trương sức mạnh quân sự của Trung Quốc, và một số quốc gia trong khu vực như Nhật Bản đang tăng cường ngân sách quốc phòng. Tuy nhiên, Tổng thống Marcos Jr cho biết chạy đua vũ trang không phải là lựa chọn của Philippines.

BDN

Loading

Views: 0

Đài Loan cho phép nữ tham gia chương trình huấn luyện quân nhân dự bị

Lực lượng phòng vệ Đài Loan hôm nay 17.1 tuyên bố sẽ sớm cho phép quân nhân dự bị tự nguyện đăng ký tham gia chương trình huấn luyện quân nhân dự bị mới và nữ quân nhân dự bị cũng có thể tham dự.

Chương trình tự nguyện nói trên, sẽ được triển khai trong quý hai năm nay (từ tháng 4-6), sẽ đánh dấu lần đầu tiên lực lượng phòng vệ Đài Loan đưa các nữ quân nhân đã giải ngũ vào chương trình huấn luyện dự bị, theo Hãng tin CNA.

Thiếu tướng Du Văn Trấn, người đứng đầu một bộ phận trong Cơ quan Huy động Phòng thủ toàn diện thuộc Cơ quan Phòng vệ Đài Loan, nói trong một cuộc họp báo rằng chương trình huấn luyện tình nguyện sắp tới sẽ dành cho khoảng 500 nam quân nhân dự bị và khoảng 200 nữ quân nhân dự bị.
Lực lượng phòng vệ Đài Loan đang thực hiện một chương trình huấn luyện quân nhân dự bị kép từ năm ngoái. Theo đó, một số lượng quân nhân dự bị tương đối nhỏ trải qua hai tuần huấn luyện chuyên sâu hai lần trong 8 năm, trong khi phần lớn trải qua 4 cuộc huấn luyện từ 5-7 ngày trong 8 năm. Những người dự bị tình nguyện trong chương trình mới sẽ có thể chọn tham gia huấn luyện một hoặc hai tuần.

Đối với chương trình huấn luyện quân nhân dự bị bắt buộc hiện nay, chỉ những nam quân nhân dự bị mới được yêu cầu tham gia và việc tham gia được quyết định bằng cách bốc thăm. Trước đây, lực lượng phòng vệ Đài Loan cho hay họ chỉ huấn luyện nam quân nhân dự bị vì không có đủ cơ sở chứa cả nam lẫn nữ.
Xem xe tăng, pháo bắn đạn thật diệt mục tiêu trong tập trận đêm ở Đài Loan

Trong khi nam giới ở Đài Loan phải tham gia nghĩa vụ quân sự bắt buộc và huấn luyện dự bị, phụ nữ có thể tự nguyện tham gia lực lượng vũ trang để phục vụ với tư cách là binh lính và sĩ quan.

Tính đến năm 2021 có 8.915 phụ nữ được liệt vào danh sách quân nhân dự bị ở Đài Loan. Trong số 180.000 quân nhân tại ngũ của Đài Loan có 15% là phụ nữ, theo CNA dẫn số liệu của lực lượng phòng vệ Đài Loan

BDN

Loading

Views: 0