Tàu sân bay USS Nimitz và nhóm tác chiến đang tăng tốc di chuyển khỏi Thái Bình Dương đến Trung Đông theo mệnh lệnh mới của Lầu Năm Góc.
Tàu sân bay USS Nimitz, cùng với không đoàn và lực lượng hộ tống gồm 5 khu trục hạm, đã rời Biển Đông để gia nhập nhóm tác chiến tàu sân bay USS Carl Vinson ở biển Ả Rập, theo AFP, Reuters, The Independent và những báo đài khác hôm 17.6.
Vào 20 giờ 25 đêm 16.6 (giờ Việt Nam), hàng không mẫu hạm Mỹ đã đi qua eo biển Malacca hướng đến Ấn Độ Dương, theo trang theo dõi chuyển động của tàu bè Marine Traffic.
Tổng thống Trump kêu gọi sơ tán khỏi Tehran, tàu sân bay từ Biển Đông sang Trung Đông
Việc đưa tàu USS Nimitz khỏi Đông Nam Á là một phần của kế hoạch tăng cường binh lực của quân đội Mỹ tại Trung Đông. Không quân Mỹ đã triển khai hàng chục máy bay tiếp liệu đến châu Âu, điều chuyển 2 tàu khu trục từ Địa Trung Hải đến gần Israel, và các gia đình quân nhân tại những căn cứ Mỹ ở Trung Đông được phép quay về nước vì lý do an toàn.
Giới chức Iran cho biết đến nay ít nhất 224 người chết trong các đợt tấn công của Israel, đa số là dân thường, cùng với nhiều các tư lệnh cấp cao của quân đội Iran, các nhà khoa học hạt nhân.
Sau khi cảnh báo Tehran cần được sơ tán khẩn cấp, Tổng thống Mỹ Donald Trump đã rời hội nghị thượng đỉnh G7 sớm hơn dự kiến để quay về Mỹ kịp thời chỉ đạo tình hình, nhưng không rõ là về vấn đề gì.
Nhà Trắng sáng nay (17.6) khẳng định lực lượng Mỹ vẫn duy trì trạng thái “phòng vệ” ở Trung Đông, bất chấp chuyển động của các khí tài theo mệnh lệnh từ Lầu Năm Góc vào ngày thứ tư xảy ra giao tranh giữa Iran và Israel
Phát ngôn viên Điền Quân Lý của Bộ Tư lệnh chiến khu nam bộ thuộc Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc cho biết nước này đã tổ chức tuần tra chung trên biển và trên không ở Biển Đông ngày 14.6.
China Daily dẫn lời ông Điền Quân Lý cho hay lực lượng chỉ huy của quân đội vẫn trong tình trạng báo động cao.
Vị phát ngôn viên nói thêm rằng: “Mọi hoạt động quân sự nhằm gây bất ổn ở Biển Đông hoặc tạo ra các điểm nóng đều được kiểm soát hoàn toàn”. Trong thông báo, quân đội Trung Quốc không nêu địa điểm tuần tra cụ thể ở Biển Đông.
Động thái của Trung Quốc diễn ra cùng ngày Philippines và Nhật Bản tiến hành hoạt động hợp tác hàng hải chung tại phía tây đảo chính Luzon của Philippines.
Hoạt động hợp tác hàng hải này nhằm mục đích tăng cường hợp tác quốc tế để đạt được một khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và rộng mở.
2 tàu sân bay Trung Quốc ra Thái Bình Dương, lần đầu tiên vượt chuỗi đảo thứ hai
Trước đó, Philippines hôm 13.4 thông báo tàu chủ lực của cảnh sát biển Philippines (PCG), BRP Teresa Magbanua (MRRV-9701), đã đến Nhật Bản để tham gia cuộc tập trận hàng hải ba bên giữa cảnh sát biển Philippines – Mỹ – Nhật Bản, theo Manila Standard.
Ngoài ra, Philippines và Mỹ đã tiến hành cuộc tập trận hàng hải chung ở Biển Đông lần thứ 7 vào đầu tháng này.
Thủ tướng Phạm Minh Chính và Thủ tướng Thuỵ Điển Ulf Kristersson nhất trí nâng cấp quan hệ hai nước lên Đối tác chiến lược ngành trong lĩnh vực khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Sáng 13/6 (giờ địa phương), tại Thủ đô Stockholm, Thủ tướng Phạm Minh Chính hội đàm với Thủ tướng Thụy Điển Ulf Kristersson.
Tình cảm gần gũi
Thủ tướng Phạm Minh Chính khẳng định Việt Nam luôn khắc ghi sự giúp đỡ, ủng hộ quý báu mà Thụy Điển dành cho nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp đấu tranh, giải phóng dân tộc cũng như công cuộc xây dựng và phát triển đất nước ngày nay.
Thụy Điển không chỉ là người bạn phương Tây ủng hộ mạnh mẽ nhất phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam mà còn là đối tác Bắc Âu viện trợ không hoàn lại lớn nhất cho Việt Nam trong hành trình tái thiết và xây dựng đất nước. Thuỵ Điển là nước phương Tây đầu tiên thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam năm 1969.
Thủ tướng Phạm Minh Chính chia sẻ trong chuyến thăm lần này, Thủ tướng đã đến thăm gia đình nhà cố Thủ tướng Olof Palme để thể hiện sự trân trọng và biết ơn Thủ tướng Olof Palme và nhân dân Thụy Điển đã nhiệt thành ủng hộ Việt Nam trong công cuộc đấu tranh giành độc lập, thống nhất đất nước.
Thủ tướng Phạm Minh Chính chân thành cảm ơn Thụy Điển vừa qua đã trao tặng cho Việt Nam bộ phim do đạo diễn Bo Öhlén thực hiện, ghi lại khoảnh khắc người dân Thụy Điển xuống đường ăn mừng chiến thắng của nhân dân Việt Nam ngày 30/4/1975.
Thủ tướng Phạm Minh Chính khẳng định, Nhà máy giấy Bãi Bằng, Bệnh viện Nhi Trung ương, Bệnh viện Uông Bí mãi mãi là những biểu tượng lớn trong quan hệ hai nước và vẫn tiếp tục phát huy hiệu quả tại Việt Nam. Văn hóa và tri thức của Thụy Điển đến với Việt Nam qua âm nhạc của ban nhạc ABBA, qua giải thưởng danh giá Nobel. Nhiều cán bộ, chuyên gia, bác sỹ Việt Nam được đào tạo tại Thụy Điển đã và đang đóng góp tích cực cho sự phát triển đất nước.
Tại cuộc hội đàm, hai bên đã thông báo cho nhau về tình hình phát triển của mỗi nước.
Thủ tướng Ulf Kristersson chúc mừng những thành tựu to lớn của Việt Nam trong phát triển kinh tế – xã hội và hội nhập quốc tế thời gian qua; khẳng định Chính phủ và nhân dân Thụy Điển luôn coi trọng quan hệ với Việt Nam và mong muốn thúc đẩy hơn nữa hợp tác giữa hai bên trên nhiều lĩnh vực như thương mại, đầu tư, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, ứng phó với biến đổi khí hậu, phát triển bền vững…
Nâng tầm quan hệ
Trên nền tảng “quá khứ hào hùng, tương lai tươi sáng,” hai Thủ tướng khẳng định đây là thời điểm để Việt Nam và Thụy Điển làm mới quan hệ và hướng đến nâng quan hệ lên tầm cao mới.
Hai nhà lãnh đạo nhất trí hai nước cần tăng cường tiếp xúc và trao đổi đoàn các cấp, nhất là cấp cao và giao lưu nhân dân, nhằm tăng cường tin cậy chính trị và hiểu biết lẫn nhau, tạo tiền đề thuận lợi để mở rộng hợp tác trên các lĩnh vực khác.
Thủ tướng Phạm Minh Chính cho rằng trên nền tảng quan hệ chính trị tốt đẹp, hai nước cần tăng cường hợp tác quốc phòng – an ninh, chia sẻ kinh nghiệm, quan điểm về các vấn đề toàn cầu đặc biệt trong tình hình bối cảnh thế giới biến đổi nhanh chóng và khó lường.
Hai bên cũng nhất trí tăng cường phối hợp và ủng hộ lẫn nhau tại các diễn đàn đa phương, tổ chức quốc tế, đặc biệt tại Liên Hợp Quốc, khuôn khổ Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và Liên minh châu Âu (EU); hỗ trợ nhau thúc đẩy quan hệ Việt Nam-EU và Thụy Điển-ASEAN, đóng góp vào việc giải quyết các thách thức toàn cầu.
Thủ tướng Phạm Minh Chính cho rằng Thụy Điển và Việt Nam là hai nền kinh tế có thể hỗ trợ lẫn nhau khi Thụy Điển có những thế mạnh về công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; Việt Nam có nguồn lao động, có thị trường hơn 100 triệu dân và là cửa ngõ tới một thị trường năng động và trẻ hơn với khoảng 700 triệu dân là ASEAN.
Trong hợp tác thương mại – đầu tư, hai bên khẳng định sẽ tiếp tục tạo thuận lợi hơn nữa cho hàng hóa mỗi nước tiếp cận thị trường của nhau thông qua việc triển khai hiệu quả Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA), qua đó tiếp cận thị trường EU và ASEAN và phấn đấu đưa kim ngạch thương mại hai chiều lên 3 tỷ USD trong thời gian tới.
Thủ tướng Phạm Minh Chính đề nghị Thụy Điển thúc đẩy các nước thành viên còn lại của EU sớm phê chuẩn Hiệp định Bảo hộ đầu tư giữa Việt Nam và EU (EVIPA) và ủng hộ Ủy ban châu Âu sớm gỡ bỏ “thẻ vàng” về chống khai thác thủy sản bất hợp pháp, không báo cáo, không theo quy định ( IUU) đối với hải sản xuất khẩu của Việt Nam.
Thủ tướng Thụy Điển chia sẻ Thụy Điển rất tự hào khi Tập đoàn Ericsson có mặt ở Việt Nam từ rất sớm và cùng đồng hành với Việt Nam trong công nghệ thông tin và viễn thông.
Nhân dịp này, hai Thủ tướng thống nhất nâng cấp quan hệ lên Đối tác chiến lược ngành trong lĩnh vực khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo, nhất trí đẩy mạnh hợp tác trong các lĩnh vực đổi mới sáng tạo, công nghệ cao, năng lượng hạt nhân, bán dẫn, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số…, tăng cường liên kết đào tạo, đặc biệt là đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao.
Thủ tướng Phạm Minh Chính kêu gọi các doanh nghiệp Thụy Điển tăng cường đầu tư vào các lĩnh vực có thế mạnh và phù hợp với định hướng phát triển của Việt Nam như đổi mới sáng tạo, kinh tế xanh, số và tuần hoàn, năng lượng tái tạo, quy hoạch đô thị…
Trong hợp tác văn hóa – thể thao – du lịch và giao lưu nhân dân, hai bên khẳng định tăng cường chia sẻ kinh nghiệm trong xây dựng và hoàn thiện chính sách văn hóa; tăng cường quảng bá du lịch, tạo thuận lợi nhất cho việc thu hút du khách đến thăm mỗi nước.
Thủ tướng Phạm Minh Chính cảm ơn sự quan tâm giúp đỡ của Thụy Điển đối với cộng đồng người Việt tại Thụy Điển và đề nghị Chính phủ Thụy Điển tiếp tục tạo điều kiện thuận lợi để cộng đồng sinh sống, làm việc ổn định, hòa nhập vào xã hội sở tại, đóng góp cho sự phát triển của Thụy Điển và là cầu nối quan trọng thúc đẩy quan hệ hữu nghị giữa hai nước.
Trao đổi về các vấn đề quốc tế và khu vực cùng quan tâm, Thủ tướng Phạm Minh Chính và Thủ tướng Ulf Kristersson cùng nhấn mạnh quan điểm ủng hộ các giải pháp hòa bình lâu dài cho các xung đột trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên Hợp Quốc và luật pháp quốc tế.
Về vấn đề Biển Đông, hai bên ủng hộ việc giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, phù hợp với luật pháp quốc tế, nhất là Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển (UNCLOS) năm 1982, góp phần bảo đảm hòa bình, ổn định, tự do hàng hải, hàng không tại khu vực quan trọng này đối với thương mại quốc tế.
Sau hội đàm, Thủ tướng Phạm Minh Chính và Thủ tướng Thụy Điển Ulf Kristersson chứng kiến Bộ Khoa học Công nghệ của Việt Nam và Bộ Ngoại giao Thụy Điển trao thỏa thuận Đối tác chiến lược ngành về hợp tác khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Một quan chức quốc phòng Mỹ cho biết chính quyền Tổng thống Mỹ Donald Trump đã chính thức tiến hành xem xét lại hiệp ước đối tác an ninh 3 bên AUKUS (Mỹ – Anh – Úc).
Tàu ngầm tấn công nhanh lớp Virginia USS Minnesota (SSN-783) được nhìn thấy ngoài khơi bờ biển Tây Úc (Úc) ngày 16.3.2025
“Chúng tôi đang xem xét AUKUS… nhằm đảm bảo sáng kiến của chính quyền tiền nhiệm phù hợp với chương trình nghị sự Nước Mỹ trên hết của Tổng thống Trump”, Financial Times ngày 12.6 dẫn lời một quan chức Mỹ cho biết.
“Bất kỳ thay đổi nào trong cách tiếp cận của chính quyền đối với AUKUS sẽ được thông báo qua các kênh chính thức khi cần thiết”, vị quan chức Mỹ nói thêm.
Bình luận lại, phát ngôn viên của Bộ trưởng Quốc phòng Úc Richard Marles ngày 12.6 cho biết chính phủ nước này sẽ hợp tác chặt chẽ với Mỹ để tiến hành đánh giá chính thức hiệp ước quốc phòng AUKUS.
“Việc chính quyền muốn xem xét dự án quan trọng này bao gồm cả tiến độ và việc thực hiện là điều tự nhiên”, theo phát ngôn viên của ông Marles. Vị quan chức Úc cũng nhấn mạnh: “AUKUS sẽ phát triển cả ngành công nghiệp quốc phòng của Mỹ và Úc cũng như tạo ra hàng nghìn việc làm sản xuất mới”.
Trong khi đó, phát ngôn viên của chính phủ Anh gọi AUKUS là “một trong những quan hệ đối tác chiến lược quan trọng nhất trong nhiều thập niên”, đồng thời tạo ra “việc làm và tăng trưởng kinh tế cho cộng đồng ở cả 3 quốc gia”.
“Có thể hiểu được tại sao chính quyền mới lại muốn xem xét lại cách tiếp cận của mình đối với một quan hệ đối tác lớn như vậy, giống như những gì Anh đã làm vào năm ngoái, đồng thời nói thêm rằng Anh sẽ tiếp tục hợp tác chặt chẽ với Mỹ và Úc để tối đa hóa lợi ích và cơ hội của AUKUS”, Reuters dẫn lời phát ngôn viên của chính phủ Anh nhấn mạnh.
AUKUS là hiệp ước do cựu Tổng thống Mỹ Joe Biden cùng các lãnh đạo Anh, Úc công bố vào năm 2021 với mục tiêu ban đầu là cho phép Úc sở hữu tàu ngầm chạy bằng năng lượng hạt nhân. Theo thỏa thuận, Úc sẽ tiếp nhận tối đa 5 tàu ngầm lớp Virginia của Mỹ kể từ năm 2032. Sau đó, Anh và Úc sẽ cùng thiết kế và chế tạo một lớp tàu ngầm mới với sự hỗ trợ từ Mỹ.
Trước thời điểm đó, Mỹ và Anh sẽ bắt đầu luân chuyển tàu ngầm của họ từ một căn cứ hải quân của Úc ở Tây Úc vào năm 2027.
Nhà Trắng hiện chưa đưa ra tuyên bố chính thức. Tuy nhiên, một quan chức Mỹ nói với Reuters rằng chính quyền của ông Trump “đang thường xuyên rà soát các thỏa thuận đối ngoại để đảm bảo chúng phù hợp với lợi ích của người dân Mỹ, đặc biệt là các thỏa thuận bắt nguồn từ chính sách đối ngoại dưới thời cựu Tổng thống Biden”.
Thượng nghị sĩ Mỹ Tim Kaine, một thành viên đảng Dân chủ, cho rằng: “AUKUS có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo một Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và rộng mở, và chính quyền nên nỗ lực củng cố AUKUS cũng như cơ sở công nghiệp tàu ngầm của Mỹ”.
Ngày 12-6, Nhật Bản cho biết vào cuối tuần trước các máy bay chiến đấu của Trung Quốc đã bay ở cự ly gần một cách “bất thường” với các máy bay tuần tra quân sự của Nhật Bản.
“Chúng tôi bày tỏ mối quan ngại sâu sắc với phía Trung Quốc và nghiêm túc yêu cầu (Bắc Kinh) ngăn chặn sự việc tái diễn”, Chánh Văn phòng nội các Nhật Bản Yoshimasa Hayashi cho biết hôm 12-6.
Theo phía Tokyo, vào ngày 7 và 8-6, các máy bay phản lực của Trung Quốc đã tiếp cận ở khoảng cách nguy hiểm với các máy bay tuần tra quân sự của Nhật Bản, có lúc chỉ cách nhau khoảng 45 mét.
Cụ thể, vào ngày 7-6, Bộ Quốc phòng Nhật Bản thông báo một máy bay phản lực J-15 của Trung Quốc, xuất phát từ tàu sân bay Sơn Đông đã truy đuổi một máy bay tuần tra P-3C của Nhật Bản trong khoảng 40 phút.
Nhật Bản phản đối Trung Quốc sau vụ chiến đấu cơ áp sát máy bay tuần tra - Ảnh 1.
Nhật Bản phát hiện tàu sân bay Liêu Ninh có hoạt động bất thường ở Thái Bình Dương
ĐỌC NGAY
Đến ngày 8-6, một tình huống tương tự diễn ra với thời gian kéo dài tới 80 phút, khi chiến đấu cơ J-15 Trung Quốc bay ngang trước mũi chiếc P-3C của Nhật Bản ở khoảng cách chỉ 900 mét.
Chiếc P-3C thuộc Lực lượng Phòng vệ biển Nhật Bản có trụ sở tại đảo Okinawa đang tiến hành giám sát vùng biển quốc tế ở Thái Bình Dương.
“Những cách tiếp cận bất thường như vậy của máy bay quân sự Trung Quốc có khả năng gây ra va chạm ngoài ý muốn”, Bộ Quốc phòng Nhật Bản cho biết trong một tuyên bố hôm nay 12-6, đồng thời công bố hình ảnh cận cảnh máy bay phản lực J-15 được ghi lại trong sự cố ngày 8-6.
Phía Tokyo khẳng định thêm không có thiệt hại về người và phương tiện trong cả hai vụ việc.
Người phát ngôn Chính phủ Nhật Bản Yoshimasa Hayashi tuyên bố Tokyo sẽ duy trì liên lạc với Bắc Kinh ở nhiều cấp độ khác nhau, đồng thời tăng cường giám sát không phận xung quanh lãnh thổ của mình.
Theo Hãng tin Reuters, vụ việc diễn ra sau khi Nhật Bản phát hiện hai tàu sân bay của Trung Quốc là Liêu Ninh và Sơn Đông lần đầu tiên hoạt động cùng lúc tại Thái Bình Dương.
Bộ Quốc phòng Nhật Bản nói rằng hai chiếc tàu này đều hoạt động gần các đảo xa xôi thuộc chủ quyền Nhật Bản.
Theo Bộ Quốc phòng Nhật, đây là dấu hiệu cho thấy ý định của Bắc Kinh nhằm mở rộng năng lực quân sự vượt ra khỏi biên giới nước này.
Ngay sau đó, Ngoại trưởng Nhật Bản Takeshi Iwaya nói Tokyo đã liên lạc với Bắc Kinh thông qua Đại sứ quán Trung Quốc tại Nhật Bản, và nước này sẽ thực hiện “các bước phù hợp” nếu cần thiết.
Phản hồi về thông tin này, Bắc Kinh khẳng định các hoạt động này là cuộc tập trận “huấn luyện thường kỳ” và “không nhắm vào bất kỳ quốc gia cụ thể nào”.
Đây không phải lần đầu tiên Nhật Bản ghi nhận tình huống tương tự. Hồi năm 2014, Tokyo cũng từng phản đối mạnh mẽ khi chiến đấu cơ Trung Quốc tiếp cận ở khoảng cách chỉ 30 mét trên Biển Hoa Đông (East China Sea).
Đức đang lên kế hoạch mở rộng và hiện đại hóa cơ sở hạ tầng phòng thủ nhằm chuẩn bị cho cuộc xung đột với Nga.
Theo ông Ralph Tiesler, người đứng đầu Văn phòng Bảo vệ Dân sự và Hỗ trợ Thảm họa Liên bang (BBK), Đức đang đẩy nhanh kế hoạch mở rộng và hiện đại hóa cơ sở hạ tầng phòng thủ dân sự trong bối cảnh Tây Âu đang tiến hành quân sự hóa rộng rãi, nhằm chuẩn bị cho một cuộc đối đầu trực tiếp tiềm tàng với Nga.
Hiện tại, Đức chỉ có 580 nơi trú ẩn đang hoạt động với sức chứa khoảng 480.000 người – ít hơn 1% dân số.
Trong các cuộc phỏng vấn với truyền thông Đức vào tuần trước, ông Tiesler cho biết để giải quyết tình trạng thiếu hụt này, BBK có kế hoạch chuyển đổi các gara ngầm, đường hầm tàu điện ngầm và tầng hầm công cộng thành nơi trú ẩn có khả năng chứa một triệu người, đầy đủ thức ăn, nhà vệ sinh và khu vực ngủ.
“Những boongke mới với tiêu chuẩn bảo vệ cao nhất tốn rất nhiều tiền và mất nhiều thời gian. Chúng tôi cần các giải pháp nhanh hơn”, ông Tiesler nói với báo Suddeutsche Zeitung, lưu ý rằng một kế hoạch trú ẩn trên phạm vi toàn quốc dự kiến được công bố vào cuối mùa hè này.
“Gần như mọi tầng hầm đều có thể trở thành nơi an toàn trong trường hợp bị tấn công”, quan chức Đức nói trong một cuộc phỏng vấn riêng với Zeit, khuyến khích người dân gia cố cửa sổ, dự trữ các nhu yếu phẩm và chuẩn bị nơi trú ẩn trong thời gian dài.
Ông Tiesler cho rằng kịch bản xe tăng Nga tiến vào Berlin không thể xảy ra, nhưng cảnh báo với tư cách là một trung tâm hậu cần lớn của NATO, Đức sẽ trở thành mục tiêu của “các cuộc tấn công có chọn lọc” trong trường hợp xảy ra xung đột ở mặt trận phía đông.
Các bệnh viện Đức đang được đánh giá về khả năng điều trị thương vong hàng loạt, khi ông Tiesler cảnh báo hệ thống y tế có thể phải đối mặt với thêm 1.000 bệnh nhân mỗi ngày nếu xung đột xảy ra.
Các kế hoạch khác bao gồm tăng gấp đôi số lượng còi báo động trên toàn quốc, nâng cấp các ứng dụng khẩn cấp để thông báo tình huống tấn công bằng tên lửa và đưa ra yêu cầu về dịch vụ dân sự quốc gia.
Thủ tướng Đức Friedrich Merz vào tháng trước tuyên bố ông có ý định biến quân đội Đức thành “quân đội mạnh nhất” trên lục địa. Bộ trưởng Quốc phòng Boris Pistorius hy vọng sẽ có “sự gia tăng mạnh mẽ” đối với ngân sách quân sự của Đức, lên tới 90 tỷ euro (102 tỷ USD) vào năm 2028.
Cuối năm 2023, Hội đồng Quan hệ Đối ngoại của Đức cảnh báo NATO nên chuẩn bị cho một cuộc chiến tranh lớn với Nga trong vòng 5 đến 9 năm tới.
Moscow nhiều lần bác bỏ tuyên bố rằng Nga có ý định tấn công các nước NATO hoặc EU, gọi đây là cáo buộc “hoàn toàn vô nghĩa”.
Nga cáo buộc phương Tây lợi dụng nỗi lo sợ để biện minh cho việc tăng ngân sách quốc phòng. Các quan chức Nga cũng lên án động thái quân sự hóa của Tây Âu, bày tỏ lo ngại rằng, thay vì ủng hộ các sáng kiến hòa bình do Mỹ lãnh đạo cho cuộc xung đột Ukraine, EU và Anh lại đang chuẩn bị cho cuộc chiến với Nga.
Theo một cuộc khảo sát gần đây, Đức hiện đã thế chỗ Mỹ trở thành quốc gia mà người Nga coi là không thân thiện nhất.
Ngoại trưởng Nga Sergey Lavrov gần đây tuyên bố việc Đức tăng cường quân sự và chuyển giao vũ khí cho Kiev cho thấy “sự tham gia trực tiếp” của Berlin vào cuộc xung đột.
Ông Andrey Kartapolov, Chủ tịch Ủy ban Quốc phòng Duma Quốc gia (Hạ viện) Nga và cựu Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, cảnh báo Moscow có thể cho phép tấn công vào lãnh thổ Đức nếu Ukraine sử dụng tên lửa hành trình Taurus do Berlin cung cấp để tấn công Nga.
Sự kiện Trung Quốc triển khai đồng thời hai tàu sân bay tại Thái Bình Dương không chỉ là một cuộc diễn tập quân sự – đó là lời tuyên bố địa chiến lược bằng thép và sóng.
Tàu sân bay Sơn Đông (trên) và Liêu Ninh của Trung Quốc – Ảnh của hãng KYODO – Nhật Bản
Ngày 10/6/2025, Nhật Bản xác nhận lần đầu tiên trong lịch sử, Trung Quốc đồng thời triển khai hai tàu sân bay – Liêu Ninh và Sơn Đông – hoạt động ở khu vực Tây Thái Bình Dương. Tàu Sơn Đông cùng nhóm tác chiến hộ tống xuất hiện gần đảo Okinotori (cách Tokyo khoảng 1.700 km về phía Nam) bên trong vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Nhật Bản; còn tàu Liêu Ninh xuất hiện gần đảo Minamitorishima (cách Tokyo khoảng 1.900 km). Diễn biến này ngay lập tức thu hút sự chú ý của dư luận quốc tế, không chỉ bởi quy mô quân sự mà còn vì thông điệp chính trị sâu xa: Trung Quốc không còn giấu giếm tham vọng trở thành một siêu cường đại dương, sánh vai – và thách thức – với Hoa Kỳ.
Nếu trong thế kỷ XX, nước Mỹ dùng hạm đội để “vẽ lại bản đồ ảnh hưởng toàn cầu”, thì giờ đây, Trung Quốc cũng đang dùng thép và radar để “viết lại ngôn ngữ sức mạnh” trên đại dương. Hai tàu sân bay không chỉ chở theo máy bay – chúng chở theo ý chí lịch sử, giấc mộng phục hưng và một thách thức hiện hữu đối với trật tự hiện tại.
Trong hơn ba thập niên, học thuyết quân sự của Trung Quốc gắn với khái niệm “phòng thủ cận duyên”, tức tập trung bảo vệ vùng biển ven bờ và Biển Đông. Nhưng cùng với sự lớn mạnh của nền kinh tế và tham vọng địa chính trị, Trung Quốc đã dần chuyển hướng sang khái niệm “hải quân biển xanh” – khả năng triển khai lực lượng tác chiến xa bờ, duy trì hiện diện quân sự lâu dài ở các vùng biển xa Tổ quốc.
Liêu Ninh – tàu sân bay đầu tiên của Trung Quốc, được cải hoán từ thiết kế Liên Xô cũ – là bước đi ban đầu còn dè dặt. Sơn Đông – con tàu thứ hai, tự đóng trong nước – là minh chứng Trung Quốc đã dần kiểm soát công nghệ lõi. Và khi cả hai cùng xuất hiện tại Tây Thái Bình Dương, đó không chỉ là việc “tung bài tẩy” mà là thông điệp chiến lược rõ ràng: Bắc Kinh muốn làm chủ sân khấu hàng hải khu vực.
Kể từ sau Thế chiến II, Thái Bình Dương là “ao nhà” của Hải quân Mỹ, nơi các nhóm tác chiến tàu sân bay di chuyển như những pháo đài nổi, duy trì cân bằng an ninh từ Tokyo đến Manila, từ Guam đến Darwin. Sự xuất hiện đồng thời của hai tàu sân bay Trung Quốc là điều chưa từng có, và nó lập tức làm rung chuyển những giả định vốn đã định hình trật tự an ninh khu vực suốt hơn 70 năm.
Dù Trung Quốc khẳng định rằng hành động triển khai này “tuân thủ luật pháp quốc tế” và mang tính “tự vệ hợp pháp”, thì không quốc gia nào trong khu vực – kể cả những nước có quan hệ kinh tế sâu sắc với Bắc Kinh – nhầm lẫn về mục đích thực sự. Đây rõ ràng là một màn phô diễn sức mạnh, một đợt thử nghiệm năng lực phối hợp thực chiến tàu sân bay quy mô lớn, và trên hết, là tín hiệu chính trị gửi thẳng tới Washington, Tokyo và Đài Bắc rằng cán cân hải quân trong khu vực đang bắt đầu thay đổi.
Hình ảnh hai tàu sân bay vươn ra biển sâu có thể được xem như ẩn dụ của “con rồng ngẩng đầu” – Trung Quốc không còn thỏa mãn với vị thế cường quốc lục địa. Họ muốn hiện diện ở nơi vốn là sân chơi của hải quân Mỹ, muốn phá vỡ thế độc quyền của Washington và tạo ra một không gian quyền lực song song.
Sự kiện này diễn ra trong bối cảnh Trung Quốc chuẩn bị đưa vào hoạt động tàu sân bay thứ ba – Phúc Kiến – với thiết kế catapult (máy phóng điện từ) tương đương tàu sân bay Mỹ. Viễn cảnh Trung Quốc có thể duy trì 2 hoặc 3 nhóm tác chiến tàu sân bay trong một thời điểm, với tầm hoạt động vươn ra Ấn Độ Dương, biển Hoa Đông, và cả khu vực gần Hawaii, không còn là giả thuyết.
Khi Trung Quốc “vượt chuỗi đảo thứ nhất” và tiến ra vùng nước sâu hơn, họ cũng buộc các cường quốc khu vực phải điều chỉnh. Nhật Bản tăng ngân sách quốc phòng lên mức kỷ lục. Philippines khôi phục liên minh quân sự với Mỹ. Australia tăng tốc mua tàu ngầm hạt nhân. Đài Loan nâng cấp hệ thống cảnh báo sớm và năng lực chống tiếp cận. Các nước Đông Nam Á như Việt Nam, Indonesia, Malaysia thì thận trọng nhưng cũng bắt đầu âm thầm nâng cấp khí tài.
Đáng lưu ý, sự hiện diện đồng thời của hai nhóm tác chiến tàu sân bay Trung Quốc cũng làm tăng rủi ro tính toán sai lầm. Chỉ cần một tín hiệu radar bị hiểu sai, một lần áp sát nguy hiểm trong không gian hẹp giữa vùng nhận diện phòng không, là có thể dẫn đến một chuỗi leo thang ngoài tầm kiểm soát. Đây không phải là nỗi lo lý thuyết – chính Mỹ đã từng nhiều lần cảnh báo và bày tỏ quan ngại sâu sắc về khả năng xảy ra “va chạm quân sự” với Trung Quốc tại các vùng biển có tranh chấp.
Ngoài ra, việc một siêu cường mới đang âm thầm mở rộng vùng kiểm soát trên biển cũng đặt ra bài toán lâu dài cho an ninh hàng hải. Với hơn 90% hàng hóa toàn cầu được vận chuyển bằng đường biển, bất kỳ động thái nào nhằm thao túng hoặc giám sát tuyến hải trình đều tác động trực tiếp đến thương mại và chuỗi cung ứng toàn cầu. Từ Biển Đông đến Thái Bình Dương, Trung Quốc đang từng bước xây dựng một mạng lưới ảnh hưởng, không chỉ qua tàu sân bay, mà còn qua cảng biển, hạm đội dân binh biển, hệ thống giám sát không gian và các hành lang hải quân “mềm” như dự án Vành đai – Con đường trên biển.
Việc hai tàu sân bay Trung Quốc xuất hiện cùng lúc ở Thái Bình Dương không phải là sự kiện đơn lẻ – nó là chương mở đầu của một chương trình chiến lược lớn hơn. Câu hỏi không còn là “liệu Trung Quốc có trở thành siêu cường đại dương”, mà là khi nào và bằng cách nào họ hiện thực hóa điều đó. Trong khi thế giới đang phân tán bởi nhiều khủng hoảng – Ukraine, Gaza, khủng hoảng năng lượng…, Trung Quốc chọn biển cả làm bàn cờ để âm thầm dịch chuyển những quân cờ chiến lược.
Châu Á – Thái Bình Dương từ lâu vốn là một vùng biển dữ, giờ đây càng thêm dậy sóng. Và mỗi quốc gia ven bờ, dù lớn hay nhỏ, đều sẽ phải điều chỉnh hướng đi của mình, khi “con rồng” đã thật sự ra đại dương.
Ngay cả khi các cường quốc có thể tạo nên một thế giới kết nối với nhau, Washington vẫn có thể không đạt được kết quả họ muốn.
Cuộc đụng độ tại Phòng Bầu dục giữa Tổng thống Mỹ Donald Trump và Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky trước toàn thể giới truyền thông, tuyên bố của Ngoại trưởng Mỹ Marco Rubio rằng Ukraine “không phải là cuộc chiến của chúng tôi,” và sự chấp thuận của Tổng thống Nga Vladimir Putin đối với bất kỳ cuộc sáp nhập Greenland nào của Mỹ đã làm dấy lên đồn đoán về việc liệu Mỹ có đang từ bỏ mô hình “đồng minh và đối tác” đã tồn tại hàng thập kỷ, để chuyển sang áp dụng cách tiếp cận “các vùng ảnh hưởng” trong đại chiến lược của mình hay không. Những tín hiệu này đã được củng cố bởi bài phát biểu gần đây của Trump tại Ả Rập Saudi, trong đó Tổng thống Mỹ bác bỏ những gì ông xem là xu hướng của các đời tổng thống trước – “nhìn sâu vào tâm can các nhà lãnh đạo nước ngoài và dùng chính sách của Mỹ để phán xét những tội lỗi của họ.”
Lời hứa lớn lao của lý thuyết các vùng ảnh hưởng (spheres of influence) là việc giảm thiểu, nếu không muốn nói là loại bỏ hoàn toàn, nguy cơ xảy ra chiến tranh thế giới. Sau khi các cường quốc phân chia thế giới, giới hạn các lợi ích đã nêu của họ, và tôn trọng sân sau của nhau, họ sẽ có ít tranh chấp hơn và ít lý do hơn để tham gia vào xung đột. Chí ít thì đó là những gì người ta vẫn nói.
Lời hứa này không nên bị xem nhẹ. Trong thời đại của vũ khí hạt nhân và siêu thanh, chiến tranh giữa các siêu cường cần được xem là một trong những mối đe dọa sống còn đối với nhân loại. Chúng ta đang sống trong một thế giới nguy hiểm hơn nhiều so với các giai đoạn sau của Chiến tranh Lạnh. Trong vài năm trở lại đây, nguy cơ xung đột trực tiếp giữa Nga và NATO ở Ukraine ngày càng gia tăng, cùng với đó là sự xấu đi trong quan hệ an ninh với Trung Quốc về vấn đề Đài Loan và Biển Đông, chưa kể đến căng thẳng cường quốc gia tăng ở Sahel và Trung Đông. Kiểm soát vũ khí đang bị đe dọa, và sự suy giảm của thế đơn cực chỉ khiến Washington thêm lo lắng. Nếu các vùng ảnh hưởng làm giảm đáng kể khả năng xảy ra chiến tranh thế giới, thì đó chỉ có thể là điều tốt.
Nhưng xét cho cùng, các vùng ảnh hưởng không thể là giải pháp trong thời đại của chúng ta. Washington đang xác định vùng ảnh hưởng của riêng mình một cách quá rộng và sẽ không được Trung Quốc chấp nhận; trong một thế giới kết nối chặt chẽ, việc phân chia địa lý là cực kỳ khó khăn; và các nước phương Nam toàn cầu đã không còn như trước và hoàn toàn có thể chống lại một cấu trúc như vậy theo những cách trực tiếp và gián tiếp.
Các vùng ảnh hưởng là một kiểu sắp đặt thế giới của các cường quốc. Theo truyền thống, nó là sự phân chia lãnh thổ ngầm giữa các cường quốc, đi kèm với một hiểu biết chung về cách để duy trì trật tự và giải quyết bất đồng. (Việc phân chia này là nhằm phân định các khu vực thống trị, chứ không chỉ đơn thuần là ảnh hưởng, nên “vùng kiểm soát” có lẽ là một cái tên chính xác hơn.) Thuật ngữ này lần đầu tiên được sử dụng trong bối cảnh Trò chơi Lớn (Great Game, cuộc đối đầu giữa Đế quốc Anh và Đế quốc Nga vào thế kỷ 19). Năm 1869, nhà ngoại giao Nga Alexander Gorchakov đã trấn an Lord Clarendon, Ngoại trưởng Anh lúc bấy giờ, rằng Afghanistan nằm “hoàn toàn bên ngoài vùng mà Nga có thể được yêu cầu thể hiện ảnh hưởng của mình.” Một loạt các cuộc tham vấn giữa các cường quốc đã bắt đầu với Hội nghị Vienna vào năm 1814-1815, theo sau là Hội nghị Berlin nổi tiếng năm 1884-1885, nhằm phân chia châu Phi giữa các cường quốc châu Âu. Hệ thống hòa hợp quyền lực của các cường quốc này nhằm mục đích đạt được sự cân bằng quyền lực trên châu Âu lục địa, cũng như phân định các khu vực kiểm soát ở những vùng lãnh thổ xa hơn.
Trong bối cảnh hiện tại, chúng ta có thể hình dung ra một kế hoạch phân chia ngầm giữa ba cường quốc – Mỹ, Nga, và Trung Quốc – như sau: Washington sẽ chiếm ưu thế ở châu Mỹ, châu Âu, một số vùng Trung Đông, Nhật Bản, và Australia; Moscow sẽ có ảnh hưởng tại “vùng lân cận” của Nga; và Bắc Kinh có lẽ sẽ thống trị một phần Đông Á và hầu hết Đông Nam Á. Những cách sắp đặt khác cũng có thể hình dung được.
Xin nói rõ, Mỹ không có chính sách vùng ảnh hưởng chính thức nào, và khó có khả năng xuất hiện một tuyên bố như vậy trong tương lai gần, nếu không muốn nói là không bao giờ. Tuy nhiên, có nhiều dấu hiệu cho thấy một đại chiến lược rất khác đang được thử nghiệm so với những thập kỷ đơn cực kể từ khi Chiến tranh Lạnh kết thúc.
Chính quyền Biden đã nỗ lực hết mình để duy trì bá quyền Mỹ. Dù đôi khi họ cũng tán thành một trật tự đa cực, nhưng chính sách trên thực tế của họ là duy trì sự thống trị của Mỹ trên toàn cầu và trong mọi khía cạnh của quyền lực: quân sự, kinh tế, và thể chế. Việc chính quyền mới thừa nhận rõ ràng hơn về trật tự đa cực là khởi đầu đầy hứa hẹn cho việc cải cách chính sách đối ngoại của Mỹ.
Và không chỉ có những lời lẽ rõ ràng hơn, các chính sách của chính quyền Trump cũng thực sự tuân theo quan điểm về một thế giới đa cực. Sự hoài nghi của họ đối với chủ nghĩa đa phương và chủ nghĩa toàn cầu, việc gần như loại bỏ viện trợ nước ngoài, chấp nhận mở rộng lãnh thổ ở Tây Bán cầu, và sẵn sàng nhường sân sau cho Nga đều là những khác biệt lớn so với quá khứ. Sau một cuộc thương chiến ngắn ngủi, Mỹ và Trung Quốc giờ đây đã công bố những gì có vẻ là một thỏa thuận đột phá. Trước đây, chính Trump từng bày tỏ sự hoài nghi về việc bảo vệ Đài Loan và thể hiện sự háo hức về một cuộc mặc cả lớn với Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình. Trump cũng sẵn lòng đàm phán một thỏa thuận cắt giảm vũ khí hạt nhân với Nga và Trung Quốc, trong đó ngân sách quốc phòng của mỗi bên bị cắt giảm một nửa. Và trong khi cựu Tổng thống Joe Biden hành động thận trọng và từ chối tái gia nhập thỏa thuận hạt nhân Iran được đàm phán dưới thời Obama, Trump lại chọn khởi xướng các vòng đàm phán lớn với Tehran – từ đó có thể tránh được nguy cơ chiến tranh Trung Đông và thực sự công nhận Cộng hòa Hồi giáo là một tay chơi trong khu vực
Dù vẫn cho thấy dấu hiệu sẵn sàng thỏa thuận ở những nơi khác, nhưng chính quyền Mỹ đã tập trung đặc biệt vào Tây Bán cầu; Rubio thậm chí còn nói về nó như một “ngôi nhà chung.” Việc công khai bày tỏ mong muốn mua lại Kênh đào Panama, Greenland, và Canada cho thấy Mỹ đang tập trung vào châu Mỹ nhiều hơn so với những thập kỷ trước. Những động thái này ẩn ý về sự trở lại của Học thuyết Monroe và có thể là cả Hệ luận Roosevelt năm 1904, trong đó Washington tự cho mình quyền can thiệp vào châu Mỹ. Ngoài ra, các chính sách thuế quan của Washington dành cho các quốc gia Mỹ Latinh cũng ít khắc nghiệt hơn hầu hết các quốc gia khác – đây có lẽ là cái gật đầu đối với mô hình “Pháo đài Châu Mỹ,” nhằm tạo ra một vị trí tại bàn đàm phán cho các quốc gia Mỹ Latinh và một vùng đệm chống lại sự xâm lấn của Trung Quốc.
Nếu Mỹ giới hạn vùng thống trị chỉ ở sân sau của mình và một nhóm đồng minh và đối tác ở châu Âu và châu Á, thì Nga và Trung Quốc có thể sẽ chấp nhận điều đó. Tuy nhiên, tầm nhìn của Washington lại đang dần mở rộng hơn. Việc Trump “lên lớp” Tổng thống Nam Phi Cyril Ramaphosa tại Phòng Bầu dục với những cáo buộc sai lệch về nạn diệt chủng người da trắng ở Nam Phi là một sự xâm phạm sâu sắc vào chủ quyền của cường quốc hàng đầu châu Phi. Chính quyền Trump cũng đã nhắm vào BRICS, đồng thời quyết định tẩy chay hội nghị thượng đỉnh G-20 sắp tới tại Johannesburg. Và triển vọng kiểm soát các nguồn dự trữ coban có giá trị có lẽ đã giải thích cho sự quan tâm đột ngột của người Mỹ đối với việc hòa giải ngoại giao tại Cộng hòa Dân chủ Congo.
Gần đây nhất, Mỹ đã gây sức ép buộc nhiều nước trên thế giới loại Trung Quốc khỏi nền kinh tế của họ bằng cách sử dụng chính sách thuế quan của mình như một công cụ. Chuyến đi gần đây của Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Pete Hegseth tới Philippines và Nhật Bản cho thấy sự tiếp nối trọng tâm của chính quyền Biden là chống lại Trung Quốc ngay tại sân nhà của Bắc Kinh. Manila hiện là một nút thắt ngày càng quan trọng trong chiến lược đó, vốn cũng gồm một trọng tâm là Đài Loan. Cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng, tuyên bố của Washington về quyền khai thác các nguồn tài nguyên đáy biển có giá trị ở vùng biển quốc tế – một việc làm vi phạm chuẩn mực quốc tế – cho thấy rằng Mỹ đang tìm cách tăng cường sự thống trị của mình đối với các tài sản chung toàn cầu.
Rõ ràng, vùng ảnh hưởng mà Mỹ mong muốn trải rộng khắp nơi, vượt xa Tây Bán cầu và các liên minh cốt lõi của riêng họ. Điều chúng ta đang chứng kiến có thể không phải là nỗ lực phân chia thế giới một cách cân bằng giữa các cường quốc, mà là các nhượng bộ có giới hạn về địa lý và các lĩnh vực khác đối với Nga (và có lẽ cả Trung Quốc, như được thể hiện qua những nhượng bộ trong thỏa thuận thương mại gần đây) – tất cả đều nhằm mục đích mở rộng quyền kiểm soát của Mỹ đối với các khoáng sản, chuỗi cung ứng, và khu vực địa lý quan trọng trên khắp phương Nam toàn cầu, cũng như củng cố quyền thống trị đối với các tài sản chung toàn cầu.
Liệu Moscow và Bắc Kinh có chịu chấp nhận một kịch bản như vậy hay không? Nếu doanh số bán năng lượng và quốc phòng của Nga phần lớn không bị ảnh hưởng, và đạt được sự đồng thuận với Washington về Bắc Cực, thì Nga có thể sẽ khá hài lòng. Xét cho cùng, Moscow là cường quốc yếu nhất trong ba cường quốc hàng đầu, với năng lực an ninh hạn chế. Nhưng Trung Quốc đã nổi lên như một đối thủ ngang tầm với Mỹ trên hầu hết mọi lĩnh vực. Bắc Kinh hiện là một đối thủ có tầm ảnh hưởng thực sự toàn cầu về thương mại, đầu tư, công nghệ, và chuỗi cung ứng. Nhờ sự trỗi dậy nhanh chóng, phạm vi lợi ích an ninh của Trung Quốc cũng ngày một lớn hơn. Bắc Kinh từ lâu đã khó chịu với những nỗ lực của Mỹ nhằm giam hãm nước này trong chuỗi đảo thứ nhất. Nói đơn giản, Trung Quốc khó có thể chấp nhận một vùng ảnh hưởng được ấn định chỉ giới hạn ở vùng biển ven bờ của mình.
Cuộc cạnh tranh giữa các siêu cường được Mỹ công khai ủng hộ trong nhiệm kỳ đầu tiên của Trump cũng đã an ninh hóa thương mại và đầu tư toàn cầu, qua đó đánh dấu sự bác bỏ luận thuyết “thế giới phẳng” của thập niên 1990 – thời kỳ hoàng kim của kỷ nguyên đơn cực. Được nhà phân tích địa chính trị Thomas L. Friedman cùng nhiều người khác ủng hộ, lý thuyết này cho rằng sự di chuyển không bị cản trở của hàng hóa, con người, và ý tưởng sẽ ngày càng trở thành tương lai của chúng ta. Biên giới sẽ trở nên dễ xuyên thủng, kinh tế sẽ được thúc đẩy bởi sự chênh lệch giá, an ninh sẽ được tập thể hóa, và các cuộc can thiệp quân sự của phương Tây sẽ chủ yếu mang tính nhân đạo. Thế nhưng, sự trả thù của địa chính trị, được khởi xướng vào năm 2017 với nhiệm kỳ tổng thống đầu tiên của Trump, đã chứng minh rằng thế giới này gồ ghề hơn là bằng phẳng. Địa lý, cùng với chủ nghĩa dân tộc và chủ quyền, hóa ra lại có ý nghĩa vô cùng quan trọng.
Nhưng sẽ là một sai lầm nếu chúng ta bù đắp quá mức cho những sai lầm của luận thuyết thế giới phẳng bằng cách chấp nhận quan điểm ngược lại – rằng các quốc gia hùng mạnh có thể định hình lại sự phụ thuộc lẫn nhau theo ý muốn của họ, và với chi phí thấp. Thương mại, đầu tư, và chuỗi cung ứng đã được toàn cầu hóa triệt để trong thế kỷ 21 đến mức khó có thể hình dung một sự tách biệt gọn gàng, ngay cả bởi cuộc chiến thuế quan hiện tại. Khi nói đến các nguồn tài nguyên và sản phẩm quan trọng, không một quốc gia nào có thể tự cung tự cấp.
Việc tháo gỡ, định hình lại, và ổn định các chuỗi cung ứng mới theo các tuyến đường được ưa chuộng về mặt địa chính trị có thể mất nhiều năm, thậm chí nhiều chục năm, để hiện thực hóa, với cái giá phải trả là tình trạng khan hiếm và lạm phát đáng kể. Và nhiều chuỗi cung ứng này cũng chạy qua các nước phương Nam toàn cầu, nơi đã thay đổi đáng kể trong những thập kỷ gần đây.
Dự án các vùng ảnh hưởng của thế kỷ 19 đã được hình thành mà bỏ qua phần lớn các quốc gia phương Nam toàn cầu khi đó vẫn là thuộc địa, những nước thực tế không có tiếng nói đối với cách các cường quốc thời đó quyết định vận mệnh của những dân tộc khác nhau. Tuy nhiên, “hệ thống hòa hợp quyền lực” giữa các cường quốc đương đại nhằm phân chia thế giới sẽ vấp phải sự phản đối gay gắt từ một loạt các quốc gia đang phát triển trải dài từ Thành phố Mexico đến Manila. Và sự khác biệt là, ngày nay, một số quốc gia trong nhóm này có thể làm được gì đó để chống lại.
Hơn năm thập kỷ sau khi phi thực dân hóa, các cường quốc tầm trung của phương Nam toàn cầu vô cùng tự hào về quyền tự chủ mà họ khó khăn lắm mới giành được. Họ đã trở nên khôn ngoan hơn nhờ quá trình xã hội hóa do toàn cầu hóa tạo ra. Phần lớn họ hiện cũng có tầm ảnh hưởng lớn trong khu vực. Họ không đủ sức mạnh để sắp xếp lại thế giới theo ý muốn của mình. Nhưng họ có cách để làm phức tạp dự án các vùng ảnh hưởng. Và rất có thể nhiều quốc gia trong số này, dù phải đối mặt với những trở ngại ngắn hạn do sự thay đổi chiến lược của Washington, sẽ trở nên kiên cường hơn trong dài hạn.
Trong ngắn hạn, có thể thấy rõ rằng những thay đổi ở Washington là tin xấu đối với phương Nam toàn cầu, ngay cả đối với những khu vực năng động nhất của nó. Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) có thể mất một phần tư mức tăng trưởng dự kiến trong vài năm tới do các rào cản thương mại mới của Mỹ. Các quốc gia được cho là kém phát triển nhất, hầu hết nằm ở châu Phi, có thể phải chịu các cuộc khủng hoảng nhân đạo và bất ổn lớn hơn.
Ngoài mặt, các quốc gia phương Nam toàn cầu, từ Mexico đến Việt Nam, đã phản ứng với việc Mỹ quay lưng lại với chủ nghĩa toàn cầu trên cơ sở cá nhân, chứ không phải tập thể. Nhưng việc các phái đoàn chính phủ đổ xô đến Washington không phải là dấu hiệu của sự đầu hàng, mà là của chủ nghĩa thực dụng vốn có của phương Nam toàn cầu mới. Các quốc gia này chỉ đơn thuần muốn hạn chế thiệt hại từ chủ nghĩa bảo hộ mới.
Mặt khác, thế giới cũng đã chuẩn bị tốt hơn để vượt qua cuộc nổi loạn thương mại của Washington so với hồi thập niên 1990; trật tự thương mại thế giới đã và đang tiếp tục trở nên đa cực. Ví dụ, tỷ lệ xuất khẩu của ASEAN sang Mỹ đã giảm đều đặn kể từ năm 2000, từ khoảng 24% xuống dưới 15% hiện nay. Ở châu Phi, Mỹ chỉ chiếm một phần nhỏ trong kim ngạch xuất khẩu khi so sánh với nhập khẩu của châu lục này.
Washington hiện đã bị xem là một đối tác không đáng tin cậy, và hệ quả là các tính toán chi phí-lợi ích dài hạn của các quốc gia phương Nam toàn cầu đã thay đổi hoàn toàn. Sự không đáng tin cậy và biến động sẽ tự nhiên thúc đẩy các chiến lược đa dạng hóa. Sự hấp dẫn của các cực kinh tế mới – ASEAN, Ấn Độ, Thổ Nhĩ Kỳ, và các quốc gia vùng Vịnh, cùng nhiều quốc gia khác – đã tăng lên đáng kể, trong khi các cường quốc tầm trung đã được xác lập như Liên minh châu Âu, Canada, và Nhật Bản tiếp tục đóng vai trò là nhân tố giúp ổn định hệ thống thương mại toàn cầu.
Các quốc gia phương Nam toàn cầu không ủng hộ một cuộc chiến tranh lạnh mới giữa các cường quốc, hoặc một sự phân chia thế giới thành các vùng ảnh hưởng. Chiến lược phòng bị nước đôi từ lâu đã là phản ứng của họ. Nhưng giờ đây, Washington đang sử dụng công cụ thuế quan để buộc các quốc gia khác phải loại trừ Trung Quốc.
Một phản ứng hợp lý cho bài kiểm tra này là phù thịnh (bandwagoning). Các quốc gia phương Nam toàn cầu có thể chọn Mỹ hoặc Trung Quốc (hoặc trong một vài trường hợp là Nga) làm điểm tựa địa chính trị chính của họ. Nếu phù thịnh trở thành xu hướng mới ở phương Nam toàn cầu, thì đây sẽ là một cú hích cho một thế giới được phân chia thành các vùng ảnh hưởng. Nhưng Washington có thể không phải là bên hưởng lợi ròng. Bất chấp sự cảnh giác của một số quốc gia phương Nam toàn cầu (đặc biệt là ở châu Á) đối với Bắc Kinh, nhiều người trong số họ có thể sẽ đánh giá rằng Trung Quốc là bên ít rủi ro hơn trong hai bên, nếu buộc phải đưa ra lựa chọn. Bắc Kinh hiện đã là một trong những đối tác kinh tế lớn nhất của họ, và giờ đây còn có thể tự xưng là đáng tin cậy hơn Washington.
Cũng có một khả năng hấp dẫn là các quốc gia phương Nam toàn cầu sẽ tránh chọn một cường quốc bảo trợ duy nhất, và thay vào đó, tập trung làm sâu sắc hơn các quan hệ với nhau. Điều này có thể diễn ra dưới hình thức các cấu trúc khu vực mạnh mẽ hơn. Chile và Brazil đang dẫn đầu xu hướng này ở Mỹ Latinh. Nhưng chính ở châu Á, chủ nghĩa khu vực mới thực sự có thể phát triển mạnh mẽ, với ASEAN đã là một ví dụ thành công. Trong những tuần gần đây, ASEAN, Trung Quốc, Nhật Bản, và Hàn Quốc đã tuyên bố tăng cường cơ chế ổn định tài chính khu vực của riêng họ, Sáng kiến Chiang Mai. Philippines, vốn bị đe dọa bởi các cuộc xâm nhập bất hợp pháp của Trung Quốc, vẫn sẽ tiếp tục coi Mỹ là đồng minh cốt lõi của mình. Nhưng Manila đang củng cố quan hệ đối tác an ninh với các cường quốc châu Á khác như một bảo hiểm dài hạn chống lại sự biến động của Mỹ.
Hội nhập xuyên khu vực, hiện còn rất yếu, cũng có thể được thúc đẩy. Khối BRICS đang mở rộng nhanh chóng – một liên minh dựa trên lợi ích giữa Nga, Trung Quốc, và một nhóm các quốc gia phương Nam toàn cầu – có thể là nền tảng cho sự hội nhập này. Sự mở rộng nhanh chóng và sức hút ngày càng tăng của BRICS là một tín hiệu về nhu cầu khắc phục những thất bại nghiêm trọng trong hệ thống quốc tế. BRICS không được thiết kế để trở thành, và sẽ không bao giờ trở thành, một câu lạc bộ an ninh. Nhưng với việc Mỹ bị xem là một đối tác không đáng tin cậy, hợp tác địa chính trị vượt ra ngoài các vấn đề kinh tế hẹp hơn đang nổi lên như một lợi ích chung cho các cường quốc tầm trung thuộc BRICS.
Đúng là các vùng ảnh hưởng đã giúp gìn giữ hòa bình ở châu Âu trong phần lớn thế kỷ 19, nhưng sự sắp đặt này không kéo dài. Khi các quốc gia bắt đầu trỗi dậy, lợi ích của họ cũng mở rộng. Khi một quốc gia mới – Đức – vươn lên và cố gắng trở thành một cường quốc, Anh và Pháp đã không thể chấp nhận điều đó. Các tranh chấp bắt đầu nảy sinh, xoay quanh vấn đề thuộc địa, và trở thành những yếu tố gây mất ổn định lớn. Các thỏa thuận như Hội nghị Berlin đã trì hoãn kết cục tồi tệ, nhưng không được lâu. Và sự sụp đổ của hệ thống hòa hợp quyền lực châu Âu đã giải phóng một cuộc thế chiến kinh hoàng vào năm 1914.
Nếu kiểm soát và phân chia lãnh thổ trở thành thước đo mới của quyền lực và thành công, thì bất kỳ hiểu biết nào từng tồn tại giữa các cường quốc ngày nay đều có thể chỉ tồn tại trong thời gian ngắn. Đối với một số cường quốc tầm trung trong trật tự hiện tại, tham vọng của họ đương nhiên sẽ mở rộng khi họ trỗi dậy. Một số thậm chí có thể mong muốn có các vùng kiểm soát của riêng mình. Lời hứa về hòa bình trong một thế giới của các vùng ảnh hưởng cuối cùng có thể chỉ là một ảo ảnh.
Đài Loan hôm nay 6.6 cáo buộc Trung Quốc làm gia tăng căng thẳng trong khu vực bằng cuộc tuần tra quân sự ‘khiêu khích’ có sự tham gia của máy bay chiến đấu và tàu chiến gần hòn đảo này, theo Reuters.
Cơ quan Phòng vệ Đài Loan thông báo bắt đầu từ giữa chiều nay 6.6, cơ quan này đã phát hiện 21 máy bay quân sự của Trung Quốc, trong đó có cả máy bay chiến đấu J-16, hoạt động cùng với tàu chiến để thực hiện “cái gọi là các cuộc tuần tra sẵn sàng chiến đấu chung” và “quấy rối không phận và vùng biển xung quanh chúng tôi”, theo Reuters.
Cơ quan Phòng vệ Đài Loan cho rằng “những hành động này mang tính khiêu khích cao, gây lo lắng và đe dọa cho khu vực, và trắng trợn làm suy yếu hiện trạng trong khu vực”.
Cơ quan Phòng vệ Đài Loan thường xuyên đưa tin về các “cuộc tuần tra chiến đấu” của Trung Quốc, nhưng thường không đính kèm cáo buộc như thế vào các tuyên bố của cơ quan này.
Bộ Quốc phòng Trung Quốc chưa bình luận về các tuyên bố trên, theo Reuters.
Ông Trump – ông Tập điện đàm về thương mại, chưa có đột phá
Cuộc tuần tra nói trên diễn ra một ngày sau khi Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình và Tổng thống Mỹ Donald Trump nói chuyện qua điện thoại. Trong cuộc điện đàm đó, ông Tập nói với ông Trump rằng Mỹ phải “xử lý vấn đề Đài Loan một cách thận trọng”, theo Reuters dẫn lại bản ghi chép cuộc gọi của chính phủ Trung Quốc.
Lãnh đạo Đài Loan Lại Thanh Đức đã nói rằng chỉ có người dân Đài Loan mới có thể quyết định tương lai của họ và chính quyền Đài Loan quyết tâm tăng chi tiêu phòng thủ và củng cố lực lượng phòng vệ.
Dự kiến vào ngày 8.6, ông Lại sẽ tham dự cuộc diễn tập của lực lượng tuần duyên Đài Loan tại thành phố Cao Hùng. Các tàu của lực lượng tuần duyên Đài Loan sẽ được đưa vào tác chiến trong trường hợp xảy ra xung đột với Trung Quốc, theo Reuters.
Bão từ hay còn gọi là bão Mặt trời có thể gây gián đoạn nhẹ đến thông tin vô tuyến và liên lạc vệ tinh, với khả năng mất liên lạc vô tuyến trong vài giờ.
Bão Mặt trời ảnh hưởng không nhỏ đến Trái đất.
Bão từ (bão Mặt trời) đang tấn công Trái đất
Một cơn bão Mặt Trời khổng lồ đã tác động đến Trái Đất cuối tuần qua và hiện đang gia tăng cường độ, với khả năng gây ra mất sóng radio và tạo áp lực lớn lên lưới điện.
Theo cơ quan Quản lý Khí quyển và Đại dương Quốc gia Mỹ (NOAA), hoạt động bão Mặt Trời sẽ tiếp diễn trong vài ngày tới, gây ra một cơn bão từ cấp độ G3, trong thang đo thời tiết không gian dùng để theo dõi mức độ nghiêm trọng của bão từ khi va chạm với Trái Đất, dao động từ G1 (nhẹ) đến G5 (cực kỳ mạnh).
NOAA thông tin, cơn bão G3 có thể gây gián đoạn nhẹ đến thông tin vô tuyến và liên lạc vệ tinh, với khả năng mất liên lạc vô tuyến trong vài giờ. Thông báo cũng cảnh báo rằng GPS có thể ngừng hoạt động ở một số khu vực.
“Tốc độ của cơn bão hiện rất nhanh, nhưng cường độ từ trường vẫn đang ở mức trung bình. Có khả năng đạt đến mức G3 hoặc G4 trong giai đoạn đầu này”, Tiến sĩ Tamitha Skov, nhà vật lý thời tiết không gian độc lập, đã đăng trên X. “Một phần mạnh hơn của cơn bão có thể đến sau”.
Bão từ là sự rối loạn tạm thời trong từ trường Trái Đất do dòng hạt tích điện phóng ra từ tầng ngoài cùng của Mặt Trời gây ra. Các khu vực Trung Tây và Đông Bắc nước Mỹ có thể xảy ra gián đoạn hệ thống điện như báo động giả và hệ thống bị tắt tự động, dẫn đến mất điện trên diện rộng. Cơn bão mạnh này cũng được dự báo sẽ tạo ra những dải cực quang tuyệt đẹp trải dài khắp 13 bang của Mỹ vào tối ngày 2/6 và 3/6.
Trong lịch sử, sự kiện Carrington (1859) được biết đến là siêu bão Mặt Trời mạnh nhất được ghi nhận, với năng lượng tương đương 10 tỷ quả bom hạt nhân. Nó gây ra hiện tượng cực quang có thể nhìn thấy ở vùng nhiệt đới, làm hệ thống điện báo toàn cầu bị tê liệt.
Không chỉ lưới điện bị ảnh hưởng, mà các tuyến đường sắt và đường ống cũng bị tê liệt, gây gián đoạn lớn trong hoạt động giao thông và khiến giá nhiên liệu tăng vọt.
Các vệ tinh trên quỹ đạo thấp (như vệ tinh GPS, viễn thông, và thời tiết) có thể bị hỏng do các hạt năng lượng cao từ bão Mặt Trời. Điều này sẽ làm gián đoạn hệ thống định vị GPS, thông tin liên lạc qua điện thoại và internet, và dự báo thời tiết
Sự gián đoạn của GPS và Internet sẽ ảnh hưởng đến các giao dịch tài chính (như chuyển khoản ngân hàng, giao dịch chứng khoán) và hệ thống điều khiển không lưu, gây ra hỗn loạn trong ngành hàng không. Các hệ thống quản lý giao thông (như đèn giao thông, đường sắt) cũng có thể bị ảnh hưởng, dẫn đến nguy cơ tai nạn.
Công nghệ ghi nhận bão từ ở Việt Nam
Chuyên gia thiên văn học Đặng Vũ Tuấn Sơn, Chủ tịch Hội Thiên văn và Vũ trụ học Việt Nam giải thích, bão từ trên thực tế là sự bùng nổ bất thường của các hạt mang điện phóng ra từ Mặt Trời, một hiện tượng được gọi chính xác là sự phun trào nhật hoa (CME). Những dòng hạt mang điện từ Mặt Trời thường ngày vẫn liên tục phóng vào không gian và va chạm với Trái Đất. Dòng hạt mang điện đó được gọi là gió Mặt Trời.
Còn bão từ, hay sự phun trào nhật hoa trên thực tế là sự tăng cường độ đột ngột của gió Mặt Trời do hoạt động bất thường ở một khu vực nào đó trên Mặt Trời với sự xuất hiện của những quầng lửa hoặc các vết đen.
Những vụ bùng nổ hoạt động ở một số khu vực của Mặt Trời thường gây ra những hiệu ứng từ ảnh hưởng tới sinh hoạt của con người ở Trái Đất. Thường thì những vụ phun trào nhật hoa nhỏ, thường dẫn tới những hiệu ứng chúng ta gọi là bão từ hay bão Mặt Trời chỉ gây ảnh hưởng ở mức độ thấp, chẳng hạn như làm gián đoạn sóng truyền hình, radio, điện thoại… có ảnh hưởng tới sức khỏe của con người nhưng mức độ không đáng ngại.
PGS.TS Hà Duyên Châu – nguyên Viện trưởng Viện Vật lý Địa cầu, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, cho hay bão Mặt Trời (còn gọi bão từ) là sự biến thiên mạnh của từ trường Trái Đất.
Khi Mặt Trời hoạt động mạnh, những vết đen xuất hiện trên bề mặt của nó. Từ các vết đen này xảy ra các vụ bùng nổ sắc cầu Mặt Trời, phóng vào vũ trụ sinh ra các chùm plasma (gọi là chùm sắc cầu plasma Mặt Trời).
Chúng bao gồm những phần tử trung hòa về điện, sẽ tác động đến Trái Đất, bao trùm toàn bộ Trái Đất và làm xáo trộn hệ thống từ trường. Tuy gọi là bão nhưng nó tồn tại vô hình, mắt thường không thể nhận biết và chỉ gây ra những tác động cụ thể.
PGS.TS Nguyễn Xuân Anh, Viện trưởng Viện Các khoa học Trái đất cho biết, Việt Nam hiện có hệ thống bốn đài địa từ để ghi biến thiên từ, bão từ cũng như phục vụ công tác nghiên cứu và dự báo bão. Bốn đài này được đặt ở Phú Thụy (Gia Lâm, Hà Nội), Sa Pa (Lào Cai), Đà Lạt (Lâm Đồng) và Bạc Liêu (tỉnh Bạc Liêu).
Tuy nhiên, hiện chỉ có 2 đài ở Phú Thụy và Đà Lạt có khả năng truyền trực tiếp dữ liệu về Viện Vật lý địa cầu cũng như đi quốc tế. Ở Việt Nam, mới chỉ thực hiện nhiệm vụ quan sát liên tục trường từ của Trái Đất và dự báo dài hạn (khoảng 30 ngày). Việc nghiên cứu dự báo bão từ ngắn hạn (khoảng 30 phút/ngày) chưa thực hiện được do chưa đủ thiết bị và số liệu.
Viện Vật lý địa cầu đang có kế hoạch nâng cấp các đài, trạm thu thập số liệu địa từ, điện ly bằng các thiết bị hiện đại ghi từ hiện số nhằm nâng cao chất lượng nghiên cứu trường địa từ và dự báo bão từ.
Tàu tấn công đổ bộ USS Tripoli của Mỹ đang trên đường đến Nhật Bản để thay thế tàu USS America trên vai trò soái hạm của nhóm tàu đổ bộ duy nhất được Hải quân Mỹ triển khai tiền phương.
Tàu tấn công đổ bộ USS Tripoli đã rời cảng nhà ở San Diego (bang California, Mỹ) để đến căn cứ hải quân Sasebo thuộc tỉnh Nagasaki (Nhật Bản). Khi đến nơi, USS Tripoli sẽ đảm nhiệm vai trò soái hạm cho Nhóm tàu đổ bộ số 11, theo Stars and Stripes hôm 5.6 dẫn thông cáo báo chí của Hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ (trụ sở Hawaii).
Nhóm tàu đổ bộ số 11 thường xuyên phối hợp với Lực lượng viễn chinh thủy quân lục chiến số 31 đóng tại Okinawa (Nhật Bản) cho các sứ mệnh ở khu vực.
Trong thời gian dưới quyền của soái hạm USS America, nhóm tàu bao gồm tàu đổ bộ USS Rushmore và các tàu vận tải đổ bộ USS San Diego, USS New Orleans.
Chỉ huy tàu USS Tripoli là đại tá Eddie Park cho biết thủy thủy đoàn từ năm ngoái đã bắt đầu chuẩn bị cho nhiệm vụ triển khai đến Nhật Bản. Việc luân chuyển soái hạm của Nhóm tàu đổ bộ số 11 được thông báo ngày 14.2 nhưng lúc đó chưa có lịch cụ thể vì lý do an ninh.
Trong khi đó, tàu USS America, đóng tại căn cứ hải quân Sasebo từ tháng 12.2019, sẽ quay trở lại cảng nhà ở San Diego.
Các tàu lớp America như USS Tripoli và USS America đều có thiết kế như một tàu sân bay nhỏ, thường mang theo tiêm kích tàng hình F-35B Lightning II, trực thăng cánh quạt nghiêng MV-22 Osprey và trực thăng MH-60S Knighthawk.
Mỹ, đồng minh quan ngại về hành động của Trung Quốc
Tính đến ngày 1.6, tàu USS Tripoli ở vùng biển phía đông Thái Bình Dương, trong khi USS America vẫn hoạt động tại Biển Philippines hôm 3.6.
Được biên chế năm 2020, USS Tripoli là tàu tấn công đổ bộ thứ hai thuộc lớp America, sau tàu USS America biên chế năm 2014. Hai tàu kế tiếp của lớp này lần lượt là USS Bougainville và USS Fallujah vẫn trong giai đoạn đóng mới ở xưởng tàu Ingalls.
Vẫn chưa rõ liệu USS Tripoli và USS America sẽ có cơ hội diễn tập chung ở tây Thái Bình Dương trước khi quay về cảng nhà hay không.
Trong khi đang triển khai dự án đào kênh Phù Nam Techo, Campuchia tiếp tục nghiên cứu một tuyến kênh mới dẫn nước từ thượng lưu sông Mê Kông.
Tờ Khmer Times ngày 4.6 dẫn lời Thủ tướng Campuchia Hun Manet xác nhận rằng chính phủ nước này đang nghiên cứu tính khả thi của việc đào một con kênh nối thượng lưu sông Mê Kông với hồ Tonle Sap.
“Tôi đã chỉ đạo Bộ Tài nguyên nước và Khí tượng phối hợp với chính phủ Hàn Quốc thông qua KOICA (Cơ quan Hợp tác quốc tế Hàn Quốc) về nghiên cứu tính khả thi của việc xây dựng tuyến kênh từ thượng lưu sông Mê Kông ở Stung Sen, và sau đó nối đến hồ Tonle Sap”, ông phát biểu tại cuộc họp Quốc hội hôm 3.6.
“Mục tiêu là nhằm đảm bảo cân bằng về nước trong lĩnh vực nông nghiệp và hỗ trợ giao thông”, ông nói thêm.
Theo nhà lãnh đạo, trong tương lai, có thể nối dài tuyến kênh này từ hồ Tonle Sap đến khu vực gần Poipet, thúc đẩy hơn nữa hạ tầng giao thông.
“Nếu kênh đào Phù Nam Techo được xây dựng, hệ thống giao thông đường thủy của chúng ta sẽ trở nên quan trọng hơn nữa”, ông nhấn mạnh.
Campuchia nói dự án kênh đào Phù Nam Techo đúng tiến độ, chuẩn bị giai đoạn 2
Ông cho rằng vào giai đoạn này, điều quan trọng là tiến hành các nghiên cứu về kỹ thuật và môi trường để đánh giá tính khả thi của việc kết nối thượng lưu sông Mê Kông ở tỉnh Stung Treng đến khu vực Stung Sen, với khoảng cách gần 70 km.
Nếu thành công, dự án sẽ giúp cân bằng phân phối nước giữa sông Mê Kông và hồ Tonle Sap, trong khi củng cố hệ thống tưới tiêu của quốc gia.
Theo Bộ trưởng Tài nguyên nước và Khí tượng Thor Chetha, Campuchia hiện có hơn 2.000 hệ thống thủy lợi quy mô nhỏ, vừa và lớn trải dài khoảng 70.000 km.
Campuchia còn có 8 hồ chứa lớn với dung tích từ 20 triệu đến 400 triệu m3, chưa kể hơn 1.600 hồ chứa nhỏ. Tổng cộng các hệ thống này lưu trữ khoảng 4.000 tỉ m3 nước, chưa bao gồm lượng nước từ sông Mê Kông và hồ Tonle Sap.
Các nguồn tài nguyên này không chỉ phục vụ cho nông nghiệp mà còn nhiều lĩnh vực khác như công nghiệp, nước sạch và xây dựng.
Sự hiện diện dày đặc và bất thường của lực lượng Trung Quốc tại nhiều vùng biển nhạy cảm đang thách thức trật tự khu vực và đẩy Biển Đông đến gần hơn với nguy cơ xung đột.
Tàu hộ vệ Trung Quốc trong một cuộc tập trận vào tháng 5 vừa qua.
Theo thông tin từ ba quan chức an ninh khu vực được Reuters dẫn lại ngày 28.5.2025, vào các ngày 21 và 27.5, Trung Quốc lần lượt triển khai gần 60 và hơn 70 tàu ở các khu vực tranh chấp, trong đó khoảng 75% là tàu hải quân, bao gồm cả tàu khu trục mang tên lửa dẫn đường và khinh hạm. Đáng chú ý, cả hai nhóm tàu sân bay – Sơn Đông và Liêu Ninh – đều xuất hiện đồng thời ở Biển Đông và ngoài khơi Đài Loan. Theo giới phân tích quốc tế, việc triển khai lực lượng ở cả bốn mặt trận biển cùng lúc, với quy mô chưa từng có, cho thấy đây là một bước đi có tính toán, phục vụ chiến lược dài hạn chứ không đơn thuần là phản ứng ngắn hạn với một sự kiện cụ thể.
Động thái triển khai hạm đội bất thường này không chỉ làm gia tăng căng thẳng trong khu vực, mà còn tạo ra hiệu ứng dây chuyền về mặt chiến lược và ngoại giao, trong đó, Nhật Bản lập tức điều động lực lượng giám sát nhóm tàu Liêu Ninh khi đi qua các đảo phía nam nước này. Hoa Kỳ, thông qua phát biểu tại Đối thoại Shangri-La 22 vừa qua ở Singapore, đã khẳng định rằng “nguy cơ hành động phiêu lưu từ Trung Quốc có thể đến sớm hơn dự đoán” và kêu gọi các quốc gia đồng minh tăng cường ngân sách quốc phòng, đồng thời tái cam kết duy trì tự do hàng hải trong khu vực. Những phản ứng này phản ánh sự gia tăng mức độ nghiêm trọng của tình hình, không chỉ trên phương diện quân sự mà còn cả trong tính toán chiến lược dài hạn của các cường quốc.
Theo các nhà quan sát, việc Trung Quốc đồng thời sử dụng lực lượng hải quân, hải cảnh và dân quân biển ở nhiều điểm nóng cho thấy nước này đang đẩy mạnh chiến lược “kiểm soát vùng xám” – một phương thức gây áp lực mà không tạo ra chiến tranh toàn diện. Trong mô hình này, Bắc Kinh vừa sử dụng các tàu hải cảnh bán vũ trang để gây áp lực với các nước láng giềng, vừa triển khai các tàu hải quân hiện đại ở vị trí hậu thuẫn nhằm răn đe, sẵn sàng can thiệp nếu có đối đầu nghiêm trọng. Việc các tàu sân bay như Sơn Đông và Liêu Ninh cùng xuất hiện tại vùng biển gần Đài Loan và Biển Đông không chỉ là một lời cảnh báo quân sự, mà còn là động tác phô trương sức mạnh, nhằm làm giảm ý chí phản kháng của các quốc gia tranh chấp.
Từ góc độ chiến lược, theo giới phân tích quốc tế, đây là biểu hiện rõ rệt nhất trong nhiều năm qua về việc Bắc Kinh chủ động tạo ra “trạng thái mới” ở Biển Đông và các vùng biển lân cận. Trạng thái này nhằm mục tiêu thiết lập sự hiện diện thường trực, làm mờ ranh giới giữa thời bình và thời chiến, biến vùng tranh chấp thành khu vực “dưới sự quản lý thực tế của Trung Quốc”. Nếu không bị phản ứng kịp thời, hiện trạng mới do Trung Quốc dựng lên có thể dần trở thành điều bình thường hóa trong nhận thức quốc tế.
Biển Đông, trong hoàn cảnh này, trở thành trung tâm của các chiến lược đan xen. Về mặt địa chính trị, khu vực này là nơi kết nối giữa Đông Á và Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, là tuyến hàng hải huyết mạch cho thương mại toàn cầu. Về mặt quân sự, nó là sân khấu để các cường quốc thử phản ứng của nhau. Về mặt pháp lý và ngoại giao, Biển Đông là nơi tranh cãi dai dẳng giữa yêu sách “đường chín đoạn” phi pháp của Trung Quốc với Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển (UNCLOS) năm 1982. Theo các nhà quan sát, Trung Quốc hiểu rõ tầm quan trọng chiến lược của vùng biển này, và đang tận dụng mọi cơ hội để mở rộng kiểm soát thực địa.
Việt Nam là một trong những quốc gia bị ảnh hưởng trực tiếp từ các hành động leo thang này. Trong những năm gần đây, Trung Quốc liên tục điều tàu khảo sát, tàu hải cảnh và tàu dân quân biển vào vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, đặc biệt là tại khu vực bãi Tư Chính. Mỗi lần xuất hiện như vậy thường kéo dài nhiều tuần, có sự hộ tống của tàu hải quân ở tầm xa. Những tín hiệu từ tháng 5.2025 cho thấy Bắc Kinh đang gia tăng tần suất và quy mô của hoạt động này, đồng thời kéo thêm các tàu lớn, tàu hộ vệ tên lửa, tạo nên sức ép chưa từng thấy.
Trước áp lực ấy, Việt Nam buộc phải vừa duy trì nguyên tắc độc lập, tự chủ trong đối ngoại, vừa tăng cường phối hợp với các đối tác an ninh trong khu vực. Việc mở rộng hợp tác an ninh với Nhật Bản, Ấn Độ, Úc và các nước ASEAN là một phần trong nỗ lực xây dựng khả năng răn đe linh hoạt và phi đối đầu. Tuy nhiên, theo giới phân tích quốc tế, một mình Việt Nam sẽ rất khó chống đỡ lâu dài nếu không có liên kết chiến lược sâu rộng hơn trong khu vực. Đặc biệt, vai trò trung gian của ASEAN hiện nay đang bị thử thách nghiêm trọng khi một số quốc gia thành viên, nhất là Lào và Campuchia, nghiêng về Trung Quốc hoặc né tránh vấn đề Biển Đông.
Trung Quốc đang đặt toàn khu vực vào thế đối đầu chiến lược có kiểm soát, nhưng tiềm ẩn nguy cơ mất kiểm soát. Một cuộc va chạm bất ngờ giữa các tàu quân sự, một hành động quyết liệt vượt giới hạn, hoặc thậm chí một tính toán sai lầm nhỏ từ bất kỳ bên nào cũng có thể dẫn đến sự leo thang vượt ngoài ý muốn. Trong bối cảnh đó, những tuyên bố hòa bình sẽ trở nên vô nghĩa nếu không đi kèm hành động cụ thể: tăng cường hiện diện hợp pháp, duy trì minh bạch thông tin, và củng cố luật lệ quốc tế làm nền tảng điều chỉnh hành vi.
Việc Trung Quốc triển khai hạm đội lớn bất thường trong tháng 5.2025 không thể xem như một sự kiện nhất thời. Nó là chỉ dấu của một chiến lược đã được tính toán kỹ lưỡng: vẽ lại trật tự biển bằng thực sức mạnh cơ bắp, đồng thời là phép thử đối với quyết tâm của các quốc gia khác, nhất là những nước nhỏ, liên quan tranh chấp Biển Đông như Việt Nam, Philippines, Malaysia, Indonesia. Càng nhượng bộ, càng làm ngơ, thì bước tiến của Trung Quốc sẽ càng sâu và xa hơn nữa. Bài học từ các tiền lệ như Scarborough chứng minh điều đó.
Những chuyển dịch cục bộ tại một số khu vực đang có xu hướng từ trạng thái hợp tác sang đối đầu. Sự leo thang quân sự tại châu Âu, sự bất định từ Mỹ và sự thiếu vắng đối thoại thực chất giữa các cường quốc… đó là vấn đề nổi lên trong Đối thoại Shangri-La lần thứ 22.
Đối thoại đã kết thúc hôm 2/6 và để lại dư âm khá căng thẳng. Thay vì những cái bắt tay xiết chặt là những gương mặt đăm chiêu, những cái lắc đầu bí hiểm. Tại phiên khai mạc Đối thoại, Tổng thống Pháp Emmanuel Macron đã khái quát: Thế giới đang đứng trước nguy cơ bước vào một kỷ nguyên cạnh tranh toàn diện và thiếu kiểm soát nếu các cơ chế đối thoại không được duy trì.
Không thể chần chừ, ông Macron kêu gọi xây dựng một “mối quan hệ đặc biệt mới” giữa Liên minh châu Âu và các quốc gia châu Á tại khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Cũng trong diễn từ của mình, Tổng thống Pháp đã không còn nhấn mạnh đến cuộc chiến Nga-Ukraine đang bế tắc trong đàm phán hòa bình. Ông đặc biệt lưu ý những vấn đề đáng quan ngại, đó là gia tăng căng thẳng trên biển, công nghệ quốc phòng mới (như AI và drone quân sự), cùng với các nguy cơ về phổ biến hạt nhân.
Nguy cơ một cuộc chiến tranh nóng là có thật chứ không phải là “báo động giả”. Tại các phiên thảo luận toàn thể, các lãnh đạo 47 quốc gia đã nêu lên những vấn đề nóng: Tham vọng mới của Mỹ cho an ninh Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương; bảo đảm sự ổn định trong một thế giới cạnh tranh; những thách thức phòng thủ an ninh mạng, dưới biển và ngoài không gian; hợp tác an ninh hàng hải ở châu Á – Thái Bình Dương, đối tác an ninh toàn cầu của Trung Quốc,v.v..
Về sự tranh chấp Biển Đông, các diễn giả không ngần ngại chỉ ra rằng, đây vẫn là điểm nóng nhất trong khu vực. Các vụ va chạm giữa lực lượng hải cảnh Trung Quốc và tàu dân sự Philippines trong quý I/2025 vẫn chưa chấm dứt. Thêm vào đó là các hành động vi phạm pháp luật quốc tế của Trung Quốc. Đó là việc cải tạo và quân sự hóa thêm các thực thể tại Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam. Từ đầu năm 2025, hình ảnh vệ tinh cho thấy, Trung Quốc tiếp tục mở rộng đường băng, nhà chứa máy bay và hệ thống radar tại đá Chữ Thập, đá Vành Khăn và đá Subi. Đó việc Bắc Kinh ban hành lệnh cấm đánh bắt cá trái phép (áp dụng từ 1/5 đến 16/8/2025).
Trong các phiên thảo luận chủ đề được bàn cãi nhiều nhất là: Cạnh tranh chiến lược Mỹ-Trung và những thách thức an ninh. Mỹ không hề giấu diếm những tham vọng mới về chiến lược Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương tự do và rộng mở. Còn Bộ trưởng Trung Quốc lại tìm cách vắng mặt tại Đối thoại. Lo ngại về sự đứt gãy kênh đối thoại song phương quân sự có thể dẫn đến nguy cơ xung đột là điều đáng quan tâm.
Có thể nói điều lo lắng mà các đại biểu mang về là: Những chuyển dịch cục bộ tại một số khu vực như những đám mây đen trên bầu trời hòa bình. Xu hướng từ trạng thái hợp tác sang đối đầu; sự leo thang quân sự tại châu Âu, sự bất định từ Mỹ và sự thiếu vắng đối thoại thực chất giữa các cường quốc đặt ra yêu cầu bức thiết đối với ASEAN, phải tìm mọi cách giữ vai trò trung gian trong đối thoại.
Đây là thách thức đáng kể đối với ASEAN và Việt Nam trong việc duy trì cân bằng giữa lợi ích quốc gia với động thái ngoại giao với các cường quốc. Sự hiện diện mạnh mẽ của các cường quốc và sự quan tâm đến khu vực khiến Đông Nam Á tiếp tục giữ vị trí chiến lược trong trục cạnh tranh toàn cầu. Có điều nội bộ ASEAN đang bị chia rẽ, trong khi các sáng kiến an ninh ngoài khối ngày càng lấn át. Căng thẳng biên giới giữa Campuchia và Thái Lan bùng phát sau vụ đụng độ gần Chong Bok, khiến quan hệ hai nước trở nên phức tạp. Vấn đề Biển Đông vẫn là tâm điểm tranh cãi, với việc các nước liên quan tăng cường quân sự hóa trên biển.
Để vượt qua những thách thức này, ASEAN cần tăng cường hơn nữa tinh thần đoàn kết nội bộ. Cần phải xây dựng cơ chế vận hành theo nhóm quốc gia láng giềng với nhau nhằm thúc đẩy hợp tác đa phương và khẳng định vai trò cơ chế quan trọng nhất trong việc định hình cấu trúc an ninh khu vực.
Có vẻ như Việt Nam đã chuẩn bị sẵn sàng. Ba yêu cầu chiến lược đặt ra đối với quốc gia này là: Một, củng cố đoàn kết nội khối ASEAN để bảo vệ vai trò trung tâm, giữ vững lập trường và năng lực tự vệ ở Biển Đông trước các hành vi làm phức tạp thêm tình hình của các thế lực bên ngoài; hai, cân bằng quan hệ với các cường quốc trong khi vẫn duy trì chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ; ba, tận dụng các cơ hội hợp tác quốc phòng song phương để tăng cường khả năng phòng thủ mà không bị cuốn vào liên minh quân sự.
Trong khi các cường quốc vẫn xoay quanh những toan tính răn đe và kiềm chế lẫn nhau, thì các quốc gia tầm trung cần nhận thức rõ vị thế vai trò của mình trong việc kiến tạo một trật tự khu vực dựa trên luật lệ, tôn trọng chủ quyền, thúc đẩy đối thoại thực chất.
Trong thế trận chiến lược hiện nay, sức mạnh không còn chỉ nằm ở việc đứng về bên nào, mà là làm sao để giữ được vị thế riêng, bảo vệ chủ quyền, phát triển kinh tế, và đóng góp vào hòa bình khu vực. Thời nay “cá lớn” không dễ nuốt “cá bé”. Việt Nam và các nước tầm trung hoàn toàn có thể chủ động tạo ra “dư địa chiến lược” riêng cho mình, miễn là biết mình ở đâu, muốn gì và phải làm gì để đạt được điều đó.
Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Pete Hegseth khẳng định sẽ không để các đồng minh ở Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương đơn độc đối mặt với áp lực quân sự và kinh tế ngày càng tăng từ Trung Quốc.
Ông Hegseth chỉ trích Trung Quốc
Theo báo Independent, ngày 31-5, phát biểu lần đầu tiên tại Diễn đàn an ninh Đối thoại Shangri-La ở Singapore, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Pete Hegseth cho biết Washington sẽ tăng cường năng lực phòng thủ ở nước ngoài, để đối phó với những gì mà Lầu Năm Góc coi là mối đe dọa đang phát triển nhanh chóng từ Trung Quốc, đặc biệt là về vấn đề Đài Loan.
Ông cho rằng quân đội Trung Quốc “đang diễn tập cho một tình huống thực sự”: “Chúng tôi sẽ không tô hồng sự việc này. Mối đe dọa từ Trung Quốc là có thật, và nó có thể sắp xảy ra”.
Theo Hãng tin Reuters, đây là một trong những phát biểu mạnh mẽ nhất của ông Hegseth về Trung Quốc kể từ khi đảm nhận ghế bộ trưởng Quốc phòng Mỹ.
Ông cho rằng Trung Quốc giờ đây không chỉ củng cố lực lượng để tái thống nhất Đài Loan, mà còn “tập luyện cho điều đó hằng ngày”.
Trung Quốc đã nhiều lần nhấn mạnh mục tiêu và không loại trừ sử dụng vũ lực để tái thống nhất đảo Đài Loan.
Các động thái quân sự của Trung Quốc ở Biển Đông cùng với việc phát triển năng lực siêu vượt âm và không gian tiên tiến, theo Independent, đã buộc Mỹ phải thúc đẩy xây dựng hệ thống phòng thủ tên lửa không gian “Vòm vàng” (Golden Dome).
Ông Hegseth cũng chỉ trích Bắc Kinh và tham vọng ở khu vực Mỹ Latin, nhất là những nỗ lực gia tăng ảnh hưởng với kênh đào Panama.
Thúc giục châu Á tăng chi tiêu quốc phòng
Ông nhắc lại cam kết của các chính quyền Mỹ tiền nhiệm về việc tăng cường năng lực quân sự của nước này trong khu vực, nhằm tạo ra khả năng răn đe mạnh mẽ hơn.
Dù cả chính quyền cựu tổng thống Barack Obama và Joe Biden đều từng cam kết xoay trục về Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, nhưng nguồn lực quân sự của Mỹ ở khu vực thường xuyên được rút sang Trung Đông và châu Âu do căng thẳng từ chiến sự ở Ukraine và Gaza. Trong những tháng đầu nhiệm kỳ thứ hai của ông Trump, tình hình này vẫn tiếp diễn.
Các nước trong khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương lâu nay vẫn nỗ lực cân bằng mối quan hệ với cả Mỹ và Trung Quốc.
Ông Hegseth cảnh báo việc tìm cách bắt tay với cả hai bên, vừa trông chờ Mỹ hỗ trợ quân sự vừa mong Trung Quốc hỗ trợ kinh tế, sẽ mang lại rủi ro.
Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ cũng có ý đề cập đến việc Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Đổng Quân không đến tham dự sự kiện Đối thoại Shangri-La năm nay: “Chúng tôi có mặt ở đây sáng nay, còn ai đó thì không”.
Ông cũng kêu gọi các quốc gia trong khu vực tăng ngân sách quốc phòng lên tương đương 5% GDP – mức mà các nước châu Âu hiện đang bị yêu cầu phải đáp ứng.
Bộ trưởng Hegseth cũng khẳng định rằng việc Mỹ cam kết hỗ trợ các quốc gia Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương sẽ không kèm theo bất kỳ điều kiện chính phủ các nước phải điều chỉnh chính sách văn hóa hay môi trường theo phương Tây.
Tàu khu trục Lhasa, lớp Type 055, vừa được nâng tầm bắn lên gấp 20 lần thông qua việc tích hợp tàu với máy bay cảnh báo sớm, từ đó cho phép tên lửa hành trình siêu thanh YJ-18 và tên lửa bội siêu thanh YJ-21 trang bị theo tàu đạt tầm bắn tối đa.
Hải quân Trung Quốc (PLAN) đã mở rộng đáng kể tầm bắn của lớp tàu chiến tối tân nhất hiện nay của nước này là tàu chiến Type 055, theo South China Morning Post hôm 29.5. Điều đó cho phép tàu khu trục Lhasa đã có thể xử lý các mục tiêu trên biển và trên không ở tầm bắn trước đây không thể đạt được với hệ thống cảm biến lắp theo tàu.
Còn theo CCTV, tàu khu trục Lhasa có thể tiếp nhận dữ liệu mục tiêu thời gian thực từ các nền tảng máy bay cảnh báo sớm khi tham gia các chiến dịch trên thực tế.
Đột phá trên cho phép các tàu khu trục Trung Quốc triển khai các cuộc tấn công chính xác tầm xa mà không chỉ dựa vào hệ thống radar theo tàu.
Trong cuộc diễn tập bắn đạn thật gần đây của Chiến khu Bắc bộ Trung Quốc, tàu khu trục Lhasa đã nhắm bắn các mục tiêu nhờ vào dữ liệu truyền từ máy bay cảnh báo sớm và trực thăng.
Sự tích hợp này đã tăng mạnh tầm bắn chủ động của tàu. Trong các điều kiện bình thường, tầm phủ radar của một tàu nổi bị giới hạn trong phạm vi từ 48-64 km, đặc biệt đối với những mục tiêu tầm thấp như tên lửa lướt trên mặt biển.
Tuy nhiên, máy bay cảnh báo sớm, do hoạt động trên cao, có thể phát hiện những mối đe dọa ở khoảng cách vượt ngưỡng 400 – 480 km và truyền dữ liệu vị trí mục tiêu thông qua các liên kết được bảo mật về tàu.
Việc tích hợp máy bay cảnh báo sớm với tàu chiến Type 055 có thể nâng tầm tấn công của tàu chiến gấp 15-20 lần.
Trung Quốc khoe UAV ‘tàu sân bay’ đầu tiên trên thế giới
Sự nâng cấp trên đóng vai trò quan trọng để giải phóng tiềm năng tối đa của các vũ khí theo tàu. Tàu khu trục Lhasa được trang bị tên lửa hành trình siêu thanh YJ-18 (467-531 km) và tên lửa bội siêu thanh YJ-21 (hơn 960 km).
Nếu không có dữ liệu nạp từ nền tảng ngoài, tầm bắn của hai dòng tên lửa trên bị giới hạn đáng kể.
Bộ Ngoại giao Philippines phủ nhận tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc đối với nhiều thực thể thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam, nhấn mạnh Bắc Kinh không có quyền can thiệp vào những hoạt động hợp pháp tại đây.
Theo Hãng tin Reuters, ngày 29-5, Bộ Ngoại giao Philippines lên tiếng đáp trả việc Đại sứ quán Trung Quốc tại nước này tuyên bố chủ quyền của Bắc Kinh đối với quần đảo Trường Sa.
Người phát ngôn bộ này, bà Teresita Daza, khẳng định Manila “phủ nhận và phản đối” tuyên bố trên của cơ quan ngoại giao Bắc Kinh, đồng thời kêu gọi Trung Quốc tôn trọng chủ quyền của Philippines.
Bà Daza nhấn mạnh: “Chúng tôi yêu cầu Trung Quốc tôn trọng chủ quyền và quyền tài phán của Philippines, ngay cả khi chúng tôi tiếp tục theo đuổi các biện pháp hòa bình và hợp pháp để giải quyết những bất đồng cũng như tình hình trên biển”.
Phát ngôn trên được đưa ra vài ngày sau vụ đụng độ giữa tàu của hai nước trên vùng biển tranh chấp thuộc Biển Đông.
Khi ấy, Manila tố tàu hải cảnh Trung Quốc xịt vòi rồng và va quẹt vào một tàu dân sự của nước này đang tiến hành nghiên cứu biển quanh rạn san hô trong khu vực tranh chấp. Cục Thủy sản Philippines khẳng định hành động trên đã đe dọa tính mạng của thủy thủ đoàn.
Ở chiều ngược lại, hải cảnh Trung Quốc khẳng định hai tàu của Philippines đã xâm nhập trái phép vào vùng biển gần đá Subi, hòn đảo nhân tạo do Trung Quốc bồi đắp trái phép, đồng thời tổ chức cho người lên khu vực Sandy Cay.
Ngày 26-5, Đại sứ quán Trung Quốc phát thông báo khẳng định Philippines đã thực hiện 27 “cuộc đổ bộ không phép” lên các thực thể trên từ tháng 1 đến nay, bất chấp thỏa thuận hạn chế làm điều này được các nước Đông Nam Á ký kết với Trung Quốc hồi năm 2002.
Về vấn đề này, bà Daza khẳng định: “Philippines rõ ràng có quyền thực hiện các hoạt động hàng hải và nghiên cứu khoa học định kỳ trên và xung quanh những thực thể này, và sẽ tiếp tục làm như vậy. Trung Quốc không có quyền phản đối hay can thiệp vào những hoạt động hợp pháp và định kỳ này”.
Hiện phía Trung Quốc chưa bình luận những phát biểu mới nhất của bà Daza.
Đá Hoài Ân, đá Tri Lễ và đá Cái Vung là ba thực thể gần nhau, được gọi chung trong tiếng Anh là Sandy Cay. Ba thực thể này nằm trong cụm Thị Tứ của quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam.
Ba thực thể này nằm gần đá Subi, thực thể Trung Quốc ngang nhiên cải tạo với diện tích lớn thứ hai trong số các thực thể nhân tạo mà Bắc Kinh bồi đắp trái phép ở Trường Sa.
Đồng thời khu vực này cũng gần đảo Thị Tứ – hòn đảo thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam nhưng bị Philippines kiểm soát trái phép. Thời gian gần đây, khu vực này là điểm nóng đối đầu mới giữa Trung Quốc và Philippines.
Trước những hoạt động của Trung Quốc và Philippines tại khu vực trên trong thời gian gần đây, ngày 3-5 người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Phạm Thu Hằng khẳng định: “Như đã nhiều lần khẳng định, Việt Nam có đầy đủ cơ sở pháp lý và bằng chứng lịch sử khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Trường Sa phù hợp luật pháp quốc tế cũng như chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán đối với các vùng biển được xác lập phù hợp với Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982.
Việc các bên liên quan cho người lên thực thể thuộc chủ quyền của Việt Nam mà không được sự cho phép của Việt Nam là hành vi xâm phạm chủ quyền của Việt Nam, làm phức tạp thêm tình hình, đi ngược lại Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), cũng như nỗ lực của các nước trong đàm phán Bộ quy tắc ứng xử của các bên ở Biển Đông (COC) hiện nay”.
Viện Nghiên cứu Chiến lược quốc tế (IISS, Anh) vừa công bố một báo cáo cho rằng hành động quân sự của quân đội Trung Quốc với Đài Loan ‘không có khả năng xảy ra trong tương lai gần’ nhưng ‘không phải là không thể’.
Chiến đấu cơ cất cánh từ một tàu sân bay Trung Quốc trong cuộc tập trận ở phía đông Đài Loan vào tháng 4
Báo cáo nói trên của IISS, mang tên Đánh giá An ninh Khu vực châu Á-Thái Bình Dương, được công bố hôm nay 28.5, trước khi Đối thoại Shangri-La, hội nghị quốc phòng thường niên hàng đầu của châu Á được tổ chức tại Singapore và do IISS đồng tổ chức, dự kiến diễn ra từ ngày 30.5-1.6.
Trong báo cáo, IISS cho rằng một cuộc tấn công của quân đội Trung Quốc (PLA) vào Đài Loan “không có khả năng xảy ra trong tương lai gần” nhưng “không phải là không thể”, xét đến những rủi ro về nhận thức sai lầm và giao tiếp sai với Mỹ dưới thời Tổng thống Donald Trump, theo tờ South China Morning Post.
Theo báo cáo, căng thẳng giữa Washington và Bắc Kinh về các vấn đề như thương mại, công nghệ và Đài Loan đang định hình không khí của một mối quan hệ vốn có “sự ngờ vực” và thiếu cơ chế đối thoại.
Báo cáo lưu ý một số cải tiến về mặt chiến thuật trong chính quyền Mỹ thời cựu Tổng thống Joe Biden, chẳng hạn như việc nối lại đối thoại quân sự và một thỏa thuận không đưa trí tuệ nhân tạo vào quá trình ra quyết định về hạt nhân, nhưng cảnh báo rằng những điều này khó có thể làm thay đổi đáng kể định hướng chiến lược của hai nước trong nhiệm kỳ hai của Tổng thống Trump.
“Nhiệm kỳ đầu tiên của ông Trump (2017-2021) chứng kiến việc Mỹ đưa ra chiến lược Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đầu tiên vào năm 2017, làm rõ rằng khu vực này đã trở thành ưu tiên của Washington. Trọng tâm của chiến lược này là sự thừa nhận rằng hoạt động mang tính ép buộc và ảnh hưởng của Trung Quốc đã làm suy yếu lợi ích của Mỹ và các quốc gia ở châu Á – Thái Bình Dương”, IISS viết trong báo cáo mới.
IISS viết tiếp: “Một mối quan ngại đáng kể của Mỹ là sự thiếu minh bạch xung quanh các nỗ lực hiện đại hóa quân sự một cách nhanh chóng của Trung Quốc, được cho là bao gồm việc mở rộng nhanh chóng kho vũ khí hạt nhân của nước này, cùng với việc tập trung vào sự kết hợp quân sự-dân sự và các công nghệ lưỡng dụng mới”.
Cũng theo báo cáo, mối quan hệ song phương đã trở nên căng thẳng hơn do các đánh giá tình báo của Mỹ cho rằng Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình đã ra lệnh cho PLA sẵn sàng tiếp quản Đài Loan vào năm 2027, cũng như tốc độ và quy mô ngày càng tăng của các cuộc tập trận do PLA tiến hành xung quanh eo biển Đài Loan, báo hiệu một chiến lược “lát cắt salami” tiềm tàng hướng tới việc thống nhất Đài Loan.
Trong khi đó, Bắc Kinh coi sự hỗ trợ quân sự của Washington dành cho Đài Loan cũng như các đối tác và đồng minh trong khu vực là bằng chứng của “chiến lược kiềm chế nhằm ngăn chặn sự trẻ hóa và sự trỗi dậy chính đáng của Trung Quốc”, theo báo cáo của IISS.
“Nguy cơ hiểu lầm và giao tiếp sai lệch còn tăng thêm do thực tế là các cơ chế liên lạc quân sự và ngoại giao giữa Mỹ và Trung Quốc còn hạn chế về số lượng và chưa được sử dụng đầy đủ. Với thái độ né tránh rủi ro lâu nay ở cả hai bên, một cuộc chiến quy mô lớn với Trung Quốc về Đài Loan là không thể xảy ra trong tương lai gần, nhưng không phải là không thể”, IISS nhận định trong báo cáo.
IISS cho rằng những nhân vật chủ chốt trong chính quyền Trump và Lầu Năm Góc sẽ tiếp tục coi trọng châu Á-Thái Bình Dương hơn các khu vực khác, và Mỹ sẽ vẫn bận tâm với Trung Quốc như một đối thủ ngang hàng trên các lĩnh vực chính sách, bất kể mối quan hệ song phương có tan băng tạm thời hay không.
“Câu hỏi chính trong vài năm tới sẽ là: Mỹ và Trung Quốc sẽ có bao nhiêu phạm vi cho các động thái chiến thuật nếu cả hai đều tăng gấp đôi các mục tiêu chiến lược của mình và Đài Loan có bị rơi vào tầm ngắm không?”, báo cáo viết.
Hiện chưa có thông tin về phản ứng của các bên liên quan đối với báo cáo mới của IISS.
Nhật Bản hôm 27.5 cáo buộc Trung Quốc tiến hành nghiên cứu khoa học biển mà không thông báo trước trong vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Nhật Bản quanh đảo cực nam của nước này ở Thái Bình Dương.
Lực lượng Tuần duyên Nhật Bản hôm 26.5 phát hiện một tàu khảo sát biển của Trung Quốc “kéo dài thứ dường như là một sợi dây vào vùng biển thuộc vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Nhật Bản, cách đảo san hô Okinotori 270 km về phía đông”, theo AFP dẫn lời Chánh văn phòng Nội các Nhật Bản Yoshimasa Hayashi hôm nay.
“Do hoạt động nghiên cứu khoa học biển của tàu này chưa nhận được sự đồng ý của Nhật Bản, lực lượng tuần duyên đã yêu cầu dừng hoạt động này và chúng tôi đã gửi phản đối tới phía Trung Quốc thông qua kênh ngoại giao”, ông Hayashi cho hay. Ông khẳng định tàu Trung Quốc đã rời khỏi EEZ của Nhật Bản vào khoảng 22 giờ 45 ngày 26.5.
Theo luật pháp quốc tế, một quốc gia ven biển có quyền quản lý tài nguyên thiên nhiên và các hoạt động kinh tế khác trong vùng đặc quyền kinh tế của mình, nằm trong phạm vi 200 hải lý hay 370 km tính từ bờ biển của quốc gia đó. Muốn tiến hành nghiên cứu khoa học vì mục đích phi kinh tế trong vùng đặc quyền kinh tế của quốc gia khác, tàu thuyền nước ngoài cần phải có sự đồng ý trước từ quốc gia đó.
Tuy nhiên, Trung Quốc cho rằng yêu sách của Nhật Bản là không hợp lệ vì Okinotori, cách Tokyo khoảng 1.700 km về phía nam, chỉ là bãi đá chứ không phải là một hòn đảo. Do đó, theo Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển, không thể coi đây là một thực thể mà Nhật Bản có thể thiết lập vùng đặc quyền kinh tế của mình, theo lập luận của Bắc Kinh. Hiện chưa có thông tin về phản ứng của Bắc Kinh đối với cáo buộc trên.
Trong những năm gần đây, Nhật Bản đã đầu tư hàng triệu USD vào việc trồng san hô xung quanh đảo san hô Okinotori nhằm ngăn chặn tình trạng xói mòn do biển gây ra, theo AFP.
Trong công bố ngày 8/5, SK Earthon đây là lần thứ hai chỉ trong vòng 3 tháng mà công ty tìm thấy dầu ở Việt Nam, sau lần tìm kiếm thành công ở lô 15-2/17 hồi tháng 1 năm nay.
SK Earthon, nhánh về thăm dò và khai thác dầu khí thuộc chaebol SK của Hàn Quốc, và Murphy Oil của Mỹ, vừa công bố tìm thấy dầu ở giếng Lạc Đà Hồng -1X gần lô 15-1/05 ngoài khơi Việt Nam.
SK Earthon đã tham gia vào việc phát triển lô 15-1/05 từ năm 2007, hiện đang nắm giữ 25% cổ phần tại lô này. Murphy Oil của Mỹ nắm giữ 40%, trong khi PVEP (Tổng công ty Thăm dò Khai thác Dầu khí Việt Nam) sở hữu 35% còn lại. Sau đó, SK Earthon tham gia vào các Lô 15-1/05, 15-2/17 và 16-2.
Trong công bố ngày 8/5, SK Earthon đây là lần thứ hai chỉ trong vòng 3 tháng mà công ty tìm thấy dầu ở Việt Nam, sau lần tìm kiếm thành công ở lô 15-2/17 hồi tháng 1 năm nay.
Trong khi đó, Murphy Oil công bố dầu thô được tìm thấy tại giếng Lạc Đà Hồng, nằm trong bể Cửu Long, ngoài khơi Việt Nam. Murphy Oil cho biết dầu thô khai thác được là loại dầu chất lượng cao, với sản lượng thử nghiệm đạt 2.500 thùng mỗi ngày.
Theo Murphy Oil, hoạt động khoan thăm dò tại giếng Lạc Đà Hồng đã phát hiện một cột dầu dày 32 mét ở độ sâu khoảng 4.100 mét. Cấu trúc này chỉ cách mỏ Lạc Đà Vàng khoảng 5 km. SK Earthon, Murphy Oil, và phía Việt Nam đang có kế hoạch khai thác dầu từ mở Lạc Đà Vàng trong năm nay.
Tính toán của Murphy Oil cho thấy giếng Lạc Đà Hồng có thể khai thác 30-60 triệu thùng dầu. Tuy nhiên, Murphy Oil nói rằng việc khai thác từ giếng Lạc Đà Hồng và đón dòng dầu đầu tiên (first oil) có thể phải chờ tới cuối thập kỷ này.