![]()
Views: 0
![]()
Views: 0
Tranh chấp chủ quyền tại Biển Đông là một trong những vấn đề địa chính trị phức tạp và căng thẳng nhất tại khu vực Đông Nam Á, đặc biệt liên quan đến các tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc và các quốc gia khác như Việt Nam, Philippines, Malaysia, Brunei, và Đài Loan.

Bối cảnh Biển Đông có tầm quan trọng chiến lược về kinh tế và quân sự, với vị trí nằm trên tuyến đường hàng hải quốc tế nhộn nhịp, nơi ước tính khoảng 30% thương mại toàn cầu đi qua. Khu vực này cũng được cho là giàu tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là dầu mỏ, khí đốt và nguồn hải sản phong phú. Trung Quốc tuyên bố chủ quyền trên hầu hết Biển Đông dựa trên cái gọi là “đường chín đoạn” (hay còn gọi là đường lưỡi bò), một khu vực rộng lớn chiếm khoảng 80% diện tích Biển Đông. Tuy nhiên, các tuyên bố này không được quốc tế công nhận và đã bị Tòa án Trọng tài Quốc tế tại The Hague bác bỏ trong phán quyết năm 2016, sau khi Philippines khởi kiện. Tòa án khẳng định rằng yêu sách của Trung Quốc không có cơ sở pháp lý theo Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển (UNCLOS) năm 1982. Tình hình căng thẳng gần đây Trong những năm gần đây, Trung Quốc đã gia tăng các hoạt động quân sự và xây dựng đảo nhân tạo tại quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, hai khu vực tranh chấp gay gắt với nhiều quốc gia, trong đó Việt Nam có tuyên bố chủ quyền mạnh mẽ. Trung Quốc đã thiết lập căn cứ quân sự, sân bay và các cơ sở hạ tầng trên các đảo nhân tạo này, tăng cường khả năng kiểm soát khu vực. Các hành động này đã dẫn đến nhiều vụ việc căng thẳng. Điển hình, vào tháng 8 năm 2023, Trung Quốc đã điều tàu khảo sát Hải Dương 8 và tàu hải cảnh vào vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Việt Nam, gây ra sự phản đối từ phía Việt Nam. Tương tự, Philippines cũng liên tục lên tiếng chỉ trích Trung Quốc về các vụ đối đầu tại bãi cạn Scarborough và quần đảo Trường Sa. Ngoài ra, Hoa Kỳ và nhiều quốc gia phương Tây khác, trong đó có Nhật Bản và Australia, cũng tham gia vào vấn đề Biển Đông thông qua các hoạt động tự do hàng hải (FONOPs) để thách thức các yêu sách chủ quyền quá đáng của Trung Quốc. Điều này khiến khu vực Biển Đông trở thành một điểm nóng chiến lược toàn cầu, nơi giao thoa giữa lợi ích của các siêu cường. Giải pháp và thách thức Mặc dù đã có nhiều nỗ lực ngoại giao để giảm căng thẳng, như việc ASEAN và Trung Quốc đang đàm phán về Bộ Quy tắc Ứng xử ở Biển Đông (COC), tiến trình này diễn ra chậm chạp. Các quốc gia trong khu vực tiếp tục phải đối mặt với sự leo thang quân sự và các hành vi cưỡng ép từ Trung Quốc. Việc giải quyết tranh chấp Biển Đông đòi hỏi một giải pháp hòa bình, dựa trên luật pháp quốc tế và sự hợp tác giữa các bên liên quan. Tuy nhiên, với những động thái gia tăng căng thẳng gần đây của Trung Quốc, triển vọng về một giải pháp bền vững vẫn còn mờ mịt.
NDN
![]()
Views: 0
Từ sau khi Iran tấn công Israel bằng một loạt tên lửa vào ngày 1/10, một cuộc xung đột tiềm tàng giữa hai quốc gia này đã gây ra nỗi sợ hãi trên các thị trường năng lượng.

Kịch bản tồi tệ nhất có thể hình dung được là việc Israel tấn công trả đũa vào các cơ sở hạt nhân hoặc cơ sở hạ tầng dầu mỏ của Iran. Một cuộc tấn công nhằm vào cơ sở hạ tầng dầu mỏ Iran sẽ đánh sập các hoạt động xuất khẩu dầu mỏ của nước này, một nguồn tài chính quan trọng đối với Tehran. Cuộc tấn công trả đũa tiềm tàng của Iran có thể ảnh hưởng nghiêm trọng tới sản lượng dầu khí tại các nước láng giềng, giáng một đòn nghiêm trọng hơn nhiều vào thị trường năng lượng toàn cầu. Xuất khẩu dầu mỏ của Saudi Arabia, Kuwait và Iraq được vận chuyển từ các cảng Vịnh Persia và đi qua Eo biển Hormuz dễ bị ngăn chặn. Qatar, cũng là bên trung gian trong cuộc xung đột ở Gaza, nằm hoàn toàn trong Vịnh Persia và là một trong những quốc gia xuất khẩu khí đốt tự nhiên hóa lỏng lớn nhất thế giới.
Tình hình leo thang nghiêm trọng sẽ đặt tất cả vào tình thế rủi ro. Giá dầu và khí đốt cao hơn ảnh hưởng đến người tiêu dùng trên toàn thế giới, không chỉ những người nhập khẩu dầu từ khu vực xung đột. Đã xuất hiện nhiều lo lắng khi phản ứng mạnh mẽ của Israel lên đến đỉnh điểm trong ngày 7/10 – thời điểm kỷ niệm 1 năm Hamas tấn công Israel, khi giá dầu thô tăng vọt hơn 10%, lên hơn 80 USD/thùng. Giá dầu cũng đã giảm phần nào kể từ thời điểm đó. Trong trường hợp xấu nhất, giá dầu sẽ tăng vọt lên hơn 100 USD/thùng và gây ra một cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Những lo ngại này đã khiến Mỹ – đồng minh thân cận nhất của Israel – kêu gọi một “phản ứng hợp lý”, tức là không nhằm vào cơ sở hạ tầng năng lượng hoặc hạt nhân của Iran. Những lời kêu gọi này có thể một phần xuất phát từ mong muốn duy trì giá xăng ở mức thấp ngay trước thềm cuộc bầu cử tổng thống Mỹ vào ngày 5/11 tới.
Hiện nay, Tehran dường như đã hành động một cách thận trọng. Iran tuyên bố đã nhắm vào 3 căn cứ quân sự, còn Israel khẳng định có thể ngăn chặn hầu hết các tên lửa mà hầu như không gây ra thương vong. Trong bối cảnh nền kinh tế Iran tiếp tục hỗn loạn, nước này đã xoay xở để gia tăng sản lượng và xuất khẩu dầu. Sản lượng dầu trong năm 2022 của Iran là 2,5 triệu thùng/ngày, và đã tăng lên 3,2 triệu thùng/ngày vào tháng 8/2024. Sản lượng gia tăng này đang được bán cho Trung Quốc thông qua Malaysia để tránh các lệnh trừng phạt. Malaysia sản xuất chưa đầy 350.000 thùng dầu/ngày, nhưng xuất khẩu tới 1,5 triệu thùng dầu/ngày sang Trung Quốc. Đó chính là dầu của Iran, được vận chuyển lén lút đến Malaysia để các thương nhân tái xuất dầu cho các nhà máy lọc dầu Trung Quốc.
Việc phục hồi xuất khẩu dầu có thể là lý do khiến Iran tương đối kiềm chế. Một đòn giáng vào nguồn tài chính trọng yếu này có thể dồn Iran vào thế bí, buộc nước này phải ngăn chặn hoạt động sản xuất và buôn bán dầu ở Vịnh Persia.
Tình hình leo thang như vậy cũng đặt ra vấn đề đối với Ấn Độ, quốc gia nhập khẩu hơn 80% nhu cầu dầu của mình. Ấn Độ là quốc gia có mức độ tiêu dùng lớn, và giá dầu cao hơn có nghĩa là mức chi tiêu trong nước sẽ bị ít đi. Mức tăng 25 USD/thùng đồng nghĩa với mức tăng thêm 35 tỷ USD, hoặc 1% Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) mà Ấn Độ phải trả cho năng lượng. Phần lớn cơ sở hạ tầng giao thông của nước này chạy bằng dầu diesel và giá dầu cao hơn sẽ dẫn đến lạm phát toàn diện cao hơn. Giá lương thực chịu ảnh hưởng bởi giá năng lượng cao vì khí đốt tự nhiên là đầu vào trong sản xuất phân đạm ure. Một cuộc xung đột lớn ở Vịnh Persia sẽ có tác động thậm chí còn lớn hơn cả xung đột Ukraine năm 2022, vốn đã ảnh hưởng nặng nề đến nhiều quốc gia đang phát triển.
Một rắc rối khác đặt ra đối với Ấn Độ chính là các quốc gia láng giềng Nam Á của nước này – Bangladesh, Pakistan, Sri Lanka và Maldives – đều đang phải đối mặt với khủng hoảng kinh tế. Các quốc gia trên dễ bị tổn thương hơn Ấn Độ trước tình trạng giá năng lượng và lương thực gia tăng đột biến, và xung đột ở Tây Á sẽ ảnh hưởng đến những nước này sớm hơn và nặng nề hơn so với Ấn Độ. Ấn Độ đã can thiệp với sự hỗ trợ khẩn cấp cho Sri Lanka và Maldives lần lượt trong các năm 2022 và 2024. Liệu Bangladesh sẽ là nước tiếp theo? Khó khăn kinh tế là một trong những động lực thúc đẩy những thay đổi chế độ gần đây và tình trạng bạo lực sau đó, và tình hình tài chính của Dhaka thậm chí còn tệ hơn trước. Một cuộc khủng hoảng tài chính có thể trở thành một cuộc khủng hoảng nhân đạo. Nếu Bangladesh trông chờ vào sự cứu trợ của Ấn Độ, trong bối cảnh một cuộc khủng hoảng Tây Á toàn diện, thì đây có thể là một thảm họa./.
BND tổng hợp
![]()
Views: 0
Không quyết liệt như Philippines, lâu nay Malaysia giữ thái độ ôn hòa với Trung Quốc. Thậm chí Kuala Lumpur còn lên án Mỹ và phương Tây “ép” nước này phải chọn bên. Thế nhưng, gần đây chính phủ Malaysia tỏ thái độ khác hẳn.

Theo các nhà bình luận, những diễn biến chính trị gần đây trên trường quốc tế đã có nhiều thay đổi. Thái độ của các nước trong khối ASEAN, nhất là các nước có tranh chấp chủ quyền biển đảo với Trung Quốc đã cứng rắn, kiên quyết hơn, không để Trung Quốc ỷ thế nước lớn chèn ép, bắt nạt. Đặc biệt là, không một quốc gia nào dễ dàng từ bỏ nguồn lợi khổng lồ từ Biển Đông để đổi lấy sự im lặng, tránh mất lòng Trung Quốc.
Hôm 15/10 vừa qua, Thủ tướng Malaysia Anwar Ibrahim khẳng định, Công ty năng lượng quốc gia Petronas sẽ tiếp tục tiến hành các hoạt động thăm dò dầu khí tại vùng đặc quyền kinh tế của Malaysia ở Biển Đông. Đây là một thái độ dứt khoát của Kuala Lumpur, không hề “run sợ” trước sự đe dọa của Trung Quốc. “Chúng ta sẽ tiếp tục, nhưng chúng ta sẽ không đóng cửa các cuộc thảo luận với bất kỳ quốc gia nào”, ông Anwar cho biết.
Theo Tuyên bố này Công ty Petronas sẽ tổ chức các hoạt động thăm dò tại mỏ khí đốt Kasawari ngoài khơi bang Sarawak, thuộc đảo Borneo – một khu vực được cho là có trữ lượng khí đốt rất lớn (khoảng 3 nghìn tỷ mét khối) và bắt đầu đi vào sản xuất vào tháng 8 /2024.
Trước đó, trong Công hàm do một hãng tin Philippines đăng tải, Bắc Kinh lớn tiếng phản đối khi cho rằng mọi hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí của Malaysia ở Biển Đông đã xâm phạm lãnh thổ của Trung Quốc.
Chính phủ của ông Anwar Ibrahim giải thích, hiện Malaysia có tranh chấp lãnh thổ với một số nước láng giềng, bao gồm Thái Lan, Philippines và Indonesia, trong đó tập trung nhiều hơn là những bất đồng sâu sắc với Trung Quốc. Tuy đang “có vấn đề”, nhưng những vấn đề này không ảnh hưởng đến quan hệ ngoại giao, không ảnh hưởng đến quan hệ thương mại”. Chính phủ sẽ tiếp tục giải thích với Bắc Kinh về lập trường của mình. Malaysia thực hiện đúng luật pháp quốc tế, không xâm phạm biên giới của các nước khác. Đó là một chính sách và nguyên tắc nghiêm ngặt.
Như quý độc giả đã biết, Trung Quốc tuyên bố chủ quyền đối với hầu hết Biển Đông. Họ đã triển khai một đội tàu cảnh sát biển, hoạt động sâu trong vùng Đông Nam Á, bao gồm cả vùng đặc quyền kinh tế của Malaysia, Brunei, Philippines và Việt Nam, làm mất ổn định, phức tạp trong việc hợp tác, thăm dò, khai thác dầu khí và hải sản. Công ty năng lượng nhà nước Malaysia Petronas, hay Petroliam Nasional Berhad, khai thác các mỏ dầu khí ở Biển Đông trong EEZ của Malaysia, và đã có một số cuộc chạm trán với các tàu Trung Quốc.
Các tàu cảnh sát biển Trung Quốc cũng thường xuyên làm khách không mời khi ghé thăm các giếng thăm dò của Malaysia ngoài khơi Sarawak, tiến sát các giàn khai thác khí đốt tại Timi, Kasawari và Jerun trong phạm vi 1.000 mét. Đó là hành động phi pháp, ngang ngược mà Malaysia đã kiên quyết phản đối.
Những hành động bành trướng trên biển của Trung Quốc trước sau không hề thay đổi. Cũng như các nước có tranh chấp lãnh thổ trên Biển Đông, sau một thời gian dài giữ thái độ ôn hòa, Malaysia nhận rõ rằng, Bắc Kinh đã và đang giẵm lên pháp luật, bất chấp mọi phản đối của các nước láng giềng ở khu vực và các nước có tuyên bố chủ quyền trên Biển Đông.
Cùng với những hành động ngăn cản việc khai thác dầu khí, đánh bắt hải sản, Trung Quốc cũng thường xuyên diễu võ giương oai, tổ chức tập trận, nhưng có khi thiên về tuyên truyền và răn đe hơn là phát động chiến tranh, nhất là ở khu vực Eo biển Đài Loan. Các cuộc tập trận gần đây của Trung Quốc có hàm ý rất nhiều. Đối với các quốc gia Đông Nam Á, bên cạnh việc cạnh tranh với Mỹ, Trung Quốc muốn thể hiện sức mạnh là một cường quốc vô địch. Còn ở đây và với mục tiêu độc chiếm Biển Đông, thì những cuộc tập trận “khoe cơ bắp” có hàm ý rằng, nếu quốc gia nào ở khu vực mà có hành động phản kháng, thì sẽ có thể phải đối diện với sức mạnh quân sự của Trung Quốc.
Thế nhưng các nước lân cận đã bắt được “bài”. Nếu đơn độc, các nước nhỏ như sẽ không bao giờ xử lý được những vấn đề lớn liên quan tới các cường quốc. Nhưng nếu 10 nước ASEAN đồng lòng, cùng chung sức thì không cường quốc nào có thể đe dọa được.
Và cái cách phản kháng của mỗi nước không giống nhau. Chúng ta cùng chờ xem, sau một thời gian dài nhẫn nhịn, lần này những con sóng biển Malaysia đã nổi giận, chắc chắn Bắc Kinh sẽ tiếp tục tính đến đòn trừng phạt, nhưng chả lẽ lại dằn mặt bằng con bài tập trận để mang đến “lời cảnh báo nghiêm khắc” vốn đã nhàm chán?
BDN
![]()
Views: 0
Cơ quan Phòng vệ Đài Loan vừa thông báo đã phát hiện 153 máy bay quân sự Trung Quốc tham gia cuộc tập trận tác chiến xung quanh Đài Loan hôm 14.10.

Trung Quốc hôm 14.10 nói rằng cuộc tập trận kéo dài một ngày nói trên là lời cảnh báo chống lại “các hành vi ly khai” sau khi Bắc Kinh lên án bài phát biểu vào tuần trước của lãnh đạo Đài Loan Lại Thanh Đức, theo Reuters.
Sau khi tiến hành cuộc tập trận trên, Bộ Quốc phòng Trung Quốc hôm 14.10 tuyên bố họ sẽ có hành động tiếp theo chống lại Đài Loan nếu cần.
Trong bản cập nhật hằng ngày về hoạt động quân sự của Trung Quốc quanh Đài Loan hôm nay 15.10, Cơ quan Phòng vệ Đài Loan nói đã phát hiện 153 máy bay quân sự, vượt qua con số kỷ lục trước đó là 125 máy bay/ngày đã ghi nhận vào hôm 14.10.
Một bản đồ do Cơ quan Phòng vệ Đài Loan công bố cho thấy 28 trong số những máy bay trên đã vượt qua đường trung tuyến nhạy cảm trên eo biển Đài Loan.
Những khu vực khác đã ghi nhận hoạt động của máy bay quân sự Trung Quốc là vùng biển gần bờ biển phía đông nam, nơi có một căn cứ không quân lớn của Đài Loan, và ở phía tây nam, tại phần trên cùng của Biển Đông, nơi có quần đảo Đông Sa do Đài Loan kiểm soát.
Cơ quan Phòng vệ Đài Loan cho biết thêm là đã phát hiện 14 tàu hải quân Trung Quốc và 12 tàu thuộc lực lượng hải cảnh và những lực lượng tương tự của Trung Quốc.
Cuộc tập trận mới của Trung Quốc đã bị Lầu Năm Góc chỉ trích là “vô trách nhiệm, không cân xứng và gây mất ổn định”, theo Reuters.
Ngoài ra, Phó chánh văn phòng Nội các Nhật Bản Kazuhiko Aoki hôm nay 15.10 thông báo Nhật Bản đã chuyển đến Trung Quốc mối quan ngại của mình về cuộc tập trận được tiến hành xung quanh Đài Loan hôm 14.10, theo Reuters.
BDN
![]()
Views: 0
Quân đội Trung Quốc bắt đầu loạt cuộc tập trận mới bằng tàu chiến và máy bay gần khu vực này.

Phát ngôn viên Bộ Tư lệnh chiến khu Đông của quân đội Trung Quốc Shi Yi cho biết cuộc tập trận mang tên Joint Sword – 2024B diễn ra ở “khu vực phía bắc, phía nam và phía đông đảo Đài Loan”. Cuộc tập trận “tập trung vào chủ đề tuần tra sẵn sàng chiến đấu trên không và trên biển, phong tỏa các cảng và khu vực quan trọng”, bao gồm “một cuộc tấn công vào mục tiêu trên biển và trên bộ”.
Cuộc tập trận là “hoạt động hợp pháp và cần thiết để bảo vệ chủ quyền quốc gia, sự thống nhất dân tộc”. Tuy nhiên, ông Shi Yi không tiết lộ cuộc tập trận diễn ra trong bao lâu.
Cơ quan phòng vệ Đài Loan lên án mạnh mẽ “hành động phi lý và khiêu khích” của Trung Quốc và cho biết đã “điều động lực lượng thích hợp để đáp trả nhằm bảo vệ tự do, dân chủ và bảo vệ chủ quyền” của hòn đảo này.
Trong những năm gần đây, Trung Quốc tăng cường hoạt động quân sự quanh Đài Loan.
Cuộc tập trận mới nhất diễn ra sau phát biểu gần đây của lãnh đạo Đài Loan Lại Thanh Đức tuyên bố chống lại mọi “cuộc sáp nhập hoặc xâm phạm” và cho rằng Bắc Kinh không có quyền đại diện 23 triệu người dân của hòn đảo này.
“Nhiều dự đoán Trung Quốc sẽ tiến hành tập trận quân sự sau bài phát biểu Ngày Quốc khánh. Các cuộc tập trận chứng minh với người dân Trung Quốc rằng chính quyền quyết tâm bảo vệ lãnh thổ. Chúng cũng nhằm mục đích cảnh báo Đài Bắc và Washington không vượt qua ranh giới đỏ của Bắc Kinh”, Giám đốc điều hành chương trình Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương của Quỹ Marshall Đức, ông Bonnie Glaser nói.
Bắc Kinh không loại trừ khả năng sử dụng vũ lực để thống nhất Đài Loan và cho biết cuộc tập trận là lời cảnh báo đối với “hành động ly khai của lực lượng đòi độc lập cho Đài Loan”.
BDN
![]()
Views: 0
Lầu Năm Góc ngày 11.10 thông báo đề xuất bán vũ khí cho Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất (UAE) và Ả Rập Xê Út, với trị giá hơn 2 tỉ USD.

Cơ quan hợp tác an ninh quốc phòng (DSCA) của Bộ Quốc phòng Mỹ cho biết quốc hội đã phê duyệt việc bán cho Ả Rập Xê Út tên lửa Hellfire và Sidewinder, đạn dược dùng cho pháo, xe tăng và súng máy, trị giá hơn 1 tỉ USD. Vào tháng 8, Tổng thống Mỹ Joe Biden đã dỡ bỏ hạn chế bán vũ khí tấn công cho Ả Rập Xê Út, thúc giục Riyadh tăng sức ép chống lại lực lượng Houthi ở Yemen, Bloomberg đưa tin ngày 11.10.
Hồi đầu tuần, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Lloyd Austin đã khẳng định với người đồng cấp Ả Rập Xê Út Khalid bin Salman cam kết của Mỹ cho nỗ lực quốc phòng của Riyadh.
Lầu Năm Góc cũng thông báo về việc phê duyệt gói vũ khí cho UAE trị giá khoảng 1,2 tỉ USD, bao gồm hệ thống rốc két phóng loạt dẫn đường (GMRLS) M31A1 và tên lửa ATACMS.
Các công ty sản xuất vũ khí nêu trên của Mỹ giờ đây có thể thương thảo hợp đồng với UAE và Ả Rập Xê Út. Về lý thuyết quốc hội Mỹ có thể ngăn thương vụ mua bán nếu không đồng ý với một số chi tiết trong hợp đồng.
Trong thông cáo ngày 11.10, Lầu Năm Góc khẳng định đề xuất bán vũ khí nêu trên sẽ không làm thay đổi cán cân quân sự cơ bản trong khu vực, cũng như không có tác động tiêu cực nào đến khả năng sẵn sàng phòng thủ của Mỹ.
BDN
![]()
Views: 0
Năng lực công nghiệp quốc phòng của TQ ngày càng lớn mạnh trên đà át Mỹ.

Trong bối cảnh lưỡng đảng ngày càng nhất trí rằng Mỹ cần phải làm nhiều hơn để kiềm chế Trung Quốc, phần lớn cuộc tranh luận chính sách tại Washington tập trung vào sức mạnh kinh tế và công nghệ của Trung Quốc. Hiện nay, xét đến các vấn đề kinh tế của Trung Quốc – tỷ lệ thất nghiệp cao ở thanh niên, thị trường bất động sản gặp khó khăn, nợ công tăng, xã hội già hóa, và tăng trưởng thấp hơn dự kiến – một số học giả và nhà hoạch định chính sách dự đoán rằng Bắc Kinh sẽ buộc phải hạn chế chi tiêu quốc phòng. Những người khác thậm chí còn nói rằng quân đội Trung Quốc được đánh giá quá cao, tin rằng họ sẽ không thể thách thức sự thống trị của Mỹ trong thời gian tới.
Tuy nhiên, những đánh giá này đã không nhận ra được mức độ phát triển thực sự của cơ sở công nghiệp quốc phòng Trung Quốc. Bất chấp những thách thức kinh tế hiện tại, chi tiêu quốc phòng của nước này đang tăng vọt và ngành công nghiệp quốc phòng của nước này đang ở trong bối cảnh thời chiến. Thật vậy, Trung Quốc đang nhanh chóng phát triển và sản xuất các hệ thống vũ khí được thiết kế nhằm răn đe Mỹ, và nếu răn đe thất bại, chúng sẽ được dùng để giành chiến thắng trong một cuộc chiến giữa hai cường quốc. Trung Quốc đã bắt kịp Mỹ về khả năng sản xuất vũ khí hàng loạt. Ở một số lĩnh vực, Trung Quốc thậm chí đang dẫn đầu: nước này đã trở thành nhà đóng tàu lớn nhất thế giới, với công suất lớn gấp khoảng 230 lần so với Mỹ. Từ năm 2021 đến đầu năm 2024, cơ sở công nghiệp quốc phòng của Trung Quốc đã sản xuất hơn 400 máy bay chiến đấu hiện đại và 20 tàu chiến lớn, tăng gấp đôi kho đầu đạn hạt nhân, tăng hơn gấp đôi kho tên lửa đạn đạo và tên lửa hành trình, đồng thời phát triển một dòng máy bay ném bom tàng hình mới. Cùng lúc đó, Trung Quốc cũng tăng số lần phóng vệ tinh lên 50%. Nước này hiện đang mua các hệ thống vũ khí với tốc độ nhanh gấp năm đến sáu lần so với Mỹ. Đô đốc John Aquilino, cựu chỉ huy Bộ Tư lệnh Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương của Mỹ, mô tả sự mở rộng quân sự này là “bước phát triển sâu rộng và nhanh chóng nhất kể từ Thế chiến II.”
Trung Quốc rõ ràng đã trở thành một thế lực quân sự nặng ký, trong lúc cơ sở công nghiệp quốc phòng của Mỹ đang không theo kịp. Trước đây, khi chứng kiến các cường quốc phe Trục tiến quân ở Châu Âu và Châu Á, Tổng thống Franklin Roosevelt đã huy động cơ sở công nghiệp quốc phòng Mỹ, gọi đó là “kho vũ khí của nền dân chủ.” Ngày nay, người Mỹ cũng cần một nỗ lực tương tự. Sản xuất quốc phòng của Mỹ đã suy giảm, và hệ thống cũng thiếu năng lực và tính linh hoạt cho phép quân đội Mỹ ngăn chặn Trung Quốc và cho phép họ chiến đấu và giành chiến thắng trong một cuộc chiến kéo dài ở khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương hoặc một cuộc chiến hai mặt trận ở Châu Á và Châu Âu. Washington phải khắc phục những điểm nghẽn quan trọng và phải hành động nhanh chóng nếu muốn bắt kịp đối thủ. Nói đơn giản, Mỹ cần dành nhiều sự chú ý và nguồn lực hơn để chuẩn bị cho quân đội của mình nếu họ muốn thành công trong việc xây dựng một kho vũ khí mới cho nền dân chủ.
CỦNG CỐ QUÂN SỰ NHANH CHÓNG
Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã nói rõ rằng phát triển một quân đội đẳng cấp thế giới là trọng tâm trong mục tiêu theo đuổi “sự phục hưng vĩ đại của dân tộc Trung Hoa trên mọi mặt trận.” Một phần quan trọng trong quá trình này là xây dựng một cơ sở công nghiệp quốc phòng đủ khả năng sản xuất phần cứng (như tàu, máy bay, xe tăng, và tên lửa) lẫn phần mềm (như công nghệ và các hệ thống chỉ huy, kiểm soát, liên lạc, và tình báo) mà lực lượng vũ trang cần. Trong vòng 10 năm, việc Trung Quốc có thể sản xuất tàu mặt nước và tàu ngầm, máy bay, hệ thống phòng không, tên lửa, hệ thống đổ bộ, tàu vũ trụ, và vũ khí mạng đã giúp nước này trở thành đối thủ cạnh tranh thực sự của Mỹ.
Động lực thúc đẩy sản xuất là các doanh nghiệp nhà nước khổng lồ của Trung Quốc, nhóm chịu trách nhiệm phát triển và xây dựng các hệ thống vũ khí của đất nước. Ngày nay, bốn trong số mười công ty lớn nhất thế giới về doanh thu kết hợp quốc phòng và phi quốc phòng là công ty Trung Quốc, bao gồm hai công ty lớn nhất: Tập đoàn Công nghiệp Hàng không Trung Quốc (AVIC) và Tập đoàn Đóng tàu Nhà nước Trung Quốc (CSSC). Đây là một sự thay đổi lớn so với một thập kỷ trước, khi không một công ty Trung Quốc nào lọt vào top 100 công ty quốc phòng hàng đầu thế giới. Nếu xét riêng doanh thu quốc phòng, Trung Quốc hiện có năm công ty nằm trong top 12 toàn cầu, cũng tăng từ con số không cách đây mười năm. Các công ty quốc phòng Trung Quốc hiện đang cạnh tranh với những gã khổng lồ của Mỹ như Lockheed Martin, RTX (Raytheon), Boeing, Northrop Grumman, và General Dynamics về quy mô và năng lực sản xuất.
Nhưng năng lực sản xuất quốc phòng không phải là yếu tố duy nhất thúc đẩy sự trỗi dậy của quân đội Trung Quốc. Bắc Kinh cũng đã cải thiện quy trình nghiên cứu, phát triển, và mua sắm các hệ thống vũ khí, theo đó cho phép Quân Giải phóng Nhân dân (PLA) sản xuất các nền tảng tiên tiến trong các lĩnh vực phức tạp như hàng không tàu sân bay, vũ khí siêu thanh, và hệ thống đẩy. Ngoài phần cứng quân sự, PLA còn xây dựng hạ tầng kiến trúc kỹ thuật số mà trong trường hợp xảy ra chiến tranh, sẽ giúp quân đội phối hợp các mạng lưới chỉ huy, kiểm soát, liên lạc, máy tính, mạng, tình báo, giám sát, trinh sát, và triển khai hỏa lực với sự trợ giúp của trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, cùng nhiều công nghệ mới nổi khác.
Ví dụ rõ ràng nhất cho sự thống trị của quân đội Trung Quốc là lực lượng hải quân của nước này. Nhờ năng lực đóng tàu vượt trội, Hải quân PLA đã trở thành lực lượng lớn nhất thế giới. Hải quân Mỹ ước tính rằng chỉ một xưởng đóng tàu của Trung Quốc – chẳng hạn như xưởng trên Đảo Trường Hưng, nằm dọc theo bờ biển phía đông của Trung Quốc – hiện có năng lực lớn hơn tất cả các xưởng đóng tàu của Mỹ cộng lại. Phạm vi sản xuất của hải quân Trung Quốc bao gồm mọi thứ từ động cơ turbine khí và động cơ diesel đến vũ khí trên tàu, hệ thống điện tử, tàu ngầm, tàu chiến mặt nước, và hệ thống không người lái. Trong thập kỷ qua, Hải quân PLA cũng đạt được những tiến bộ lớn trong việc chế tạo tàu hộ tống, đóng tám tàu khu trục, và hoàn thiện hai tàu sân bay Sơn Đông và Phúc Kiến. Tàu Phúc Kiến được trang bị hệ thống phóng máy bay điện từ, cho phép thực hiện các hoạt động trên không toàn diện hơn, giúp tàu sân bay này mạnh hơn hẳn các mẫu trước đây của Trung Quốc. Nó có thể triển khai tới 70 máy bay, bao gồm máy bay chiến đấu và trực thăng chống ngầm.
Dù vậy, Hải quân PLA vẫn tụt hậu so với Hải quân Mỹ trong một số lĩnh vực. Trung Quốc có nhiều tàu hơn Mỹ, nhưng các tàu này đều nhỏ hơn. Trung Quốc cũng gặp bất lợi về hỏa lực; hạm đội của họ chỉ có thể mang theo số lượng tên lửa bằng khoảng một nửa so với hạm đội của Mỹ. Mỹ cũng sản xuất nhiều tàu ngầm chạy bằng năng lượng hạt nhân tiên tiến hơn Trung Quốc. Nhưng khả năng đóng tàu của Trung Quốc có lẽ sẽ mang lại cho họ lợi thế trước Mỹ trong một cuộc chiến kéo dài và khoảng cách này dự kiến sẽ còn tăng lên. Số xưởng đóng tàu thương mại của Trung Quốc không chỉ nhiều hơn của Mỹ, mà nhiều xưởng trong số đó còn được sử dụng cho cả mục đích quân sự lẫn dân sự, nghĩa là Trung Quốc có thể tăng cường năng lực đóng tàu quân sự của mình dễ dàng hơn Mỹ.
Ngành công nghiệp quốc phòng Trung Quốc cũng đang cho ra đời những chiếc máy bay tiên tiến hơn. Dù Mỹ vẫn đang vận hành đội máy bay chiến đấu thế hệ thứ năm lớn nhất và tiên tiến nhất thế giới, bao gồm F-22 và F-35, nhưng Trung Quốc đang dần bắt kịp. Công ty máy bay quân sự lớn nhất của nước này, Tập đoàn Công nghiệp Hàng không Trung Quốc, đang sản xuất gần như toàn bộ máy bay chiến đấu, máy bay vận tải và huấn luyện, máy bay ném bom, máy bay trinh sát, máy bay không người lái và trực thăng của nước này. AVIC giám sát tới 86 phòng thí nghiệm và trung tâm nghiên cứu ứng dụng, đồng thời sở hữu hàng trăm công ty con và hơn 100 thực thể ở nước ngoài. Vào năm 2023, các công ty Trung Quốc đã sản xuất hơn 2.000 máy bay chiến đấu thế hệ thứ tư và thứ năm, tăng gấp đôi so với mức 800 máy bay được sản xuất vào năm 2017. Dù Mỹ vẫn dẫn đầu, sản xuất hơn 3.350 máy bay chiến đấu thế hệ thứ tư và thứ năm vào năm 2023, Trung Quốc đang theo rất sát. Trung Quốc cũng đang đẩy mạnh sản xuất máy bay không người lái, loại máy bay mà nước này đã sử dụng trong các cuộc tập trận xung quanh Đài Loan. Tập đoàn Công nghiệp Bắc Trung Quốc, hay Norinco, gần đây đã công bố một loại máy bay không người lái cảm tử mới có tầm hoạt động 200 km và tốc độ bay 145 km/h.
Bên cạnh đó, Trung Quốc còn đang hiện đại hóa kho vũ khí tên lửa chiến lược của mình. Nước này đang trên đà tiến đến mốc hơn 1.000 đầu đạn hạt nhân hoạt động vào năm 2030 – tăng từ con số 200 vào năm 2019. Hai công ty chính sản xuất tên lửa của Trung Quốc, Tập đoàn Khoa học và Công nghệ Hàng không Vũ trụ Trung Quốc và Tập đoàn Khoa học và Công nghiệp Hàng không Vũ trụ Trung Quốc, đã mở rộng cơ sở sản xuất và thuê thêm công nhân trong những năm qua. Với năng lực gia tăng này, Trung Quốc đang xây dựng kho vũ khí tên lửa đạn đạo, tên lửa hành trình, và tên lửa siêu thanh của mình. Chỉ riêng trong năm 2021, số tên lửa đạn đạo mà Trung Quốc phóng để thử nghiệm và huấn luyện nhiều hơn tất cả các quốc gia khác cộng lại. Năm 2020, Trung Quốc cũng đã đưa vào sử dụng tên lửa đầu tiên có phương tiện lướt siêu thanh, DF-17, đủ khả năng tấn công các căn cứ và hạm đội của Mỹ và các nước khác ở Tây Thái Bình Dương. Trong khi đó, người Mỹ lại chật vật với tên lửa siêu thanh khi không có bản mẫu nào mà họ dự định đưa vào sử dụng năm 2024 đã được sản xuất.
Ngoài các năng lực trên không và trên biển đang phát triển nhanh chóng này, Trung Quốc còn đạt được những tiến bộ đáng kể trong lĩnh vực không gian. Vào năm 2023, Trung Quốc đã thực hiện 67 vụ phóng không gian – mức cao nhất trong một năm trong lịch sử của nước này. Các tên lửa phóng, năng lực vệ tinh định vị toàn cầu, thông tin liên lạc vệ tinh, hệ thống cảnh báo tên lửa, tình báo, giám sát, và trinh sát của Trung Quốc đều đang được cải thiện. Các công nghệ của nước này nhằm chống lại năng lực không gian của đối thủ, bao gồm vũ khí gây nhiễu, vũ khí năng lượng định hướng, và vũ khí chống vệ tinh, cũng đang tiến bộ. Trung Quốc gần đây đã phóng một vệ tinh mới, Vệ tinh Viễn thám Số 41 (Yaogan-41), có khả năng xác định và theo dõi các vật thể có kích thước chỉ bằng một chiếc xe hơi trên bề mặt trái đất, theo đó gây nguy hiểm cho các tài sản hải quân, lục quân, và không quân của Mỹ và đồng minh trên khắp khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương .
Cuối cùng, Quân đội PLA đang là lực lượng mặt đất lớn nhất thế giới. Họ vận hành nhiều xe tăng chiến đấu và pháo binh hơn Quân đội Mỹ. Các công ty quốc phòng Trung Quốc đã tăng sản lượng ở hầu hết mọi hạng mục: xe tăng chiến đấu chủ lực và hạng nhẹ, xe bọc thép chở quân, xe tấn công, hệ thống phòng không, và hệ thống pháo binh.
TRẠNG THÁI THỜI BÌNH
Việc Trung Quốc củng cố quốc phòng là mối đe dọa nghiêm trọng đối với Mỹ và các đồng minh và đối tác, bao gồm Australia, Nhật Bản, Philippines, Hàn Quốc, và Đài Loan. Trung Quốc sở hữu hàng nghìn tên lửa, một vài trong số đó có thể tấn công vào lãnh thổ Mỹ, trong khi những tên lửa khác có thể tấn công các căn cứ ở nước ngoài của Mỹ, nơi có máy bay, đường băng, tàu, kho nhiên liệu, kho đạn dược, cảng, cơ sở chỉ huy và kiểm soát, cùng các cơ sở hạ tầng khác của Mỹ. Tên lửa đạn đạo chống hạm của Trung Quốc có thể đe dọa các tàu mặt nước của Mỹ hoạt động ở Biển Đông, Biển Hoa Đông, và xa hơn nữa. Nhìn vào loạt năng lực quân sự này của Trung Quốc, Bộ trưởng Không quân Mỹ Frank Kendall III đã thẳng thắn nhận xét rằng, “Trung Quốc đang chuẩn bị cho một cuộc chiến và cụ thể là một cuộc chiến với Mỹ.”
Đứng trước mối đe dọa rõ ràng như vậy, thật khó hiểu khi Mỹ lại không huy động cơ sở công nghiệp quốc phòng của riêng mình để theo kịp đối thủ. Quân đội Mỹ không có đủ đạn dược và các thiết bị khác cho một cuộc chiến kéo dài chống lại Trung Quốc ở Eo biển Đài Loan, Biển Đông, hoặc Biển Hoa Đông – những nơi mà các tranh chấp lãnh thổ giữa Trung Quốc với các đối tác và đồng minh của Mỹ, như Nhật Bản, Philippines, và Đài Loan, hoàn toàn có thể trở nên bạo lực. Ví dụ, trong các trò chơi chiến tranh mô phỏng xung đột ở Eo biển Đài Loan, phía Mỹ thường cạn kiệt kho tên lửa chống hạm tầm xa của mình ngay trong tuần đầu tiên. Những vũ khí này đóng vai trò rất quan trọng trong một cuộc chiến thực sự, vì chúng có thể tấn công lực lượng hải quân Trung Quốc từ bên ngoài phạm vi phòng không của nước này. Đặc biệt là trong giai đoạn đầu của một cuộc xung đột, hệ thống phòng thủ của Trung Quốc nhiều khả năng sẽ tìm cách chặn hầu hết các máy bay di chuyển đủ gần để thả bom ở tầm ngắn.
Cơ sở công nghiệp quốc phòng của Mỹ thiếu sự linh hoạt và khả năng tăng sản lượng đột biến để bù đắp cho những thiếu sót này. Mỹ có một quy trình mua sắm lỗi thời, chỉ phù hợp với nhịp độ nhàn nhã của thời bình hơn là sự cấp bách của thời chiến. Như một nghiên cứu của Bộ Quốc phòng Mỹ năm 2009 đã chỉ ra, “các chương trình quốc phòng lớn vẫn mất mười năm hoặc hơn để cung cấp ít sản lượng hơn so với kế hoạch, và thường tốn gấp hai đến ba lần chi phí đã định.” Sự mong manh của chuỗi cung ứng trong ngành công nghiệp quốc phòng lại là một vấn đề khác. Các công ty quốc phòng Mỹ chỉ sản xuất một lượng hạn chế các thành phần chính, chẳng hạn như động cơ tên lửa rắn, bộ xử lý, khuôn đúc/rèn, ổ bi, vi điện tử, và đầu dò đạn. Một số loại thiết bị, chẳng hạn như động cơ và máy phát điện, có thời gian giao hàng rất lâu. Tệ hơn, Trung Quốc đang thống trị chuỗi cung ứng pin tiên tiến của thế giới và độc quyền trên thị trường toàn cầu đối với một số loại nguyên liệu thô được sử dụng trong lĩnh vực quốc phòng, chẳng hạn như một số kim loại sắt và hợp kim fero, phi fero, và khoáng sản công nghiệp. Nếu căng thẳng leo thang hoặc chiến tranh nổ ra, Trung Quốc hoàn toàn có thể ngăn Mỹ tiếp cận các vật liệu này và làm suy yếu hoạt động sản xuất kính nhìn ban đêm, xe tăng, cùng nhiều thiết bị quốc phòng khác của Mỹ.
Thách thức cuối cùng là lực lượng lao động. Thị trường lao động Mỹ không thể cung cấp đủ công nhân có kỹ năng phù hợp để đáp ứng nhu cầu sản xuất quốc phòng. Vấn đề này đặc biệt nghiêm trọng ở các xưởng đóng tàu, nơi đang thiếu trầm trọng kỹ sư, thợ điện, thợ lắp ống, thợ lắp tàu, và thợ kim loại. Năm 2024, Hải quân Mỹ thông báo rằng khinh hạm tên lửa dẫn đường lớp Constellation đầu tiên của họ sẽ hoàn thành trễ ít nhất một năm vì công ty đóng tàu Fincantieri đang thiếu vài trăm công nhân, bao gồm cả thợ hàn, tại xưởng đóng tàu Marinette Marine ở Wisconsin. Khinh hạm đóng vai trò quan trọng trong các nhóm tác chiến tàu sân bay vì chúng là tàu hộ tống bảo vệ các đơn vị liên lạc trên biển. Việc đóng phiên bản Block V của tàu ngầm tấn công nhanh lớp Virginia, vốn rất quan trọng để tấn công các tàu đổ bộ của Trung Quốc trong trường hợp nổ ra chiến tranh, cũng bị chậm tiến độ ít nhất hai năm vì những lý do tương tự. Một số tàu khu trục tên lửa dẫn đường mới, có khả năng phòng không, thậm chí còn chậm tiến độ tới ba năm.
KHO VŨ KHÍ MỚI CỦA NỀN DÂN CHỦ
Cơ sở công nghiệp quốc phòng của Trung Quốc không phải là không có vấn đề. Nó dựa vào các doanh nghiệp nhà nước khổng lồ với các cấu trúc tổ chức phức tạp và lan rộng, do đó làm suy yếu hiệu suất, khả năng cạnh tranh, và sự đổi mới. Nó cũng bị ảnh hưởng bởi nạn tham nhũng đáng kể. Cuối năm ngoái, Bắc Kinh đã sa thải ba quan chức cấp cao trong ngành công nghiệp quốc phòng trong một cuộc thanh trừng dường như có liên quan đến tham nhũng trong quá trình đánh giá thầu. Trung Quốc cũng đang phải vật lộn với một số lỗ hổng trong chuỗi cung ứng, đặc biệt là liên quan đến động cơ, chip cao cấp, mạch tích hợp, và thiết bị sản xuất. Việc một tàu ngầm chạy bằng năng lượng hạt nhân của Trung Quốc được báo cáo là đã chìm tại xưởng đóng tàu Vũ Xương vào đầu năm nay cho thấy Trung Quốc vẫn còn nhiều việc phải làm trước khi có thể sản xuất những hệ thống phức tạp. Và dù quân đội Trung Quốc lớn và được trang bị tốt, nhưng họ không có kinh nghiệm chiến đấu lớn nào kể từ Chiến tranh Trung-Việt năm 1979. Ngay cả thế, những thách thức này sẽ không ngăn cản cơ sở công nghiệp quốc phòng của Trung Quốc vượt qua Mỹ trong một số lĩnh vực quan trọng.
Mỹ hiện cần thu hẹp khoảng cách. Bước đầu tiên là nhận ra tính cấp bách của vấn đề và quy mô của giải pháp cần thiết. Một sáng kiến do tổng thống lãnh đạo nhằm phục hồi cơ sở công nghiệp quốc phòng có thể giúp đạt được mục tiêu này, lấy cảm hứng từ các mô hình trong lịch sử như Ủy ban Sản xuất Chiến tranh của Roosevelt, Văn phòng Huy động Quốc phòng của Harry Truman, và Ủy ban Chuẩn bị Huy động Khẩn cấp của Ronald Reagan. Thay vì chỉ giao cho Bộ Quốc phòng nhiệm vụ mua sắm và sản xuất vũ khí, cơ quan mới này nên đưa ra chỉ đạo cấp cao, đặt ra các ưu tiên, và giám sát các chính sách, kế hoạch, cũng như thủ tục của các bộ liên bang tham gia vào sản xuất quốc phòng. Một cấu trúc như vậy cũng sẽ giúp tích hợp Hội đồng An ninh Quốc gia, Văn phòng Quản lý và Ngân sách, Bộ Ngoại giao, Bộ Thương mại, và Quốc hội, cũng như khu vực tư nhân và các tổ chức khác đóng vai trò quan trọng trong cơ sở công nghiệp quốc phòng.
Washington cũng phải giải quyết những điểm yếu rõ ràng trong hệ thống công nghiệp quốc phòng hiện tại của mình. Bộ Quốc phòng – bao gồm cả các lực lượng quân sự – cần một quy trình ký kết hợp đồng và mua sắm vũ khí nhanh hơn, linh hoạt hơn, và ít rủi ro hơn. Trước tiên, họ nên rút ngắn thời gian để lựa chọn ký kết các hợp đồng và giúp các công ty sáng tạo chuyển nhanh từ nguyên mẫu sang thành phẩm. Quốc hội cũng cần tài trợ cho việc mua sắm trong nhiều năm đối với các loại đạn dược quan trọng. Để giải quyết tình trạng thiếu hụt lao động, Lầu Năm Góc nên cung cấp các ưu đãi tài chính cho các công ty quốc phòng nhằm nâng cao và đào tạo lại kỹ năng cho người lao động. Bộ Quốc phòng và Quốc hội cũng nên đầu tư nhiều hơn vào các trường trung học, trường dạy nghề, trường đại học, và các tổ chức khác chuyên đào tạo và giáo dục nhân lực cho các công việc cơ sở công nghiệp quốc phòng. Và Mỹ chắc chắn phải phục hồi ngành đóng tàu của mình. Việc khôi phục lại các khoản trợ cấp đã ngủ yên từ lâu có thể thúc đẩy đầu tư vào các xưởng đóng tàu thương mại, hiện đại hóa và mở rộng ngành đóng tàu, đồng thời phát triển lực lượng lao động có năng lực và cạnh tranh hơn trong lĩnh vực này.
Một năm trước khi Nhật Bản tấn công Trân Châu Cảng và buộc Mỹ tham gia Thế chiến II, Roosevelt đã kêu gọi đất nước “hãy xây dựng ngay bây giờ, với tốc độ nhanh nhất có thể mọi máy móc, mọi kho vũ khí, mọi nhà máy mà chúng ta cần để sản xuất vật liệu quốc phòng.” Việc Trung Quốc tái vũ trang nhanh chóng và các cuộc chiến đang diễn ra ở Ukraine và Trung Đông chính là những dấu hiệu cho thấy một tương lai u ám. Để sẵn sàng cho môi trường thời chiến, người Mỹ một lần nữa phải làm theo lời khuyên của Roosevelt.
BDN
![]()
Views: 0
Ngày 9-10, Thủ tướng Phạm Minh Chính đã cùng lãnh đạo các nước ASEAN và Timor-Leste tham dự phiên họp hẹp, trao đổi về các vấn đề quốc tế và khu vực cùng quan tâm.

Ngày 9-10, tiếp tục chương trình làm việc của Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 44, 45 và các hội nghị liên quan tại Vientiane, Lào, Thủ tướng Phạm Minh Chính đã cùng lãnh đạo các nước ASEAN và Timor-Leste tham dự phiên họp hẹp, trao đổi về các vấn đề quốc tế và khu vực cùng quan tâm.
Theo thông tin từ Bộ Ngoại giao, phát biểu tại phiên họp, Thủ tướng Phạm Minh Chính chia sẻ các nhận định và đánh giá về tình hình thế giới hiện nay, trong đó nhấn mạnh dù hòa bình là xu hướng lớn, nhưng xung đột và chiến tranh cục bộ vẫn tiếp diễn, ảnh hưởng tới tất cả các nước trên thế giới, trong đó gây đứt gãy chuỗi cung ứng, chuỗi sản xuất, tăng chi phí nguyên liệu, năng lượng và vận tải.
Thủ tướng đề nghị ASEAN cần đoàn kết, phát huy tiếng nói chung kêu gọi chấm dứt chiến tranh, xung đột và tìm kiếm các giải pháp mang lại hòa bình trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế.
Thủ tướng cũng nhấn mạnh ASEAN cần chủ động hơn trong việc nắm bắt và tận dụng các thời cơ, động lực tăng trưởng, thúc đẩy chuyển đổi số, phát triển xanh, ứng phó biến đổi khí hậu cũng như nhiều lĩnh vực hợp tác tiềm năng mới nổi khác.
Chia sẻ về vấn đề Biển Đông, Thủ tướng Phạm Minh Chính khẳng định tranh chấp chủ quyền biển đảo ở Biển Đông phải được giải quyết bằng các biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, nhất là UNCLOS 1982, đề nghị các bên tôn trọng lợi ích và quyền chủ quyền của các nước có liên quan.
Thủ tướng nêu rõ cần phải bảo đảm an ninh, an toàn, tự do hàng hải và hàng không ở Biển Đông, tuyến giao thông vận tải quan trọng hàng đầu, chiếm 60% lưu lượng hàng hóa trên thế giới và có tác động tới tất cả các nước, nhất là các nước trong khu vực. Theo đó, Thủ tướng đề nghị các nước thành viên ASEAN cùng đoàn kết, củng cố vai trò trung tâm và lập trường chung về Biển Đông.
Về Myanmar, Thủ tướng đánh giá cao vai trò của Chủ tịch Lào năm 2024 và các chủ tịch luân phiên tiền nhiệm trong hỗ trợ Myanmar tìm kiếm giải pháp trên cơ sở đồng thuận 5 điểm, song hiệu quả triển khai đến nay còn hạn chế. Thực tế đó đòi hỏi ASEAN cần có cách tiếp cận mới.
Bày tỏ tán thành với nhiều giải pháp các nước đưa ra, Thủ tướng khẳng định giải pháp cho Myanmar phải do nhân dân Myanmar quyết định; mong muốn các bên liên quan tại Myanmar đối thoại, đàm phán để chấm dứt xung đột, không để ảnh hưởng đến người dân cũng như gây ra các hệ lụy về an ninh đối với khu vực, trong đó có tội phạm xuyên quốc gia, lừa đảo trực tuyến.
Trên cơ sở đó, Thủ tướng đề nghị các bên liên quan tại Myanmar cần cùng nhau tìm kiếm giải pháp.
ASEAN cần phát huy vai trò, làm cầu nối tạo điều kiện cho các bên liên quan đối thoại, đàm phán. Trong các nỗ lực đó, ASEAN cần củng cố đoàn kết, thống nhất và phát huy vai trò trung tâm. Đây cũng chính là những giá trị đã làm nên thành công và uy tín của ASEAN, đưa ASEAN vượt qua khó khăn, thử thách, trở thành tâm điểm của hòa bình và hợp tác.
Thúc đẩy kết nối và tự cường
Theo thông tin từ Bộ Ngoại giao, tại phiên họp, các nước đánh giá những chuyển động sâu rộng trong môi trường an ninh quốc tế và khu vực đặt ra cho ASEAN nhiều cơ hội và thách thức đan xen.
Căng thẳng địa chính trị, xung đột, bất ổn bùng phát ở nhiều nơi, rủi ro kinh tế thường trực, cùng nhiều thách thức khác nổi lên ngày càng gay gắt như biến đổi khí hậu, thiên tai, an ninh mạng. Bên cạnh đó, các động lực tăng trưởng mới mở ra những tiềm năng và cơ hội phát triển mới cho ASEAN cũng như hợp tác giữa ASEAN và các đối tác.
Trong bối cảnh đó, lãnh đạo các nước nhấn mạnh ý nghĩa chiến lược của thúc đẩy kết nối và tự cường, chia sẻ tầm quan trọng của việc duy trì đoàn kết, thống nhất và vai trò trung tâm của ASEAN, tăng cường năng lực của ASEAN để tự tin nắm bắt các cơ hội và tự cường vượt qua các thách thức.
Về các vấn đề quốc tế, khu vực cùng quan tâm, các nước nhất trí củng cố lập trường nguyên tắc của ASEAN về Biển Đông, nhấn mạnh thượng tôn luật pháp quốc tế, giải quyết hòa bình các tranh chấp trên cơ sở luật pháp quốc tế và Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (UNCLOS) 1982.
Lãnh đạo các nước đánh giá cao nỗ lực của Chủ tịch Lào và đặc phái viên của chủ tịch về Myanmar, nhấn mạnh đồng thuận 5 điểm là văn kiện định hướng cho các nỗ lực của ASEAN hỗ trợ Myanmar.
BDN
![]()
Views: 0
“Bán đảo Triều Tiên căng thẳng” – điều ấy ai cũng biết! Nhưng những động thái mới nhất vừa qua cho thấy, sức nóng tại khu vực này gần như đã đến đỉnh điểm.

Động thái mới nhất đó là thông báo của Quân đội Triều Tiên. Họ cho biết: đã cắt đứt hoàn toàn các tuyến đường bộ cao tốc và đường sắt kết nối với Hàn Quốc kể từ 9/10, và củng cố các khu vực ở phía bên biên giới của Triều Tiên.
“Củng cố…” trong trường hợp này là gì? Là gài mìn và dựng rào chắn; là tạo ra khu vực đất trống dọc theo biên giới đã quân sự hóa ở mức độ cao.
Thực ra, Bình Nhưỡng đã ráo riết triển khai điều gọi là “củng cố” từ nhiều tháng qua. Điều đó cho thấy, nút thắt của câu chuyện dường như đã được “bờ Bắc” lên kịch bản từ trước, một cách chủ động. Nếu điều đó đúng, đồng nghĩa cú “tuyệt giao” đường sá này sớm muộn gì cũng xảy ra. Một người quyết đoán như nhà lãnh đạo Kim Jong-un chẳng cần quá để ý đến phản ứng của dư luận. (Nếu thế, ông đã chẳng làm những chuyện kinh thiên động địa cả thế giới).
Thời điểm này, trong tư duy của nhà lãnh đạo tối cao Triều Tiên, quyết định cắt giao thông với “bờ Nam” là phù hợp. Bởi nó cần để đáp trả lại việc làm “không biết điều” của Seoul và Washington: tổ chức liên tiếp các cuộc tập trận từ trung tuần tháng 8 và cả tháng 9 vừa qua (chưa kể các cuộc tập trận bắn đạn thật trước đó, cũng trong tháng 8).
Trước hết, là cuộc tập trận mang tên Lá chắn Tự do Ulchi diễn ra từ ngày 19 đến 29/8. Lá chắn Tự do Ulchi bao gồm hơn 40 khoa mục trên thực địa, trong đó có diễn tập bắn đạn thật và các buổi mô phỏng tác chiến trên máy tính. Kết quả của nó được coi là sự phản ánh kinh nghiệm thu được từ những cuộc xung đột vũ trang gần đây.
Có lẽ, để thu lượm kinh nghiệm một cách đầy đủ hơn, Seoul đã cử tới 19 nghìn binh sĩ tham gia. Washington không tiết lộ, nhưng trong con mắt Bình Nhưỡng, số binh sĩ Mỹ nếu có ít hơn, thì cũng không thể quá chênh lệch so với đồng minh Bắc Á.
Bộ Ngoại giao Triều Tiên còn chưa dứt lời nhận định Lá chắn Tự do Ulchi “là cuộc tập trận khiêu khích phục vụ mục đích xâm lược” vào ngày ngày 19/8, thì một ngày sau mở màn một cuộc tập trận mới Mỹ – Hàn, từ ngày 20 đến 25/8, có quy mô lớn nhằm tăng cường hoạt động không quân và năng lực ứng phó trong những tình huống khẩn cấp trên không, trên bộ và trên biển. Tham gia, có tới 200 máy bay, gồm các chiến đấu cơ F-15K, FA-50 and KF-16 của Hàn Quốc cùng các máy bay chiến đấu F-16 và A-10 của Mỹ.
Tiếp đó, là cuộc tập trận đổ bộ quy mô lớn tại thành phố Pohang ở phía Đông Nam và bờ biển phía Đông bán đảo Triều Tiên, với tên Ssangyong (Rồng đôi), từ ngày 26/8 kéo dài đến ngày 7/9. Thông báo phát đi, Seoul và Washington cho biết, sự kiện Ssangyong huy động lực lượng đổ bộ cấp sư đoàn và khoảng 40 tàu, trong đó có 2 tàu tấn công đổ bộ của Hàn Quốc là ROKS Dokdo và ROKS Marado, cùng tàu đổ bộ tấn công USS Boxer của Hải quân Mỹ. Sự kiện cũng có sự tham gia của khoảng 40 máy bay, trong đó có máy bay phản lực tàng hình F-35B và khoảng 40 xe tấn công đổ bộ…, với mục đích để xây dựng năng lực sẵn sàng chiến đấu và khả năng tương tác của các đồng minh.
Có lẽ vì mục đích đó, điểm mới của Ssangyong là bắt đầu từ năm nay, lực lượng Thủy quân Lục chiến của Hàn Quốc và Mỹ sẽ tổ chức một nhóm tham mưu chung, cùng chỉ huy cuộc tập trận đổ bộ trên tàu ROKS Marado. Trong khi đó, Bộ Chỉ huy quân sự chung giám sát các hoạt động máy bay không người lái, được thành lập vào tháng 9/2023 giữa hai đồng minh cũng sẽ tham gia Ssangyong lần đầu tiên, tiến hành các hoạt động giám sát triển khai máy bay không người lái…
Khi cuộc tập trận Ssangyong còn chưa dứt, thì ngay trong những ngày đầu tháng 9, hải quân và thủy quân lục chiến của Mỹ và Hàn Quốc đã tiến hành các cuộc tập trận đổ bộ đường biển, tại khui vực thành phố Pohang thuộc tỉnh Gyeongsang Bắc – cách Seoul 273 km về phía Đông Nam. Mục đích là nhằm kiểm tra khả năng bảo vệ các khu vực mục tiêu…
Quy mô ngày càng lớn; mục tiêu rõ, không úp mở: tăng cường khả năng sẵn sàng đối phó với “các mối đe dọa khác nhau từ Triều Tiên”…đã khiến khiến Bình Nhưỡng giận dữ. Chính thế, Bình Nhưỡng gần như buộc phải có động thái tương xứng, là “cắt đường” nhằm đáp trả những hành động khiêu khích từ một “quốc gia thù địch chính và kẻ thù không thay đổi” – như tuyên bố ngày 9/10 vừa qua.
Nếu tính thêm tuyên bố lần thứ 2 trong vòng 1 tuần của nhà lãnh đạo Kim Jong Un, trong đó, nhấn mạnh Triều Tiên “sẽ không ngần ngại dùng đến mọi lực lượng hiện có. Điều này không loại trừ vũ khí hạt nhân”, cộng đồng thế giới càng thêm có lý do để lo lắng, „sức nóng” mới đang gia tăng sẽ phá hủy kết quả của những gắng gượng kiềm chế gần như cuối cùng hiện nay.
BDN
![]()
Views: 0
Báo chí Nga hôm nay 8.10 đưa tin các tàu chiến Nga và Trung Quốc đã thực hiện cuộc tập trận chung chống tàu ngầm ở tây bắc Thái Bình Dương.

Hãng tin Interfax dẫn thông tin từ Hạm đội Thái Bình Dương của Nga cho hay một nhóm tàu chiến Nga và Trung Quốc lập đội hình để tổ chức phòng thủ chống ngầm.
Tham gia cuộc tập trận mới có hai tàu khu trục chống ngầm cỡ lớn Đô đốc Panteleyev và Đô đốc Tributs thuộc Hạm đội Thái Bình Dương của Nga.
Phía Trung Quốc thì triển khai hai tàu khu trục, một tàu hộ vệ và một tàu tiếp tế, theo Interfax.
Cũng theo Interfax, các tàu hải quân Nga và Trung Quốc đã bắt đầu tuần tra chung sau khi tham gia một cuộc tập trận hải quân vào tháng 9.
Một số buổi huấn luyện và diễn tập tác chiến đã được lên kế hoạch trong các nhiệm vụ tuần tra, bao gồm cả việc tổ chức phòng thủ chống tàu ngầm và cứu hộ trên biển. Interfax không cung cấp lịch trình của cuộc tập trận.
Trước đó, Hãng tin TASS ngày 9.7 đưa tin khinh hạm Sovershenny của Nga và một số tàu chiến Trung Quốc đã tiến hành diễn tập huấn luyện khi tuần tra ở biển Philippines.
“Khinh hạm Sovershenny của Hạm đội Thái Bình Dương, cùng với một đội tàu chiến của hải quân PLA (Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc)… đã tiến hành huấn luyện kiểm tra một tàu đáng ngờ trong cuộc tuần tra hải quân chung ở biển Philippines”, TASS dẫn thông báo từ Hạm đội Thái Bình Dương của Nga.
Ngoài ra, tờ PLA Daily ngày 2.7 đưa tin Trung Quốc và Nga đã tiến hành một cuộc tập trận chung tập trung vào chủ nghĩa khủng bố xuyên biên giới.
Vào tháng 8.2023, đội tàu chiến Nga và Trung Quốc đã tuần tra chung tại Thái Bình Dương và tổ chức diễn tập hải quân ở biển Hoa Đông, theo Bộ Quốc phòng Nga.
BDN
![]()
Views: 0
Hàn Quốc hiện là nước xuất khẩu vũ khí lớn thứ 10 thế giới và mục tiêu đến năm 2027 sẽ vươn lên vị trí thứ 4.

Triển lãm Công nghiệp Quốc phòng Quốc tế Quân đội Hàn Quốc diễn ra vào tuần trước tại Gyeryongdae, cách Seoul khoảng 145km về phía Nam. Đây là triển lãm quốc phòng lớn nhất của Hàn Quốc, nhằm giới thiệu các vũ khí quân sự và nâng cao vị thế của quốc gia này trong lĩnh vực xuất khẩu vũ khí.
Sự kiện này được tổ chức nhằm mục đích thúc đẩy doanh số bán vũ khí và tăng doanh thu cho Hàn Quốc.
Khoảng 4 năm trước, kim ngạch xuất khẩu vũ khí hàng năm của quốc gia Đông Á chỉ đạt khoảng 2 đến 3 tỷ USD. Sau đó, con số này đã tăng vọt lên khoảng 7,3 tỷ USD vào năm 2021 và 17,3 tỷ USD vào năm 2022. Chính phủ Hàn Quốc kỳ vọng con số này sẽ tăng lên khoảng 20 tỷ USD trong năm nay.
Hàn Quốc hiện là nước xuất khẩu vũ khí lớn thứ 10 trên thế giới, và đang hướng tới mục tiêu trở thành nước xuất khẩu lớn thứ 4 vào năm 2027.
Một số chuyên gia nhận định rằng, ngành công nghiệp quốc phòng của Hàn Quốc có sự tăng trưởng ổn định và đang được các công ty sản xuất quân sự trên thế giới xem như một đối thủ cạnh tranh. Hàn Quốc có khả năng đạt được mục tiêu trở thành nước xuất khẩu vũ khí hàng đầu, trong bối cảnh ngành này luôn là ưu tiên của chính phủ.
Ông Jee Hyo-keun, giáo sư tại khoa Khoa học và Nghệ thuật Quân sự, Đại học Konyang chia sẻ rằng: “Hàn Quốc đã đầu tư mạnh mẽ vào nguồn nhân lực, nhưng việc phát triển nguồn lực này không thể diễn ra một sớm một chiều mà cần sự tích lũy liên tục theo thời gian”.
Để đạt được mục tiêu này, Hàn Quốc đang kỳ vọng sẽ ký kết thêm nhiều hợp đồng với các quốc gia khác. Hiện tại, nước này đã xuất khẩu công nghệ quốc phòng đến 12 quốc gia và đang tích cực mở rộng quy mô xuất khẩu đến nhiều quốc gia hơn.
Ngoài ra, Hàn Quốc đang nỗ lực đẩy mạnh quốc phòng bằng cách tăng cường đầu tư vào quân sự trước các mối đe dọa về an ninh trong khu vực.
Từ nay đến năm 2028, Bộ Quốc phòng Hàn Quốc dự kiến sẽ chi khoảng 350 tỷ won (260 tỷ USD) để nâng cao năng lực và duy trì quân đội, trang thiết bị và cơ sở vật chất.
Nước này đã ký kết các thỏa thuận mua vũ khí, bao gồm vệ tinh quân sự, máy bay chiến đấu tàng hình F-35A từ Mỹ và máy bay không người lái tự sát từ Ba Lan.
BDN
![]()
Views: 0
Luôn hiện diện trong các căng thẳng trên Biển Đông, hải cảnh Trung Quốc gây ra nhiều mối lo khi thường xuyên có những hành động gây bất ổn, nhất là khi lực lượng này được chính quyền Trung Quốc trao quyền lực đầy nguy hiểm.

Mới đây, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao VN Phạm Thu Hằng bày tỏ quan điểm về việc tàu chấp pháp Trung Quốc trấn áp, đánh bị thương, tịch thu tài sản của ngư dân thuộc tàu cá QNg 95739 TS (tỉnh Quảng Ngãi) trong khi đang hoạt động tại khu vực quần đảo Hoàng Sa của VN vào ngày 29.9.
Lực lượng gây hấn
Theo đó, bà Hằng nhấn mạnh: “Hành động nêu trên của lực lượng thực thi pháp luật Trung Quốc đã vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của VN đối với quần đảo Hoàng Sa, vi phạm luật pháp quốc tế, Công ước LHQ về luật Biển (UNCLOS) 1982”.
Đây không phải là lần đầu tiên tàu chấp pháp Trung Quốc trấn áp, gây thiệt hại cho tàu cá VN đang hoạt động hợp pháp. Tiên phong trong lực lượng tàu chấp pháp trên biển của Trung Quốc phải kể đến cơ số tàu hải cảnh (CCG) khá hùng hậu và thường hành xử thô bạo. Đầu năm 2020, tàu hải cảnh Trung Quốc đã ngăn cản và đâm chìm tàu cá QNg 90617 TS cùng 8 ngư dân VN ở khu vực đảo Phú Lâm, quần đảo Hoàng Sa. Ngoài ra, CCG còn gây ra nhiều vụ việc tương tự ở Biển Đông nhằm vào tàu cá VN.
Gần đây, giữa bối cảnh Trung Quốc và Philippines có nhiều căng thẳng trên Biển Đông, CCG cũng thường xuyên xuất hiện và đã gây ra nhiều va chạm. Đầu tháng 9, tờ Philippine Daily Inquirer dẫn số liệu do Hải quân Philippines mới công bố cho thấy tổng cộng có 203 tàu thuộc CCG, tàu chiến và tàu của Lực lượng Dân quân biển Trung Quốc (CMM) được ghi nhận hiện diện ở Biển Đông từ ngày 27.8 – 2.9.
Rủi ro lộng quyền
Trong khi đó, với vai trò tiên phong trong chiến lược vùng xám của Trung Quốc nhằm kiểm soát Biển Đông, CCG được chính quyền nước này trao những quyền hạn phi pháp.
Vào tháng 5 vừa qua, Trung Quốc cho phép CCG áp dụng hình phạt giam giữ lên tới 60 ngày không qua xét xử đối với người nước ngoài “vượt biên trái phép” qua vùng biển Bắc Kinh tuyên bố chủ quyền.
Nhận xét về động thái này của Trung Quốc khi trả lời Thanh Niên, GS Stephen Robert Nagy (Đại học Cơ Đốc giáo quốc tế – Nhật Bản, học giả tại Viện Nghiên cứu các vấn đề quốc tế của Nhật) cho rằng: “Việc Trung Quốc cho phép CCG được bắt giữ người nước ngoài trên biển như ở Biển Đông là một minh chứng cho thấy Bắc Kinh đang dùng luật pháp trong nước đối với khu vực mà Bắc Kinh tuyên bố chủ quyền ngay cả khi đó là tuyên bố chủ quyền phi pháp. Khi tiến hành một vụ bắt giữ như vậy, Trung Quốc tự tạo ra một bộ hồ sơ hành chính để tự hình thành nên một cơ sở dữ liệu để hợp pháp hóa việc thực thi luật pháp (dù phi pháp) trong khu vực. Qua đó, Bắc Kinh tự mở rộng quyền kiểm soát mà không cần sử dụng vũ lực”.
Tương tự, GS-TS Prakash Panneerselvam (Chương trình Nghiên cứu an ninh và chiến lược quốc tế, Viện Nghiên cứu tiên tiến quốc gia Ấn Độ) đánh giá: “Nếu CCG bắt giữ người nước ngoài ở Biển Đông thì đó là hành động bất hợp pháp. Nhưng Trung Quốc vẫn cho phép là nhằm tìm cách khẳng định chủ quyền của mình đối với các khu vực rộng lớn ở Biển Đông. Bằng cách cho phép bắt giữ, Trung Quốc đang báo hiệu ý định thực thi các yêu sách của mình một cách mạnh mẽ hơn”.
Trước đó, đầu năm 2021, Trung Quốc cho phép CCG nổ súng chống tàu nước ngoài ở vùng biển “Trung Quốc tuyên bố chủ quyền”. Liên quan diễn biến này, TS Swee Lean Collin Koh (chuyên gia quốc phòng thuộc Trường Nghiên cứu quốc tế S.Rajaratnam, Singapore) phân tích: “Bắc Kinh tiếp tục sửa luật để cho phép lực lượng hải cảnh sử dụng vũ lực trên biển. Điều này cho thấy Bắc Kinh đang muốn tiến thêm một bước trong việc sử dụng “cơ bắp” để đảm bảo điều mà họ xem là “lợi ích” của Trung Quốc”.
Cùng quan điểm, ông Greg Poling, Giám đốc chương trình AMTI – Trung tâm nghiên cứu chiến lược và quốc tế (CSIS, Mỹ), lo ngại: “Các quy tắc được áp dụng cho vùng biển thuộc quyền tài phán của Trung Quốc, nhưng như cách hành xử lâu nay, Bắc Kinh né tránh mô tả chi tiết các vùng biển nào. Nói cách khác, thông qua các quy định trên, “tàu chấp pháp” của Trung Quốc sẽ được sử dụng vũ khí ở bất cứ khu vực nào, vào bất cứ lúc nào mà họ cho là cần thiết”.
Được vũ trang hỏa lực mạnh và hỗ trợ cho các tàu dân binh gây rối, tàu CCG thực hiện nhiều hành động gây leo thang căng thẳng nhưng núp bóng dưới hình thức tàu chấp pháp để né tránh việc sử dụng sức mạnh quân sự gây sức ép. Chính vì thế, CCG bị xem là “hung thần” và trở thành lực lượng tiên phong phục vụ cho “Trò chơi quyền lực mạo hiểm của Trung Quốc ở Biển Đông” như một nhận xét mới đây trên tờ The New York Times.
BDN
![]()
Views: 0
“Mồm loa mép giải”- câu thành ngữ quen thuộc này hàm ý phê phán kẻ to tiếng và lắm lời, nói át người khác cả khi họ là thủ phạm gây hậu quả.

Xét theo nghĩa ấy, Trung Quốc đang phơi mặt trước thiên hạ mình là như thế trước sự việc sử dụng lực lượng chấp pháp truy đuổi, hành hung, đánh đập dã man, cướp tài sản của ngư dân Việt Nam ngày 29/9/2024 vừa qua.
Chưa đầy 1 tuần, câu chuyện vẫn còn nóng ran trong dư luận. Sau khi sự việc được xác minh, ngày 2/10, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam cho biết đã giao thiệp nghiêm khắc, phản đối cách hành xử ‘thô bạo’ của Trung Quốc với ngư dân tại quần đảo Hoàng Sa (của Việt Nam); yêu cầu không tái diễn…
Các nhà quan sát nhận định rằng, lâu lắm rồi, phát ngôn viên của Việt Nam mới ném về phía Bắc Kinh những ngôn từ nặng nề đến thế. Một số chuyên gia pháp ý biển còn thể hiện cái nhìn sâu sắc hơn với nhận định: vụ việc mới cho thấy, sau thời gian im lặng, Bắc Kinh đang ráo riết áp dụng trở lại chiến thuật “vùng xám” thâm hiểm để gây hấn, đe dọa, buộc các bên, nhất là hai kẻ “bướng bỉnh” Việt Nam và Philippines, khuất phục tham vọng độc chiếm Biển Đông của Trung Quốc…
Cũng chẳng trách được sự nặng lời của Hà Nội nếu biết vụ việc vừa xảy ra nghiêm trọng như thế nào; Trung Quốc đã gây hấn, truy đuổi tàu cá Việt Nam ra sao; và đặc biệt, đội rằn ri 40 người của Trung Quốc, như những tên cướp biển thực sự, tràn sang tàu cá QNg 95739 TS (tỉnh Quảng Ngãi) của Việt Nam đánh đập họ một tàn nhẫn, sau đó cướp đi ngư cụ tài sản…
Nên nhớ rằng, vụ việc xảy ra khi tàu cá QNg 95739 TS đang hành nghề trong ngư trường truyền thống, thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Nếu không nghiêm trọng, chắc câu chuyện cũng chỉ dừng ở mức độ lời qua tiếng lại, chao chát giữa Việt Nam và Trung Quốc; các nước khác, nếu có, cũng chỉ giữ thái độ trung lập là cùng.
Nhưng lần này thì khác. Bên Thái Bình Dương, ngày 3/10 vừa qua, ông Mathew Miller, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, đã nói rằng “Mỹ quan ngại sâu sắc trước các báo cáo về hành động nguy hiểm của các tàu thực thi pháp luật của Trung Quốc đối với tàu cá Việt Nam quanh quần đảo Hoàng Sa vào ngày 29/9”.
Giữa lúc hai siêu cường gầm ghè nhau, Washington hẳn đã tính toán, cân nhắc lắm khi đưa ra một thông điệp như thế. Và chắc chắn, trước đó, họ đã hình dung ra sự cáu kỉnh của Bắc Kinh khi biết được phản ứng này.
Còn Philippines? Là nạn nhân nhiều nhất của Trung Quốc trong hai năm gần đây, Philippines không thể hiện thái độ sao được. Đó là chưa kể, biết đâu, thâm tâm, Manila lấy vụ việc đó làm mừng vì “san sẻ” bớt được cho người khác cái họa khiến họ mệt lử mấy năm qua, trong khi Việt Nam lại vẻ như đỡ bị Trung Quốc gây hấn hơn…
Có lẽ lời tố cáo nặng nề của Hà Nội cùng sự quan tâm đặc biệt của dư luận đã khiến Trung Quốc không thể “đánh bài lờ” như nhiều trường hợp. Ngay sau tố cáo của Việt Nam ngày 2/10, cùng ngày, tại Bắc Kinh, trả lời câu hỏi của phóng viên hãng AFP, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc xác nhận rằng: “một sự cố” đã xảy ra với tàu của Việt Nam”. Tuy nhiên, kèm đó, quan chức ngoại giao này khẳng định lực lượng chấp pháp Trung Quốc “đã kiềm chế”, “ không làm ai bị thương”; cho rằng, các thông tin đưa ra về vụ việc là “không đúng tình tiết”…
Một lần nữa, người ta chứng kiến trò xảo ngôn của Bắc Kinh. 40 người mang đồ rằn ri tràn lên tàu cá QNg 95739 TS là tình tiết không đúng chăng? Những ngư dân bị thương, trong đó có người bị thương nặng vì hung khí, những cú đấm, đạp của lũ côn đồ rằn ri…không là người thật việc thật sao? Nhưng cú rượt đuổi bằng tàu thép, sau đó bằng 3 ca nô, là “không đúng tình tiết” sao?…
Những lời đôi chối trơ tráo của Bắc Kinh khiến nhiều người nhớ lại cách hành xử tương tự từng có. Trong khoảng thời gian từ tháng 4 đến tháng 8/2023, hàng chục tàu cá của ngư dân Quảng Ngãi hành nghề trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, từng bị tàu Trung Quốc ngang nhiên áp sát, truy đuổi, dùng vũ khí uy hiếp tịch thu dụng cụ hành nghề, cướp đi hải sản đánh bặt được…Đối lại những tố cáo của Việt Nam, Trung Quốc luôn giở giọng đổ cho tàu Việt Nam vi phạm, xâm phạm vùng biển Trung Quốc, thậm chí cho rằng, tàu cá Việt Nam có những động thái khiêu khích trước…
Một vụ việc điển hình khác liên quan “vụ Cỏ Rong”. Ngày 9/6/2019, tàu cá Gem-Ver 1 của Philippines bị tàu Yuemaobinyu 42212 (Trung Quốc) đâm chìm ở khu vực bãi Cỏ Rong (thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam). Tàn nhẫn hơn, 22 ngư dân tàu tàu cá Gem-Ver 1 bị Trung Quốc bỏ mặc sống chết trên biển. May mắn, họ được được tàu cá Việt Nam cứu sống. Sự việc rành rành, do chính những ngư dân Philippines kể ra và khẳng định.Vậy mà, Đại sứ quán Trung Quốc tại Philippines xác nhận vụ việc, nhưng cho rằng: tàu Trung Quốc muốn cứu mà đành chỉ nhìn, do sợ “từ 7-8 tàu khác của Philippines bao vây”…
Nực cười: kẻ côn đồ hành hung người khác, lại ai oán rằng: mình sợ bị bắt nạt! Lời nói dối trơ tráo đó đã khiến dư luận Philippines sục sôi, xuống đường biểu tình. Thậm chí, từng xảy ra những vụ đốt cờ Trung Quốc tại thủ đô Manila.
Mới thấy, “mồm loa mép giải” đã thành trò mà Trung Quốc thường mang ra “diễn” mỗi khi họ gây chuyện trên Biển Đông vậy.
BDN
![]()
Views: 0
Campuchia ngày 1.10 tuyên bố Hải quân Mỹ sẽ được chào đón đến thăm căn cứ hải quân Ream của nước này.

Phát biểu tại Trung tâm Nghiên cứu chiến lược và quốc tế ở Washington (Mỹ), Phó thủ tướng Campuchia Sun Chanthol khẳng định rằng quân đội của bất kỳ quốc gia nào cũng có thể viếng thăm căn cứ hải quân Ream sau khi công trình này hoàn thành.
Reuters dẫn lời ông Sun cho biết thêm khi căn cứ hải quân hoàn tất, lực lượng hải quân của các quốc gia có thể ghé cảng cho các mục đích nhân đạo, cứu trợ thảm họa hoặc tập trận quân sự chung.
Ông Sun khuyến khích Hải quân Mỹ nên mang theo những tàu chiến nhỏ khi ghé cảng Ream vì vùng nước ở khu vực khá nông và phương tiện của Washington có thể không qua được hoặc mắc kẹt.
Campuchia xác nhận sẽ nhận 2 tàu chiến mới từ Trung Quốc
Trước khi dự án nâng cấp căn cứ Ream do Trung Quốc tài trợ bắt đầu vào tháng 6.2022, cơ sở này từng là địa điểm diễn ra một số cuộc tập trận và huấn luyện hải quân chung giữa Mỹ và Campuchia. Các tàu chiến Trung Quốc đã luân phiên đến căn cứ hải quân Ream kể từ tháng 12.2023 với mục đích huấn luyện.
Gần đây, phát ngôn viên Bộ Quốc phòng Campuchia Maly Socheata hôm 4.9 cũng xác nhận hải quân nước này sẽ nhận được 2 tàu chiến mới từ Trung Quốc.
Trước đó, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Lloyd Austin đã gặp giới lãnh đạo Campuchia hồi tháng 6 và thảo luận về việc nối lại các hoạt động trao đổi huấn luyện quân sự, rà phá bom mìn và vật liệu chưa nổ. Cũng trong cuộc gặp, các quan chức đã thảo luận về các cơ hội tăng cường quan hệ quốc phòng Mỹ – Campuchia nhằm hỗ trợ hòa bình và an ninh khu vực.
BDN
![]()
Views: 0
Hôm 28.9, Bộ Tư lệnh Chiến khu Nam Bộ của quân đội Trung Quốc thông báo lực lượng không quân và hải quân nước này tiến hành diễn tập xung quanh bãi cạn Scarborough.

Nội dung cuộc diễn tập quân sự bao gồm hoạt động cảnh báo sớm và trinh sát, cũng như công tác tuần tra xung quanh bãi cạn Scarborough, theo thông báo đến từ Bộ Tư lệnh Chiến khu Nam Bộ của quân đội Trung Quốc.
Không có chi tiết cụ thể về cuộc diễn tập, như thời gian diễn ra và quy mô hoạt động, theo Reuters và AFP hôm 28.9.
Bãi cạn Scarborough cách đảo chính Luzon của Philippines khoảng 240 km về hướng tây và gần 900 km kể từ đảo Hải Nam của Trung Quốc. Năm 2012, Trung Quốc giành quyền kiểm soát bãi cạn từ Philippines.
Thông báo trên được đưa ra vài giờ sau cuộc gặp bên lề Liên Hiệp Quốc giữa Ngoại trưởng Mỹ Antony Blinken và người đồng cấp Trung Quốc Vương Nghị ở thành phố New York (bang New York, Mỹ) hôm 27.9 (giờ địa phương).
Hai nhà ngoại giao hàng đầu Mỹ-Trung đã thảo luận về tình hình Biển Đông bên cạnh những nội dung khác.
Hoạt động diễn tập cũng được tổ chức sau khi Philippines và Úc thông báo sẽ tổ chức hoạt động hàng hải chung với Nhật Bản, New Zealand và Mỹ ở Vùng đặc quyền kinh tế Philippines.
BDN
![]()
Views: 0
Hôm 29/9 vào lúc rạng sáng, tàu cá QNg 95739 TS lại bị tàu Trung Quốc bất ngờ dùng vũ lực tấn công và đánh đập. Bốn ngư dân đã bị thương nặng, thiệt hại về tài sản lên đến gần một tỉ đồng.

Khi được tàu Cảnh sát biển Việt Nam ứng cứu, các ngư dân Quảng Ngãi đã kể lại câu chuyện kinh hoàng, còn hơn cả những chuyện cướp biển lâu nay. Tiếc thay, kẻ cướp biển lại là những người dân một nước láng giềng có quan hệ thân thiết với Việt Nam, đang cùng nhau “chia sẻ tương lai”, như chủ trương của các nhà lãnh đạo hai nước.
Dẫu sao, dẫu là chuyện tự phát từ phía Hải cảnh hay ngư dân Trung Quốc thì cũng phải nghiêm khắc lên án, vạch trần tội ác của những kẻ gây hấn. Không thể chấp nhận trên một vùng biển đang có những tranh chấp nhất định, quyền con người không được tôn trọng. Người ta có thể vô cớ dùng gậy gộc, dùi cui, tuýp sắt đánh người đang hành nghề hợp pháp trên vùng biển của mình đến chết đi sống lại.
Theo lời kể của ngư dân, Thuyền trưởng, Nguyễn Thanh Biên, 40 tuổi, tàu đánh cá đã rời khỏi quê nhà hơn nửa tháng. Họ đang chuẩn bị rời ngư trường quen thuộc để trở về nhà với những khoang tàu đầy tôm cá. Vậy mà những nụ cười vụt tắt, khi từ tờ mờ sáng, họ bất ngờ nhìn thấy một con tàu lớn, số hiệu 301, cắm cờ Trung quốc lừng lững tiến lại.
Sau gần một giờ rượt đuổi tàu cá Việt Nam, “bọn cướp” đã áp sát mạn tàu. Chúng thả ba chiếc ca nô, kẹp sát hai mạn tàu cá Việt Nam. Tất cả bọn chúng đều mặc quần áo rằn ri, không nói năng gì bất ngờ dùng tuýp sắt đánh thuyền trưởng và các ngư dân khác, khiến cho bốn người gục xuống bất tỉnh.
Theo các ngư dân kể lại, bọn “cướp” có khoảng 40 người, không mang theo súng, nhưng trên tay lăm lăm dùi cui. Và những chiếc dùi cui đã vung lên giáng xuống tới tấp từ phía sau. Ngoài thuyền trưởng còn có ba ngư dân khác bị đánh gãy xương tay chân, ngã ngất trên boong tàu.
Không dừng ở đó, những kẻ lạ mặt dồn ép các ngư dân trên tàu lại, bắt tất cả quỳ xuống, rồi quây bạt che lại. Thật là những giây phút nghẹt thở! Những người đánh cá hiền lành nói với bọn côn đồ, xin đưa thuyền trưởng của họ vô buồng lái để làm hô hấp nhân tạo, nếu không ông sẽ chết mất. Phải một lúc sau, chờ ý kiến “thượng cấp” chúng mới đồng ý.
Nhùng nhằng mãi, tới 1 giờ chiều, qua lời người phiên dịch tàu cá Quảng Ngãi mới được “tha”, sau khi bị vơ vét hết lưới , máy móc và mấy tấn cá.
Khi tàu cách đất liền khoảng 50 hải lí thì gặp được tàu Cảnh sát biển Việt Nam 6001. Tất cả mọi người vẫn chưa hết bàng hoàng. Lúc này những người bị thương mới được băng bó, uống thuốc.
Câu chuyện đầu tiên với Cảnh sát biển, các ngư dân Quảng Ngãi nói rằng, họ hết sức căm giận quân ăn cướp, vừa ăn cướp vừa la làng. Biển của mình thì mình đi chứ! Tới đây, dù đã mất hết ngư cụ nhưng họ sẽ vay mượn tiền, mua sắm lại. Nhất định là sẽ tiếp tục đánh bắt hải sản trên vùng biển của Việt Nam, như Bộ Ngoại giao Việt Nam vẫn từng nói.
Cho đến chiều 2/10. Bộ Ngoại giao Việt Nam vẫn chưa lên tiếng về vụ việc đáng tiếc này. Tuy nhiên, trước đó Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam nhiều lần khẳng định: “Việt Nam phản đối mọi hành vi sử dụng vũ lực đối với các tàu cá của Việt Nam hoạt động bình thường trên biển, đe dọa đến tính mạng và an toàn, cũng như gây thiệt hại về người, tài sản của ngư dân,trái với Luật pháp quốc tế, Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển – UNCLOC-1982”.
Phía Việt Nam hiện mới có phản hồi từ Hội Thủy sản nước này. Hội đã gửi Công văn tới Bộ Nông nghiệp&Phát triển Nông thôn, Bộ Ngoại gia, Ban Đối ngoại T.Ư. Công văn “Phản đối mạnh mẽ phía Trung Quốc cản trở, cướp phá tài sản, đánh đập ngư dân Việt Nam; kiến nghị tăng cường hỗ trợ ngư dân khi đi đánh bắt cá trên biển. Thường xuyên có lực lượng chấp pháp hỗ trợ cho ngư dân,bảo vệ an toàn cho ngư dân để họ yên tâm bám biển, làm ăn trên vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam”.
Theo chúng tôi, lời lẽ như thế là còn quá nhẹ nhàng.
Trung Quốc cần phải dừng lại ngay các hành động cướp biển tương tự! Đừng vì những lợi ích cục bộ mà ảnh hưởng đại cục, làm xấu đi quan hệ đang có những tiến triển tốt đẹp giữa hai nước.
BDN
![]()
Views: 0
Australia và Philippines cho biết, hai nước sẽ tiến hành hoạt động hàng hải chung với Nhật Bản, New Zealand và Mỹ trong vùng đặc quyền kinh tế của Philippines.

Theo Reuters, Bộ Quốc phòng Australia cho biết trong một tuyên bố hôm 28/9: “Hoạt động hợp tác hàng hải thể hiện cam kết chung của chúng tôi trong việc tăng cường hợp tác khu vực và quốc tế nhằm hỗ trợ khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương hòa bình, ổn định và thịnh vượng”.
Tàu Hải quân HMAS Sydney và một máy bay tuần tra hàng hải P-8A Poseidon của Không quân Hoàng gia Australia sẽ hoạt động chung với các quốc gia trên để thúc đẩy “sự hợp tác và khả năng tương tác giữa các lực lượng vũ trang của các nước tham gia”, tuyên bố cho biết thêm.
Hoạt động chung này diễn ra sau một loạt các cuộc đụng độ trên không và trên biển giữa Philippines và Trung Quốc. Hai nước đã đấu khẩu về các khu vực ở Biển Đông, bao gồm Bãi cạn Scarborough, hiện đang do Trung Quốc kiểm soát kể từ năm 2012.
Hôm 25/9, các tàu hải quân New Zealand và Australia đã đi qua Eo biển Đài Loan, một động thái mà Bộ Quốc phòng Australia cho biết đã thể hiện cam kết của nước này đối với một Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương cởi mở, ổn định và thịnh vượng.
Australia đã “liên tục gây sức ép với Trung Quốc về hòa bình và ổn định ở Biển Đông và Eo biển Đài Loan”, Bộ trưởng Ngoại giao Australia Penny Wong phát biểu trước Đại hội đồng Liên hợp quốc hôm 28/9.
Theo trang GMA News của Philippines, người đứng đầu Lực lượng vũ trang Philippines Romeo Brawner Jr. cũng đã xác nhận thông tin trên.
“Hoạt động này sẽ được tiến hành theo cách phù hợp với luật pháp quốc tế và tôn trọng sự an toàn của hoạt động hàng hải cũng như quyền và lợi ích của các quốc gia khác”, ông Brawner cho biết.
Trong một động thái liên quan, Bộ Tư lệnh Chiến khu Miền nam của Quân đội Trung Quốc cho biết vào cùng ngày rằng họ đã tổ chức các lực lượng không quân, hải quân để tiến hành tập trận và tuần tra trên biển và không phận tại các khu vực ở Biển Đông. Các cuộc tập trận xung quanh Bãi cạn Scarborough sẽ tập trung vào trinh sát và cảnh báo sớm.
Hiện vẫn chưa rõ Hoạt động hợp tác hàng hải đa phương (MMCA) giữa Mỹ và 4 nước trên sẽ diễn ra gần Bãi cạn Scarborough đến mức nào.
BDN
![]()
Views: 0
Cơ quan Phòng vệ Đài Loan đang trong tình trạng báo động sau khi phát hiện nhiều loạt tên lửa được phóng lên từ sâu trong lục địa Trung Quốc.

Cơ quan Phòng vệ Đài Loan thông báo đã phát hiện nhiều loạt phóng của Lực lượng Tên lửa Trung Quốc tại các tỉnh Cam Túc và Thanh Hải, các khu tự trị Nội Mông và Tân Cương từ 6 giờ 50 ngày 29.9 (giờ địa phương), theo Reuters. Những vùng nói trên cách Đài Loan ít nhất 2.000 km.
Bộ Quốc phòng Trung Quốc chưa bình luận gì. Lực lượng Tên lửa quản lý kho tên lửa quy ước và hạt nhân của quân đội Trung Quốc.
Đài Loan thường theo dõi và công bố thông tin về các hoạt động quân sự của Trung Quốc quanh hòn đảo nhưng hiếm khi công bố dữ liệu thu thập được sâu trong lục địa Trung Quốc. Đài Loan được cho là vận hành nhiều trạm radar mạnh trên các đỉnh núi ở miền trung hòn đảo, có khả năng quét sâu vào Trung Quốc đại lục.
Thông tin được công bố 3 ngày sau khi Cơ quan Phòng vệ Đài Loan nâng cảnh báo về hoạt động quân sự và các cuộc tập trận của Trung Quốc quanh hòn đảo. Bắc Kinh đáp trả rằng có quyền tổ chức các hoạt động như vậy.
Hôm 25.9, Trung Quốc thông báo đã phóng thành công một tên lửa đạn đạo liên lục địa ra Thái Bình Dương. Hồi tháng 8.2022, Trung Quốc phóng nhiều tên lửa ra các vùng biển xung quanh Đài Loan nhằm phản ứng với chuyến thăm của Chủ tịch Hạ viện Mỹ khi đó là bà Nancy Pelosi đến hòn đảo.
BDN
![]()
Views: 0
Mỹ phê duyệt khoản hỗ trợ quốc phòng 567 triệu USD cho Đài Loan – động thái mới nhất của Washington nhằm tăng cường sức mạnh quân sự cho hòn đảo này.

Nhà Trắng cho biết Tổng thống Mỹ Joe Biden ủy quyền cho Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ “chỉ đạo rút tới 567 triệu USD trong các mặt hàng và dịch vụ quốc phòng của Bộ Quốc phòng, cũng như giáo dục và đào tạo quân sự để hỗ trợ Đài Loan”.
Đài Bắc nhiều lần phàn nàn về tiến độ bàn giao vũ khí từ Mỹ, bao gồm máy bay chiến đấu F-14 được nâng cấp.
Mỹ là nước hậu thuẫn quốc tế và cung cấp vũ khí quan trọng nhất cho Đài Loan ngay cả khi không có quan hệ ngoại giao chính thức. Bắc Kinh nhiều lần yêu cầu Washington ngừng bán vũ khí cho Đài Bắc.
Hồi tháng 4, Hạ viện Mỹ cũng thông qua khoản viện trợ bao gồm 60,84 tỷ USD cho Ukraine, 26 tỷ USD cho Israel, 23 tỷ USD để bổ sung vũ khí, kho dự trữ và cơ sở vật chất của Mỹ, 8,12 tỷ USD dành cho khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương.
Tổng thống Joe Biden nhiều lần kêu gọi Quốc hội Mỹ nhanh chóng thông qua các dự luật. “Tôi sẽ ký thành luật ngay lập tức. Chúng tôi sát cánh cùng đối tác của mình”, ông Joe Biden nói.
Dự luật trước đó bế tắc ở Hạ viện Mỹ do sự phản đối từ phe Cộng hòa. Gói viện trợ được ông Biden đề xuất từ tháng 10/2023. Thế nhưng, đề nghị này không nhận được sự ủng hộ tại Hạ viện Mỹ vốn đang do đảng Cộng hòa kiểm soát. Nhiều đảng viên Cộng hòa chỉ trích vì dự luật không đi kèm các điều khoản an ninh biên giới để ngăn dòng người di cư ở biên giới Mỹ – Mexico.
Các nhà lãnh đạo Mỹ từ Tổng thống Joe Biden đến người đứng đầu đảng Cộng hòa tại Thượng viện Mitch McConnell thúc giục Chủ tịch Hạ viện Mike Johnson đưa dự luật này ra bỏ phiếu.
BDN
![]()
Views: 0