Có nhiều yếu tố lý giải cho việc Ottawa đưa ra các tuyên bố với lập trường rõ ràng về Biển Đông và tần suất hiện diện của hải quân Canada ở vùng biển này tăng lên.
Tàu khu trục HMCS Calgary đi qua Biển Đông và cập cảng Cam Ranh ngày 31/3 để “tiếp vận hậu cần”. (Nguồn: SCMP)
Thạc sĩ Khoa học Chính trị Jacob Benjamin (Đại học Waterloo, Canada) có bài viết đăng trên tờ The Diplomat ngày 12/6 đã phân tích về các chuyển biến trong chính sách và hành động của Canada đối với vấn đề Biển Đông trong thời gian gần đây.
Áp dụng lập trường “có nguyên tắc hơn”
Năm 2016, Thượng nghị sĩ gốc Việt của đảng Bảo thủ Canada, ông Thanh Hai Ngo (Ngô Thanh Hải), đệ trình một khuyến nghị để Canada áp dụng lập trường “có nguyên tắc hơn” đối với chủ nghĩa phiêu lưu của Trung Quốc tại Biển Đông.
Bản khuyến nghị được Thượng viện Canada thông qua vào tháng 4/2018, với tính chất không ràng buộc. Tuy vậy, đề xuất trọng tâm của bản khuyến nghị này đang dần được hiện thực hóa thành chính sách.
Thứ nhất, chính phủ của Thủ tướng Trudeau đã thay đổi thái độ rõ rệt khi trực tiếp đưa ra những chỉ trích nhắm vào Trung Quốc, đánh dấu việc từ bỏ giọng điệu chung chung kêu gọi tất cả các bên tuân thủ luật pháp quốc tế.
Thứ hai, các hoạt động của Hải quân Hoàng gia Canada (RCN) ở Biển Đông cho thấy một Canada ngày càng quyết tâm hơn trong việc phản đối Trung Quốc.
Việc RCN nhiều lần đi qua Biển Đông (dù bị các tàu thuyền của Trung Quốc theo dõi) đã khiến Bắc Kinh phẫn nộ. Một ví dụ gần đây nhất là vào ngày 29-30/3, khi tàu khu trục HMCS Calgary đi qua quần đảo Trường Sa trong hành trình từ Brunei đến Việt Nam.
Ngay cả khi Canada không tham gia các chiến dịch tự do hàng hải (FONOP) của Mỹ, song sự hiện diện của hải quân nước này ở Biển Đông cũng có tần suất cao hơn nhiều so với những năm trước.
Ngày càng quyết đoán
Những người hiểu biết chính sách ngoại giao của Canada đều hiểu được tầm quan trọng của việc duy trì sự độc lập với chính sách của Mỹ, vì vậy không quá bất ngờ khi thấy Canada đang lựa chọn một lối đi riêng trong việc thể hiện sự quyết đoán trước chủ nghĩa phiêu lưu của Trung Quốc.
Một tài liệu của chính phủ Canada đã mô tả hành trình của tàu HMCS Ottawa trên Biển Đông năm 2020 là “sự thể hiện thái độ ủng hộ của Canada với các đối tác và đồng minh thân thiết nhất của chúng ta, cũng như với an ninh khu vực và trật tự quốc tế dựa trên các quy tắc”.
Các hành trình của Hải quân Canada tại Biển Đông đã được giới chức cấp cao nhất trong Bộ các vấn đề toàn cầu và Bộ Quốc phòng nước này thông qua trước khi xúc tiến.
Hiện Canada cũng đã tăng cường quan hệ đối tác với các quốc gia và thể chế khu vực đang quản lý khu vực Biển Đông. Hồi đầu tháng 11/2020, Bộ trưởng Quốc phòng Canada Harjit Sajjan đã tham dự Hội thảo quốc tế Biển Đông lần thứ 12 tại Hà Nội và phát biểu rằng “Canada phản đối những hành động đơn phương làm leo thang căng thẳng trong khu vực này và hủy hoại sự ổn định tại Biển Đông. Chúng tôi phản đối việc đe dọa hoặc sử dụng vũ lực, cải tạo đất quy mô lớn, xây dựng các tiền đồn trên các thực thể đang tranh chấp và lợi dụng chúng phục vụ các mục đích quân sự trên biển”.
Tháng 12/2020, ông Harjit Sajjan cũng đã tham dự Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN+.
Chuyển biến lập trường
Trước đây, Thủ tướng Canada Justin Trudeau từng bị chỉ trích vì luôn né tránh vấn đề Biển Đông.
Ví dụ, phát biểu trước báo giới sau cuộc gặp Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe hồi năm 2016, Thủ tướng Trudeau công khai nhấn mạnh những sáng kiến nhân đạo chung với Nhật Bản, song lại “né tránh” vấn đề Biển Đông.
Ông Trudeau cũng rất thận trọng không chỉ đích danh “thủ phạm” nào trong các tranh chấp khi phát biểu trước báo giới tại Hội nghị các lãnh đạo APEC 2015 ở Philippines.
Đến nay, thái độ của Ottawa về Biển Đông đã có sự chuyển biến. Phát biểu trước Ủy ban đặc biệt về Trung Quốc thuộc Hạ viện Canada hồi tháng 4 vừa qua, Bộ trưởng Sajjan tuyên bố: “Canada phản đối các kế hoạch cải tạo đất và xây dựng các tiền đồn tại các khu vực tranh chấp phục vụ những mục đích quân sự”.
Ngoài ra, viết trên mạng xã hội Twitter ngày 24/3, Đại sứ Canada tại Philippines Peter Mac Arthur nhấn mạnh rằng Canada “phản đối những hành động gần đây của Trung Quốc ở Biển Đông, trong đó gồm cả những hành động ở ngoài khơi bờ biển của Philippines”.
Sự xuống cấp trong mối quan hệ Trung Quốc-Canada trong các lĩnh vực khác cũng là một nhân tố thúc đẩy Canada can dự nhiều hơn vào khu vực Biển Đông.
Những tranh chấp xung quanh vụ Mạnh Vãn Châu (con gái của nhà sáng lập tập đoàn công nghệ Huawei) và sự trả đũa của Trung Quốc bằng cách bắt giữ 2 công dân Canada đang thúc đẩy chính phủ Trudeau đưa ra một chính sách quyết đoán hơn đối với Trung Quốc.
Ngoài ra, giống như nhiều quốc gia phương Tây khác, Canada cũng xung đột với Trung Quốc về “các lợi ích cốt lõi”: Ottawa phản đối luật an ninh quốc gia Hong Kong tại Liên hợp quốc, ủng hộ phòng trào do Mỹ dẫn đầu để Đài Loan được hưởng quy chế quan sát viên tại Tổ chức Y tế Thế giới, và tiếp tục lên án mạnh mẽ các hành động của Trung Quốc với người Duy Ngô Nhĩ ở Tân Cương.
Mong ước của Tổng thống Mỹ Joe Biden về một mối quan hệ Nga-Mỹ “ổn định và dễ lường hơn” liệu có thành sau thượng đỉnh với người đồng cấp Nga Vladimir Putin? Bình luận của báo Thế giới & Việt Nam.
ổng thống Mỹ Joe Biden và Tổng thống Nga Vladimir Putin gặp nhau tại Geneve ngày 16/6. (Nguồn: CNN)
Thông điệp về xây dựng một mối quan hệ Nga-Mỹ nói riêng, Nga và phương Tây nói chung theo hướng “ổn định và dễ lường hơn” nhiều lần xuất hiện những ngày qua, từ bài báo của Tổng thống Mỹ Joe Biden trên tờ The Washington Post ngày 5/6, đến nội dung thảo luận lẫn tuyên bố chung của thượng đỉnh G7 và thượng đỉnh NATO.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy khó có thể kỳ vọng nhiều vào kết quả của thượng đỉnh Nga-Mỹ, bởi một vài lý do sau.
Gay gắt khi đối đầu
Thứ nhất, cả Tổng thống Nga Vladimir Putin và người đồng cấp Mỹ Joe Biden đều có chung nhận định rằng quan hệ Nga-Mỹ đang ở mức thấp nhất trong nhiều năm trở lại đây. Lần đồng tình hiếm hoi giữa hai cường quốc thế giới này là có cơ sở, nếu nhìn vào bất đồng ngày một lớn giữa hai bên trong nhiều vấn đề.
Trong quan hệ Nga-Mỹ nói riêng, có thể kể đến việc Washington cáo buộc Moscow can thiệp vào tiến trình dân chủ của Washington năm 2016/2020, hoạt động tấn công mạng của các cá nhân/tổ chức có trụ sở tại Nga vào cơ sở hạ tầng Mỹ, mới đây nhất là đường ống dẫn dầu Colonial Pipeline, hay chuyện ông Joe Biden gọi ông Vladimir Putin là “kẻ giết người” sau một câu hỏi “bẫy”. Mới đây nhất, Moscow đã chính thức rút khỏi Hiệp ước Bầu trời mở, khiến Mỹ và Nga chỉ còn một thỏa thuận kiểm soát vũ khí duy nhất là Hiệp ước Cắt giảm Vũ khí Chiến lược Mới (New START).
Đó là chưa kể tới căng thẳng giữa Nga và các đồng minh phương Tây của Mỹ sau cáo buộc của một số quốc gia Đông Âu dẫn đến “ngoại giao trục xuất”, dự án Dòng chảy phương Bắc 2 và quan điểm đối lập về vấn đề Đông Ukraine, bán đảo Crimea, mới đây nhất là tranh chấp chủ quyền tại khu vực Bắc Cực.
Thực trạng về căng thẳng giữa phương Tây, đặc biệt là Nga-Mỹ phản ánh rõ nét qua tuyên bố chung của Thượng đỉnh G7 và thượng đỉnh NATO, nơi mà Nga được “réo tên” lần lượt là 7 lần và 61 lần, áp đảo đảo hoàn toàn so với một “đối thủ” khác, nặng ký hơn nhiều của Mỹ là Trung Quốc. Từ ngữ sử dụng để nói tới Moscow cũng gay gắt hơn hẳn so với Bắc Kinh. Ví dụ, G7 yêu cầu Moscow chấm dứt hành vi “phá hoại và gây bất ổn… can thiệp vào tiến trình dân chủ” hay tấn công mạng, đồng thời thúc đẩy tiến trình hòa bình tại Đông Ukraine với tư cách một bên tham gia.
Thực trạng về căng thẳng giữa phương Tây, đặc biệt là Mỹ-Nga phản ánh rõ nét qua tuyên bố chung của Thượng đỉnh G7 và thượng đỉnh NATO, nơi mà Nga được “réo tên” lần lượt là 7 lần và 61 lần, áp đảo đảo hoàn toàn so với Trung Quốc, “đối thủ” nặng ký hơn nhiều với Mỹ.
Thận trọng trong hợp tác
Thứ hai, trước thực trạng quan hệ và chiến lược toàn cầu, cả Mỹ và Nga đều không đặt quá nhiều kỳ vọng vào cuộc gặp sắp tới này. Tuy nhiên, cả Washington lẫn Moscow đều ý thức rằng cần duy trì ổn định chiến lược, cùng nhau kiểm soát và quản lý mối quan hệ đặc biệt quan trọng này.
Trong bối cảnh Trung Quốc vẫn là thách thức toàn diện và mang tính cấu trúc lớn hơn so với Nga, chính quyền Tổng thống Joe Biden vẫn ưu tiên hợp tác với Moscow trong các lĩnh vực cùng có lợi. Chính sách cứng rắn với Nga vẫn được duy trì, nhưng mang tính biểu tượng hơn là thực chất. Một số thay đổi chính sách thực chất của Mỹ thời gian qua như gia hạn New START, điện đàm sớm ở cấp lãnh đạo, dỡ bỏ các biện pháp trừng phạt đối với dự án Dòng chảy phương Bắc 2 là minh chứng rõ nét cho mong muốn thiết lập một mối quan hệ Nga-Mỹ “ổn định và dễ lường”
PHÂN TÍCH CỦA BÁO THẾ GIỚI & VIỆT NAM
Khi ấy, thông điệp ông Joe Biden mang đến cuộc họp kéo dài 5 tiếng ngày 16/6 tại biệt thự Villa La Grange ở Geneva (Thụy Sỹ) không phải là “khởi động lại mối quan hệ” hay thể hiện thái độ gay gắt chống Nga. Theo đó, ông chủ Nhà Trắng sẽ hướng tới đề cập tới một số bất đồng cốt lõi trong quan hệ song phương nhằm quản lý rủi ro, có thể là thông qua một cơ chế đối thoại Mỹ-Nga, đồng thời thảo luận về hợp tác trong một số lĩnh vực hai bên cùng quan tâm.
Đối với các vấn đề toàn cầu, Nga-Mỹ có thể hợp tác về chống đại dịch Covid-19, biến đổi khí hậu, cấm phổ biến vũ khí giết người hàng loạt…Về quan hệ song phương, ông Biden chắc chắn sẽ đề cập tới những điểm nóng như Đông Ukraine, bán đảo Crimea, và vấn đề về cáo buộc tin tặc Nga can thiệp các cuộc bầu cử, phá hoại các hoạt động kinh tế, quốc phòng hay sự khó chịu của Mỹ, EU về cách đối xử không công bằng của Nga với các nhân vật đối lập…Mỹ cũng cần tiếng nói và đóng góp tích cực của Nga trong giải quyết các thách thức nổi cộm như phi hạt nhân hóa bán đảo Triều Tiên, Biển Đông, Iran, xung đột ở Libya hay Syria…
Về phần mình, trong cuộc trả lời phỏng vấn truyền thông Mỹ lần đầu tiên sau 3 năm trước thềm thượng đỉnh ngày 16/6, Tổng thống Nga Vladimir Putin cho rằng ông Biden là một “chính trị gia chuyên nghệp” và hy vọng ông chủ Nhà Trắng sẽ không có bước đi vội vàng như người tiền nhiệm Donald Trump. Ông nhấn mạnh nước này sẵn sàng tìm kiếm hợp tác về giải quyết bất đồng với Mỹ. Tổng thống Nga đề xuất rằng hai bên có thể thiết lập cơ chế ứng phó với tội phạm trên Internet, thậm chí là ký một hiệp ước về dẫn độ tội phạm mạng nếu tình hình diễn biến thuận lợi.
Xét cho cùng, trong bối cảnh quan hệ song phương ảm đạm và chưa có dấu hiệu cải thiện, việc cả Washington và Moscow dè dặt trước thượng đỉnh Nga-Mỹ là hợp lý. Tuy nhiên, dư địa hợp tác song phương còn nhiều và trong một ngày nắng đẹp tại Geneva, với thiện chí từ lãnh đạo hai cường quốc hàng đầu thế giới, mọi chuyện đều có thể xảy ra. Bớt kỳ vọng để thêm thành công là vậy.
Giới lãnh đạo Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) cần thông qua chính sách chung theo hướng cứng rắn hơn để đối phó sự trỗi dậy ngày càng mạnh mẽ của Trung Quốc, theo Tổng thư ký Jens Stoltenberg.
Trước thềm thượng đỉnh NATO tại Brussels (Bỉ) hôm 14.6, ông Stoltenberg nhấn mạnh rằng Trung Quốc có ngân sách quốc phòng lớn thứ hai thế giới, lực lượng hải quân hiện quy mô nhất và thi hành chính sách đầu tư mạnh mẽ vào chuỗi cung ứng quân sự (từ vật tư, khí tài đến vũ khí).
“Trung Quốc không chia sẻ cùng giá trị với chúng ta”, Đài CBC dẫn lời tổng thư ký NATO. Vì thế, NATO cần phải phát triển một chính sách mới theo hướng cứng rắn hơn.
“Khi một quốc gia làm điều gì đó gây phật ý, họ (Trung Quốc) lại hành xử theo những cách quá khích”, ông Stoltenberg phản ánh.
Những lời nhận xét trên được đưa ra sau khi hội nghị G7 vào thời điểm kết thúc ở London (Anh) đã thể hiện lập trường tập thể mạnh mẽ hơn trước Trung Quốc, đồng thời kêu gọi chính quyền Bắc Kinh hãy đảm bảo tự do hàng hải tại Biển Đông.
Ông Stoltenberg cũng nhắc nhở các nước cần đối phó Trung Quốc trong những vấn đề chung khác như biến đổi khí hậu và kiểm soát vũ khí.
Ông Phan Quốc Việt hoạt động trong lĩnh vực y tế đã lâu nhưng chỉ đến khi COVID-19 xuất hiện, doanh nhân này mới “bước ra ánh sáng” với bộ kit thử xét nghiệm COVID-19 Made in Vietnam.
Ngày 3/6/2021, CTCP Tập đoàn Vingroup đã thành lập CTCP Công nghệ sinh học Vinbiocare (Vinbiocare) với vốn điều lệ 200 tỷ đồng, ngành nghề kinh doanh chính là sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu.
Trong đó tập đoàn Vingroup chiếm 69% cổ phần, bà Phan Thu Hương nắm giữ 1%, ông Phan Quốc Việt nắm giữ 30%. Chủ tịch HĐQT của công ty là bà Mai Hương Nội, Phó Tổng giám đốc Tập đoàn Vingroup.
Gây chú ý ở đây là người nắm giữ 30% cổ phần trong Vinbiocare – ông Phan Quốc Việt là Tổng Giám đốc kiêm người đại diện theo pháp luật của CTCP Công nghệ Việt Á (Viet A Corp). Câu hỏi được đặt ra: Ông Phan Quốc Việt là ai và tại sao lại được Tập đoàn Vingroup tìm đến hợp tác
“Ông trùm” kín tiếng trong ngành y tế nhờ COVID-19 mới được “lộ diện”
CTCP Công nghệ Việt Á được biết đến lần đầu tiên với tư cách là đơn vị tư nhân hợp tác với Học viện Quân Y sản xuất thành công kit thử xét nghiệm COVID-19 “made in Vietnam”, với tập khách hàng gồm nhiều bệnh viện lớn và là một trong số các công ty do vị doanh nhân thế hệ 8x Phan Quốc Việt đứng đầu.
Dù làm trong mảng B2B (Business To Business – hình thức buôn bán, kinh doanh, giao dịch trực tiếp giữa doanh nghiệp và doanh nghiệp) đã lâu, song chỉ đến khi COVID-19 xuất hiện, ông Phan Quốc Việt hay Việt Á mới chính thức được “bước ra ánh sáng”.
Tháng 3/2020, CTCP Công nghệ Việt Á của doanh nhân Phan Quốc Việt đã hợp tác với Học viện Quân Y sản xuất thành công kit thử xét nghiệm COVID-19 “made in Vietnam” giúp Việt Nam trở thành một trong số ít quốc gia trên thế giới phát triển được các bộ kit xét nghiệm phát hiện virus SARS-CoV-2.
Đây là bộ kit chuẩn đoán SARS-CoV-2 đầu tiên tại Việt Nam, được Bộ Y tế cấp số đăng ký; Bộ Y tế và Chăm sóc xã hội Anh cấp giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn Châu Âu (CE) và cấp giấy chứng nhận lưu hành tự do (CFS); WHO cấp chứng nhận chất lượng sản phẩm cho phép lưu hành toàn cầu. Năng lực sản xuất của Việt Á khoảng 30.000 kit xét nghiệm/ngày.
Bộ kit xét nghiệm này cho kết quả chính xác 100% sau 2h và đáp ứng được các tiêu chí tương đương các bộ sinh phẩm do Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh (CDC) Hoa Kỳ và WHO hướng dẫn.
Nhận định về thành công này, ông Phan Quốc Việt cho biết: “Dự án thành công là nhờ sự cố gắng của 3 bên: Cơ quản lý – Bộ Khoa học công nghệ, phụ trách công nghệ – Viện Quân Y và đơn vị sản xuất – Việt Á. Vài chục con người của cả ba bên nhiều lúc phải tương tác với nhau từ 6 giờ sáng đến 3 giờ sáng hôm sau.
Thậm chí, nhân viên công ty còn chấp nhận hoãn nhận lương vì tài chính đổ vào dự án rất nhiều. 20 nhân sự Việt Á làm đến 2 – 3 giờ sáng nhưng không ý kiến gì, vì họ biết mình có trách nhiệm với cộng đồng”.
Hệ sinh thái và tệp khách hàng đồ sộ của Việt Á
Theo tìm hiểu trên website của công ty, CTCP Công nghệ Việt Á (Việt Á), tên cũ: CTCP Thương mại – Sản xuất và Dịch vụ Việt Á, được thành lập vào tháng 2/2007. Tháng 10/2017, Việt Á đã tăng vốn điều lệ từ 200 tỷ lên 1.000 tỷ đồng, toàn bộ là cổ phần phổ thông từ nguồn vốn tư nhân.
Cổ phần của đơn vị này có sự khác biệt khi mệnh giá lên đến 1 triệu đồng/cổ phần (mệnh giá thông thường là 10.000 đồng/cp), theo đó công ty có 1 triệu cổ phần.
Việt Á đăng ký địa chỉ trụ sở chính tại số 372A/8 Hồ Văn Huê, phường 9, quận Phú Nhuận, TP. HCM. Người đại diện pháp luật kiêm Tổng Giám đốc của Việt Á là ông Phan Quốc Việt (SN 1980).
Trên trang chủ, Việt Á tự giới thiệu là một công ty chuyên về lĩnh vực sinh học phân tử, sở hữu đội ngũ chuyên môn có kinh nghiệm hơn 10 năm trong lĩnh vực này.
Đội ngũ chuyên môn của công ty là nhóm đầu tiên tại Việt Nam ứng dụng thành công và đưa vào thương mại từ rất sớm các kit sử dụng kỹ thuật realtime PCR và lai phân tử. Toàn bộ hoạt động của công ty đều đạt tiêu chuẩn ISO 9001:2015 và ISO 13485:2016.
Hiện Việt Á có 3.000 khách hàng, thực hiện 1.500 dự án và 1.000 nhân viên, vốn điều lệ khoảng 1.000 tỷ đồng, được nâng lên vào năm 2017. Danh mục khách hàng của Việt Á là các bệnh viện lớn trải dài khắp cả nước.
Ngoài trang thiết bị chuyên dụng cho ngành y tế , họ còn có mảng kinh doanh đồ gia dụng gần gũi với người tiêu dùng hơn cùng thương hiệu Healthy Life.
Ngoài ra, Việt Á cũng là nhà thầu y tế quen mặt, trúng nhiều gói thầu tại các bệnh viện lớn trên cả nước, bao gồm: Gói thầu cung ứng hóa chất năm 2016 – 2017 (cung cấp thuốc, hóa chất, vật tư y tế) cho Bệnh viện Quân y 175; gói thầu cung cấp hóa chất dung dịch khử khuẩn, dụng cụ xét nghiệm và sinh phẩm xét nghiệm năm 2018-2019 cho Bệnh viện Da liễu Trung ương.
Tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội, Việt Á trúng gói thầu cung cấp hóa chất sinh phẩm xét nghiệm chuyên khoa và dung dịch khử khuẩn (gồm 609 danh mục) theo Quyết định phê duyệt kế hoạch lựa chọn nhà thầu số 5269/QĐ-BYT ngày 30/8/2018 của Bộ Y tế.
Gần đây, Việt Á còn trúng gói thầu cung cấp hóa chất vật tư tiêu hao theo máy và vật tư tiêu hao phục vụ hoạt động xét nghiệm (gồm 3.296 danh mục) tại Bệnh viện Bạch Mai.
Tuy nhiên, theo dữ liệu của VietTimes, kết quả kinh doanh của Việt Á có chiều hướng đi xuống trong giai đoạn 2016 – 2019 cả về doanh thu và lợi nhuận. Riêng năm 2019, công ty này báo lỗ 3,9 tỷ đồng.
Việc tăng mạnh vốn cho Việt Á dường như là một trong những bước chuẩn bị về mặt tài chính, phục vụ cho những bước tiến mới của vị doanh nhân Phan Quốc Việt.
Được biết, ngày 9/1/2020, Việt Á đã ký kết hợp đồng với Sở Y tế tỉnh Quảng Nam đầu tư nâng cấp một số cơ sở y tế theo phương thức đối tác công tư (PPP). Dự án có tổng mức đầu tư 28,336 tỷ đồng, thực hiện theo hình thức BOT, thời gian thực hiện kéo dài 47 năm.
Ngoài Việt Á, vào tháng 11/2013, ông Phan Quốc Việt còn góp vốn thành lập CTCP Y tế Việt Á (Viet A Medical), vốn điều lệ ban đầu là 1 tỷ đồng, ngành nghề chính là hoạt động các phòng khám đa khoa, chuyên khoa và nha khoa, trụ sở đặt tại tại số 134/3D Đào Duy Anh, Phường 9, Quận Phú Nhuận, TP.HCM.
Theo đó, hệ thống phòng khám Việt Á được thành lập từ 2016, với 4 cơ sở đã đi vào hoạt động và 1 cơ sở sắp khai trương tại P. Bình Trị Đông, quận Bình Tân, TP.HCM. Đây được giới thiệu là hệ thống phòng khám vệ tinh và liên kết rộng khắp cùng với quy trình “không giấy” hoàn toàn tự động theo chuẩn 4.0.
Hơn thế nữa, ông Phan Quốc Việt còn là người đại diện của loạt doanh nghiệp khác như: Công ty TNHH Thế giới Đất Việt, CTCP Kỹ thuật Việt Á, CTCP Đầu tư Đức Ân, CTCP Tư vấn đầu tư Dịch vụ Tâm An, CTCP Kỹ thuật Việt Á, CTCP đầu tư Việt Á Y Dược 99.
Tổng thống Mỹ Joe Biden và các nước thành viên G7 lên kế hoạch cho một sáng kiến trị giá hàng ngàn tỷ đô la nhằm trợ giúp các quốc gia nghèo và đang trỗi dậy xây dựng phục hồi hạ tầng cơ sở sau đại dịch, với trọng tâm là các lĩnh vực khí hậu, y tế, kỹ thuât số và chống bất bình đẳng. Sáng kiến này được cho là một đối trọng trực tiếp với „Con đường tơ lụa mới“ của Trung Quốc.
Lãnh đạo G7 họp ở Cornwall, Anh, ngày 11/6/2021. Ảnh: Reuters
Một quan chức cao cấp Mỹ xin ẩn danh tiết lộ „Theo ước tính, để khoả lấp khoảng cách cơ sở hạ tầng ở các nước có thu nhập thấp và trung bình trên thế giới, Mỹ và các đối tác G7 cần huy động 40 ngàn tỷ USD từ nay đến 2035“. Các quan chức chính phủ Hoa Kỳ còn cho biết thêm, sau đại dịch Covid 19 số tiền thậm chí còn lớn hơn. Việc giải ngân sẽ được thực hiện một cách „minh bạch và bền vững về tài chính, thân thiện với môi trường và xã hội“.
Cho tới nay, dự án „Con đường tơ lụa mới“ được Bắc Kinh khởi động từ 2013, đã được hơn 100 quốc gia trên thế giới hưởng ứng và liên quan đến hơn 2.600 dự án đầu tư, với tổng số vốn khoảng 3.700 tỷ đô la, tính đến giữa năm 2020.
Dự án cơ sở hạ tầng khổng lồ này của G7 không những nhằm để đối đầu với Trung Quốc mà còn nhằm để phản ánh các giá trị, chuẩn mực và quan niệm về quan hệ kinh tế của các nền dân chủ.
Cũng liên quan đến Trung Quốc, Hội nghị thượng đỉnh G7 tại Cornwall thảo luận đến vấn đề Bắc Kinh cưỡng bức lao động nhằm vào người Hồi giáo Duy Ngô Nhĩ tại Tân Cương. Tuy nhiên về điểm này Mỹ và các đối tác châu Âu không hoàn toàn ăn ý với nhau.
Một tuyên bố không kém phần quan trọng được Thủ tướng Anh Boris Johnson đánh giá là một văn bản mang tính lịch sử „Lãnh đạo G7 cam kết tìm mọi cách để tránh tái diễn khủng hoảng y tế như vừa qua và viện trợ vắc-xin với qui mô toàn cầu“. Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc Antonio Gueterres đã hoan nghênh tuyên bố này. Tuyên bố này còn dự kiến rút ngắn thời gian bào chế vắc-xin, tăng cường các biện pháp giám sát y tế, cải tổ WHO. Riêng vấn đề về bản quyền sáng chế Vắc-xin không đạt đồng thuận, Mỹ và Pháp chủ trương từ bỏ Đức phản đối.
Trong bang giao quốc tế G7 coi Nga và Trung Quốc là 2 thách thức lớn với giá trị dân chủ tự do. Bắc Kinh đã phản ứng gay gắt, tố cáo Wahington „kéo bè, kết đảng“.
Theo dữ liệu do Nikkei tổng hợp được, hoạt động quân sự của Trung Quốc gần không phận Đài Loan đã giảm mạnh kể từ khi các nhà lãnh đạo Hoa Kỳ và Nhật Bản kêu gọi hòa bình và ổn định ở eo biển Đài Loan trong Hội nghị thượng đỉnh ngày 16/4.
Bắc Kinh dường như đang lùi bước trước các động thái gây hấn có thể gây phản cảm với Washington về vấn đề eo biển sau khi Hoa Kỳ và Nhật Bản đưa ra tuyên bố đầu tiên nhắc tới Đài Loan trong nhiều thập niên. Với việc giới chức Trung Quốc kỷ niệm 100 năm thành lập chính quyền vào ngày 1/7, nước này cũng đã ưu tiên bảo đảm trật tự trong nước.
Trong 75 ngày từ ngày 1/1 đến ngày 16/4, Trung Quốc đã điều các máy bay phản lực quân sự vào vùng nhận dạng phòng không của Đài Loan với tỷ lệ khoảng 70% hoặc khoảng năm ngày trong tuần. Tổng cộng 257 máy bay phản lực, chủ yếu là máy bay chiến đấu J-10 và J-16, đã bay vào vùng nhận dạng phòng không của Đài Loan trong các cuộc xâm nhập này, với trung bình 3,4 máy bay trong một ngày xâm nhập.
Trong số 75 ngày, Đài Loan đã trải qua các cuộc tấn công quy mô lớn của 10 máy bay phản lực Trung Quốc trở lên trong 9 ngày, 6 ngày trong số đó xảy ra trong vòng 3 tuần sau tuyên bố chung của Mỹ-Nhật.
Trung Quốc có xu hướng gia tăng các tàu sân bay xung quanh Đài Loan bất cứ khi nào Washington báo hiệu sự can dự nhiều hơn vào hòn đảo này. Một kỷ lục 25 máy bay đã bay vào vùng nhận dạng phòng không của hòn đảo vào ngày 12/4, bốn ngày trước khi tuyên bố Mỹ-Nhật được đưa ra, trong bối cảnh ngày càng có nhiều đồn đoán rằng Tổng thống Mỹ Joe Biden và Thủ tướng Nhật Bản Yoshihide Suga sẽ đề cập đến Đài Loan.
Hành động của Trung Quốc vào ngày 12/4 cũng được đưa ra một ngày sau khi Ngoại trưởng Hoa Kỳ Antony Blinken cảnh báo rằng “sẽ là một sai lầm nghiêm trọng nếu bất kỳ ai cố gắng thay đổi hiện trạng [đối với Đài Loan] bằng vũ lực”.
Các hoạt động của Bắc Kinh gần Đài Loan giảm dần sau hội nghị thượng đỉnh, cả về quy mô và tần suất. Chuyên gia Tô Tử Vân, thuộc Viện Nghiên cứu Quốc phòng và An ninh của Đài Loan, cho biết tuyên bố của 2 ông Biden-Suga đã có tác động rõ ràng.
Kể từ ngày 16/4, trung bình 1,9 máy bay phản lực Trung Quốc đã tiến vào vùng nhận dạng phòng không của Đài Loan trong mỗi ngày tấn công. Không có cuộc xâm nhập nào sử dụng từ 10 máy bay trở lên.
Chỉ có 7 lần xâm nhập vùng nhận dạng phòng không của hòn đảo trong số 14 ngày qua, chỉ có 1 lần là Bắc Kinh điều hai máy bay. Sáu ngày còn lại, Bắc Kinh chỉ điều 1 máy bay – kể cả vào ngày 4/6, khi Ngoại trưởng Mỹ Blinken chỉ trích chính quyền Trung Quốc nhân kỷ niệm 32 năm vụ thảm sát tại Quảng trường Thiên An Môn.
Ông Tô cho rằng, chính quyền Trung Quốc muốn tránh gây ác cảm với Mỹ về Đài Loan, đồng thời vẫn muốn thể hiện sức mạnh quân sự của Bắc Kinh với những người dân ở trong nước trước thềm kỷ niệm một trăm năm của ĐCSTQ.
Tiến trình tăng cường hợp tác trong nhóm Bộ tứ (Quad) gồm Mỹ, Australia, Nhật Bản và Ấn Độ có thể tác động tích cực đối với Biển Đông.
Tiến trình tăng cường hợp tác trong nhóm Bộ tứ, gồm Mỹ, Australia, Nhật Bản và Ấn Độ, có thể tác động tích cực đối với Biển Đông. (Nguồn: The Quint)
Ngày 12/3 vừa qua, lãnh đạo các nước thành viên Bộ tứ lần đầu tiên họp thượng đỉnh trực tuyến. Những đánh giá sơ bộ cho thấy, tiến trình tăng cường hợp tác trong Bộ tứ có thể có các tác động tích cực đối với Biển Đông.
Thể chế hóa từng bước
Hội nghị thượng đỉnh năm 2021 là cuộc họp đầu tiên của Bộ tứ có sự tham dự cấp cao nhất, lần đầu tiên Bộ tứ ra Tuyên bố chung đề cập trực tiếp vấn đề Biển Đông, Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS), an ninh biển… Hội nghị này đánh dấu bước tiến quan trọng trong tiến trình thể chế hóa từng bước của Bộ tứ.
Về chính trị-an ninh, từ một cơ chế đối thoại lỏng lẻo, chưa đồng nhất cách gọi chính thức, không có bất kỳ chương trình hợp tác chung và không có tuyên bố chung, cơ chế này đã phát triển và từng bước thể chế hóa: Tất cả các thành viên đều gọi nhóm là Bộ tứ; Có sự tham gia của cấp lãnh đạo chính phủ/nguyên thủ; Có tuyên bố chung; Có hợp tác chung về quân sự (tập trận chung Malabar); Có chương trình nghị sự làm việc rõ ràng hơn khi thảo luận các vấn đề cụ thể về an ninh, kinh tế, phòng chống đại dịch Covid-19; và Khả năng các cuộc họp thượng đỉnh thường niên có thể sẽ diễn ra trong tương lai.
Về kinh tế, trong tất cả những tuyên bố, phát biểu sau các hội nghị Bộ tứ từ năm 2020 đến nay, một trong những nội dung được đề cập xuyên suốt là “hợp tác tăng cường sự linh hoạt chuỗi cung ứng toàn cầu”.
Mặc dù chưa có một cơ chế, chương trình cụ thể cho hợp tác chung về kinh tế, các thành viên đều có những dự án, chương trình và sáng kiến song phương, ba bên hoặc hợp tác, hỗ trợ cho quốc gia ngoài nhóm, chủ yếu là với các quốc gia Đông Nam Á và châu Phi về phát triển kinh tế và cơ sở hạ tầng.
Những hoạt động này một mặt làm sâu sắc thêm mối quan hệ hợp tác giữa các thành viên, củng cố nội khối, mặt khác làm cơ sở để 4 quốc gia thành viên tiến tới thiết lập những chương trình, dự án hợp tác chung của Bộ tứ.
Về y tế, hợp tác phòng chống, sản xuất vaccine đối phó đại dịch Covid-19 là một trong 4 nội dung xuyên suốt trong các tuyên bố, đặc biệt là Tuyên bố chung Thượng đỉnh năm 2021.
Sau Thượng đỉnh, Bảng tóm tắt nội dung hợp tác chính của Bộ tứ đăng tải trên trang web Bộ Ngoại giao Nhật Bản đã lên kế hoạch hợp tác cụ thể về đóng góp tài chính, hợp tác nghiên cứu, phát triển và sản xuất vaccine.
Bộ tứ mở rộng?
So với các quốc gia Đông Nam Á, các thành viên Liên minh châu Âu (EU) như Pháp, Anh có động lực và khả năng hợp tác với Bộ tứ hơn cả và có thể hình thành hợp tác mở rộng.
Pháp là có quốc gia có vùng đặc quyền kinh tế lớn thứ 2 thế giới sau Mỹ ở khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương với 11 triệu km2 cùng 1,6 triệu dân.
Về năng lực, Pháp cũng là một trong những quốc gia EU có sức mạnh hải quân hùng mạnh nhất. Trong liên minh kinh tế-chính trị này, Pháp là nước đầu tiên khởi xướng chiến lược Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương vào năm 2018.
Bên cạnh đó, sự can dự thực tế của Pháp diễn ra từ những năm 1990 với việc tham gia hợp tác quân sự, tập trận.
Quá trình này tiếp tục được đẩy mạnh thông qua việc: Tham gia các hội nghị khu vực; Tăng cường đối thoại 3 bên với các thành viên Bộ tứ (Pháp-Ấn-Australia, Ấn-Pháp-Nhật); Tập trận, điều tàu tuần tra tại Biển Đông; Cùng Anh, Đức (nhóm E3) ra Tuyên bố chung phản đối yêu sách hành động của Trung Quốc ở Biển Đông vào tháng 8/2019 và tháng 9/2020; và Tập trận song phương, đa phương với các thành viên Bộ tứ.
Đối với Anh, đây là đồng minh thân cận của Mỹ, đồng thời London đang có nhu cầu khẳng định lại ảnh hưởng, tạo vị thế mới sau khi rời khỏi EU.
Giống như Pháp, thực tế Anh đã có những can dự từ trước đó với khu vực như duy trì các căn cứ quân sự tại Brunei, đối thoại thường niên 2+2 với Nhật Bản, thành viên nhóm Ngũ nhãn, Ngũ cường….
Gần đây, có nhiều dấu hiệu cho thấy Anh đang hướng đến một tập hợp lực lượng những quốc gia cùng chí hướng.
Thủ tướng Anh Boris Johnson đang thúc đẩy nhóm D10 (gồm các thành viên nhóm G7 và thêm 3 thành viên được mời tham dự là Australia, Hàn Quốc và Ấn Độ). Nếu nhóm trên được hình thành, cơ chế này sẽ bao gồm toàn bộ các thành viên Bộ tứ.
Ngoài ra, Anh cũng chủ động hơn trong việc tiếp cận khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương như đưa ra đánh giá tổng hợp về chính sách an ninh, quốc phòng, phát triển và ngoại giao với tiêu đề “Nước Anh trong thời đại cạnh tranh Dương, trong đó xác định Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương vô cùng quan trọng đối với an ninh, kinh tế và tham vọng toàn cầu của Anh; điều tàu đến khu vực để thực hiện tự do hàng hải, cùng Pháp, Đức ra tuyên bố chung phản đối yêu sách và hành động của Trung Quốc ở Biển Đông vào tháng 8/2019 và tháng 9/2020, mong muốn tham gia CPTPP.
Can dự vào Biển Đông
Cùng với tiến trình thể chế hóa, các thành viên của Bộ tứ thể hiện rõ hơn lập trường pháp lý tại Biển Đông.
Năm 2020 chứng kiến “cuộc chiến công hàm” về Biển Đông tại Liên hợp quốc. Mỹ, Australia và Nhật Bản (hồi đầu năm 2021) đều bác bỏ yêu sách của Trung Quốc ở Biển Đông.
Việc thể hiện rõ hơn lập trường pháp lý trong vấn đề Biển Đông sẽ là nền tảng cho những phát ngôn và hành động cụ thể của các quốc gia thành viên. Xu hướng này sẽ tiếp tục được duy trì, nhất là nếu Trung Quốc tiếp tục quyết đoán ở Biển Đông.
Các thành viên Bộ tứ tiếp tục tăng cường hiện diện ở Biển Đông nhằm đảm bảo tự do hàng hải, hàng không và trật tự dựa trên luật lệ.
Năm 2020 là năm cao trào cho các hoạt động can dự thực của các nước Bộ tứ trong vấn đề Biển Đông.
Mỹ đã triển khai 39 cuộc tập huấn cùng đồng minh và đối tác tại khu vực (trong cả thời kỳ chính quyền Tổng thống Trump, Mỹ đã thực hiện 28 lần FONOP, gấp 7 lần chính quyền của ông Obama).
Tháng 4/2020, lần đầu tiên Australia tập trận với Mỹ ở Biển Đông. Tháng 5/2019, lần đầu tiên Mỹ, Nhật, Ấn Độ và Philippines tập trận chung trên Biển Đông. Đây là lần đầu tiên Ấn Độ tham gia diễn tập đa phương với Mỹ và đồng minh ở khu vực bên ngoài các diễn tập trong khuôn khổ ADMM+.
Việc Australia và Ấn Độ tham gia tập trận song phương với Mỹ hoặc đa phương với Mỹ ở Biển Đông là bước đi mới và quan trọng, cho thấy các nước tầm trung trong Bộ tứ tự tin, quyết đoán hơn khi hiện diện trực tiếp ở Biển Đông.
Các nước thành viên Bộ tứ tăng cường hợp tác nâng cao năng lực biển cho các nước khu vực. Hợp tác nâng cao năng lực là lĩnh vực mà các thành viên Bộ tứ đã, đang và sẽ tiếp tục duy trì, nhất là với Việt Nam, Philippines và Indonesia.
Các lĩnh vực chủ yếu bao gồm: Tín dụng ưu đãi quốc phòng, huấn luyện quân nhân cả về phần cứng và phần mềm, bảo trì và sửa chữa vũ khí (Ấn Độ); Hỗ trợ cung cấp trang thiết bị như tàu tuần tra, chấp pháp biển (Nhật Bản, Mỹ); Hỗ trợ học bổng đào tạo nguồn nhân lực về luật biển, sĩ quan (Australia, Ấn Độ); Thăm viếng hải quân, thao diễn, hợp tác chống cướp biển, khủng bố, cứu hộ cứu nạn, xử lý sự cố tràn dầu (Ấn Độ, Nhật Bản, Australia); Đối thoại chiến lược biển song phương (Ấn Độ, Australia, Nhật Bản), kinh tế biển xanh và quản lý vùng bờ (Ấn Độ, Nhật Bản, Australia); Hợp tác thăm dò và khai thác dầu khí (Ấn Độ, Nhật Bản, Australia); và Phát triển cơ sở hạ tầng cảng biển (Ấn Độ).
Sự phát triển của Bộ tứ có thể là nguyên nhân khiến Trung Quốc điều chỉnh chương trình nghị sự trọng điểm phù hợp hơn với khu vực.
Trung Quốc thúc đẩy xây dựng hợp tác kinh tế song phương, tiểu đa phương và đa phương với Nhật Bản, Australia, Ấn Độ và các nước khác trong khu vực, cải thiện hành vi trong BRI ở khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, xóa bỏ hoài nghi đây là công cụ “bẫy nợ” của Trung Quốc: Giảm mức độ khai thác kinh tế và tìm kiếm lợi ích chính trị; Đưa ra mức lãi suất thấp; Loại bỏ các điều kiện mang tính cưỡng ép về chính trị đồng thời tăng lợi ích cho quốc gia nhận đầu tư; Cải tổ lại các hành vi đầu tư và đàm phán lại hợp đồng với một số nước, ví dụ như với Myanmar.
Trung Quốc cũng tiếp tục chú trọng kêu gọi hợp tác phát triển tại Biển Đông. Mặt khác, nhiều ý kiến cũng cho rằng, sự phát triển của Bộ tứ cũng khiến Trung Quốc lo ngại và có các hành động mang tính răn đe và quyết đoán đối với khu vực.
Dân binh biển Trung Quốc chính là lực lượng vũ trang trá hình. Nó giúp chính quyền Bắc Kinh thực thi trái phép các yêu sách chủ quyền, xong lại được “núp bóng” dưới tấm bình phong “tàu cá dân sự”.
Thực tế là thế, nhưng trong các văn bản chính thức, Trung Quốc chưa khi nào thừa nhận có sự hiện diện của lực lượng dân binh biển. Nghiên cứu kỹ các văn kiện, tài liệu chính thống của các cơ quan chức năng Trung Quốc sẽ làm rõ vấn đề này.
Sách trắng Quốc phòng Trung Quốc từ trước năm 2010 chỉ nhắc đến lực lượng dân binh theo nghĩa “dân quân tự vệ”. Lực lượng này được thành lập và làm nghĩa vụ ở các địa phương. Từ năm 2010 đến nay, Sách trắng mới đặt ra nhiệm vụ “tập trung tăng cường xây dựng lực lượng dân binh phòng thủ biên giới và vùng biển”.
Vậy là các văn kiện chính thức của Trung Quốc không đả động gì đến lực lượng mang tên “dân binh biển”, mà chỉ có lực lượng “dân binh” nói chung, hay lực lượng “dân binh làm nhiệm vụ phòng thủ biên giới đất liền và biển”. Rốt cuộc, “dân binh biển” chỉ là lực lượng “dân thường” giống như dân quân tự vệ “sao vuông” ở Việt Nam, tham gia sản xuất, đánh bắt cá, góp sức bảo vệ chính quyền, bảo vệ tài sản công.
Đấy là điều mà Trung Quốc công khai. Nghiên cứu của các học giả phương Tây lại trái ngược hoàn toàn. Họ cho rằng, cái gọi là dân binh biển Trung Quốc là một tổ chức vũ trang lớn, bao gồm ngư dân và những người đi biển thuộc khu vực kinh tế dân sự, được huấn luyện và được điều động để phòng thủ, hoặc nâng cao khả năng bảo vệ quyền và lợi ích hàng hải của Trung Quốc. Dân binh biển sẽ hỗ trợ đắc lực cho hải quân khi xảy ra chiến tranh.
Báo cáo của Conor Kennedy và Andrew Erickson – hai chuyên gia quân sự hàng đầu của Mỹ – đánh giá: “Dân binh biển Trung Quốc là một lực lượng được nhà nước tổ chức, phát triển và kiểm soát, hoạt động theo một chuỗi chỉ huy quân sự trực tiếp để tiến hành các hoạt động do nhà nước Trung Quốc bảo trợ”. Lực lượng dân binh biển Trung Quốc không hề … đánh cá. Họ được trang bị vũ khí tự động trên tàu và thân tàu bằng vỏ thép được gia cố chắc chắn, nên rất nguy hiểm khi ở cự ly gần.
Lực lượng dân binh của Trung Quốc hiện có khoảng 8 triệu người. Tuy không được quy định trong các văn kiện chính thức, song khi trả lời báo chí, Trung tướng Thịnh Bân, Bộ trưởng Bộ Động viên Quốc phòng Trung Quốc nói: Lực lượng dân binh biển của Trung Quốc được chia ra thành 4 loại, có quyền hạn và chức năng từ thấp đến cao gồm: Dân binh biển phổ thông; dân binh phòng vệ biên giới và biển; dân binh ứng phó tình huống khẩn cấp; dân binh dự bị kiểu mới.
Thật là giấu đầu hở đuôi, “treo đầu dê bán thịt chó”. Nghiên cứu từ các học giả phương Tây cho thấy, lực lượng dân binh biển Trung Quốc đóng vai trò chèn ép, cưỡng bức các nước láng giềng để đạt được các mục tiêu chính trị của nhà cầm quyền Bắc Kinh mà không cần chiến tranh. Đây là một trong những công cụ quan trọng trong chiến lược cải bắp (cabbage strategy) của Bắc Kinh. Mỗi khi có vụ việc xảy ra, dân binh biển và ngư dân sẽ được triển khai ở vòng trong cùng và là lớp thứ nhất, cảnh sát biển là lớp thứ hai, hải quân là lớp ngoài cùng.
Nhiều vụ việc đã cho thấy sự tham gia một cách có hệ thống của lực lượng dân binh biển Trung Quốc vào nhiều sự cố trên Biển Đông và Biển Hoa Đông. Năm 2014, hàng trăm tàu dân binh đã phong tỏa bãi cạn Cỏ Mây mà Philippines đang chiếm đóng. Cũng vào thời điểm đó, dân binh Trung Quốc ráo riết ngăn cản các tàu Cảnh sát biển và Ngư chính của Việt Nam cản phá Giàn khoan HD-981 xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Hiện tại là gần 200 tàu dân binh Trung Quốc cố tình vây hãm chung quanh khu vực Đá Ba Đầu thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam.
Cái kim trong giẻ lâu ngày cũng tòi ra, huống hồ đây lại là một lực lượng khổng lồ trên biển. Cái tổ chức ma quái này ngày càng rõ hình hài. Ở cấp tỉnh, huyện, xã Trung Quốc đều thành lập các Ban điều động phối hợp với Quân khu và chính quyền địa phương các cấp để điều phối hoạt động của dân binh. Đối với các sự vụ cụ thể, lực lượng dân binh sẽ hoạt động dưới sự chỉ huy tạm thời của lực lượng quân cảnh, hải quân và cảnh sát biển Trung Quốc.
Rõ ràng, những “người đánh cá” đặc biệt này luôn sẵn sàng nổ súng trong các vụ tranh chấp, đối đầu trên biển. Họ chứng tỏ là cánh tay nối dài của Trung Nam Hải khi cần tác chiến trên Biển Đông. Thật đúng với một câu phương ngôn của người Trung Quốc: “Nếu thật sự muốn có hòa bình, hãy chuẩn bị thật kỹ cho chiến tranh”.
Dù là dân binh hay cảnh sát biển, hải quân hay không quân cũng đều nhằm mục đích bành trướng trên biển, thực thi yêu sách trái phép ở Biển Đông. Đặc biệt, Trung Quốc có thể sử dụng dân binh để kiểm soát thêm các thực thể có giá trị chiến lược ở Biển Đông mà không cần phải chiếm đóng.
Hàng loạt hành động tương tự chỉ làm gia tăng tính chất phức tạp của cạnh tranh, xung đột trên biển. Nguy cơ đụng độ, đối đầu cũng như các va chạm không mong muốn cũng sẽ tăng cao. Để đối phó với chiến thuật vùng xám, các nước trong khu vực cần có các bước đi mới, chiến thuật mới.
Philippines mới đây kêu gọi phải xây dựng các tiền đồn ở Biển Đông để bảo vệ chủ quyền, nhất là sau vụ Đá Ba Đầu. Mỹ tuyên bố sẽ đối xử với tàu dân binh Trung Quốc như tàu hải quân trong các tình huống xung đột. Malaysia chơi rắn với Trung Quốc, không chịu “im lặng” như trước đây. Các nước như Mỹ, Nhật… sẽ gia tăng các hoạt động hợp tác tay đôi, tay ba hoặc nhiều bên để đối phó với dân binh Trung Quốc ở cả Hoa Đông và Biển Đông.
Mặc dù trên các diễn đàn quốc tế Bắc Kinh luôn muốn thân thiện, muốn “dang rộng vòng tay hòa bình hữu nghị với bạn bè”, nhưng thực chất thì ngược lại hoàn toàn.
Câu chuyện “dân binh biển” chỉ là một trong những thí dụ về chính sách ngoại giao đổi màu của Trung Quốc.
Ngày 8/6, phát biểu trong một phiên họp Nội các, Tổng thống Hàn Quốc Moon Jae-in tuyên bố, việc ông tham dự Hội nghị Thượng đỉnh Nhóm Các nước công nghiệp phát triển hàng đầu thế giới (G7) sắp tới sẽ là một cơ hội để củng cố ngoại giao của Hàn Quốc.
Tổng thống Moon Jae-in tuyên bố, việc ông tham dự Hội nghị Thượng đỉnh G7 sắp tới sẽ là một cơ hội để củng cố ngoại giao của Hàn Quốc. (Nguồn: The New York Times)
Ông Moon khẳng định, việc G7 mời Hàn Quốc tham dự Hội nghị Thượng đỉnh lần này có ý nghĩa vị thế quốc tế của Hàn Quốc đã được nâng ngang tầm các nước thành viên G7.
Ông sẽ nhân cơ hội này để củng cố vai trò của Seoul trong việc giải quyết những vấn đề toàn cầu đang tồn đọng cũng như mở rộng ngoại giao.
Nhà lãnh đạo Hàn Quốc cũng cho hay, ông sẽ thông qua hội nghị nêu bật chiến dịch của Hàn Quốc để trở thành một “trung tâm sản xuất vaccine toàn cầu” và là “cây cầu” nối giữa các nước đang phát triển và các nước phát triển.
Những bình luận trên được đưa ra trong bối cảnh xuất hiện đồn đoán rằng, Tổng thống Moon Jae-in có thể tổ chức một cuộc gặp trực tiếp với người đồng cấp Mỹ Joe Biden bên lề Hội nghị thượng đỉnh G7.
Dự kiến, ông Moon sẽ dự hội nghị kéo dài 3 ngày, bắt đầu từ ngày 11/6, tại Anh. Đây là Hội nghị Thượng đỉnh đa phương lớn đầu tiên mà ông trực tiếp tham dự kể từ khi dịch bệnh Covid-19 bùng phát.
Hàn Quốc không phải là thành viên của G7, song ông Moon sẽ tham dự với tư cách khách mời cùng với các nhà lãnh đạo đến từ Australia, Ấn Độ và Nam Phi.
Australia có thể buộc phải đưa ra những quyết định quan trọng trong bối cảnh Trung Quốc có những động thái ngày càng hung hăng ở Biển Đông.
Tàu chiến Australia tham gia tập trận ở Biển Đông năm 2020. (Nguồn: Hải quân Hoàng gia Australia)
Trong bài viết trên trang mạng news.com.au ngày 2/6, Giáo sư Richard Heydarian (Đại học Bách khoa Philippines) và Tiến sĩ Malcolm Cook (Viện Lowy, Australia) cho rằng trong bối cảnh Trung Quốc có những động thái ngày càng hung hăng ở Biển Đông, Australia có thể buộc phải đưa ra những quyết định quan trọng.
Một phiên bản khác
Viết trên tờ The Diplomat, Giáo sư Heydarian nhận định rằng tình hình ở Biển Đông giống như tình hình ở châu Âu trước khi Thế chiến I nổ ra.
Vị chuyên gia về địa chính trị cảnh báo: “Theo nhiều cách, các tranh chấp ở Biển Đông ngày nay là phiên bản của các tranh chấp ở Balkan đầu thế kỷ XX, nơi mà ‘một điều ngu xuẩn chết tiệt nào đó’ có thể khơi mào cho một cuộc xung đột toàn cầu tàn khốc không có tiền lệ và ngoài sức tưởng tượng ngông cuồng nhất của chúng ta”.
Ngay ở trung tâm hàng hải của châu Á đang xuất hiện mọi yếu tố cấu thành “một trận đại hồng thủy toàn cầu” mà có khả năng phá vỡ hòa bình, ổn định ở Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương thời kỳ hậu Chiến tranh Lạnh.
Theo ông, “đây cũng là nơi tham vọng bá quyền của Trung Quốc được thể hiện đầy đủ, gây hậu quả nghiêm trọng cho các nước láng giềng nhỏ bé và cho trật tự quốc tế tự do rộng lớn hơn”.
Trung Quốc hiện nay quá lớn, đến mức khó ai có thể kiềm chế cường quốc này. Thế nhưng, Bắc Kinh cũng quá “phàm ăn”, đến mức thế giới không thể mãi “nhắm mắt làm ngơ”, không lên tiếng phản đối.
Giáo sư Heydaria nêu rõ: “Nếu có một bài học mà lịch sử dạy cho chúng ta, thì đó là cần tránh rơi vào thuyết định mệnh chiến lược – một thứ có nguy cơ biến Biển Đông thành ‘ao nhà’ của Trung Quốc – và sự ganh đua liều lĩnh giữa các siêu cường, điều có thể châm ngòi cho một cuộc xung đột toàn cầu”.
Thế khó của Canberra
Trong bản báo cáo chính sách mới đây, nhà nghiên cứu Malcolm Cook nhận định: “Ngày càng có nhiều khả năng chính quyền của Tổng thống Mỹ Joe Biden sẽ gây thêm áp lực buộc Australia tiến hành các hoạt động tự do hàng hải (FONOP)”.
Australia đứng trước hai sự lựa chọn: hoặc là gây tổn hại cho mối quan hệ của Canberra với Bắc Kinh hoặc từ chối yêu cầu của Mỹ.
Có một ý kiến gây chú ý đối với Quốc hội Australia, đó là theo chân các đối tác Mỹ, Australia gửi các tàu chiến của mình đến phạm vi 12 hải lý ngay trong tầm đạn pháo và tên lửa của các đảo nhân tạo kiên cố của Trung Quốc.
Phạm vi 12 hải lý có ý nghĩa rất quan trọng vì đây là khoảng cách mà luật biển quốc tế xác định là ranh giới lãnh thổ có chủ quyền của các đảo tự nhiên, tồn tại lâu dài.
Tiến sĩ Cook phân tích: “Đúng như dự đoán, Trung Quốc đã chỉ trích mạnh mẽ các hoạt động này của Mỹ và coi các hoạt động này là một cái cớ để tiếp tục quân sự hóa các đảo nhân tạo”.
Và điều đó tạo ra một điểm kích hoạt khác cho “điều ngu xuẩn chết tiệt nào đó”.
Theo vị học giả người Canada này, “Australia không nên tiến hành các FONOP ở Biển Đông đi qua phạm vi 12 hải lý của các thực thể mà Trung Quốc tuyên bố chủ quyền.
So với các FONOP của Mỹ, bất kỳ FONOP nào của Australia ở Biển Đông đều có thể phải đối mặt với rủi ro lớn hơn và các phản ứng trừng phạt mạnh hơn từ phía Trung Quốc”.
Dù vậy, Australia vẫn nên “tham gia các cuộc tập trận hải quân song phương và quy mô nhỏ với các quốc gia Đông Nam Á ven biển có thiện chí. Các cuộc tập trận này có thể diễn ra trong các vùng đặc quyền kinh tế của các nước này ở Biển Đông”.
Ông Cook khẳng định: “Australia nên làm điều này thường xuyên và công khai hơn”.
Kết hợp can dự và răn đe
Trong khi đó, Giáo sư Heydarian nêu ý kiến: “Để ngăn chặn sự thống trị tiềm tàng của Trung Quốc đối với huyết mạch chính của thương mại toàn cầu, điều cần thiết là phải thực hiện phương thức đa phương nhằm kiểm soát Bắc Kinh thông qua sự kết hợp tối ưu giữa can dự và răn đe”.
Các cường quốc cùng chí hướng và các nước láng giềng bị bao vây của Trung Quốc cần triển khai tổng hợp các biện pháp đối phó ngoại giao, kinh tế và quân sự để duy trì một trật tự tự do và rộng mở trong khu vực năng động nhất trên thế giới này…
“Những gì đang bị đe dọa chính là tương lai của trật tự toàn cầu thế kỷ XXI”, Giáo sư Heydarian nhấn mạnh.
Viện Lowy, giống như Giáo sư Heydarian, đề xuất một lập trường không xung đột công khai nhưng cũng không nhượng bộ trong các quyền lãnh thổ của các quốc gia ở Biển Đông.
Trong khi đó, một báo cáo của Viện Lowy cảnh báo Đảng Cộng sản Trung Quốc sẽ không đồng ý với bất kỳ đề xuất nào do Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) đưa ra nếu đề xuất đó phù hợp với phán quyết của tòa án quốc tế năm 2016.
Điều này sẽ gây bất ổn thêm cho một khu vực vốn đã có phản ứng “không cân bằng” trước sự bành trướng lãnh thổ hung hăng của Bắc Kinh, cũng như gây khó khăn cho việc đạt một thỏa thuận giữa các quốc gia Đông Nam Á về Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC).
Thực tế này cũng sẽ làm gia tăng áp lực đối với Canberra trong việc “chọn phe”.
Viện Lowy, giống như Giáo sư Heydarian, đề xuất một lập trường không xung đột công khai nhưng cũng không nhượng bộ trong các quyền lãnh thổ của các quốc gia ở Biển Đông.
Theo lập luận của chuyên gia Cook, “Cách tiếp cận hiếu chiến hơn của Trung Quốc đối với các tuyên bố chủ quyền trái pháp luật của nước này ở Biển Đông trực tiếp thách thức các lợi ích cốt lõi của Australia và thách thức trật tự dựa trên luật lệ toàn cầu”.
Ông đề xuất Australia cần tham gia các hoạt động ngoại giao và ủng hộ nhiều hơn nữa đối với các quốc gia trong khu vực, đồng thời không ngừng khẳng định giá trị và hiệu lực của Công ước Liên hợp quốc về Luật biển (UNCLOS).
Báo cáo của Viện Lowy kết luận: “Những điều chỉnh chính sách này sẽ thúc đẩy lợi ích của Australia trong việc củng cố quyết tâm của các quốc gia Đông Nam Á ven biển trong các cuộc đàm phán COC với Trung Quốc, điều hòa áp lực phải tiến hành FONOP ở Biển Đông và giảm khả năng cũng như quy mô của các biện pháp trừng phạt của Trung Quốc nhằm vào Australia”.
Các quan chức Trung Quốc đã được Pakistan cho phép chụp ảnh và lấy mẫu vật của chiếc trực thăng tàng hình Black Hawk mà Mỹ sử dụng để tiêu diệt trùm khủng bố Osama Bin Laden.
Mới đây, một mô hình máy bay trực thăng trưng bày tại Viện Nghiên cứu và Phát triển Trực thăng Trung Quốc có trụ sở tại tỉnh Giang Tây, miền Đông Trung Quốc đã gây được sự chú ý lớn.
Theo tờ Thời báo Hoàn cầu (Global Times), mô hình này là một biến thể của trực thăng Z-20 do Trung Quốc chế tạo, đã được đưa ra giới thiệu nhân chuyến thăm của một quan chức cấp cao địa phương vào ngày 19/5.
Viện Nghiên cứu và Phát triển Trực thăng là một bộ phận của Tổng công ty Công nghiệp Hàng không Trung Quốc (AVIC), một tập đoàn khổng lồ trong lĩnh vực hàng không vũ trụ của nước này.
Mô hình trực thăng trên gây xôn xao dư luận bởi theo nhận xét của nhiều chuyên gia quốc tế thì nó có những nét rất giống với chiếc máy bay trực thăng tàng hình Black Hawk của Quân đội Mỹ.
Lầu Năm góc đã sử dụng một phiên bản trực thăng Black Hawk trang bị các tính năng giảm phản xạ tín hiệu radar và tia hồng ngoại để tiếp cận khu nhà ở của trùm khủng bố Al Qaeda Osama Bin Laden ở Abottabad, Pakistan, vào ngày 2/5/2011.
Một trong những chiếc Black Hawk này đã bị rơi trong cuộc đột kích của các đặc nhiệm Mỹ tiêu diệt Bin Laden. Quân đội Mỹ đã sử dụng thuốc nổ để phá hủy các mảnh vỡ của chiếc trực thăng bị rơi nhưng phần đuôi của nó thì vẫn còn nguyên vẹn.
Vào thời điểm đó, cuộc không kích đã gây náo động ở Pakistan khi Islamabad phản đối kịch liệt hành động vi phạm chủ quyền của Mỹ.
Ngay sau cuộc đột kích, nhiều nguồn tin tiết lộ Pakistan đã cho phép các chuyên gia Trung Quốc đến “kiểm tra” mảnh vỡ của chiếc Black Hawk tàng hình bị rơi. Thông tin cho thấy các quan chức Trung Quốc đã được phép chụp ảnh và lấy mẫu vật được sử dụng trên chiếc trực thăng tàng hình Black Hawk.
BÁU VẬT CỦA MỸ ĐƯỢC PAKISTAN DÂNG TẶNG TRUNG QUỐC
Máy bay tàng hình thường sử dụng nhiều phương pháp để giảm nguy cơ bị radar và cảm biến nhiệt hoặc hồng ngoại phát hiện như sửa đổi các bộ phận của khung máy bay để làm suy yếu tín hiệu phản xạ radar, chuyển hướng khí thải động cơ để giảm nhiệt và sử dụng vật liệu hấp thụ radar khi chế tạo.
Theo trang web quốc phòng The Drive (Mỹ), mẫu máy bay tàng hình Z-20 được Trung Quốc trưng bày có khung sườn hình thang tương tự như các nghiên cứu trước đó của Mỹ cho trực thăng Black Hawk.
The Drive khẳng định, Pakistan đã thu giữ phần đuôi của chiếc Black Hawk tàng hình bị rơi, thiết bị sử dụng rộng rãi vật liệu composite để giảm tiếng ồn, trọng lượng và phản xạ radar.
Pakistan đã phải trả lại các mảnh vỡ cho Mỹ sau 3 tuần bị gây sức ép ngoại giao. Tuy nhiên, chuyên gia Tyler Rogoway của The Drive cho rằng việc mất đi phần đuôi đã giúp Trung Quốc củng cố cơ sở kiến thức về công nghệ tàng hình trong ít nhất một thập kỷ, đặc biệt là các ứng dụng trực thăng.
Cất cánh lần đầu tiên vào năm 2013, trực thăng Z-20 trong những năm gần đây đã nổi lên như là sự bổ sung quan trọng nhất cho khả năng hàng không cánh quạt của Trung Quốc.
Z-20 là dòng máy bay trực thăng hạng trung, được dùng cho một loạt các nhiệm vụ trong quân đội và hải quân Trung Quốc như vận chuyển binh lính và hàng hóa, sơ tán, chống tàu ngầm và chống hạm. Các biến thể hàng hải của Z-20 đã xuất hiện trong hai năm qua, một số trang bị cả tên lửa chống hạm cỡ nhỏ.
Osama Bin Laden là trùm khủng bố bị truy nã gắt gao nhất thế giới trong nhiều thập kỷ. Với Trung Quốc, chiến dịch ám sát Bin Laden rõ ràng là cơ hội ngàn vàng để Bắc Kinh chớp lấy để phá vỡ các rào cản kỹ thuật trong việc phát triển công nghệ quân sự dưới sự giúp đỡ từ Pakistan.
Ngay sau cuộc đột kích tiêu diệt Osama Bin Laden, Hạ nghị sĩ Mỹ Dana Rohrabacher đã viết một lá thư cho các đồng nghiệp của mình vào ngày 9/5/2011 cảnh báo về mối quan hệ chiến lược giữa Pakistan với Trung Quốc.
Nghị sĩ Rohrabacher đã cáo buộc Pakistan chuyển giao cho Trung Quốc một tên lửa hành trình Tomahawk mà Hải quân Mỹ bắn vào năm 1998 trong một cuộc tấn công vào các lán trại của Bin Laden ở Afghanistan. Ít nhất một trong số các tên lửa Tomahawk đã bị trục trặc trong quá trình bay.
Rohrabacher viết: “Năm 1998, các cơ quan quân sự và tình báo của Pakistan đã tạo điều kiện thuận lợi trong việc chuyển giao cho Trung Quốc một tên lửa hành trình Tomahawk chưa phát nổ do Taliban thu hồi mà trước đó Hải quân Mỹ đã sử dụng để tấn công nơi ẩn náu của Bin Laden ở Afghanistan”.
Trung Quốc sau đó đã giải mã công nghệ và mổ xẻ các thành phần để tìm ra điểm yếu và cách đánh bại khả năng của nó.
Mỹ từng phát động một cuộc tấn công Bin Laden vào năm 1998 nhằm trả đũa cho vụ đánh bom liều chết nhằm vào các đại sứ quán của họ ở Kenya và Tanzania.
Trớ trêu thay, chính thời điểm đó, các chuyên gia Mỹ đã bày tỏ lo ngại về việc Pakistan sẽ chuyển giao công nghệ Tomahawk cho Trung Quốc khi các quan chức Pakistan tuyên bố họ đang nghiên cứu dòng tên lửa này.
Năm 2020, cựu thủ tướng Pakistan Nawaz Sharif tuyên bố Pakistan đã giải mã được tên lửa Tomahawk bị trục trặc. Cuộc tấn công của Mỹ nhằm vào Bin Laden năm 1998 xảy ra khi ông Sharif còn là thủ tướng.
Tàu tuần duyên được Mỹ chuyển giao cho Cảnh sát biển Việt Nam đã rời thành phố Seattle hôm 1/6 để lên đường về nước.
Tàu tuần duyên CSB 8021 được Mỹ chuyển giao cho Việt Nam
Theo thông tin của Đại sứ quán Mỹ tại Việt Nam, vào ngày 1/6, tàu CSB 8021 của Cảnh sát biển Việt Nam đã rời thành phố Seattle, bang Washington, Mỹ và bắt đầu hành trình trở về Việt Nam.
Đại sứ quán Mỹ tại Việt Nam cho biết các thủy thủ đoàn thuộc Cảnh sát biển Việt Nam sẽ đưa con tàu từng phục vụ lực lượng phòng vệ bờ biển Mỹ về tới cảng mới tại Vùng Cảnh sát biển 3 trong mùa hè này.
“Việc chuyển giao con tàu này cho Việt Nam đã nêu thêm một ví dụ điển hình khác cho mối quan hệ đối tác an ninh khu vực ngày càng được tăng cường giữa Việt Nam và Mỹ. Chúng tôi rất mong được chào đón tàu CSB 8021 tại Việt Nam!”, thông báo của Đại sứ quán Mỹ tại Việt Nam nói thêm.
Theo The News Tribune, tàu CSB 8021, dài 115 m, chính thức được chuyển giao cho Cảnh sát biển Việt Nam vào ngày 14/8/2020.
Tàu CSB 8021 trước đây là tàu tuần tra Midgett và loại biên vào năm 2020 sau 48 năm phục vụ. Tàu có chức năng tuần tra lãnh hải, tìm kiếm cứu hộ và thực thi pháp luật trên biển.
Sau một năm sửa chữa và bảo dưỡng tại nhà máy đóng tàu Lake Union, thủy thủ đoàn gồm 46 người từ Việt Nam đã đến căn cứ của Mỹ ở Seattle vào tháng 2/2021 để tham gia huấn luyện cùng lực lượng phòng vệ bờ biển Mỹ.
“Việc chuyển giao này củng cố mối quan hệ đối tác giữa cảnh sát biển Mỹ và Việt Nam, tăng cường năng lực hợp tác và cuối cùng nâng cao năng lực quản trị hàng hải tại khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và cởi mở”, người phát ngôn lực lượng phòng vệ bờ biển Mỹ Scott Carr cho biết.
Giữa lúc giả thuyết virus SARS-CoV-2 gây đại dịch Covid-19 có thể thoát ra từ một phòng thí nghiệm Trung Quốc, cựu quan chức Mỹ đã tiết lộ bất ngờ về những sự cố rò rỉ từ các phòng thí nghiệm.
Cựu quan chức Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Mỹ (FDA) Scott Gottlieb
Trả lời phỏng vấn CBS, cựu quan chức Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Mỹ (FDA) Scott Gottlieb cuối tuần qua cho biết: “Những sự cố rò rỉ kiểu này vẫn từng xảy ra. Kể cả ở Mỹ, chúng tôi cũng gặp những sự cố. Hay ở Trung Quốc, 6 đợt bùng phát dịch SARS-1 được biết đến gần nhất, trong đó có một đợt bùng phát rộng gần đây nhất mà Trung Quốc ban đầu không thừa nhận xuất phát từ phòng thí nghiệm”.
Do vậy, ông Gottlieb cho rằng việc biết chắc chắn liệu virus có đến từ một phòng thí nghiệm hay không sẽ giúp đưa ra các quyết định an ninh trong tương lai tại các cơ sở như vậy trên toàn thế giới.
“Điều quan trọng là phải hiểu khả năng rò rỉ khỏi phòng thí nghiệm là gì để chúng ta có thể tập trung sự chú ý của quốc tế hơn vào việc cố gắng xác định tốt hơn những gì xảy ra xung quanh những phòng thí nghiệm như vậy, những gì họ đang làm, an ninh tốt hơn để đảm bảo chúng hoạt động đúng cách”, ông Gottlieb nói.
Ông Gottlieb nhấn mạnh: “Chúng ta cần nhìn nhận vấn đề sức khỏe cộng đồng qua lăng kính an ninh quốc gia. Covid-19 gây thiệt hại cho Mỹ nhiều hơn so với nhiều nước khác”.
Trước đó, ông Gottleib cho rằng, nếu virus SARS-CoV-2 thực sự bắt nguồn từ một phòng thí nghiệm ở Vũ Hán, bí mật chỉ có thể giải mã khi người trong cuộc lên tiếng.
“Tôi không nghĩ chúng ta có thể giải mã được tận cùng. Tôi chỉ giả sử là nếu virus thực sự thoát ra từ phòng thí nghiệm, nếu người trong cuộc không đứng ra tiết lộ hay không có sự thay đổi ở Trung Quốc, chúng ta sẽ khó lòng tìm ra sự thật”, cựu quan chức FDA nói.
Dịch Covid-19 khởi phát từ thành phố Vũ Hán, tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc cuối năm 2019. Bắc Kinh cho rằng, dịch bắt nguồn từ một chợ hải sản và kinh doanh động vật hoang dã ở thành phố này và mầm bệnh có thể từ bên ngoài đưa vào.
Bắc Kinh nhiều lần bác bỏ nghi vấn của phương Tây rằng virus SARS-CoV-2 có thể đã thoát ra ngoài từ một sự cố phòng thí nghiệm ở Vũ Hán. Tuy nhiên, giả thuyết này bất ngờ gây sự chú ý trở lại gần đây sau khi Thời báo phố Wall tiết lộ một thông tin tình báo Mỹ cho biết, ít nhất 3 nhân viên của Viện Virus học Vũ Hán đã nhập viện với các triệu chứng giống như cúm hồi tháng 11/2019, không lâu trước khi Trung Quốc công bố các ca bệnh Covid-19 đầu tiên.
Tổng thống Mỹ Joe Biden tuần trước cũng chỉ thị cộng đồng tình báo nước này tăng gấp đôi nỗ lực để làm sáng tỏ hơn nguồn gốc Covid-19, khi hiện tại các cơ quan tình báo vẫn chia rẽ giữa hai giả thuyết: hoặc virus có nguồn gốc tự nhiên hoặc virus thoát ra từ phòng thí nghiệm Vũ Hán.
Chiều ngày 1/6 diễn ra Hội thảo lần thứ 3 của Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF) về vận dụng Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển 1982 và các văn kiện pháp lý quốc tế khác trong ứng phó với các thách thức đang nổi trên biển.
Thứ trưởng Ngoại giao Phạm Quang Hiệu phát biểu tại Hội thảo ARF lần thứ 3 về Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển 1982. (Ảnh: Nguyễn Hồng)
Hội thảo do Bộ Ngoại giao Việt Nam phối hợp với Bộ Ngoại giao các nước Ấn Độ, Australia, Canada và Liên minh châu Âu tổ chức từ ngày 1-2/6 theo hình thức trực tiếp và trực tuyến.
Hội thảo nằm trong các hoạt động triển khai Kế hoạch hành động Hà Nội II giai đoạn 2020-2025 và Tuyên bố ARF về tăng cường hợp tác giữa các cơ quan thực thi pháp luật trên biển, được thông qua năm 2016 theo sáng kiến của Việt Nam.
Tham dự Hội thảo có khoảng 200 đại biểu từ 27 nước ARF, các tổ chức khu vực và quốc tế, cơ quan đại diện ngoại giao và các Bộ, ngành có liên quan đến việc thực thi Công ước.
Tiếp nối thành công của hai kỳ Hội thảo trước được tổ chức tại Nha Trang và Hà Nội trong năm 2019, Hội thảo lần này tạo diễn đàn để các chuyên gia, học giả và quan chức các nước thành viên ARF trao đổi, thảo luận cụ thể hơn về phương hướng hợp tác nhằm giải quyết các thách thức trong quản lý biển tại khu vực, trên cơ sở vận dụng và thực thi Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển 1982 và các văn kiện quốc tế liên quan.
Phát biểu khai mạc, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Việt Nam Phạm Quang Hiệu khẳng định vai trò quan trọng của Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển 1982 như “Hiến pháp” của đại dương, là khuôn khổ pháp lý cho việc giải quyết các thách thức trên biển trong khu vực, bao gồm các thách thức mới nổi lên sau khi Công ước được thông qua.
Thứ trưởng Phạm Quang Hiệu nhấn mạnh, mọi tranh chấp trên Biển Đông phải được giải quyết bằng biện pháp hoà bình phù hợp với luật pháp quốc tế, bao gồm Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển 1982; hợp tác thiện chí, trên cơ sở Công ước, sẽ góp phần tăng cường niềm tin giữa các bên, thúc đẩy hoà bình, an ninh và thịnh vượng của khu vực.
Trên tinh thần này, Thứ trưởng đề nghị các đại biểu tập trung thảo luận về các kinh nghiệm và thực tiễn tốt về hợp tác biển thời gian qua, đưa ra khuyến nghị cho hợp tác biển thời gian tới.
Hội thảo tổ chức theo hình thức trực tuyến và trực tiếp. (Ảnh: Nguyễn Hồng)
Đồng tình với phát biểu của phía Việt Nam, các đồng chủ tọa là Đại sứ Canada và Đại sứ Australia cũng nhấn mạnh vai trò, giá trị của Công ước Luật Biển và cảm ơn Bộ Ngoại giao Việt Nam đã tổ chức chuỗi Hội thảo này.
Đại sứ Canada chia sẻ về những diễn biến gần đây trên Biển Đông và khẳng định ủng hộ mọi nỗ lực của các quốc gia trong việc quản lý và giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hoà bình phù hợp với luật pháp quốc tế.
Trong ngày làm việc đầu tiên, các đại biểu đã khẳng định Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển 1982 là nền tảng pháp lý quan trọng cho hợp tác trong khu vực. Các nước trong khu vực cần chung tay bảo vệ môi trường và sinh vật biển, quản lý nghề cá bền vững, hợp tác tìm kiếm cứu nạn.
Trong bối cảnh hiện nay, cần nghiên cứu khả năng xây dựng một văn kiện khu vực về đối xử nhân đạo với ngư dân, trên cơ sở phù hợp với luật pháp quốc tế và tính đến các đặc điểm của khu vực.
Hợp tác không chỉ giới hạn trong quan hệ giữa các cơ quan nhà nước mà còn cần sự tham gia của các thực thể khác có liên quan trong khối tư nhân, các tổ chức quốc tế và khu vực cũng như các tổ chức phi chính phủ.
Dự kiến trong ngày làm việc thứ hai (2/6), Hội thảo sẽ thảo luận về các giải pháp hợp tác để chống suy thoái môi trường và đa dạng sinh học biển, khai thác hải sản bất hợp pháp, không khai báo và không theo quy định và rác thải nhựa trên biển.
Đồng thời, các đại biểu cũng sẽ trao đổi về việc tăng cường hợp tác bảo đảm an ninh, an toàn hàng hải trong khu vực, bao gồm hợp tác giữa các lực lượng thực thi pháp luật trên biển.
“Không lãnh đạo Việt Nam nào có ý định nhượng bộ Trung Quốc về chủ quyền. Nếu để mất Biển Đông, tất cả chiến sĩ quân đội, lãnh đạo đều có tội với dân”, Thượng tướng, Thứ trưởng Quốc phòng Nguyễn Chí Vịnh khẳng định trong cuộc phỏng vấn với VnExpress.
Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh: “Trong quan hệ với Trung Quốc, chưa bao giờ ta né tránh nói về cuộc chiến tranh biên giới, hay những điểm đen trong lịch sử quan hệ hai nước”. Ảnh: Giang Huy.
– Phụ trách đối ngoại quốc phòng hơn 10 năm, ông đối diện và ứng xử thế nào với định kiến về sự lép vế của một nước nhỏ với các nước lớn?
– Với tôi, trong quan hệ quốc tế cần khiêm tốn, nhưng quan trọng hơn là tự tin. Điều gì có thể nhịn thì nhịn, nhưng nếu động vào điểm mấu chốt: độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ thì không bao giờ tôi nhịn. Khi tiếp xúc với bạn bè thế giới, chưa bao giờ tôi có cảm giác tự ti Việt Nam là một nước nhỏ, chưa bao giờ tôi nghĩ chúng ta phải ngước lên nhìn ai cả. Và trong thực tế tôi cũng cảm nhận được sự tôn trọng của quốc tế với đất nước ta.
Có nhiều lý do để tự hào, tự tin về đất nước mình, nhưng lý do quan trọng nhất là dân tộc ta có lịch sử hào hùng, phải trả bằng bao nhiêu xương máu của các thế hệ đi trước. Cơ đồ hôm nay được xây đắp trên quá khứ hào hùng ấy. Đừng bao giờ nghĩ rằng ngồi với người Mỹ thì không nên nhắc tới chiến tranh Việt Nam, không nhắc tới chiến thắng của dân tộc ta. Mỗi khi gặp mặt, tôi hay kể cho các tướng lĩnh Mỹ nghe về chiến tranh Việt Nam, về những người lãnh đạo, tướng lĩnh của Việt Nam, về những hy sinh của nhân dân, bộ đội Việt Nam. Họ yên lặng lắng nghe và nhiều lần đề nghị: “Ông hãy nói tiếp nữa đi – về những gì các ông đã trải qua, và nhờ những gì mà các ông thắng chúng tôi?”. Trong tiếp xúc đối ngoại, những vấn đề của hôm nay luôn phải gắn với bài học lịch sử, đặc biệt là với những quốc gia đã có “duyên nợ” với Việt Nam trong quá khứ. Trong những lần nói chuyện như thế, tôi thấy rằng sức thuyết phục, lý lẽ của Việt Nam đều được thừa nhận, mặc dù trong thâm tâm họ có thể không hài lòng.
“Đừng tưởng đóng cửa với Mỹ thì Trung Quốc sẽ nhẹ giọng”
– Ông vừa nhắc đến các “quốc gia duyên nợ” với Việt Nam. Nguyên tắc ứng xử của ông với các quốc gia này là gì?
Chúng ta đã trải qua những cuộc chiến tranh khốc liệt và đã giành những chiến thắng vĩ đại. Nhưng vĩ đại hơn nữa là cách chúng ta ứng xử sau chiến tranh. Điều ấy sẽ định vị hình ảnh một Việt Nam chiến thắng văn minh và yêu hòa bình.
Người Mỹ thường hỏi tôi sao quan hệ Việt Nam – Cuba tốt đến như thế? Tôi trả lời: “Chúng tôi quan hệ máu thịt với Cuba. Ngoài tình cảm truyền thống giữa hai nước, Việt Nam còn muốn thế giới thấy chúng tôi không bao giờ bỏ bạn. Các ông có thể không thích, nhưng chắc các ông cũng mong có được những người bạn thủy chung như thế”.
Bạn biết đấy, đừng tưởng lờ Cuba đi mà người Mỹ sẽ tốt với chúng ta. Đừng tưởng căng với Trung Quốc sẽ lấy được lòng người Mỹ. Cũng đừng tưởng đóng cửa với Mỹ thì Trung Quốc sẽ nhẹ giọng với mình.
Dùng chính những bài học lịch sử trong mối quan hệ với các quốc gia khác để làm Đối ngoại là cách mà Việt Nam lựa chọn. Có lần ông Thượng nghị sĩ Leahy, Chủ tịch Thượng viện Mỹ nói với tôi: “Trong quan hệ Việt Mỹ, khó nhất và nhạy cảm nhất là việc khắc phục hậu quả chiến tranh. Nhưng kỳ diệu thay, đến bây giờ lại trở thành một trong những lĩnh vực hiệu quả nhất và đem lại nhiều cảm hứng nhất để thúc đẩy quan hệ Việt Mỹ”.
Trong quan hệ với Trung Quốc cũng vậy, chưa bao giờ ta né tránh nói về cuộc chiến tranh biên giới, hay những điểm đen trong lịch sử quan hệ hai nước. Có điều là chúng ta nói để những điều đó đừng lặp lại, thì sẽ tốt cho cả hai phía. Và ngay vấn đề ngày hôm nay là Biển Đông, chúng ta cũng phải lấy bài học lịch sử ấy để xem xét mà xử lý. Mọi vấn đề dù khó khăn nhất, nếu chúng ta biết nhận thức đâu là lợi ích chính đáng, đích thực, thì cả hai phía sẽ tìm được con đường giải quyết mà không phải động binh đao.
Thách thức trên Biển Đông và sự tự tin của Việt Nam
– Dù là thời chiến hay thời bình, nhiệm vụ tối cao của người lính là bảo vệ lãnh thổ, chủ quyền đất nước. Biên giới đất liền đã coi là tạm yên, nhưng bao giờ người Việt Nam có thể yên lòng khi nghĩ về Biển Đông?
– Chúng ta luôn nhận thức đầy đủ thách thức về an ninh của mình trên Biển Đông. Nó có thể xâm hại chủ quyền lãnh thổ và dẫn đến xung đột. Đây là những nguy cơ lớn nhất và đang hiện hữu. Cho nên người Việt Nam từ trẻ đến già, ai cũng lo lắng về Biển Đông. Đó là điều dễ hiểu.
Nhìn một cách hình thức, có thể thấy Trung Quốc rất mạnh và đã làm nhiều việc trên Biển Đông. Quyết tâm, tham vọng của họ ngày càng lớn. Chưa kể, họ vô cùng kiên trì để dần dần đạt được tham vọng chủ quyền của mình. Họ không e ngại dư luận nên khó có thể nói không lo lắng. Cả thế giới lo chứ không riêng chúng ta.
Có hai việc cơ bản, quan trọng nhất, để hình thành cách ứng xử trên Biển Đông. Một là, chúng ta phải khẳng định chủ quyền. Không bao giờ chúng ta được mơ hồ về điều đó, không bao giờ được quên điều đó, không bao giờ được buông điều đó. Hai là, phải tin rằng chúng ta sẽ bảo vệ được chủ quyền đất nước. Trong đó quan trọng nhất là tự tin – tin vào lòng dân, tin vào đường lối, cách ứng xử của Đảng và nhà nước, trên cơ sở hội tụ ý chí của người dân.
– Ngoài niềm tin, chúng ta phải làm gì để giữ được quyền chủ quyền và quyền tài phán của mình trên Biển Đông?
– Trong cuộc đấu tranh này, việc xác định đầy đủ phạm vi chủ quyền của mình là vô cùng quan trọng. Chúng ta phải pháp lý hóa những gì chúng ta tuyên bố, những đảo, đá nào chúng ta có chủ quyền, thềm lục địa của chúng ta đến đâu… Dựa trên cơ sở đó, chúng ta phải giữ cho bằng được 21 điểm đảo, 33 điểm đóng quân và các vùng biển thuộc chủ quyền Việt Nam tại Trường Sa. Chúng ta cũng kiên trì đấu tranh cho chủ quyền Việt Nam tại Hoàng Sa, mặc dù đang bị Trung Quốc chiếm đóng trái phép, nhưng Việt Nam không bao giờ từ bỏ, và không được phép từ bỏ.
Chúng ta phải giữ bằng được quyền chủ quyền trên thềm lục địa 200 hải lý và làm cho tất cả các nước hiểu và tôn trọng quyết tâm sắt đá ấy. Chúng ta phải làm cho Trung Quốc và các nước khác tôn trọng, thực hiện luật pháp quốc tế khi hoạt động trên vùng biển chủ quyền của Việt Nam. Duy trì và phát triển lao động hợp pháp của ngư dân, dầu khí, nghiên cứu biển, vận tải, du lịch…
Nếu xác định rõ ràng và quyết tâm như thế, thì tôi có thể trả lời câu hỏi của bạn: Thách thức là có thật, nhưng chúng ta sẽ bảo vệ toàn vẹn chủ quyền trên Biển Đông. Và trên thực tế, hiện nay chúng ta vẫn đang giữ toàn vẹn chủ quyền trên biển đó chứ.
“Thách thức là có thật, nhưng chúng ta đang giữ toàn vẹn chủ quyền trên biển đó chứ”. Ảnh: Giang Huy.
– Nhưng chiến thuật của Trung Quốc ở biển Đông là lấn từng bước mà không cần đến các biện pháp quân sự. Họ áp dụng cách này không chỉ một lần trong lịch sử, và thực tế là nó đã hiệu quả. Ông đánh giá thế nào về thực tế này?
– Sự hiện diện của Trung Quốc ở Biển Đông có thể ngày càng nhiều, nhưng bạn có thấy lá cờ đỏ sao vàng cũng đang hiện diện ngày càng dày đặc, thường xuyên, đa dạng trên Biển Đông không? Các đảo ở Trường Sa của chúng ta ngày càng thêm xanh, thêm đông vui, thêm điện sáng suốt đêm như những ngọn hải đăng Việt Nam ở biển xa, với cuộc sống lao động ngày càng sôi động hơn. Các giàn khoan dầu khí, hoạt động thăm dò, nghiên cứu, bảo vệ môi trường biển, các đoàn tàu du lịch, vận tải biển của thế giới bình yên đi qua Biển Đông. Các chuyến tàu dân sự, quân sự, khoa học của các nước tấp nập đến với Việt Nam… Các ngư trường đánh cá của chúng ta ngày càng xa, ngày càng nhiều. Tất cả đều hợp pháp, phù hợp luật pháp quốc tế. Chúng ta không tranh giành, xâm lấn thêm của ai cả.
Hải quân Việt Nam cũng hiện diện rất chững chạc, tự tin, đàng hoàng và ngày càng nhiều hơn trên Biển Đông. Năm nay chúng ta diễn tập bắn đạn thật ở các đảo Trường Sa. Trong toàn bộ vùng biển Đông Nam Á, vùng biển Việt Nam là an toàn nhất, không có cướp biển, không có buôn người và đang được Cảnh sát Biển bảo vệ rất tốt. Đó là những cái mình làm mà chưa nói, bây giờ tôi nói. Lẽ nào đó không phải là lời khẳng định hùng hồn về chủ quyền của chúng ta.
Vừa qua chúng ta bàn luận nhiều đến sự hiện diện của tàu dân quân biển Trung Quốc trên Biển Đông. Sự quan tâm đó là hợp lý, vì hàng trăm con “tàu lạ” cứ đứng lỳ ra đó mà không làm gì thì cũng thật khó coi. Nhưng đánh giá việc đó như thế nào, bực tức ra sao là một chuyện, còn xử lý như thế nào lại là việc khác. Bộ Ngoại giao ta đã tuyên bố mạnh mẽ, rõ ràng, hải quân, cảnh sát biển nắm chắc tình hình, hiện diện ngay tại đó để bảo đảm rằng luật pháp Việt Nam và quốc tế sẽ được tuân thủ – nếu anh vi phạm luật pháp, tôi sẽ xử lý theo luật. Trong khi đó, các hoạt động lao động của ta trên biển vẫn tiến hành bình thường.
– Vậy nguyên tắc giải quyết của Việt Nam trong tình huống này là gì?
– Kiên quyết, kiên trì nhưng không manh động, không khiêu khích – đó là cách chúng ta đã làm, đang làm và sẽ làm. Có lần tôi gặp Thượng tướng Lưu Á Châu, Chính ủy Đại học Quốc phòng Trung Quốc. Ông ta nói: “Cái quan trọng nhất của cả Việt Nam và Trung Quốc, là hai bên đừng hành động quá tay hay tuyên bố quá lời”. Tôi trả lời: “Tôi rất đồng tình với đồng chí, vì chúng tôi chưa bao giờ nói và làm quá giới hạn chính đáng cả”.
Quan điểm các quốc gia có thể khác nhau, lợi ích cũng khác nhau và đôi khi mâu thuẫn. Năm 2011, sau vụ tàu Bình Minh bị cắt cáp, tôi sang gặp lãnh đạo Bộ Quốc phòng Trung Quốc, khi hai bên đang tranh luận, ông ta nói: “Nếu tôi nói Trường Sa, Hoàng Sa không phải của Trung Quốc thì tôi không còn là người Trung Quốc. Nhưng tôi hiểu nếu đồng chí nói Trường Sa, Hoàng Sa là của Trung Quốc thì đồng chí cũng không phải là người Việt Nam nữa. Chúng ta khác nhau và đó là lý do phải ngồi lại với nhau”. Rõ ràng họ cũng thấy vấn đề, có điều mình phải kiên trì đấu tranh, thẳng thắn nhưng rất chân thành. Bên cạnh đó, phải luôn duy trì vấn đề này trên các diễn đàn quốc tế, không bao giờ để bất cứ ai bịt miệng. Ở Biển Đông, Việt Nam tự tin có cả chính nghĩa lẫn luật pháp. Đó là điểm mấu chốt, toàn cầu hóa, không phải quốc gia nào muốn làm gì thì làm, bất chấp cả đạo lý lẫn pháp lý được.
“Nếu thêm cho tôi một dollar xuất khẩu nông sản thì sẽ bớt áp lực đi một dollar để bảo vệ chủ quyền Biển Đông”. Ảnh: Giang Huy.
“Thóa mạ giúp chúng ta sướng miệng chứ không giữ được nhà”
– Có lo ngại rằng, một số lãnh đạo có tâm lý ngại Trung Quốc, muốn dĩ hòa vi quý với họ, ông nghĩ sao?
– Thật ra khi có một kẻ đe dọa chủ quyền nước mình thì không ai có thể yên tâm và vui lòng được. Tâm lý nghi ngờ của nhiều người Việt Nam, tôi hiểu, nó rất bình thường. Nhưng điều tôi thấy không bình thường là nhiều người không phân biệt được giữa làm thế nào để giữ chủ quyền với làm gì cho bõ ghét. Việc chúng ta phải làm là giữ nhà, và quan hệ thuận hòa với láng giềng, chứ không phải thoá mạ làm mất mặt họ. Thoá mạ giúp chúng ta sướng miệng, chứ không giữ được nhà, cũng không có yên ổn mà làm ăn.
Tôi khẳng định, không một ai ở đất nước này có suy nghĩ rời bỏ hoặc nhân nhượng về chủ quyền, đặc biệt là những nhà lãnh đạo. Nếu để mất Biển Đông thì quân đội Việt Nam, các nhà lãnh đạo sẽ có tội với đất nước, và cũng sẽ không yên với dân được. Trong quân đội, từ trên xuống dưới, đều coi Biển Đông là sống còn. Chủ quyền lãnh thổ là điều chúng ta tuyệt đối không bao giờ buông tay.
Người Việt Nam cần đặt lòng tin vào Đảng, Nhà nước trong chiến lược bảo vệ Tổ quốc. Thêm vào đó, mỗi người chúng ta có thể có những hành động thiết thực hơn để giữ nhà mình, làm sao để đất nước phát triển, thật nhanh, thật vững chắc – đó chính là giải pháp quan trọng nhất để giữ chủ quyền. Tôi muốn chúng ta phải xử lý vấn đề với sự khôn ngoan và tỉnh táo tuyệt đối, đấu tranh giữ chủ quyền, nhưng đừng để mất hòa bình, đừng cản trở sự phát triển của đất nước.
Tôi từng nói: “Nếu thêm cho tôi một dollar xuất khẩu nông sản thì sẽ bớt áp lực đi một dollar để bảo vệ chủ quyền Biển Đông”. Đất nước phát triển, biên cương càng vững chắc. Mà phát triển không phải là để đổ tiền mua vũ khí. Trái lại, Trường Sa phải giàu lên để đất nước ngày càng giàu mạnh. Đó chính là giữ nhà. Đừng để những vụ tham ô, tham nhũng bào mòn lòng tin và sức mạnh quốc gia, đó là giữ nhà. Đừng vì yêu ghét mà không nắm bắt, tận dụng cơ hội phát triển của Trung Quốc để Việt Nam cùng phát triển. Đó là giữ nhà. Mỗi người dân hãy cùng đóng góp phát triển, xây dựng kinh tế, để đất nước hùng mạnh. Đó chính là giữ nhà.
Sức hút của tiền kỹ thuật số trên toàn cầu cũng như sự phát triển của tiền số tư nhân đã khiến các ngân hàng trung ương trên khắp thế giới xem xét phát triển các loại tiền kỹ thuật số quốc gia. Hiện nay Trung Quốc đang dẫn đầu với đồng nhân dân tệ kỹ thuật số.
Cuộc chạy đua để ra mắt đồng tiền kỹ thuật số của ngân hàng trung ương (central bank digital currency, hay CBDC) lớn đầu tiên trên thế giới và sự chính trị hóa loại tiền tệ này là hồi chuông báo hiệu khởi đầu một cuộc cạnh tranh mới giữa các nền kinh tế lớn.
Đại dịch COVID-19 đã tạo điều kiện thuận lợi để chuyển đổi mạnh từ tiền mặt sang các phương thức thanh toán kỹ thuật số. Trong bối cảnh tiền điện tử dần trưởng thành, điều này khiến các ngân hàng trung ương trên toàn thế giới phải suy nghĩ nghiêm túc về việc phát hành các loại tiền kỹ thuật số của riêng họ.
Trên mặt trận này, Trung Quốc đang dẫn đầu thế giới, với đồng Tiền tệ Kỹ thuật số/Thanh toán Điện tử (DC/EP), hay gọi ngắn gọn là đồng nhân dân tệ kỹ thuật số. Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (PBOC) đã bắt đầu nghiên cứu về đồng nhân dân tệ kỹ thuật số từ năm 2014. Ba năm sau, họ thành lập Viện Nghiên cứu Tiền tệ Kỹ thuật số và sau đó cho ra mắt loại tiền kỹ thuật số của riêng mình.
Các dự án thí điểm của Trung Quốc
Nhiều dự án thí điểm trên khắp Trung Quốc đã cho phép cư dân của một số thành phố, bao gồm Bắc Kinh, Thâm Quyến và Tô Châu, dùng thử tiền kỹ thuật số cho cả giao dịch mua trực tuyến lẫn ngoại tuyến. Sáu ngân hàng nhà nước lớn ở Thượng Hải đang làm việc với PBOC để quảng bá đồng nhân dân tệ kỹ thuật số như một giải pháp thay thế cho các nền tảng thanh toán phi tiền mặt hiện có – Alipay và WeChat Pay.
Một cuộc thí điểm hiện đang được tiến hành ở 10 khu vực: Thâm Quyến, Tô Châu, Thành Đô, Bắc Kinh (Xiong’An New Area), Thượng Hải, Hải Nam, Trường Sa, Tây An, Thanh Đảo và Đại Liên. Được thiết kế nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các giao dịch nội địa tức thì, thí điểm giúp kiểm tra tính ổn định và dễ sử dụng của đồng nhân dân tệ kỹ thuật số.
CBDC của Trung Quốc cũng hứa hẹn sẽ giải quyết những mối lo ngại pháp lý lâu năm như tháo chạy vốn, rửa tiền, trốn thuế và tài trợ khủng bố. Tại thời điểm tháng 4 năm 2021, đồng nhân dân tệ kỹ thuật số đã được dùng ở các cửa hàng như Starbucks và McDonald’s, cũng như các doanh nghiệp tư nhân khác như JD.com.
Cuộc thử nghiệm nhân dân tệ kỹ thuật số của Trung Quốc không chỉ dừng lại ở người dùng trong nước. PBOC gần đây đã bắt tay với Cơ quan Tiền tệ Hồng Kông (HKMA) để giám sát các vụ thí điểm thanh toán bằng đồng nhân dân tệ kỹ thuật số ở cấp độ xuyên biên giới. Trung Quốc cũng có ý định cho phép các vận động viên nước ngoài sử dụng đồng nhân dân tệ kỹ thuật số trong Thế vận hội mùa Đông Bắc Kinh vào tháng 2 năm 2022. Với tiến độ thí điểm hiện tại và sắp tới, Trung Quốc khả năng cao sẽ là nền kinh tế lớn đầu tiên giới thiệu thành công một CBDC.
CDBC của Trung Quốc: Phản ứng khu vực
Sự phát triển nhanh chóng đồng nhân dân tệ kỹ thuật số của Trung Quốc đã làm gia tăng những lo ngại về quyền riêng tư, an ninh quốc gia và quyền lực chính trị ở phương Tây, đặc biệt là ở Washington và các đối tác thân cận của Mỹ.
Bất chấp những cam đoan từ cả PBOC và cựu thống đốc PBOC Chu Tiểu Xuyên rằng đồng nhân dân tệ kỹ thuật số sẽ chỉ dùng trong nước, các nhà hoạch định chính sách Mỹ đang ngày càng cảnh giác với thách thức đặt ra bởi các nỗ lực trình làng nhân dân tệ kỹ thuật số của Trung Quốc.
Trong khi các quan chức của Ủy ban Chứng khoán và Giao dịch Hoa Kỳ nói đồng nhân dân tệ kỹ thuật số của Trung Quốc vẫn chưa phải là một thách thức nghiêm trọng cho đồng đô la Mỹ, các quan chức Đảng Cộng hòa bảo thủ lại xem nó như tham vọng lâu dài của Trung Quốc nhằm xây dựng một đồng tiền dự trữ thống trị thế giới. Thật vậy, nhà sử học Niall Ferguson đã gọi đồng nhân dân tệ kỹ thuật số là một “thách thức chí mạng” đối với quyền bá chủ tài chính kéo dài hàng thập niên qua của Hoa Kỳ.
Các nhà hoạch định chính sách Đài Loan cũng dần có quan điểm tương tự. Trước đây, đồng minh thân Mỹ này chỉ coi nhân dân tệ kỹ thuật số “không gì hơn một tác phẩm tuyên truyền và trò lăng xê của Bắc Kinh”. Tuy nhiên, màn ra mắt thành công nhân dân tệ kỹ thuật số của Trung Quốc đã khiến ngân hàng trung ương Đài Loan ngày càng coi đây là một mối đe dọa an ninh.
Đáng ngạc nhiên là Nhật Bản phản ứng khá nước đôi. Một mặt, các quan chức Nhật Bản nói đồng nhân dân tệ kỹ thuật số của Trung Quốc khó có thể đe dọa vị thế của đồng đô la Mỹ, trong khi chính họ thừa nhận Trung Quốc có “lợi thế đi trước” trong việc phát hành một loại tiền kỹ thuật số quốc gia.
Sự lan tỏa toàn cầu và chính trị hóa CBDC
Đà tiến nhanh của Trung Quốc đã khiến ba bên đẩy nhanh các kế hoạch CBDC của riêng họ. Dù ban đầu Chủ tịch Yang Jinlong của Ngân hàng Trung ương Đài Loan nói Đài Loan “không vội vàng tung ra một loại tiền kỹ thuật số”, nhưng họ lại triển khai thử nghiệm CBDC bán lẻ của riêng mình vào tháng 9 năm 2020. Ngân hàng Trung ương Nhật Bản cũng xác nhận có kế hoạch cho một đồng Yên kỹ thuật số. Đồng Yên này hiện đang trong giai đoạn thử nghiệm đầu tiên, kéo dài đến tháng 3 năm 2022.
Ngoài ra, Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Mỹ Jerome Powell hồi tháng 2 năm 2021 cũng từng nói đồng đô la kỹ thuật số là một “dự án ưu tiên cao.” Mặc dù Mỹ khó có thể chiến thắng trong cuộc đua phát triển đồng tiền kỹ thuật số quốc gia, nhưng chính quyền Biden gần đây đã để mắt hơn đến chương trình nhân dân tệ kỹ thuật số của Trung Quốc.
Các quốc gia thành viên ASEAN cũng đã đẩy mạnh nỗ lực tung ra các loại tiền kỹ thuật số quốc gia, mặc dù còn có khoảng cách về mức độ chín muồi. Các động thái đáng chú ý bao gồm Dự án Bakong của Campuchia, Dự án Inthanon của Thái Lan và Dự án Ubin của Singapore. Các nước khác như Indonesia, Malaysia và Philippines vẫn đang trong quá trình nghiên cứu khả thi ban đầu. Myanmar, Việt Nam và Lào không có cái nhìn thiện cảm với tiền kỹ thuật số nên bị tụt lại.
Khác biệt giữa các nước thành viên ASEAN xoay quanh tiền kỹ thuật số khiến khối này không thể thống nhất một quan điểm chung đối với đồng nhân dân tệ kỹ thuật số của Trung Quốc. Ví dụ, Ngân hàng Thái Lan đang hợp tác với Trung Quốc, Hồng Kông và Ngân hàng Trung ương UAE. Cơ quan Tiền tệ Singapore (MAS) cũng hoan nghênh hợp tác chặt chẽ với PBOC để trao đổi kiến thức và chuyên môn với Trung Quốc về CBDC.
Định nghĩa lại tiền?
Trong bối cảnh cạnh tranh Mỹ-Trung ngày càng gia tăng, đặc biệt là trong lĩnh vực công nghệ, có lẽ những tiến bộ nhanh chóng của Trung Quốc đối với CBDC khó tránh khỏi một số lo ngại từ Washington và các đồng minh. Thật vậy, sự tiến bộ nhanh chóng của đồng nhân dân tệ kỹ thuật số hứa hẹn không chỉ định nghĩa lại các phương thức thanh toán hiện có mà còn cả bản thân khái niệm “tiền”.
Ngoài sự phức tạp về mặt kỹ thuật, có lẽ quan trọng hơn là cách CBDC của Trung Quốc cho phép Bắc Kinh theo dõi và giám sát các giao dịch tài chính ở mức độ chi tiết.
Điều này khiến nó trở thành một mô hình hấp dẫn cho các nước khác làm theo – có thể qua đó giúp mở rộng ảnh hưởng tài chính của Trung Quốc ở khu vực. Khi các ngân hàng trung ương trên toàn thế giới nhận thấy được ý nghĩa to lớn của công nghệ blockchain, thì cuộc cạnh tranh và cuộc đua chính trị hóa CBDC đã khai màn.