![]()
Views: 0
![]()
Views: 0
Nhận lời mời của Thủ tướng Alexander De Croo, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính thăm chính thức Vương quốc Bỉ từ 13-15/12; chiều 13/12 (giờ địa phương), ngay sau Lễ đón trọng thể tại Cung điện Egmont, hai Thủ tướng đã tiến hành hội đàm.

Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính cảm ơn sự đón tiếp thân tình, trọng thị và chu đáo của Chính phủ Bỉ dành cho Đoàn đại biểu cấp cao Chính phủ Việt Nam, khẳng định Việt Nam luôn coi Bỉ là một trong những đối tác quan trọng hàng đầu trong Liên minh Châu Âu.
Thủ tướng Alexander De Croo nhấn mạnh, trong bối cảnh hai nước đang hướng tới kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao (1973 – 2023), chuyến thăm lần này của Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính có ý nghĩa rất quan trọng góp phần đưa quan hệ hai nước sang giai đoạn phát triển mới, đi vào chiều sâu, thực chất, hiệu quả hơn, nhất là về thương mại – đầu tư; đồng thời khẳng định coi trọng vai trò, vị thế của Việt Nam ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương.
Trong không khí chân thành, tin cậy và thẳng thắn, hai Thủ tướng đã trao đổi toàn diện về tình hình phát triển kinh tế – xã hội mỗi nước, quan hệ hợp tác song phương và các vấn đề khu vực, quốc tế cùng quan tâm.
Hai Thủ tướng bày tỏ vui mừng với bề dày và chất lượng quan hệ, hai nước tiếp tục đạt được những bước tiến tích cực trong quan hệ song phương trong những năm vừa qua bất chấp điều kiện đại dịch. Lãnh đạo cấp cao hai nước duy trì tiếp xúc thường xuyên, đầu tư – thương mại phát triển mạnh mẽ, nhiều dự án đầu tư của Bỉ hoạt động hiệu quả tại Việt Nam.
Nhân dịp này, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính cảm ơn Chính phủ và nhân dân Bỉ đã hỗ trợ vaccine phòng COVID-19, góp phần giúp Việt Nam đẩy lùi dịch bệnh và sớm mở cửa, phục hồi kinh tế.
Hai nhà Lãnh đạo đã thống nhất các phương hướng, biện pháp lớn để đẩy mạnh toàn diện hợp tác giữa hai nước, nhất là làm sâu sắc hợp tác trong khuôn khổ Đối tác chiến lược về nông nghiệp, đẩy mạnh hợp tác đầu tư, thương mại và trên các lĩnh vực tiềm năng khác. Hai bên nhất trí tăng cường trao đổi đoàn các cấp, nhất là cấp cao, và tiếp tục triển khai hiệu quả các cơ chế hợp tác song phương. Nhân dịp này, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã trân trọng mời Thủ tướng Alexander De Croo sang thăm Việt Nam trong năm 2023 nhân dịp 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước, và trân trọng chuyển lời thăm hỏi của lãnh đạo cấp cao Việt Nam đến lãnh đạo cấp cao Bỉ.
Về hợp tác kinh tế – thương mại, hai Thủ tướng khuyến khích các cơ quan và doanh nghiệp hai nước tiếp tục triển khai đầy đủ, hiệu quả Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA). Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đề nghị Bỉ sớm hoàn tất quá trình phê chuẩn Hiệp định Bảo hộ đầu tư EU – Việt Nam (EVIPA); khuyến khích các doanh nghiệp Bỉ đầu tư vào các lĩnh vực Bỉ có thế mạnh như chuyển đổi số, năng lượng tái tạo, hệ thống hậu cần, cảng biển, hạ tầng chiến lược; ủng hộ Ủy ban châu Âu (EC) sớm gỡ bỏ “thẻ vàng” đối với thủy sản Việt Nam.
Về phần mình, Thủ tướng Alexander De Croo khẳng định Hiệp đinh EVFTA là động lực quan trọng thúc đẩy quan hệ kinh tế – thương mại giữa hai bên; chia sẻ sự quan tâm và sẽ thúc đẩy sớm thông qua hiệp định EVIPA; đánh giá cao những nỗ lực của Việt Nam trong chuyển đổi nghề cá bền vững, sẽ chuyển đề nghị đến EC để xem xét gỡ “thẻ vàng” cho Việt Nam.
Về Đối tác chiến lược về nông nghiệp, hai bên ghi nhận những kết quả hợp tác tích cực trong 5 năm đầu triển khai. Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đề nghị Bỉ hỗ trợ phát triển mô hình kinh tế nông nghiệp tuần hoàn, nông nghiệp thông minh; hỗ trợ các giải pháp ứng phó với xâm nhập mặn và hạn hán ở Đồng bằng sông Cửu Long; hỗ trợ triển khai Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021-2030 hướng đến phát triển bền vững, thân thiện với môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu; hai bên thúc đẩy cơ chế hợp tác ba bên với các nước châu Phi, với sự hỗ trợ về tài chính và hậu cần của Bỉ, để cùng ứng phó với vấn đề an ninh lương thực trên thế giới. Phía Bỉ ủng hộ việc hai bên triển khai mạnh mẽ, hiệu quả Đối tác chiến lược về nông nghiệp, đề nghị lập Nhóm làm việc chung để sớm có các dự án hợp tác cụ thể.
Hai bên nhất trí mở rộng hợp tác giữa hai nước trong các lĩnh vực quốc phòng – an ninh, giáo dục – đào tạo, văn hóa, nhất là tổ chức Ngày văn hóa ở mỗi nước để gia tăng hiểu biết, giao lưu nhân dân, du lịch và đẩy mạnh phối hợp cùng giải quyết các thách thức toàn cầu. Về ứng phó với biến đổi khí hậu, Thủ tướng Bỉ bày tỏ sẵn sàng hỗ trợ Việt Nam về tài chính và công nghệ để thực hiện các cam kết quốc tế về khí hậu, đặc biệt là phát triển công nghệ năng lượng tái tạo và các ngành công nghiệp phụ trợ.
Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đề nghị Chính phủ Bỉ tiếp tục quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi cho cộng đồng người Việt Nam tại Bỉ hội nhập thành công và đóng góp cho phát triển kinh tế – xã hội Bỉ, coi đây là cầu nối thúc đẩy quan hệ hợp tác giữa hai nước.
Hai Thủ tướng cũng đã trao đổi sâu rộng về các vấn đề khu vực, quốc tế cùng quan tâm và khẳng định tiếp tục phối hợp chặt chẽ và ủng hộ lẫn nhau tại các diễn đàn đa phương và tổ chức quốc tế, đặc biệt khi hai nước cùng là thành viên Hội đồng Nhân quyền nhiệm kỳ 2023-2025, góp phần bảo đảm hòa bình, an ninh, hợp tác và phát triển ở khu vực và trên thế giới.
Trao đổi về vấn đề Biển Đông, hai bên tái khẳng định tầm quan trọng của việc bảo đảm hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn và tự do hàng hải, hàng không tại Biển Đông; ủng hộ thượng tôn pháp luật, không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, phù hợp luật pháp quốc tế, nhất là Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982).
Sau hội đàm, hai Thủ tướng đã chứng kiến Lễ ký kết các văn kiện hợp tác giữa các bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp hai nước trong các lĩnh vực nông nghiệp, phát triển kinh tế biển xanh, an toàn thực phẩm, phát triển than hoạt tính…
Nguồn: https://baotintuc.vn/chinh-tri/thu-tuong-pham-minh-chinh-hoi-dam-voi-thu-tuong-bi-20221214060735108.htm
![]()
Views: 0
Tổng công ty cổ phần Khoan và Dịch vụ Khoan Dầu khí (PV Drilling) vừa ký hợp đồng cung cấp giàn khoan tự nâng cho chương trình khoan năm 2023 của Công ty TNHH MTV Điều hành Thăm dò Khai thác Dầu khí Trong nước (PVEP POC).

Chương trình khoan dự kiến bắt đầu từ tháng 3/2023, bao gồm giếng thăm dò – thẩm lượng ĐHN-4X thuộc Kế hoạch Thăm dò mở rộng Lô 05-1(a) và giếng DH-21XPST thuộc kế hoạch Phát triển mỏ Đại Hùng, Pha 3 Lô 05-1(a), ngoài khơi vùng biển Việt Nam.
Để phục vụ cho chương trình khoan của PVEP POC nói trên, PV Drilling sẽ cung cấp giàn khoan PV DRILLING VI. Đây là giàn khoan tự nâng thế hệ mới nhất và là phiên bản nâng cấp từ thiết kế MOD V B Class của Keppel FELS. Giàn có khả năng thi công giếng khoan có độ sâu đến 9.000 m ở mực nước sâu tối đa 121 m.
Trong năm 2022, giàn PV DRILLING VI thực hiện dự án khoan cho các khách hàng ENI, Vietsovpetro và POVO tại thị trường trong nước với hiệu suất hoạt động lên đến 99,6% (3 quý đầu năm).

Theo EIA, giá dầu thô (Brent) trung bình năm 2022 dự kiến đạt mức 101 USD/thùng. Mặc dù hiện nay giá dầu thô giảm nhẹ do những quan ngại về các chính sách đóng cửa để phòng ngừa dịch bệnh Covid-19 tại Trung Quốc sẽ ảnh hưởng đến kinh tế toàn cầu, dẫn đến nhu cầu dầu thô giảm tương ứng, cùng với việc việc gia tăng trữ lượng hàng tồn kho, giá dầu thô trung bình năm 2023 được dự đoán duy trì ở mức 92 USD/thùng.
Với mức giá trung bình nêu trên, thị trường khoan dầu khí toàn cầu được dự đoán sẽ duy trì hoạt động ổn định, là nền tảng vững chắc để các nhà thầu dầu triển khai thực hiện các kế hoạch khoan mới.
Nguồn: https://nangluongvietnam.vn/pv-drilling-ky-hop-dong-cung-cap-gian-khoan-cho-pvep-poc-nam-2023-29982.html
![]()
Views: 0
Những thay đổi về mặt cấu trúc trong các vấn đề thế giới vẫn đang tiếp diễn khi năm 2022 sắp kết thúc. Trật tự mới chưa được định hình cụ thể, nhưng vẫn có thể thấy rõ một số đặc điểm.

Trang mạng của Viện Nghiên cứu Lowy ngày 13/12 đã đăng bài viết của nhà ngoại giao kỳ cựu New Zealand, Đại sứ Ian Hill đánh giá về những thay đổi cục diện thế giới trong năm qua.
Theo nhà ngoại giao Ian Hill, những thay đổi về mặt cấu trúc trong các vấn đề thế giới vẫn đang tiếp diễn khi năm 2022 sắp kết thúc. Xung đột Nga – Ukraine đã đưa thế giới bước vào một kỷ nguyên phức tạp hơn. Trật tự mới này chưa được định hình cụ thể, nhưng vẫn có thể thấy rõ một số đặc điểm.
Các đặc điểm chính của nó có liên quan với nhau và tác động qua lại. Do đó, chúng không thể được xem xét hoặc giải quyết một cách riêng rẽ. Ông Ian Hill đồng tình với một chuyên gia khi mô tả đó là sự “đa khủng hoảng”.
Nhà ngoại giao kỳ cựu của New Zealand nhận định chúng ta đang trải qua một môi trường quốc tế phức tạp hơn, đầy cạnh tranh và khó lường hơn. Câu chuyện tổng thể ở đây là sự chuyển dịch dần dần dù không đồng đều của quyền lực kinh tế chính trị toàn cầu từ châu Âu-Đại Tây Dương sang các cường quốc mới nổi.
Theo ông Ian Hill, khi cạnh tranh gia tăng giữa các cường quốc, năng lượng, thực phẩm, di cư và dữ liệu… đều có thể bị “vũ khí hóa”. Hiện có sự cạnh tranh lớn hơn trong tiếp cận toàn cầu cho dù trên biển hay trong không gian.
Ông Ian Hill cho rằng sự cạnh tranh giữa Mỹ và Trung Quốc đang gia tăng – cho dù trong lĩnh vực chính trị, an ninh hay kinh tế. Một số người mô tả cuộc cạnh tranh này giống như “bẫy Thucydides”, theo đó Mỹ là cường quốc lâu đời đang đối phó lại sự trỗi dậy của cường quốc mới nổi Trung Quốc.

Hơn nữa, chúng ta cũng đang chứng kiến sự xuất hiện của cái mà Đại diện cấp cao chuyên về chính sách an ninh và đối ngoại của Liên minh châu Âu (EU) Josep Borrell gọi là “sự đa cực lộn xộn”, trong đó các cường quốc cấp hai, chẳng hạn như Ấn Độ, Thổ Nhĩ Kỳ, Saudi Arabia và Brazil, đang cạnh tranh để bảo vệ lợi ích quốc gia, gây ảnh hưởng và đạt được lợi thế trong môi trường toàn cầu linh hoạt và cạnh tranh hơn này.
Theo quan điểm của nhà ngoại giao kỳ cựu New Zealand, các nước đang phát triển thường muốn tránh bị lôi kéo vào việc chọn bên trong cuộc cạnh tranh địa chính trị ngày càng tăng giữa các cường quốc.
Tuy nhiên, không có gì đáng ngạc nhiên khi những nước nhỏ cũng muốn tận dụng cuộc cạnh tranh để tạo lợi thế cho riêng mình (bao gồm cả các quốc đảo Thái Bình Dương trong cuộc cạnh tranh giữa Mỹ và Trung Quốc). Các quốc đảo lo lắng vì cấu trúc toàn cầu hiện tại không mang lại lợi ích cho họ đặc biệt là về biến đổi khí hậu.
Đồng thời, ông Ian Hill chỉ ra rằng sự tổn thương của nền kinh tế toàn cầu đang ngày một rõ ràng hơn. Lạm phát cao quay trở lại và lan rộng do xung đột Nga – Ukraine (giá cả lương thực, năng lượng tăng đột biến). Bên cạnh đó, đại dịch Covid-19 làm gián đoạn chuỗi cung ứng. Điều này đặc biệt gây tổn hại cho các nước đang phát triển, suy thoái kinh tế toàn cầu cũng sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến Mỹ, châu Âu và Trung Quốc vào năm 2023.
Nhà ngoại giao New Zealand nhận định thế giới đang hướng tới sự “chia tách toàn cầu” – theo đó tìm cách xóa bỏ sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế do những lo ngại về địa chính trị và đại dịch. Bên cạnh đó, biến đổi khí hậu đã chuyển sang giai đoạn quan trọng. Các tác động ngày càng tăng của biến đối khí hậu đang làm trầm trọng thêm sự đứt gẫy toàn cầu.
Ông Ian Hill đồng thời cũng cảnh báo các thể chế và quy trình quản trị toàn cầu đang có dấu hiệu bị suy yếu. Trong khi đó, cạnh tranh Mỹ-Trung Quốc gia tăng đồng nghĩa với căng thẳng và bất ổn gia tăng ở Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương. Cùng với khả năng suy thoái kinh tế toàn cầu và sự gián đoạn liên tục phát sinh từ xung đột Nga – Ukraine, điều này ảnh hưởng đến an ninh và sự thịnh vượng của các quốc gia nhỏ.
Hơn nữa, sự đối đầu giữa các nước lớn sẽ càng làm giảm triển vọng hợp tác đa phương hiệu quả trong các vấn đề toàn cầu cấp bách như biến đổi khí hậu, ảnh hưởng tiêu cực đến các nước Thái Bình Dương. Cuối cùng, nhà ngoại giao Ian Hill cho rằng trong một môi trường địa chính trị mang tính đối đầu hơn, các nước nhỏ sẽ càng khó khăn hơn trong việc quản lý mối quan hệ với các cường quốc. Họ sẽ đối mặt với áp lực phải chọn bên: có thể cần phải đưa ra các lựa chọn và một số thỏa hiệp khó xử.
Đây không phải là một vấn đề nan giải mới đối với các nước nhỏ. Việc bảo vệ các lợi ích sống còn của họ sẽ đòi hỏi sự cân bằng thận trọng: trung thành với các nguyên tắc và giá trị được tôn trọng đồng thời thích ứng với các thực tế chiến lược đang thay đổi.
tg&vn
![]()
Views: 0
Ông Bryon Wilfert, cựu nghị sỹ Canada, thành viên Hội đồng cố vấn Viện Macdonald-Laurier, nhận định UNCLOS được Việt Nam xem là một cơ chế vì hòa bình khu vực và giải quyết các tranh chấp trên biển.

Việt Nam là một trong những nước đầu tiên ký Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) năm 1982. Vào thời điểm đó, Việt Nam đã kêu gọi các quốc gia khác trong khu vực, cụ thể là các nước thuộc Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) phải tôn trọng và tuân thủ công ước này.
Ông Bryon Wilfert, cựu nghị sỹ Canada, thành viên Hội đồng cố vấn Viện Macdonald-Laurier, đã nhận định như vậy trong buổi trò chuyện với phóng viên TTXVN tại Ottawa nhân 40 năm ký kết UNCLOS 1982.
Theo ông Wilfert, UNCLOS 1982 đóng vai trò quan trọng trong việc thiết lập một cách rõ ràng các quy tắc về môi trường, cũng như quản lý tài nguyên biển. UNCLOS được Việt Nam xem là một cơ chế vì hòa bình khu vực và giải quyết các tranh chấp trên biển.
[Học giả Australia: UNCLOS là thành tựu nổi bật của hợp tác quốc tế]
Đối với các quốc gia như Việt Nam, công ước này cung cấp ranh giới rõ ràng giữa những nước sử dụng vùng đáy biển và các quốc gia ven biển với các quy định phổ quát.
Ông Wilfert cũng đề cập đến việc Việt Nam, cùng với Canada và 10 nước khác, đã khởi xướng ý tưởng thành lập Nhóm bạn bè UNCLOS 1982 vào tháng 6/2021 để thúc đẩy và giải quyết những thách thức đối với công ước này.
Theo ông, một khía cạnh quan trọng của Nhóm bạn bè UNCLOS 1982 là vai trò của nhóm trong quản trị đối với Mục tiêu số 14 về bảo tồn và sử dụng bền vững các đại dương, biển và các nguồn tài nguyên biển trong các Mục tiêu phát triển bền vững.
Ông Wilfer nhấn mạnh đây là lĩnh vực mà cả Canada và Việt Nam đều có chung lợi ích để thúc đẩy.
Đề cập việc giải quyết các tranh chấp liên quan tới biển trên thế giới nói chung và khu vực châu Á-Thái Bình Dương nói riêng, trong đó có tranh chấp ở Biển Đông, chuyên gia Wilfert nhấn mạnh Canada đã thể hiện rõ quan điểm rằng tất cả các bên phải tuân thủ các quy tắc của UNCLOS 1982, vốn được Ottawa coi như một cột mốc hữu ích và quan trọng trong việc giải quyết một cách hòa bình tranh chấp trong khu vực.
Canada tin tưởng rằng chỉ thông qua thương lượng và thiện chí mới có thể giải quyết được tranh chấp, việc có một trật tự quốc tế dựa trên luật lệ trong xử lý các vấn đề liên quan đến biển và đại dương sẽ đưa đến giải pháp hòa bình trong khu vực.
Theo ông Wilfer, các vấn đề như quyền chủ quyền, thương mại, hàng hải… cần được đề xuất và thực hiện phù hợp với luật pháp quốc tế, trong đó có UNCLOS 1982./.
Hương Giang
![]()
Views: 0
Theo Đặc phái viên TTXVN, sau 2 ngày thăm chính thức Đại Công quốc Luxembourg, vào 17 giờ, ngày 10/12 (giờ địa phương), chuyên cơ chở Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam tới sân bay quốc tế Schiphol, thành phố Amsterdam, bắt đầu thăm chính thức Vương quốc Hà Lan theo lời mời của Thủ tướng Hà Lan Mark Rutte.

Trong cái lạnh âm 1 độ và trời đã tối hẳn, ra sân bay đón Thủ tướng Phạm Minh Chính và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam có Đại sứ Hà Lan tại Việt Nam Kees van Baar; Vụ trưởng vụ Lễ tân, Bộ Ngoại giao Hà Lan Dominique Kuhling; Đại sứ Việt Nam tại Hà Lan Phạm Việt Anh và cán bộ Đại sứ quán, kiều bào ta tại Hà Lan.
Dự kiến trong chuyến thăm chính thức Hà Lan, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính sẽ có các cuộc hội kiến, hội đàm, gặp các nhà lãnh đạo Hà Lan gồm: Hoàng hậu Hà Lan, Thủ tướng Hà Lan Mark Rutte, Chủ tịch Thượng viện Hà Lan, Chủ tịch Hạ viện Hà Lan; tiếp các Thị trưởng các thành phố lớn của Hà Lan; thăm các cơ sở kinh tế lớn như khu công nghệ, cảng biển; dự diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam – Hà Lan và chứng kiến lễ ký các văn kiện hợp tác giữa hai nước; gặp gỡ cộng đồng người Việt Nam tại Hà Lan…

Trong những năm qua, quan hệ Việt Nam – Hà Lan phát triển mạnh mẽ trên nhiều lĩnh vực, nhất là về đầu tư, thương mại, nông nghiệp và ứng phó với biến đổi khí hậu. Hà Lan là đối tác thương mại lớn thứ hai của Việt Nam ở châu Âu và là nhà đầu tư lớn nhất của EU tại Việt Nam. Trao đổi thương mại song phương năm 2021 đạt 8,37 tỷ USD, tăng gần 10% so với năm 2020; 9 tháng của năm 2022 đạt 8,2 tỷ USD, tăng 36% so với cùng kỳ năm 2021.
Về đầu tư, Hà Lan có 380 dự án tại Việt Nam với tổng vốn đạt 13,5 tỷ USD. Trong khuôn khổ Đối tác chiến lược về biến đổi khí hậu và nông nghiệp bền vững, hai bên đã triển khai nhiều chương trình, dự án hợp tác mang định hướng trung và dài hạn. Hai năm qua, Việt Nam cũng nhận được hỗ trợ của Hà Lan 1 triệu liều vaccine phòng COVID-19, các trang thiết bị trị giá 43 tỷ đồng.

Chuyến thăm Hà Lan của Thủ tướng Phạm Minh Chính góp phần củng cố, tăng cường, làm sâu sắc hơn quan hệ Đối tác toàn diện Việt Nam – Hà Lan, trong đó thúc đẩy hợp tác phát triển các lĩnh vực mà Hà Lan có thế mạnh, Việt Nam có nhu cầu như kinh tế tuần hoàn, năng lượng tái tạo, chống biến đổi khí hậu…
Phạm Tiếp
![]()
Views: 0
Theo Đặc phái viên TTXVN, nhân chuyến thăm chính thức Vương quốc Hà Lan, chiều 11/12 (giờ địa phương), Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã đến thăm Trụ sở chính của Toà Trọng tài thường trực (PCA) tại Cung điện Hoà bình, ở La Hay (Hà Lan) và gặp Tiến sĩ Marcin Czepelak – Tổng Thư ký PCA.

Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính bày tỏ vui mừng lần đầu tiên đến thăm Tòa Trọng tài và gặp lại Tiến sĩ Czepelak sau chuyến thăm của Tổng Thư ký đến Hà Nội cách đây không lâu.
Thủ tướng Chính phủ khẳng định Việt Nam luôn coi trọng và đánh giá cao vai trò của PCA trong việc hỗ trợ các quốc gia giải quyết hoà bình tranh chấp quốc tế bằng thủ tục trọng tài, hòa giải quốc tế; nhấn mạnh sự hiện diện của PCA tại Hà Nội thông qua Văn phòng đại diện là bước đi có ý nghĩa, thể hiện thông điệp của Việt Nam về ủng hộ hòa bình, trật tự thế giới dựa trên luật pháp quốc tế, tuân thủ Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Luật Biển năm 1982.
Tổng Thư ký Czepelak cảm ơn Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã dành thời gian đến thăm và làm việc với PCA tại Cung điện Hoà bình, cũng như cảm ơn sự đón tiếp thân tình của Thủ tướng Chính phủ trong chuyến thăm Việt Nam vừa qua.
Tổng Thư ký Czepelak bày tỏ tình cảm đặc biệt với Việt Nam, khẳng định tôn chỉ của PCA cũng chính là định hướng mà Việt Nam đang theo đuổi “không chọn bên, mà chọn công lý và lẽ phải”; đánh giá cao những cam kết mạnh mẽ và vai trò của Việt Nam trong thúc đẩy tuân thủ Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế.
Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính khẳng định trong quá trình hội nhập quốc tế, với tinh thần tuân thủ các cam kết quốc tế, Việt Nam sẵn sàng giải quyết các tranh chấp quốc tế với các đối tác nước ngoài tại các cơ quan trung gian, hoà giải và trọng tài quốc tế phù hợp với luật pháp quốc tế và bảo đảm hài hòa lợi ích của các bên.
Thủ tướng đề nghị PCA thông qua Văn phòng đại diện tại Hà Nôi tích cực hỗ trợ, tư vấn cho Việt Nam về kinh nghiệm ứng xử với các vấn đề về lãnh thổ, kinh tế, thương mại…; đồng thời đề nghị PCA tạo điều kiện tiếp nhận người Việt Nam vào làm việc tại PCA.

Tổng Thư ký Czepelak cảm ơn Thủ tướng và Chính phủ Việt Nam quan tâm, dành nguồn lực hỗ trợ PCA mở Văn phòng đại diện tại Hà Nội, thể hiện sự tin tưởng của Việt Nam đối với PCA. Ông khẳng định sẽ phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành liên quan của Việt Nam, đặc biệt là Bộ Ngoại giao, triển khai nhiều hoạt động đào tạo, nâng cao năng lực; thông báo PCA đang tuyển dụng chuyên gia Việt Nam cho hoạt động của Văn phòng đại diện tại Việt Nam.
*Toà Trọng tài thường trực (PCA) là tổ chức quốc tế liên chính phủ với 122 quốc gia thành viên, có chức năng tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động giải quyết tranh chấp quốc tế giữa các quốc gia với nhau hoặc giữa quốc gia với pháp nhân nước ngoài trong lĩnh vực kinh tế – đầu tư.
PCA đã hỗ trợ giải quyết hơn 200 tranh chấp quốc tế trên những lĩnh vực như biên giới, lãnh thổ, phân định biển, kinh tế – đầu tư; trong đó, hơn 40% số vụ việc do PCA thụ lý hiện nay liên quan đến khu vực châu Á-Thái Bình Dương.
PCA hiện đặt trụ sở chính tại Cung điện Hòa bình, thủ đô La Hay của Hà Lan, và 5 văn phòng đại diện tại Mauritius, Buenos Aires (Argentina), Singapore, Vienna (Áo) và Hà Nội.
Phạm Tiếp
![]()
Views: 0
PV DRILLING I – Giàn khoan biển đầu tiên thuộc sở hữu của Tổng công ty Cổ phần Khoan và Dịch vụ Khoan Dầu khí (PV Drilling) được khánh thành và đưa vào vận hành chính thức từ năm 2007, đánh dấu cột mốc tham gia vào thị trường cung cấp giàn khoan dầu khí. Trong 15 năm hoạt động, giàn khoan này luôn duy trì hiệu suất hoạt động trên 98%, với thành tích Zero LTI (không để xảy ra tai nạn gây mất thời gian lao động) được Hiệp hội các nhà thầu khoan quốc tế (IADC) chứng nhận.

Thử thách và tự hào:
Tháng 3/2007 giàn khoan biển tự nâng đa năng PV DRILLING I đầu tiên do người Việt Nam sở hữu 100% đã được khánh thành tại Singapore trong niềm hân hoan của người lao động PV Drilling và ngành Dầu khí Việt Nam. Sự kiện trọng đại này đánh dấu cột mốc PV Drilling chính thức sở hữu giàn khoan, góp phần hiện thực hóa tầm nhìn: “Trở thành nhà thầu khoan, cung cấp dịch vụ kỹ thuật khoan dầu khí tin cậy và có uy tín trên thế giới”.
Trong hành trình biến ước mơ sở hữu giàn khoan đầu tiên trở thành hiện thực, PV Drilling đã trải qua muôn vàn khó khăn, thử thách. Tính từ lúc lập và trình duyệt báo cáo nghiên cứu khả thi tại văn bản đầu tiên của dự án (22/2/2002), công tác đấu thầu quốc tế để lựa chọn nhà thầu đóng giàn, tới ngày ký hợp đồng đóng giàn khoan với Keppel FELS (22/2/2005), tròn 3 năm ròng rã. Thời điểm đó, giàn khoan biển PV DRILLING I có tổng mức đầu tư thuộc thẩm quyền phê duyệt đầu tư và kết quả lựa chọn nhà thầu của Thủ tướng Chính phủ.
Ngay trong giai đoạn đầu tư, đóng giàn, PV Drilling đã bắt tay vào việc chuẩn bị vận hành giàn. Tại thời điểm đó, các nhà thầu khoan trên thế giới đều là những thương hiệu lớn, với tiềm lực tài chính mạnh, bề dày hoạt động, cơ sở vật chất trang thiết bị hiện đại…
Ngược lại, PV Drilling là doanh nghiệp non trẻ, mới thành lập năm 2001 còn rất nhiều hạn chế (từ cơ sở vật chất, trang thiết bị đến tài chính, kinh nghiệm, nhân lực, vật lực…). Tài sản quý giá nhất của doanh nghiệp lúc bấy giờ là sự hỗ trợ, chỉ đạo sát sao của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) cùng với kinh nghiệm tích lũy được trong nhiều năm làm thuê cho các giàn khoan nước ngoài và đặc biệt là bản lĩnh, khát vọng của toàn thể ban lãnh đạo, cũng như đội ngũ người lao động PV Drilling.
Trong khi giàn khoan đầu tiên đang đóng ở Singapore, PV Drilling đã nỗ lực đàm phán, thuyết phục khách hàng cùng nhiều giải pháp cam kết về hiệu quả chiến dịch khoan. Kết quả, PV Drilling đã ký được hợp đồng cung cấp giàn khoan đầu tiên cho Công ty liên doanh Điều hành chung Hoàng Long – Hoàn Vũ (Hoang Long – Hoan Vu JOC) từ năm 2006.
Bên cạnh việc quản lý các dự án đầu tư – giám sát chặt chẽ chất lượng và tiến độ đóng giàn, để bắt kịp tốc độ tăng trưởng về quy mô hoạt động, PV Drilling chú trọng xây dựng hệ thống quản trị doanh nghiệp tiên tiến trên nền tảng công nghệ thông tin hiện đại theo các tiêu chuẩn quốc tế nhằm đáp ứng và hội nhập vào môi trường cạnh tranh với các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài. Các hệ thống, tiêu chuẩn được áp dụng đồng bộ như:
– Hệ thống quản trị nguồn lực doanh nghiệp (ERP Oracle).
– Hệ thống quản lý vật tư hàng tồn kho của giàn khoan (Maximo).
– Hệ thống quản lý và bảo trì sự cố thiết bị (RCM – Reliable Maintaince Control).
– Hệ thống quản trị rủi ro chuyên nghiệp (theo tiêu chuẩn ISO 31000 và COSO).
– Hệ thống các quy định, quy trình theo chuẩn mực quốc tế đã hỗ trợ công tác điều hành quản trị doanh nghiệp, đồng thời nâng cao chất lượng dịch vụ và tạo được sự tin cậy từ khách hàng.
Đối với công tác quản lý, vận hành giàn khoan, PV Drilling quyết định tự thực hiện thay vì hợp tác/thuê bên thứ ba vận hành giàn. Đây là một quyết định đầy táo bạo, nhưng cũng mang tính tiên phong, quyết tâm làm chủ công nghệ ngay từ những ngày đầu thành lập, nhằm thực thi sứ mệnh: “Cung cấp dịch vụ khoan và kỹ thuật khoan dầu khí hàng đầu trong khu vực, tạo ra những giá trị gia tăng cho khách hàng bằng những dịch vụ chất lượng cao, giá cả cạnh tranh”.
Về nhân sự, PV Drilling đã lựa chọn tuyển dụng các chuyên gia nước ngoài, đội ngũ kỹ sư có kinh nghiệm lâu năm, đồng thời tăng cường đào tạo nhân lực người Việt để làm quen với công tác vận hành giàn. Chiến lược nội địa hóa nguồn nhân lực chất lượng cao là một điểm sáng xuyên suốt hành trình 21 năm xây dựng Tổng công ty và vẫn được duy trì thực hiện cho đến ngày hôm nay. Chính chiến lược này đã góp phần nâng tầm chất lượng nhân sự người Việt nói chung, cũng như cắt giảm chi phí nhân lực, giúp PV Drilling trụ vững qua những giai đoạn khó khăn.
Hạ thủy ngày 24/3/2007, giàn PV DRILLING I được đưa vào vận hành, phục vụ chiến dịch khoan của Hoang Long – Hoan Vu JOC từ tháng 7/2007. Tổng công ty đã minh chứng được năng lực nhà thầu khoan chuyên nghiệp khi giàn PV DRILLING I thực hiện chiến dịch khoan đầu tiên cho khách hàng an toàn và hiệu quả, có thời điểm giếng khoan thi công với hiệu suất hoạt động của giàn đạt đến 100%.
Thành công này là sự khẳng định mạnh mẽ về tầm nhìn chiến lược của PV Drilling, đồng thời là tiền đề và động lực để tiếp tục tập trung đầu tư, phát triển đội ngũ giàn khoan, tăng cường công tác đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, xây dựng văn hóa doanh nghiệp với các giá trị cốt lõi được hun đúc và trường tồn cùng năm tháng. Đó chính là: Con người, sự chuyên nghiệp và sự chính trực.
Giàn PV DRILLING I được ví như đứa con tinh thần, đã mở lối, khai thông cho sự phát triển của ngành khoan dầu khí Việt Nam. Nếu ngày ấy không hoàn thành thủ tục đầu tư, không vận hành thành công giàn đầu tiên thì có lẽ hôm nay sẽ không có PV Drilling – Người tiên phong của ngành khoan dầu khí Việt Nam. Mặt khác, ngành khoan dầu khí Việt Nam sẽ còn nhiều phụ thuộc vào nhà thầu khoan nước ngoài, ngân sách nhà nước cũng vì thế mà thiếu đi một con số tương đối, người lao động Việt Nam cũng sẽ mất đi nhiều cơ hội đào tạo và đảm nhiệm các chức danh quản lý các vị trí kỹ thuật cao trên giàn. Và quan trọng hơn cả là chúng ta sẽ không có những “vọng gác tiền tiêu” để khẳng định chủ quyển biển đảo, giữ vững an ninh quốc phòng trên các vùng biển Việt Nam.
Từ hoàn thành chiến dịch khoan đầu tiên thành công cho khách hàng Hoang Long – Hoan Vu JOC, các chiến dịch sau giàn PV DRILLING I luôn hoàn thiện các giếng khoan trước thời gian dự kiến, tiết kiệm được thời gian và rất nhiều chi phí cho nhà thầu dầu khí, thường xuyên được các khách hàng gửi thư khen tặng.
Trải qua 15 năm hoạt động, đến nay giàn PV DRILLING I tự hào đã cung cấp dịch vụ tại nhiều quốc gia trong khu vực Đông Nam Á như: Việt Nam, Myanmar, Thái Lan và Malaysia. PV Drilling I cũng là giàn khoan biển tiên phong ra thị trường khoan nước ngoài, cụ thể là hợp đồng khoan với Total Myanmar năm 2016.
Từ thành quả hoạt động của giàn này, PV Drilling đã có cơ hội hợp tác với hầu hết các nhà thầu dầu khí lớn trong nước và khu vực, tiêu biểu có thể kể đến các khách hàng như: Hoang Long – Hoan Vu JOC, Vietgazprom, Phu Quy POC, JVPC, Salamander, PCVL, Cuu Long JOC, TOTAL Myanmar (TEMP), Vietsovpetro, Kris Energy GOT, Murphy Oil, SEA Hibiscus, Petronas…
15 năm Zero LTI:
Trong 15 năm hoạt động, giàn PV DRILLING I liên tục duy trì thành tích Zero LTI (không để xảy ra tai nạn gây mất thời gian lao động), góp phần khẳng định uy tín của PV Drilling trên trường quốc tế. Lĩnh vực kinh doanh then chốt là quản lý vận hành các giàn khoan, cung cấp dịch vụ khoan cho khách hàng, việc đảm bảo các giàn khoan hoạt động an toàn và hiệu quả luôn là mục tiêu được ưu tiên hàng đầu của PV Drilling. Và Zero LTI là tiêu chí quan trọng nhất trong bộ chỉ số của Hiệp hội những nhà thầu khoan quốc tế (IADC), là thước đo năng lực điều hành, quản trị của một nhà thầu khoan trong việc đảm bảo sự ổn định của máy móc, con người, thiết bị và tài sản.
Không chỉ dừng lại ở mục tiêu Zero LTI, PV Drilling còn đặt ra mục tiêu cao hơn cho tất cả các giàn khoan là Zero Recordable Incident (không xảy ra tai nạn ghi nhận được). Trong các bộ chỉ số khi đấu thầu, chỉ số này được các công ty dầu khí tham chiếu đầu tiên để đánh giá một cách đầy đủ nhất của nhà thầu khoan có đủ năng lực thực hiện chiến dịch khoan hay không. Còn khi chỉ số ổn định liên tục chứng tỏ năng lực và văn hóa làm việc chuyên nghiệp của nhà thầu khoan.
Nhìn lại thấy rằng, thành tích Zero LTI của giàn khoan đầu tiên và các giàn khoan khác PV Drilling đạt được là nhờ nhiều điều kiện và yếu tố hợp thành:
Thứ nhất: PV Driling đã xây dựng hệ thống quy trình, tiêu chuẩn an toàn, áp dụng kiểm soát chặt chẽ.
Thứ hai: Thiết bị máy móc luôn được kiểm định bảo dưỡng thường xuyên định kỳ, đảm bảo trong tình trạng vận hành tốt nhất.
Thứ ba: Hệ thống quản lý chất lượng kiểm soát tốt chất lượng đầu vào đối với vật tư, hàng hóa, phụ tùng thay thế, đánh giá giám sát chất lượng nhà cung cấp.
Thứ tư: Người lao động được đào tạo theo training matrix, competency assurance – ý thức an toàn vệ sinh lao động luôn được đề cao.
Thứ năm: Môi trường và văn hóa làm việc an toàn được đảm bảo, tinh thần làm việc đội, nhóm hiệu quả, người lao động nắm bắt và tuân thủ đầy đủ quy trình, quy định an toàn trong khi làm việc.
Tất cả đã góp phần gia tăng năng lực cạnh tranh để khách hàng quyết định trao thầu và lựa chọn PV Drilling làm nhà thầu cung cấp dịch vụ. Các thành tích của giàn tự nâng PV DRILLING I trong 15 năm qua đã thực hiện đúng cam kết của Tổng công ty vì mục tiêu cao nhất là: Thực hiện chiến dịch khoan cho khách hàng an toàn nhất, hiệu quả nhất và với sự hài lòng cao nhất.
Nội địa hóa nhân lực khoan:
PV Drilling hiện đang sở hữu đội ngũ chuyên gia, kỹ thuật giàu kinh nghiệm đến từ các quốc gia tiên tiến trên thế giới, cùng với việc đẩy mạnh công tác đào tạo, phát triển nhân lực trong nước và tại các địa phương nơi giàn khoan hoạt động. PVD Drilling Division – PVD DD (Xí nghiệp Điều hành khoan) – đơn vị thành viên của PV Drilling hiện đảm nhận mảng dịch vụ then chốt là quản lý và điều hành 4 giàn khoan biển tự nâng, 1 giàn khoan đất liền và 1 giàn khoan tiếp trợ nửa nổi, nửa chìm.
Trong 15 năm quản lý và vận hành giàn PV DRILLING I, công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực luôn được PVD DD đặt lên hàng đầu. Để công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực được thực hiện một cách có hệ thống và hiệu quả, PVD DD đã hoàn thành, đưa vào ứng dụng hệ thống phát triển nguồn nhân lực giàn khoan từ đầu năm 2014. Đây là một hệ thống đào tạo phát triển nguồn nhân lực tiên tiến, được xây dựng bằng sự kết hợp giữa các chương trình đào tạo phổ biến như:
– Chương trình phát triển nhân lực kế cận (Succession Planning).
– Chương trình đào tạo On-the-Job (CBT).
– Chương trình đánh giá hiệu quả công việc (Performance Appraisal) thành một hệ thống tổng thể.
Mục đích của hệ thống này là liên tục đào tạo và phát triển nguồn nhân lực giàn khoan, nhằm tạo ra nguồn nhân lực có năng lực một cách có hệ thống, góp phần tạo sự ổn định trong hoạt động của các giàn khoan, giảm các sự cố, rủi ro có liên quan đến yếu tố con người. Bên cạnh việc đào tạo chuyên môn nghiệp vụ, PV Drilling còn chú trọng phát triển toàn diện văn hóa, thái độ làm việc chuyên nghiệp, cầu thị và chủ động học tập không ngừng của đội ngũ lãnh đạo, cán bộ công nhân viên làm việc trực tiếp trên giàn khoan, cũng như đội ngũ nhân sự hỗ trợ tại văn phòng, các căn cứ hậu cần.
“Nhớ lại ngày đầu đưa vào vận hành, toàn bộ đội ngũ nhân sự chủ chốt của giàn PV DRILLING I đều do các chuyên gia nước ngoài đảm nhận. Đến nay, sau 15 năm liên tục đào tạo phát triển đội ngũ nhân lực khoan, đa số các vị trí chủ chốt trên giàn như: Kíp trưởng (Driller), Sỹ quan an toàn (STC), hay các chức danh quản lý giàn khoan cấp cao nhất như: Giám đốc giàn (Rig Manager), Đốc công khoan đêm (Senior Toolpusher), Thuyền trưởng (Barge Captain), Trưởng các bộ phận cơ khí, điện, tự động hóa đã do người Việt Nam đảm nhiệm. Tổng tỉ lệ nhân sự người Việt Nam đảm nhận vị trí chủ chốt hiện tại của giàn PV DRILLING I là hơn 70% và sẽ phấn đấu tiếp tục nâng cao hơn nữa trong thời gian tới” – ông Đinh Quang Nhựt – Giám đốc Xí nghiệp Điều hành khoan khẳng định.
Không chỉ hoàn thành tốt sứ mệnh của mình, 15 năm qua, giàn PV DRILLING I còn tự hào là cái nôi, trường đào tạo cho sự phát triển và trưởng thành của đội ngũ quản lý vận hành, cả khối văn phòng (onshore), khối biển (offshore) của PV Drilling. Nhiều lớp nhân lực chất lượng cao được phân bổ cho các giàn khác đều có xuất phát điểm từ giàn PV DRILLING I.
Phải khẳng định rằng, PV DRILLING I là giàn khoan biển sở hữu đầu tiên của PV Drilling, hiệu quả đạt được trong quản lý, vận hành giàn này là tiền đề, cơ sở vững vàng để tiếp tục phát triển, mở rộng đội ngũ các giàn khoan biển: II, III, V, VI sau này.
Hiện cả 6 giàn khoan của Tổng công ty đều có việc làm ở trong và ngoài nước sau thời gian dài bị tác động bởi khủng hoảng kép, riêng giàn PV DRILLING I đang khoan cho Vietsovpetro. Trong bối cảnh ngành dầu khí còn nhiều khó khăn, nhưng doanh nghiệp vẫn đảm bảo việc làm cho khoảng 2.000 người lao động.
Giàn khoan PV DRILLING I do Keppel FELS (Singapore) thiết kế, có thể hoạt động tại các khu vực biển Đông Nam Á, Đông Á, Viễn Đông, Australia và Châu Đại Dương với độ sâu đáy biển lớn nhất là 90 m. Giàn có khả năng thi công giếng khoan có độ sâu đến 25.000 ft (tương đương 7.600 m) và có sức chứa đến 120 người cùng tham gia làm việc trực tiếp trên giàn.
Tạp chí năng lượng VN
![]()
Views: 0
Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc đề nghị Thượng viện Pháp sớm phê chuẩn Hiệp định EVIPA và thúc đẩy Ủy ban châu Âu gỡ bỏ thẻ vàng IUU.

Chiều tối 8/12, tại Phủ Chủ tịch, phát biểu trong buổi tiếp Chủ tịch Thượng viện Pháp Gérard Larcher đang có chuyến thăm chính thức Việt Nam, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc khẳng định, Việt Nam coi Pháp là đối tác quan trọng hàng đầu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam. Hai nước có mối quan hệ lịch sử đặc biệt, gắn kết về mọi mặt, từ quan hệ chính trị, hợp tác nghị viện, cho đến kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế, con người.
Trong tất cả các lĩnh vực hợp tác đó, hợp tác kinh tế là trụ cột quan trọng của Đối tác chiến lược Việt Nam-Pháp. Pháp luôn là đối tác thương mại, đầu tư, viện trợ phát triển hàng đầu châu Âu tại Việt Nam. Kim ngạch thương mại trong thời điểm dịch Covid-19 năm 2020, 2021 chững lại, đạt 5 tỷ USD, nhưng đang phục hồi. 8 tháng đầu năm 2022 đạt 3,51 tỷ USD, tăng 18% và sẽ tăng mạnh khi thực hiện Hiệp định EVFTA.
Trên cơ sở đó, Chủ tịch nước đề nghị Thượng viện Pháp sớm phê chuẩn Hiệp định Bảo hộ đầu tư Việt Nam-EU (EVIPA) và thúc đẩy Ủy ban châu Âu (EC) gỡ bỏ thẻ vàng IUU.
Cùng với hợp tác kinh tế, hợp tác trên lĩnh vực văn hóa-giáo dục và đặc biệt về y tế có những bước phát triển tích cực. Nhân dịp này, Chủ tịch nước cảm ơn Pháp đã hỗ trợ 5,5 triệu liều vaccine ngừa Covid-19 cho Việt Nam.
Chúc mừng Pháp khai trương địa điểm mới của Trung tâm văn hóa Pháp tại Hà Nội và bày tỏ ủng hộ việc thành lập chi nhánh Trung tâm văn hóa Pháp tại thành phố Hồ Chí Minh, Chủ tịch nước mong muốn phía bạn tiếp tục hỗ trợ Việt Nam trong trùng tu Quần thể Di tích Cố đô Huế. Chủ tịch nước cũng đề nghị Pháp tăng số lượng học bổng, tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa cho du học sinh Việt Nam học tập tại Pháp.
Hoan nghênh những đóng góp của Chủ tịch Gérard Larcher và Thượng viện Pháp trong thúc đẩy quan hệ hợp tác giữa các địa phương hai nước, Chủ tịch nước cho biết, Pháp là nước duy nhất Việt Nam có cơ chế Hội nghị hợp tác giữa các địa phương định kỳ và luân phiên.
Chủ tịch nước đề nghị Chủ tịch Gérard Larcher và các Thượng nghị sỹ ủng hộ, vận động Lãnh đạo Chính phủ Pháp cùng các địa phương tham dự Hội nghị hợp tác giữa các địa phương lần thứ XII, sẽ diễn ra vào tháng 4/2023, tại Hà Nội.
Cảm ơn Chủ tịch nước dành thời gian tiếp, Chủ tịch Thượng viện Pháp Gérard Larcher cho biết, đây là chuyến thăm đầu tiên của một Lãnh đạo cấp cao Pháp sang thăm Việt Nam kể từ khi dịch Covid-19 bùng nổ.
Để chuẩn bị kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước, trong sáng 8/12, Việt Nam và Pháp đã tiến hành công bố logo biểu trưng cho 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao. Đánh giá cao Việt Nam trong bối cảnh hiện nay góp phần quan trọng giữ vững sự hòa bình, ổn định trong khu vực và trên trường quốc tế, Ngài Gérard Larcher nhấn mạnh, Pháp cũng mong muốn đóng góp vào sự hòa bình và ổn định này và Pháp luôn ủng hộ tự do hàng không – hàng hải tại khu vực Biển Đông.
Cho biết trong chuyến thăm sẽ tham quan các địa điểm có sự hỗ trợ của Pháp tại Việt Nam trong vấn đề bảo tồn di sản tự nhiên cũng như di sản đô thị, Chủ tịch Thượng viện Pháp tin tưởng chuyến công tác sẽ thúc đẩy hơn nữa quan hệ hợp tác hai bên. Chủ tịch Thượng viện Pháp Gérard Larcher cảm ơn Việt Nam đã viện trợ khẩu trang trong giai đoạn đầu dịch Covid-19 và mong muốn phát triển hơn nữa phong trào Pháp ngữ tại Việt Nam.
Đánh giá cao những ý kiến của Chủ tịch Thượng viện, Chủ tịch nước đề nghị Thượng viện Pháp tiếp tục ủng hộ quan điểm của Việt Nam và ASEAN về Biển Đông, đảm bảo tự do, an ninh, an toàn hàng hải, hàng không, duy trì hòa bình và ổn định ở Biển Đông, giải quyết hòa bình các tranh chấp theo luật pháp quốc tế và Công ước về Luật Biển năm 1982.
Hiện nay, cộng đồng người Việt Nam tại Pháp có khoảng 300.000 người, cảm ơn Chính phủ và Thượng viện Pháp đã tạo điều kiện cho cộng đồng người Việt Nam tại Pháp thuận lợi làm ăn, sinh sống, Chủ tịch nước mong muốn tiếp tục nhận được sự hỗ trợ cho Cộng đồng người Việt để họ phát huy vai trò cầu nối trong quan hệ hữu nghị hợp tác giữa hai nước.
Qua Chủ tịch Thượng viện, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc trân trọng chuyển lời mời Tổng thống Emmanuel Macron sớm thăm Việt Nam.
tg&vn
![]()
Views: 0
Người châu Âu coi các khoản trợ cấp khổng lồ của Mỹ dành cho xe hơi, năng lượng sạch và chất bán dẫn là mối đe dọa đối với nền kinh tế của họ.

Sau gần hai năm yên bình kể từ lễ nhậm chức của Tổng thống Mỹ Joe Biden, những rạn nứt lớn về chính sách kinh tế đang dần xuất hiện giữa Washington và các đồng minh châu Âu. Trừ phi những rạn nứt này được xử lý khéo léo, tầm nhìn của chính quyền Biden về một trật tự kinh tế toàn cầu mới, trong đó Mỹ hợp tác với các đồng minh và đối tác ở châu Âu và châu Á để ngăn chặn tham vọng của Trung Quốc và Nga, có thể biến thành một trật tự gồm các khối kinh tế cạnh tranh với nhau.
Sau nhiều tháng tức giận âm ỉ, các cuộc cãi vã đã nổ ra vào tuần trước. Thierry Breton, Ủy viên Thị trường Nội bộ của Liên minh châu Âu, tuyên bố ông sẽ rút khỏi các cuộc họp được tổ chức trong tuần này tại Maryland của Hội đồng Thương mại và Công nghệ Mỹ-EU, cơ quan điều phối chính của chính sách kinh tế xuyên Đại Tây Dương. Ông cho biết chương trình nghị sự “đã không còn dành đủ không gian cho các vấn đề mà nhiều bộ trưởng và doanh nghiệp công nghiệp châu Âu quan tâm,” nhắc đến những khiếu nại của EU về các khoản trợ cấp mới của Mỹ dành cho xe điện và năng lượng sạch, vốn gây bất lợi cho các nhà sản xuất xe hơi và các công ty khác của châu Âu. Thay vào đó, ông nói mình sẽ tập trung vào “nhu cầu cấp thiết để duy trì khả năng cạnh tranh của ngành công nghiệp châu Âu.”
Tổng thống Pháp Emmanuel Macron, người đã đến Washington vào tuần trước để tham dự bữa tiệc cấp nhà nước đầu tiên được tổ chức tại Nhà Trắng kể từ khi đại dịch COVID-19 bùng phát, nói rằng các khoản trợ cấp của Mỹ “rất tốt cho nền kinh tế Mỹ, nhưng chúng không được phối hợp đúng cách với các nền kinh tế châu Âu.” Trước chuyến thăm, Bruno Le Maire, Bộ trưởng Kinh tế và Tài chính Pháp, đã cáo buộc Mỹ theo đuổi chính sách công nghiệp kiểu Trung Quốc.
Các khoản trợ cấp đang được đề cập là một phần của hai đạo luật lớn mà Quốc hội Mỹ thông qua vào đầu năm nay: Đạo luật Giảm Lạm phát (IRA) và Đạo luật CHIPS và Khoa học. IRA cung cấp tới 370 tỷ đô la trợ cấp để đẩy nhanh quá trình sử dụng năng lượng sạch ở Mỹ. Nó bao gồm các khoản tín dụng thuế cho người mua xe điện ở Mỹ – nhưng chỉ khi chiếc xe được lắp ráp ở Bắc Mỹ, và các bộ phận của chúng được sản xuất tại Mỹ hoặc “các đối tác thương mại tự do” có chọn lọc khác – loại quy định có thể gây tổn hại cho các công ty xe hơi châu Âu như Volkswagen và BMW. Trong khi đó, Đạo luật CHIPS cung cấp 52 tỷ đô la trợ cấp cho các công ty bán dẫn để họ xây dựng các nhà máy chế tạo chip cao cấp mới ở Mỹ. Các nhà lãnh đạo châu Âu coi cả hai đạo luật này là trợ cấp không công bằng cho các công ty Mỹ, làm trầm trọng thêm những thách thức về khả năng cạnh tranh của lục địa già, và có khả năng buộc châu Âu phải tham gia cuộc chạy đua trợ cấp tốn kém với Mỹ và Trung Quốc.
Vào tuần trước, chính phủ Hà Lan đã công khai phản đối việc Mỹ gây áp lực buộc các công ty chuyên về thiết bị sản xuất chip lớn của họ, ASML và ASM International, phải cắt đứt quan hệ với Trung Quốc. Mỹ đã phát động một chiến dịch sâu rộng để ngăn chặn việc bán thiết bị bán dẫn và thiết bị sản xuất chip cao cấp cho Trung Quốc, nhưng vẫn chưa thuyết phục được các đồng minh như Nhật Bản và Hà Lan đồng ý. Bộ trưởng Kinh tế Hà Lan Micky Adriaansens nói với Financial Timesrằng đất nước của bà “có quan điểm rất tích cực” về mối quan hệ với Trung Quốc, và rằng châu Âu và Hà Lan “nên có chiến lược riêng” trong việc kiểm soát xuất khẩu sang Trung Quốc.
Một phần nguyên nhân của sự chia rẽ ngày càng tăng này là cuộc chiến của Nga tại Ukraine. Dù Mỹ và châu Âu đã cùng nhau duy trì một mặt trận thống nhất về các lệnh trừng phạt chống lại Nga và cùng nhau viện trợ quân sự cho Ukraine, nhưng châu Âu đã phải trả một cái giá kinh tế đắt hơn nhiều cho cuộc xung đột. Giá khí đốt tự nhiên ở hầu hết các nước châu Âu đã tăng gấp 10 lần so với mức giá tại Mỹ, khiến các ngành công nghiệp châu Âu gặp bất lợi lớn về cạnh tranh. Dù Mỹ đã giúp châu Âu giải quyết tình trạng thiếu hụt khí đốt từ Nga bằng cách xuất khẩu khí đốt tự nhiên hóa lỏng (LNG), nó đang được bán với giá thị trường – nghĩa là rất cao. Đại sứ Pháp tại Washington, Phillipe Étienne, nói với Foreign Policy: “Chúng tôi rất biết ơn vì Mỹ cung cấp LNG cho châu Âu, nhưng vẫn có những vấn đề về giá cả.”
Về lâu dài, các tranh chấp đang xoáy vào những mục tiêu mâu thuẫn trong các chính sách công nghiệp của chính quyền Biden. Một mặt, Mỹ muốn xây dựng một chuỗi cung ứng mạnh để làm giảm vai trò của Trung Quốc trong việc cung cấp các công nghệ và đầu vào quan trọng cho các ngành công nghiệp trong tương lai. Điều đó đòi hỏi sự hợp tác chặt chẽ với các đồng minh – điều mà chính quyền Mỹ gọi là “hợp tác sản xuất với các nước bạn bè” (friendshoring)– để ngăn chặn sự trùng lặp lãng phí và đảm bảo sự dẻo dai của nguồn cung. Mặt khác, chính quyền Mỹ lại háo hức chứng kiến sự hồi sinh của các công ty chế tạo có trụ sở tại Mỹ, tin rằng sự mất mát của ngành chế tạo – một phần do cuộc cạnh tranh với Trung Quốc – đã làm suy yếu an ninh của Mỹ và gây tổn hại cho nền kinh tế. Tình trạng mất việc làm trong lĩnh vực chế tạo cũng làm suy giảm sự ủng hộ của cử tri dành cho Đảng Dân chủ ở các bang tập trung vào công nghiệp như Michigan, Pennsylvania, và Wisconsin. Tất cả các biện pháp mới của Mỹ đều có lợi cho các công ty đầu tư vào Mỹ, hơn là vào châu Âu hoặc các đối tác thân thiết khác.
Bộ trưởng Thương mại của Biden, Gina Raimondo – người có cha bị mất việc sau 28 năm làm việc tại nhà máy sản xuất đồng hồ Bulova ở Rhode Island vì công ty chuyển nhà máy sang Trung Quốc – đã nói rõ điều đó trong một bài phát biểu tại MIT hồi tuần trước: “Chúng ta sẽ không chỉ phát minh những công nghệ của tương lai ngay tại nước Mỹ, mà còn chế tạo chúng ngay tại đây.” Không có gì đáng ngạc nhiên khi điều này đã làm mất lòng các đồng minh và đối tác thương mại khác của Mỹ, những người phải đối mặt với viễn cảnh mất thị trường ở Trung Quốc vì Mỹ kiên quyết ép họ chấp nhận những hạn chế mới, chỉ để rồi phải chứng kiến các công ty đa quốc gia chuyển đến Mỹ hoặc mở rộng sản xuất tại Mỹ nhằm tận dụng giá năng lượng rẻ hơn và nguồn trợ cấp hào phóng.
Không chỉ có người châu Âu mới nghĩ như vậy. Tổng Giám đốc Tổ chức Thương mại Thế giới Ngozi Okonjo-Iweala đang cố gắng bảo vệ quy tắc không phân biệt đối xử— theo đó yêu cầu các đối tác thương mại được đối xử bình đẳng—vốn là cốt lõi của chủ nghĩa đa phương về thương mại suốt 75 năm qua. Bà lập luận rằng có rất ít quốc gia chấp nhận các lựa chọn giữa hai bên mà chính quyền Biden đưa ra. “Nhiều quốc gia không muốn phải chọn giữa hai phe,” bà nói trong một bài phát biểu tại Viện Lowy ở Australia. Việc ép buộc chọn phe có thể làm hỏng tiến trình giải quyết các vấn đề mà Mỹ, Trung Quốc, và các quốc gia khác không có lựa chọn nào khác ngoài việc hợp tác với nhau. Bà cảnh báo “sau cùng, sự phân tách gây ra bởi các chính sách vốn được thiết kế để xây dựng khả năng phục hồi kinh tế và an ninh có thể giống như hành động phản lưới nhà,” gây tổn hại cho sự hợp tác trong các thách thức tập thể như biến đổi khí hậu, đại dịch, hoặc khủng hoảng nợ công.
Những lời của Biden trước bữa tiệc cấp nhà nước với Macron cho thấy ông nhận thức sâu sắc về những lo ngại của châu Âu và sẵn sàng cố gắng cải thiện tình hình. Ông cho biết hai nhà lãnh đạo “đã đồng ý thảo luận về các bước thực tế để điều phối và sắp xếp các cách tiếp cận của chúng tôi,” đồng thời đảm bảo rằng hoạt động chế tạo và đổi mới sẽ được tăng cường “ở cả hai bờ Đại Tây Dương”. Macron lặp lại rằng hai bên đã đồng ý “đồng bộ hóa cách tiếp cận.” “Chúng tôi có thể giải quyết một số khác biệt hiện tại,” Biden nói. “Tôi tin vào điều đó.”
Tuy nhiên, sẽ không dễ để chốt được các chi tiết. Biden thẳng thắn thừa nhận có những “lỗ hổng” trong đạo luật cần phải được sửa chữa. Nhưng vẫn chưa rõ liệu ngôn ngữ của IRA về việc mở rộng trợ cấp cho hàng hóa do các đối tác thương mại tự do sản xuất có bao gồm cả EU hay không. Ngoài ra, có nhiều người trong Quốc hội và chính quyền Mỹ, cũng như trong các ngành công nghiệp như thép và năng lượng mặt trời, những người cam kết tuân thủ nguyên tắc “Nước Mỹ trên hết”, tin rằng Mỹ đáng lẽ ra phải phục hồi ngành chế tạo từ lâu. Họ chắc chắn sẽ phản đối việc mở rộng trợ cấp quá hào phóng.
Biden và các nhà lãnh đạo châu Âu nhận thức rõ rằng họ không thể cho phép xuất hiện một rạn nứt cơ bản xuyên Đại Tây Dương. Hơn bất cứ thời điểm nào kể từ đỉnh điểm của Chiến tranh Lạnh, mối đe dọa kép từ Nga và Trung Quốc đang buộc Mỹ và châu Âu phải hợp tác và giải quyết các tranh chấp kinh tế vốn có thể kéo dài nhiều năm trong những thời kỳ ít căng thẳng hơn – chẳng hạn như tranh cãi kéo dài về trợ cấp cho Airbus và Boeing.
Những lợi ích lớn liên quan đồng nghĩa với việc hai bên sẽ phải tìm ra cách để giải quyết vấn đề. Như Macron đã nói: “Hoàn cảnh này có nghĩa là chúng ta không có lựa chọn nào khác ngoài phải làm việc cùng nhau.”
Edward Alden là chuyên gia bình luận của Foreign Policy, giáo sư tại Đại học Western Washington, và là nghiên cứu viên cấp cao tại Hội đồng Quan hệ Đối ngoại. Ông cũng là tác giả của cuốn “Failure to Adjust: How Americans Got Left Behind in the Global Economy.”
Nguồn: Edward Alden, “Biden’s ‘America First’ Economic Policy Threatens Rift With Europe,” Foreign Policy, 5/12/2022
Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng
![]()
Views: 0
Đến năm 2050, tỷ lệ năng lượng sơ cấp của nhiên liệu hóa thạch sẽ giảm xuống dưới 50% so với 80% thị phần hiện tại. Điều này đạt được là do quá trình điện khí hóa nhanh chóng, khử cacbon, tăng hiệu quả sử dụng năng lượng và các dự án điện gió, mặt trời phát triển mạnh mẽ với chi phí giảm đáng kể.

Nhiên liệu hóa thạch giảm mạnh:
Nhiên liệu hóa thạch trong cung cấp năng lượng sơ cấp của thế giới sẽ giảm đáng kể từ 80% hiện nay xuống chỉ dưới 50% vào năm 2050.
Than tiêu thụ đạt đỉnh 8 Gt (tỷ tấn) mỗi năm vào năm 2014. Kể từ đó, tổng nhu cầu về than đã và sẽ giảm. Trong đại dịch Covid-19 nhu cầu than giảm 7% vào năm 2020. Nhu cầu sự phục hồi sẽ không đạt đến đỉnh trước đó, thay vào đó là việc sử dụng than sẽ giảm gần 2/3 so với mức hiện tại vào năm 2050.
Nhu cầu dầu mỏ năm 2020 là 75 triệu thùng mỗi ngày (Mb/d [1]) không bao gồm khí tự nhiên hóa lỏng và nhiên liệu sinh học. Dự đoán mức tiêu thụ dầu mỏ cao nhất vào năm 2025 với 86 Mb/ngày, cao hơn 15% so với hiện nay, trước khi đi vào mức suy giảm ổn định trong dài hạn.
Nhu cầu dầu mỏ sẽ giảm chậm từ năm 2025 đến năm 2035, sau đó sự suy giảm trở nên tương đối mạnh, trung bình giảm 2,4% mỗi năm trong giai đoạn 2035 – 2050.
Năm 2050, nhu cầu dầu toàn cầu dự kiến là 56 Mb/d (115 EJ). Như vậy, sẽ là giảm 32% so với hiện nay. Sự sụt giảm này phần lớn liên quan đến giảm nhu cầu trong lĩnh vực vận tải, giảm 45% trong 28 năm tới. Sản xuất sẽ tập trung mạnh hơn bao giờ hết ở Trung Đông và Bắc Phi.
Cung cấp khí tự nhiên sẽ đạt đỉnh vào năm 2036 và giảm dần đến thấp hơn 10% so với mức hiện nay. Tiêu thụ khí đốt sẽ vượt qua dầu và trở thành nguồn năng lượng sơ cấp lớn nhất vào cuối những năm 2040.
Khí đốt có sức mạnh duy trì nhờ sự đa dạng của việc sử dụng nó: Một nửa trong số nhu cầu về khí đốt là năng lượng cuối cùng trong sản xuất, vận tải, các tòa nhà và nửa còn lại thông qua chuyển đổi cho các mục đích sử dụng cuối cùng khác (như điện, hóa dầu, sản xuất hydro).
Nhu cầu khí đốt sẽ thay đổi đáng kể giữa các khu vực: Giảm trong các quốc gia OECD; đang phát triển ở Trung Quốc đại lục với đỉnh ở đó vào đầu những năm 2030 và tăng gấp ba lần ở Tiểu lục địa Ấn Độ vào năm 2050.
Vào giữa thế kỷ này, chỉ 12% khí đốt sẽ không có carbon, trong số đó hydro sẽ chiếm khoảng một phần tư, với sự cân bằng được tạo nên thông qua công nghệ thu giữ và lưu trữ carbon (CCS) trong điện lực và công nghiệp, và bằng khí metan sinh học (biomethane).
Trong mô hình hóa nhu cầu khí đốt vẫn giả định rằng, giá khí đốt cao ngày nay vẫn tồn tại đến năm 2024 trước khi dần trở lại mức năm 2021. Chương trình kiểm tra chạy với giá khí đốt cao kéo dài trong 6 và 12 năm cho thấy điều đó sẽ làm suy triển vọng khí đốt như thế nào trên toàn cầu và đặc biệt ở châu Âu – nơi mà việc sử dụng nó sẽ giảm một nửa trong vòng một thập kỷ.
Tăng năng lượng tái tạo:
Than và khí đốt lần lượt giảm tương ứng 4% và 8% trong sản xuất điện vào năm 2050, khi chúng hầu như chỉ giới hạn ở cung cấp tính linh hoạt, dự phòng trong hệ thống điện với 70% phụ thuộc vào các nguồn năng lượng tái tạo biến đổi (Variable Renewable Energy Sources – VRES [2]).
Từ nay đến năm 2050, công suất năng lượng mặt trời tăng gấp 22 lần, công suất gió tăng gấp 9 lần, trong đó gió trên bờ gấp 7 lần và gió ngoài khơi gấp 56 lần.
Điều này được thúc đẩy là do cả chi phí giảm và sự gia tăng của VRES với sự cung cấp một lộ trình rẻ nhất và nhanh nhất cho cả quá trình khử cacbon và an ninh năng lượng. Chi phí năng lượng quy đổi bình quân toàn cầu (LCOE) cho điện mặt trời hiện nay ở mức khoảng 5 UScent/MWh và 12 UScent/MWh cho năng lượng mặt trời + bộ lưu trữ. Điều này sẽ làm giảm khoảng 3 UScent/MWh đối với pin mặt trời vào giữa thế kỷ này.
Chi phí năng lượng mặt trời + lưu trữ hiện nay cao gấp đôi pin năng lượng mặt trời không có lưu trữ. Giá pin mặt trời giảm sẽ thu hẹp khoảng cách này xuống còn khoảng 50% vào giữa thế kỷ này. Trong vòng một thập kỷ, khoảng 1/5 tổng số pin mặt trời sẽ được lắp đặt bộ lưu trữ chuyên dụng và đến giữa thế kỷ này, số pin mặt trời được lắp đặt bộ lưu trữ sẽ tăng lên một nửa. Việc lắp đặt hệ thống năng lượng mặt trời trên toàn cầu mỗi năm sẽ đạt 550 GW cho đến năm 2040.
LCOE cho gió cố định và nổi ngoài khơi giảm 39% và 84% tương ứng trong giai đoạn đến 2050. Thậm chí các dự án gió trên bờ do đã được phát triển thuần thục, có thể làm giảm chi phí đến 52%. Những phát triển này thúc đẩy sự gia tăng của điện gió phát vào lưới điện từ 1.600 TWh/năm vào năm 2020 lên 19.000 TWh/năm vào năm 2050. Bởi năm 2050, gió sẽ cung cấp gần 50% lượng điện lưới ở châu Âu và 40% ở Bắc Mỹ và châu Mỹ Latinh.
Trong một thế giới chứng kiến sản lượng điện tăng gấp đôi vào năm 2050, với sản lượng thủy điện vẫn sẽ đảm bảo 13% tổng cung cấp điện, mặc dù đã giảm từ 16% vào năm 2020, trong khi về giá trị tuyệt đối vẫn tăng trưởng và tỷ lệ mất đi này sẽ được chuyển sang năng lượng gió, mặt trời.
Quản lý chất thải, chi phí và thời gian xây dựng cao lâu nay vẫn là thực tế còn tồn tại đối với điện hạt nhân. Tuy nhiên, những lo ngại về an ninh năng lượng hiện nay đã dẫn đến sự quan tâm mới đến nguồn điện này và nó được dự báo với mức tăng khiêm tốn là 13% đến năm 2050 so với mức ngày nay.
1/ Điện gió:
Điện lưới từ gió tăng từ 1,6 PWh/năm [3] vào năm 2020 đến 19 PWh/năm vào năm 2050 với Trung Quốc đại lục, châu Âu và Bắc Mỹ dẫn đầu về sản lượng, các nước OECD và Mỹ La Tinh tăng trưởng mạnh từ năm 2030. Châu Âu và OECD Thái Bình Dương sẽ có tỷ trọng gió ngoài khơi cao nhất.
Các loại tua bin mới và tua bin công suất lớn hơn, các cánh quạt và tháp gió sẽ nâng cao hệ số công suất cho điện gió trên bờ (từ 26% hiện nay lên 34%), và điện gió ngoài khơi từ 38% hiện nay lên 43% vào năm 2050. Điều này, cùng với các tua bin rẻ hơn, là động lực chính của việc giảm 52% chi phí cho gió trên bờ trong giai đoạn 2020 – 2050, với các dự án gió ngoài khơi lắp móng cố định và móng nổi, chi phí lần lượt giảm 39% và 84%. Trong số 6 TW [3] công suất gió lắp đặt vào năm 2050, thì 1,8 TW sẽ là gió móng cố định và 289 GW gió móng nổi ngoài khơi.
2/ Điện năng lượng mặt trời:
Sự tăng trưởng của điện mặt trời rất đáng chú ý: 1 GW mỗi năm được lắp đặt lần đầu tiên vào năm 2004, 10 GW được thêm vào năm 2010 và 100 GW vào năm 2019.
Vào năm 2021, 150 GW đã được thêm vào bất chấp sự gián đoạn chuỗi cung ứng do COVID-19. Từ năm 2030 trở đi, dự kiến hàng năm sẽ được bổ sung từ 300 đến 500 GW.
Vào giữa thế kỷ, tổng công suất lắp đặt sẽ là 9,5 TW cho điện mặt trời và 5 TW cho năng lượng mặt trời + lưu trữ. Kết quả là vào năm 2050 thế giới sẽ có 14,5 TW công suất năng lượng mặt trời, gấp 24 lần năm 2020.
LCOE [4] trung bình của điện mặt trời được kỳ vọng sẽ giảm ở mức ít nhất 40% vào năm 2050, với các dự án riêng lẻ giảm bằng 60% so với chi phí trung bình ngày nay. Điện mặt trời sẽ là nguồn điện mới rẻ nhất trên toàn cầu bởi một mức lợi nhuận đáng kể, mặc dù công suất thấp hơn so với các nguồn VRES khác. Đến năm 2050, 23 PWh/năm của điện mặt trời sẽ được tạo ra trên toàn thế giới.
3/ Lưới điện:
Tổng đầu tư vào lưới trung bình là USD 450 tỷ/năm trong thập kỷ qua. Sự mở rộng của năng lượng tái tạo dẫn đến sự gia tăng đều đặn các khoản đầu tư vào lưới điện, đạt mức 500 tỷ USD/năm vào những năm 2030 và tăng lên 1,1 nghìn tỷ USD/năm vào năm 2050. Tổng số được đo bằng số km – mạch của đường dây truyền tải và phân phối sẽ tăng gần gấp ba lần trong khoảng thời gian từ nay đến 2050.
Tính linh hoạt và lưu trữ điện:
1/ Tính linh hoạt:
Với sự gia tăng công suất VRES toàn cầu gấp 16 lần vào năm 2050, nhu cầu về tính linh hoạt của nguồn điện sẽ tăng lên từ hai đến bốn lần giữa các khu vực.
Không phải tất cả các nguồn nhiệt điện đều cung cấp tính linh hoạt như nhau cho hệ thống điện, nếu tính từ điện hạt nhân, nơi sự linh hoạt là thách thức nhưng không phải là không thể, tiếp theo là các nhà máy nhiệt điện than, dầu, khí đốt ngày càng nhiều thì tính linh hoạt càng tăng, nhưng rất tốn kém. Điều quan trọng không kém là khả năng hoạt động kinh tế của các nhà máy nhiệt điện khi chúng chủ yếu tại các hệ số phụ tải thấp.
Sự thích ứng cho tính linh hoạt đòi hỏi sự thay đổi cả về thể chất lẫn đầu tư vào tự động hóa và các phân tích để dự đoán tốt hơn các mức sản xuất điện tái tạo. Các thiết kế thị trường mới sẽ là cần thiết để khuyến khích sự hoạt động linh hoạt của các nhà máy nhiệt điện.
Tính linh hoạt từ phía nhu cầu – tức là chuyển việc sử dụng điện từ thời gian cao điểm sang thời gian có nhu cầu thấp hơn và phản ứng với sự dư thừa của năng lượng tái tạo cũng sẽ đóng vai trò then chốt. Việc triển khai các tính năng lưới điện thông minh sẽ cho phép quản lý tốt hơn các dòng năng lượng.
Các loại công nghệ và các cơ chế thị trường mới cũng sẽ cho phép những người tiêu dùng tích cực hơn bao giờ hết cung cấp sự linh hoạt dưới các hình thức phản hồi nhu cầu, phương tiện nối lưới và lưu trữ sau công-tơ. Việc chuyển đổi VRES và ở một mức độ nào đó, các nguồn nhiệt điện như hạt nhân, đến các chất mang năng lượng khác (chẳng hạn như hydro) là một tùy chọn khác sẽ cung cấp tính linh hoạt.
2/ Lưu trữ điện:
Ngày nay, thủy điện tích năng cung cấp hầu hết các bộ lưu trữ cho hệ thống điện, nhưng chúng sẽ chỉ đóng góp một chút trong tương lai. Các bộ pin sẽ cung cấp hầu hết nhu cầu lưu trữ khổng lồ trong tương lai, độc lập, hoặc trong các cấu hình năng lượng mặt trời + lưu trữ, hoặc phương tiện nối lưới.
Từ năm 2020 đến năm 2050, quy mô lớn độc lập bộ lưu trữ sẽ tăng từ 2,7 TWh lên 8,8 TWh. Trong số này, dung lượng lưu trữ pin Li-ion sẽ chứng kiến mức tăng trưởng lớn nhất, từ gần như không có gì lên 4,4 TWh vào giữa thế kỷ.
Vào cuối thập kỷ này, pin trạng thái rắn dường như sẽ cung cấp tiềm năng tốt nhất cho một làn sóng tiếp theo về cải tiến hiệu suất và chi phí. Các hóa chất thay thế cũng sẽ phát triển để đáp ứng ngày càng tăng nhu cầu lưu trữ với thời lượng dài hơn (5 giờ trở lên). Về lâu dài, chi phí cho pin sẽ tiếp tục được đẩy lên phù hợp với xu thế chi phí là 19% và giảm hơn 80% chi phí từ nay đến năm 2050.
TS. Nguyễn Mạnh Hiến – Chuyên gia tạp chí Năng lượng Việt Nam
Ghi chú:
[1] Mb/d – Million Barrels per day – Triệu thùng ngày.
[2] VRES: Variable Renewable Energy Sources.
[3] PWh – Petra-watt-hours = 1012 KWh; TW = 106 MW.
[4] LCOE – Levelized Cost of Electricity (Chi phí điện năng quy dẫn).
![]()
Views: 0
Nhận lời mời của Chủ tịch Hội đồng châu Âu Charles Michel, Thủ tướng Luxembourg Xavier Bettel, Thủ tướng Hà Lan Mark Rutte và Thủ tướng Bỉ Alexander De Croo, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Phạm Minh Chính sẽ dẫn đầu đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam tham dự Hội nghị Cấp cao kỷ niệm 45 năm quan hệ ASEAN-EU tại Brussels, Vương quốc Bỉ vào ngày 14/12/2022 và thăm chính thức Đại Công quốc Luxembourg, Vương quốc Hà Lan và Vương quốc Bỉ từ ngày 9 đến ngày 15/12/2022.

Chuyến công tác của Thủ tướng Phạm Minh Chính có ý nghĩa quan trọng; góp phần triển khai đường lối đối ngoại của Việt Nam, đồng thời thể hiện tinh thần chủ động, tích cực và đóng góp có trách nhiệm của Việt Nam trong ASEAN cũng như đối với cộng đồng quốc tế. Chuyến công tác cũng góp phần tăng cường, củng cố quan hệ giữa Việt Nam với Luxembourg, Hà Lan và Bỉ trong bối cảnh năm 2023 đánh dấu kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và 3 nước.
Thành viên có trách nhiệm trong ASEAN và cộng đồng quốc tế
Quan hệ ASEAN-EU được thiết lập năm 1977 và nâng lên thành Đối tác chiến lược năm 2020. Sau 45 năm quan hệ hai bên tiến triển và bao trùm trên nhiều lĩnh vực.
Về chính trị-an ninh, trong “Chiến lược hợp tác của EU với Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương” ngày 19/4/2021, EU khẳng định ủng hộ vai trò trung tâm của ASEAN và mong muốn hợp tác sâu rộng với ASEAN.
EU tham gia các cơ chế do ASEAN khởi xướng và dẫn dắt như Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN-EU hàng năm; Diễn đàn khu vực ASEAN… EU tham gia Hiệp ước thân thiện và hợp tác (TAC) năm 2012 và là tổ chức khu vực đầu tiên gia nhập Hiệp ước này. EU cũng cử Đại sứ chuyên trách và lập Phái đoàn EU tại ASEAN từ năm 2016, thể hiện cam kết và quyết tâm tăng cường, làm sâu sắc quan hệ với ASEAN. Đến nay, đã có 25 nước thành viên EU cử Đại sứ tại ASEAN.
Về kinh tế – thương mại, EU là đối tác thương mại lớn thứ 3 (sau Trung Quốc và Hoa Kỳ); là nhà đầu tư trực tiếp lớn thứ hai của ASEAN (sau Hoa Kỳ) với tổng FDI năm 2021 đạt 26,5 tỷ USD; trong khi đó, ASEAN hiện là đối tác lớn thứ 3 của EU (sau Trung Quốc và Hoa Kỳ) ngoài châu Âu. Tổng thương mại năm 2021 của hai bên đạt 268,92 tỷ USD.
Trong hợp tác kinh tế, EU hiện hỗ trợ ASEAN thông qua 2 chương trình chủ đạo: Chương trình hỗ trợ ASEAN hội nhập khu vực tăng cường của EU (ARISE Plus) và Đối thoại chính sách khu vực EU-ASEAN nâng cao (E-READI). Các chương trình này nhằm mục đích tăng trưởng kinh tế toàn diện và hội nhập kinh tế cho khu vực ASEAN, tạo thuận lợi cho đối thoại chính sách về các vấn đề chính trị, kinh tế và xã hội, hỗ trợ thực hiện Kế hoạch tổng thể của Cộng đồng Kinh tế ASEAN, tăng cường năng lực đa lĩnh vực cho các nước thành viên ASEAN và Ban Thư ký ASEAN,…
Từ nhiều năm qua, ASEAN và EU cũng đã thảo luận về khả năng thiết lập hiệp định thương mại tự do giữa ASEAN và EU. Tại Hội nghị Tham vấn Bộ trưởng Kinh tế ASEAN (AEM)-Cao ủy Thương mại EU lần thứ 18 (Phnom Penh, 18/9/2022), hai bên đã nhất trí thúc đẩy trao đổi nhằm xác định các lĩnh vực hợp tác cụ thể cùng quan tâm như phát triển chuỗi cung ứng, thương mại điện tử, kinh tế số, công nghệ xanh và dịch vụ xanh… và hình thức triển khai phù hợp để xây dựng định hướng phát triển hợp tác kinh tế thương mại mới giữa ASEAN và EU, trong khi vẫn duy trì mục tiêu dài hạn về thiết lập hiệp định thương mại giữa ASEAN và EU. Tại Hội nghị này, hai bên đã thông qua Chương trình công tác Thương mại và Đầu tư giai đoạn 2022-2023.
Trong lĩnh vực văn hóa-xã hội, hợp tác phát triển, EU là một trong những đối tác đầu tiên thúc đẩy hỗ trợ ASEAN trong ứng phó COVID-19 và phục hồi sau đại dịch với gói hỗ trợ “Team Europe” trị giá 800 triệu Euro; chương trình hỗ trợ các nước Đông Nam Á ứng phó đại dịch trị giá 20 triệu Euro và đã tổ chức hai lần Đối thoại giữa các chuyên gia y tế của hai bên về vaccine phòng COVID-19.
Hai bên cũng chia sẻ sự ủng hộ đối với chủ nghĩa đa phương, tự do hóa thương mại và liên kết kinh tế, giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình.
Quan hệ Việt Nam – EU thời gian qua phát triển sâu rộng. Việt Nam là quốc gia ASEAN đầu tiên có tất cả các khuôn khổ hợp tác về chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh với EU. Hai bên có nhiều cơ chế về hợp tác chuyên ngành, duy trì trao đổi đoàn và tiếp xúc các cấp, nhất là cấp cao. EU là thị trường xuất khẩu lớn thứ ba, thị trường nhập khẩu lớn thứ năm và là đầu tư nước ngoài lớn thứ sáu của Việt Nam.
Về viện trợ phát triển, EU là một trong những nhà viện trợ không hoàn lại lớn nhất của Việt Nam. Sau hơn 2 năm thực hiện Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA), kim ngạch 10 tháng của năm 2022 đạt hơn 52 tỷ USD; đưa Việt Nam trở thành Đối tác thương mại lớn thứ 14 của EU. Hai bên đang kỷ niệm 10 năm nâng cấp Quan hệ đối tác và hợp tác toàn diện Việt Nam – EU (2012-2022).
Đây là lần đầu tiên ASEAN và EU tổ chức Hội nghị cấp cao kỷ niệm 45 năm quan hệ giữa hai bên, với sự tham gia của Lãnh đạo các nước thành viên kể từ khi thiết lập Quan hệ đối thoại vào năm 1977, nhất là sau khi hai bên thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược vào năm 2020. Chuyến đi góp phần làm sâu sắc hơn nữa quan hệ Đối tác chiến lược ASEAN – EU và quan hệ của Việt Nam với các nước thành viên EU, góp phần giải quyết những tồn đọng, vướng mắc.
Thúc đẩy hợp tác giữa Việt Nam với Luxembourg, Bỉ, Hà Lan
Năm 2023, Việt Nam sẽ cùng 3 nước Luxembourg, Hà Lan, Bỉ kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao (1973-2023). Trong 50 năm qua, quan hệ giữa Việt Nam và 3 nước phát triển tốt đẹp, ngày càng đi vào chiều sâu thông qua duy trì trao đổi đoàn và tiếp xúc cấp cao, phối hợp và ủng hộ lẫn nhau tại các diễn đàn quốc tế. Luxembourg, Hà Lan và Bỉ đều thuộc nhóm đối tác kinh tế-đầu tư hàng đầu của Việt Nam.
Về đầu tư và phát triển, Luxembourg là nhà đầu tư lớn thứ 3 của EU tại Việt Nam với tổng vốn đầu tư đạt 2,6 tỷ USD, là một trong những nước EU sớm phê chuẩn Hiệp định Bảo hộ đầu tư Việt Nam-EU (EVIPA). Thương mại song phương giữa hai nước tăng nhanh kể từ khi EVFTA có hiệu lực. Luxembourg coi Việt Nam là một trong những nước ưu tiên trong hỗ trợ phát triển với tổng viện trợ đến nay đạt 129 triệu Euro. Hai bên hiện đang trao đổi, thúc đẩy khả năng hợp tác trong các lĩnh vực nông nghiệp sinh thái, ứng phó với biến đổi khí hậu.
Quan hệ Việt Nam – Hà Lan phát triển mạnh mẽ trên nhiều lĩnh vực, nhất là về đầu tư, thương mại, nông nghiệp và ứng phó với biến đổi khí hậu. Hà Lan là đối tác thương mại lớn thứ hai của Việt Nam ở châu Âu và là nhà đầu tư lớn nhất của EU tại Việt Nam. Trao đổi thương mại song phương năm 2021 đạt 8,37 tỷ USD, tăng gần 10% so với năm 2020; 9 tháng của năm 2022 đạt 8,2 tỷ USD, tăng 36% so với cùng kỳ năm 2021.
Về đầu tư, Hà Lan có 380 dự án tại Việt Nam với tổng vốn đạt 13,5 tỷ USD. Trong khuôn khổ Đối tác chiến lược về biến đổi khí hậu và nông nghiệp bền vững, hai bên đã triển khai nhiều chương trình, dự án hợp tác mang định hướng trung và dài hạn. Hai năm qua, Việt Nam cũng nhận được hỗ trợ của Hà Lan 1 triệu liều vaccine phòng COVID-19, các trang thiết bị trị giá 43 tỷ đồng.
Quan hệ Việt Nam-Bỉ phát triển tích cực, nhất là về thương mại, đầu tư và nông nghiệp. Bỉ là thị trường xuất khẩu lớn thứ 6 của Việt Nam tại châu Âu với kim ngạch thương mại hai chiều tiếp tục duy trì đà tăng trưởng, đạt 4,3 tỷ USD năm 2021, tăng 54% so với năm 2020.
Hai bên đang triển khai nhiều chương trình hợp tác trong khuôn khổ Đối tác chiến lược về nông nghiệp và đang mở rộng hợp tác trong lĩnh vực an ninh-quốc phòng; trong đó có các hoạt động phòng, chống tội phạm mua bán người và xâm hại trẻ em, đào tạo quân y, rà phá bom mìn và gìn giữ hòa bình.
Về đầu tư, Bỉ có 82 dự án tại Việt Nam với vốn đăng ký 1,1 tỷ USD. Về hợp tác phát triển, Bỉ đã dành 300 triệu USD viện trợ phát triển cho Việt Nam, hỗ trợ Việt Nam 100 nghìn liều vaccine phòng COVID-19 vào năm 2021.
Chuyến công tác của Thủ tướng Chính phủ tới 3 nước châu Âu vừa góp phần tăng cường, củng cố quan hệ giữa Việt Nam và các nước; khẳng định vị thế ngày càng tăng của Việt Nam trong quan tâm, ưu tiên của ba nước châu Âu với khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương; đồng thời, giúp Việt Nam mở rộng hợp tác trên các lĩnh vực thế mạnh của mỗi nước, phù hợp với nhu cầu phát triển của Việt Nam như công nghệ dược phẩm, logistics với Luxembourg; kinh tế tuần hoàn, năng lượng tái tạo với Hà Lan; kinh tế biển, nông nghiệp sinh thái với Bỉ.
Cùng với đó, khuyến khích ba nước nói riêng và các nước EU nói chung đầu tư vào hạ tầng chiến lược của Việt Nam như chuyển đổi số, logistics, cảng biển, hỗ trợ chống biến đổi khí hậu, thiên tai dịch bệnh; vận động các nước tiếp tục có quan điểm mạnh mẽ ủng hộ lập trường của Việt Nam về Biển Đông.
Thông qua các hoạt động trong khuôn khổ chuyến công tác, Thủ tướng Chính phủ và đoàn phát đi thông điệp về một Việt Nam đang phục hồi mạnh mẽ, sẵn sàng phối hợp cùng các nước xây dựng môi trường khu vực hòa bình, ổn định và đề cao vai trò của chủ nghĩa đa phương; đồng thời tranh thủ hiệu quả nguồn lực quan trọng từ EU và các nước thành viên trong công cuộc phục hồi và phát triển bền vững kinh tế-xã hội Việt Nam sau đại dịch COVID-19./.
![]()
Views: 0
Biểu tình vào cuối tuần có thể diễn ra trước Ngày Nhân quyền Quốc tế (10/12).

Vài tuần sau khi giành được nhiệm kỳ thứ ba với tư cách là Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch Tập Cận Bình đã phải hứng chịu một đòn giáng nặng nề – hàng loạt người dân đã xuống đường với những tờ giấy trắng A4.
Sự kiện này đã được đặt tên là “cách mạng giấy trắng” hay “phong trào giấy trắng,” và đã lan rộng ra nhiều thành phố trên khắp Trung Quốc. Dù mục đích chính của các cuộc biểu tình là kêu gọi chấm dứt chính sách zero-Covid hà khắc, nhưng người tham dự biểu tình ở Bắc Kinh và Thượng Hải đã công khai hô khẩu hiệu kêu gọi Tập từ chức. Một số người đi xa đến mức gọi ông là “nhà độc tài.”
Đây là cuộc khủng hoảng lớn nhất trong kỷ nguyên lãnh đạo của Tập, kể từ khi bắt đầu vào năm 2012.
Thậm chí còn có một cuộc biểu tình sinh viên được tổ chức tại Đại học Thanh Hoa, trường cũ của Tập. Trường đại học danh tiếng ở phía tây Bắc Kinh được coi là pháo đài quyền lực của Tập, và là nguồn gốc của “Thanh Hoa phái” – một phe mới trong đảng. Trần Cát Ninh (Chen Jining), cựu hiệu trưởng Đại học Thanh Hoa, vừa được thăng chức vào Bộ Chính trị quyền lực tại đại hội toàn quốc hồi tháng 10.
Trần sau đó đã được chọn để trở thành Bí thư Thành ủy Thượng Hải, kế nhiệm Lý Cường, người được kỳ vọng sẽ trở thành thủ tướng tiếp theo.

Các cuộc biểu tình phản đối chính sách zero-Covid đã lan rộng khắp đất nước chỉ trong vài ngày.
Để đối phó chính quyền, các sinh viên biểu tình đã thể hiện tư duy sáng tạo. Trong đêm tối, họ giơ cao những tờ giấy trắng, che kín mặt để không bị nhận dạng, trong lúc hô vang khẩu hiệu đòi Tập từ chức.
Một số sinh viên Thanh Hoa còn viết nguệch ngoạc các phương trình vũ trụ học của Alexander Friedmann trên tờ giấy của họ. Nguyên nhân được cho là vì trong tiếng Anh, “Friedmann” nghe giống như “người được tự do”.

Trong số sinh viên biểu tình ở Thanh Hoa, có rất nhiều thiếu nữ, qua đó phản ánh một sự thay đổi đáng kể trong xã hội Trung Quốc. Hoạt động xã hội tích cực của các nữ sinh là một biểu hiện hoàn toàn trái ngược với cuộc cải tổ Bộ Chính trị vào tháng 10, khi không có phụ nữ nào được góp mặt trong ban lãnh đạo gồm 24 thành viên.
Theo một nguồn thạo tin từ Trung Quốc, trước những diễn biến này, các cấp lãnh đạo cao nhất của Đảng Cộng sản tự tin sẽ dập tắt cách mạng giấy trắng.
“Cách mạng giấy trắng sẽ bị dập tắt hoàn toàn chỉ trong vòng 10 ngày tới,” nguồn tin nói với Nikkei, đồng thời cho biết thêm rằng ban lãnh đạo đảng đã đặt đất nước trong tình trạng báo động cao nhất khi Ngày Nhân quyền Quốc tế (10/12) đang đến gần.
“Có một sự khác biệt lớn so với những gì đã xảy ra trong quá khứ,” nguồn tin cho biết, ám chỉ sự cố liên quan đến Ngày Nhân quyền Quốc tế năm 1986. “Sẽ không có sự bất đồng nào trong giới lãnh đạo.”
“Đừng đánh giá thấp năng lực hành chính và kỹ năng quản lý khủng hoảng của đảng ở cấp địa phương,” một nguồn tin khác cho biết.
Các phương pháp mà chính quyền sử dụng để đàn áp làn sóng biểu tình giấy trắng không chỉ giới hạn ở vũ lực. Dữ liệu lớn đã được sử dụng để xác định, theo dõi, và kiểm soát những cái tên dễ gây kích động nhất.
Các kỹ thuật giám sát đã được phát triển trong cuộc đàn áp các nhà hoạt động dân chủ ở Hong Kong trước và sau khi luật an ninh quốc gia có hiệu lực ở thuộc địa cũ của Anh vào năm 2020.

Làn sóng phản đối zero-covid đã nhanh chóng lan rộng khắp Trung Quốc sau khi một người biểu tình dũng cảm giương cao các biểu ngữ phản đối trên cầu vượt Tô Thông ở Bắc Kinh vào ngày 13/10, ngay trước đại hội toàn quốc của Đảng Cộng sản.
Nội dung biểu ngữ kêu gọi cung cấp thực phẩm thay vì triển khai chính sách zero-Covid, tiến hành bầu cử thay vì ủng hộ “lãnh tụ”, và thực hiện quyền công dân tự do chứ không phải chế độ nô lệ – tất cả đều đi ngược lại chế độ chuyên chế của Tập.
Chính sách zero-Covid thường được triển khai theo những cách vô cảm, gây ra sự khó chịu trong dân chúng. Một vài người từng hy vọng rằng các biện pháp chống dịch sẽ bớt hà khắc hơn sau đại hội đảng. Khi rõ ràng là điều đó sẽ không xảy ra, người dân đã vô cùng tức giận.
Một trong những vụ chống đối đầu tiên xảy ra tại một nhà máy của Foxconn. Công nhân tại nhà máy lắp ráp iPhone lớn nhất thế giới ở Trịnh Châu, tỉnh Hà Nam, đã biểu tình phản đối các điều kiện làm việc có liên quan đến chính sách zero-Covid.
Sau đó, vào ngày 24/11, đám cháy bùng phát tại một khu chung cư ở Ô Lỗ Mộc Tề, thủ phủ của Khu tự trị Duy Ngô Nhĩ Tân Cương, đã khiến 10 người thiệt mạng. Biểu tình nổ ra sau khi các bài đăng trên mạng xã hội lan truyền rằng lính cứu hỏa đã phản ứng chậm trễ vì lệnh phong tỏa.
Làn sóng biểu tình nhanh chóng lan sang Bắc Kinh, Thượng Hải, và các thành phố lớn khác.

Ngày Nhân quyền Quốc tế luôn gây khó khăn cho Đảng Cộng sản Trung Quốc. Năm 1986, ba năm trước cuộc đàn áp Thiên An Môn, Phương Lệ Chi, nhà vật lý từng là hiệu phó Đại học Khoa học và Công nghệ Trung Quốc ở tỉnh An Huy, đã kêu gọi dân chủ hóa đất nước.
Lời kêu gọi của ông đã mở đường cho một phong trào sinh viên nhanh chóng lan rộng từ An Huy đến Bắc Kinh và Thượng Hải. Nhà chức trách đã nhận thấy các cuộc biểu tình năm 2022 cũng diễn ra theo mô hình tương tự.
Hồ Diệu Bang, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản, đã bị cách chức một tháng sau đó, vì phản ứng ‘nhẹ tay’ của ông đối với phong trào ủng hộ dân chủ.
Đằng sau vụ việc này là cuộc đấu tranh quyền lực phức tạp liên quan đến nhà lãnh đạo tối cao Đặng Tiểu Bình, người đã bổ nhiệm Hồ Diệu Bang vào các chức vụ chủ chốt, và các nguyên lão trong đảng, những người muốn hạ bệ Hồ trong vai trò kiến trúc sư của sự thay đổi thế hệ trong ban lãnh đạo đảng.
Cuộc biểu tình của sinh viên tại Quảng trường Thiên An Môn năm 1989 đã làm sâu sắc thêm cuộc cạnh tranh trong nội bộ đảng.
Triệu Tử Dương được Đặng chọn để thay Hồ làm Tổng Bí thư, nhưng chính ông cũng bị thanh trừng sau sự kiện Thiên An Môn, vì tỏ ra thông cảm với sinh viên.
Ngày Nhân quyền Quốc tế là ngày kỷ niệm việc Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc thông qua Tuyên ngôn Nhân quyền Quốc tế vào ngày 10/12/1948.
Vào ngày đó năm 2008, có một sự cố khác đã xảy ra. Một nhóm các nhà hoạt động nhân quyền do Lưu Hiểu Ba lãnh đạo đã công bố Hiến chương 08 để kỷ niệm 60 năm Tuyên ngôn Nhân quyền Quốc tế ra đời.
Hai năm sau, Lưu đoạt giải Nobel Hòa bình, nhưng ông vẫn ngồi sau song sắt nhà tù trong lúc lễ trao giải diễn ra ở Na Uy. Cả thế giới đã nhìn thấy hình ảnh chiếc ghế trống của ông tại buổi lễ, một minh chứng mạnh mẽ cho lập trường cứng rắn của Bắc Kinh. Lưu mất năm 2017, khi vẫn là một tù nhân chính trị.
Phong tỏa đột ngột theo chính sách zero-Covid nghiêm ngặt đã tước đi quyền tự do đi lại của mọi người, vốn là một quyền con người cơ bản. Chính sách gây tranh cãi và không được lòng dân này cũng đã giáng một đòn mạnh vào nền kinh tế Trung Quốc. Đây là lý do tại sao nhiều dân thường đã tham gia các cuộc biểu tình của sinh viên trên khắp đất nước.
Chính quyền Trung Quốc đã không phải đối mặt với các cuộc biểu tình thực sự trên toàn quốc trong 33 năm qua.
Các cuộc biểu tình rầm rộ chống Nhật Bản vào tháng 9/2012 sau khi Nhật Bản quốc hữu hóa Quần đảo Senkaku không thể đem ra so sánh, vì Bắc Kinh tham gia rất nhiều vào việc lập kế hoạch và thực hiện chúng.
Những người tham gia được chính phủ đưa đón từ các vùng nông thôn và được trả trợ cấp hàng ngày. Các quan chức đã hỗ trợ phía sau những người biểu tình, theo dõi chặt chẽ và phân phát nước uống cho họ. Lần này, người của chính phủ cũng đang trà trộn vào các nhóm người biểu tình chống zero-Covid để theo dõi diễn biến.
Tuy nhiên, sự bất mãn hiện tại hoàn toàn bắt nguồn từ vấn đề trong nước, và tập trung vào chính sách zero-Covid do Tập Cận Bình khởi xướng. Tập đã trực tiếp đặt mình vào giữa những làn đạn. Kể từ khi đại dịch COVID-19 bùng phát vào tháng 1/2020, Tập đã nói rõ rằng ông đang lãnh đạo cuộc chiến chống lại virus. Ông cũng đứng ra nhận hết các thành tích liên quan, và gắn quyền lực và uy tín của mình với vấn đề quản lý đại dịch.
Sự trở lại của các phong trào phản kháng của sinh viên như giai đoạn 1986-1989 sẽ là một mối đe dọa đối với Tập, ảnh hưởng đến triển vọng duy trì quyền lực trọn đời của ông, đồng thời có thể sẽ làm tái diễn căng thẳng trong nội bộ đảng.
Ngày 10/12 không phải là ngày mà Tập mong đợi. Liệu Tập còn có thể nói về “giấc mộng Trung Hoa” sau 10 ngày nữa?
Trong các cuộc biểu tình lớn ở Hong Kong năm 2019, các ngày cuối tuần – thời gian diễn ra biểu tình – đã thu hút tới 2 triệu người tham gia. Nếu lịch sử là một bài học, dịp cuối tuần trước Ngày Nhân quyền Quốc tế sẽ là thời khắc quan trọng.
Do đó, cần hết sức chú ý đến những gì xảy ra ở Trung Quốc vào cuối tuần này.
Katsuji Nakazawa là nhà báo và biên tập viên cấp cao của Nikkei, hiện sinh sống tại Tokyo. Ông đã dành bảy năm làm phóng viên thường trú ở Trung Quốc và sau đó trở thành trưởng văn phòng Trung Quốc. Ông đã nhận Giải Nhà báo Quốc tế Vaughn-Ueda năm 2014.
Nguồn: Katsuji Nakazawa, “Quash the ‘white paper’ – Xi’s Chinese dream turns nightmare”, Nikkei Asia, 01/12/2022
Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng
![]()
Views: 0
Phiên đàm phán thứ 11 thuộc khuôn khổ đàm phán Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Israel (VIFTA) đã diễn ra từ ngày 1-5/8 tại Israel. Đoàn đàm phán của Việt Nam do đại diện Bộ Công Thương làm trưởng đoàn với sự tham dự của đại diện các Bộ, ngành liên quan gồm Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Bộ Kế hoạch và đầu tư và Bộ Tư pháp.

Đại sứ Việt nam tại Israel Lý Đức Trung và Tham tán Thương mại Lê Thái Hòa đã tham dự Phiên khai mạc cùng một số hoạt động của đoàn.
Tại phiên đàm phán thứ 11, hai bên đã trao đổi, thảo luận về các nội dung còn tồn đọng gồm: mở cửa thị trường hàng hóa, hải quan và tạo thuận lợi thương mại, pháp lý-thể chế, mua sắm chính phủ, dịch vụ và đầu tư.
Sau nhiều ngày đàm phán, thảo luận chuyên sâu và tích cực với sự quyết tâm và thiện chí, đoàn đàm phán hai bên đã thống nhất được về cơ bản đối với nhiều nội dung quan trọng, đặc biệt là các nội dung liên quan đến mở cửa thị trường cho nhau.
Đối với một số vấn đề còn lại, đoàn đàm phán hai bên sẽ tiếp tục đẩy nhanh quá trình trao đổi, thảo luận trong thời gian tới. Mục tiêu là sớm kết thúc quá trình đàm phán Hiệp định theo định hướng đã được cấp Bộ trưởng hai bên nhất trí trong các phiên trao đổi thời gian qua.
BDN
![]()
Views: 0
Chủ tịch Quốc hội Phần Lan Matti Vanhanen cho biết Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội sẽ chờ cho đến khi tất cả thành viên NATO phê chuẩn tư cách thành viên của Phần Lan trước khi bỏ phiếu thông qua.

Ngày 5/12, Chính phủ Phần Lan đã trình lên Quốc hội dự luật về việc nước này gia nhập Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO).
Tuy nhiên, Chủ tịch Quốc hội Matti Vanhanen cho biết Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội sẽ chờ cho đến khi tất cả các thành viên trong NATO phê chuẩn việc này.
Theo Ngoại trưởng Pekka Haavisto, việc gia nhập NATO sẽ được phê chuẩn nếu nhận được sự ủng hộ của đa số quá bán tại Quốc hội.
Sau đó Tổng thống Sauli Niinisto ký luật về việc gia nhập này.
Phần Lan nộp đơn xin gia nhập NATO vào ngày 18/5 vừa qua. Ngày 29/6, các nhà lãnh đạo NATO chính thức mời nước này gia nhập liên minh.
Vào ngày 5/7, các đại sứ NATO đã ký Nghị định thư gia nhập của Phần Lan, văn kiện này phải được tất cả 30 quốc gia thành viên phê chuẩn.
Tuy nhiên, cho đến nay, Thổ Nhĩ Kỳ và Hungary vẫn chưa phê chuẩn việc gia nhập của Phần Lan./.
![]()
Views: 0
Hãng tin RIA dẫn lời Phó Thủ tướng Nga Alexander Novak ngày 6/12 cho biết trong tháng 12 này Nga sẽ thực hiện cơ chế ứng phó với việc phương Tây áp mức giá trần đối với dầu mỏ của nước này. Theo đó, Nga sẽ cấm xuất khẩu dầu mỏ trong diện bị áp giá trần.

Khi được hỏi liệu cơ chế trên sẽ có hiệu lực vào cuối năm nay hay không, ông Novak khẳng định chắc chắn Nga sẽ thực hiện việc này. Ông Novak cũng cho biết trong bối cảnh tình hình bất ổn như hiện nay, Nga có thể giảm sản lượng dầu nhưng không giảm mạnh.
Phó Thủ tướng Novak cho biết thêm Nga đang thay đổi các chuỗi logistic để ứng phó việc phương Tây áp mức giá trần 60 USD/thùng đối với dầu thô xuất khẩu bằng đường biển của Nga. Theo ông Novak, Nga đang hợp tác với các nhà buôn nhỏ hơn khi tiến hành giao dịch dầu và đang sử dụng các chương trình bảo hiểm nguồn cung mới.
Cùng ngày, Thứ trưởng Ngoại giao Nga Sergei Ryabkov cho rằng khi phương Tây áp giá trần đối với dầu của Nga, các nguyên tắc cơ bản vận hành nền kinh tế thế giới bị vi phạm và sự phân rã thị trường thế giới sẽ trở thành hiện thực. Ông cảnh báo phương Tây sẽ phải đối mặt với tình trạng bất ổn ngày càng tăng trên thị trường năng lượng, trong khi Moskva dễ dàng tìm ra khách hàng mới có nhu cầu về dầu.
Liên quan vấn đề trên, ngày 5/12, Thủ tướng Hungary Viktor Orban cho rằng Liên minh châu Âu (EU) cần thay đổi chính sách trừng phạt Nga vì khối này đang chịu thiệt hại nhiều hơn so với Mỹ do xung đột Nga – Ukraine. Theo ông, EU nên tập trung vào việc đối phó với cuộc khủng hoảng năng lượng thay vì cố áp đặt các biện pháp trừng phạt Nga. Ông Orban cũng bày tỏ đồng tình với ý kiến của Tổng thống Pháp Emmanuel Macron cho rằng “hậu quả của xung đột Nga – Ukraine ở hai bờ Đại Tây Dương không giống nhau”.
Trước đó, trong chương trình của CBS ngày 4/12, ông Macron nói rằng tác động của cuộc khủng hoảng năng lượng đối với Mỹ và EU có sự khác biệt lớn vì EU chủ yếu phụ thuộc vào nguồn cung dầu và khí đốt từ nước ngoài, trong khi Mỹ là nhà sản xuất nhiên liệu hóa thạch./.
![]()
Views: 0
Bộ trưởng Bộ Công an Tô Lâm đề nghị USABC thúc đẩy hợp tác giữa các doanh nghiệp Hoa Kỳ với Bộ Công an Việt Nam trên lĩnh vực công nghiệp an ninh, trong đó có các phương tiện kỹ thuật nghiệp vụ thế hệ mới.

Sáng 6/12, tại Hà Nội, Đại tướng Tô Lâm, Bộ trưởng Bộ Công an tiếp Đoàn các công ty thành viên Hội đồng Kinh doanh Hoa Kỳ-ASEAN (USABC).
Chào mừng Đoàn các công ty thành viên USABC sang thăm và làm việc tại Việt Nam, Bộ trưởng Tô Lâm nhấn mạnh Việt Nam luôn coi Hoa Kỳ là đối tác hàng đầu, có tiềm lực lớn về kỹ thuật, khoa học-công nghệ và mong muốn mở rộng, thúc đẩy hợp tác thực chất, hiệu quả với Hoa Kỳ trong lĩnh vực nhiều tiềm năng, dư địa, trong đó, tập trung vào các vấn đề Hoa Kỳ có lợi thế và Việt Nam ưu tiên cao như phát triển cơ sở hạ tầng, chuyển giao công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực, trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm…
Trong 2 năm qua, mặc dù tình hình dịch COVID-19 diễn biến phức tạp, ảnh hưởng không nhỏ đến các hoạt động giao thương, đối ngoại, tuy nhiên, hai bên vẫn duy trì tiếp xúc, làm việc, trao đổi theo các hình thức linh hoạt.
Điều này cho thấy quan hệ thương mại giữa hai nước đang trên đà phát triển tích cực, đồng thời, tái khẳng định thiện chí cũng như cam kết của Việt Nam nói chung và Bộ Công an Việt Nam nói riêng thúc đẩy hơn nữa quan hệ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ.
Bộ Công an Việt Nam mong muốn phía USABC có thể kết nối các doanh nghiệp chuyên ngành về lĩnh vực này để tổ chức các buổi hội thảo, tập huấn nhằm trao đổi cụ thể về khả năng thúc đẩy hợp tác, chia sẻ kinh nghiệm với Bộ Công an Việt Nam trong lĩnh vực chuyên ngành và mua sắm sản phẩm chất lượng cao.
Trong thời gian tới, nhằm phát huy tối đa tiềm năng hợp tác giữa hai nước, Bộ trưởng Tô Lâm đề nghị USABC và cộng đồng doanh nghiệp Hoa Kỳ tiếp tục làm cầu nối giữa Chính phủ với Chính phủ, doanh nghiệp với doanh nghiệp, góp phần giúp hai bên tìm hiểu mong muốn và nhu cầu của nhau để phối hợp thúc đẩy hợp tác kinh tế-thương mại, quốc phòng-an ninh giữa hai nước Việt Nam-Hoa Kỳ trên cơ sở phù hợp với năng lực của mỗi bên, trong đó tạo thuận lợi cho hàng hóa Việt Nam xuất khẩu vào Hoa Kỳ và tăng cường đầu tư của Hoa Kỳ vào Việt Nam.
Hỗ trợ Việt Nam tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu về công nghệ thông tin, kinh tế số, tăng trưởng xanh.
Bên cạnh đó là tham gia tích cực, góp phần thúc đẩy và hiện thực hóa các cam kết, sáng kiến hợp tác giữa ASEAN và Hoa Kỳ trong lĩnh vực kinh tế-thương mại, an ninh hàng hải, hàng không; thúc đẩy hợp tác giữa các doanh nghiệp Hoa Kỳ với Bộ Công an Việt Nam trên lĩnh vực công nghiệp an ninh, trong đó có các phương tiện kỹ thuật nghiệp vụ thế hệ mới, các sản phẩm về viễn thông, tin học điện tử, phòng cháy chữa cháy, cứu nạn cứu hộ và các sản phẩm công nghệ cao…
Hai bên tăng cường hợp tác công tư trong lĩnh vực an ninh mạng với các doanh nghiệp Hoa Kỳ có thế mạnh, thông qua hợp tác đào tạo chuyên gia an ninh mạng đạt trình độ quốc tế, chuyển giao công nghệ phù hợp với tình hình và nhu cầu thực tiễn của Việt Nam như hợp tác chuyển giao đào tạo đội ngũ chuyên gia phát triển công nghệ, sản phẩm an ninh mạng.
Hai bên chia sẻ, chuyển giao các công nghệ, giải pháp, kỹ thuật phát hiện, cảnh báo, phòng, chống tấn công mạng, bảo mật dữ liệu, điều tra số, thu thập, phân tích, khôi phục chứng cứ điện tử…
Trân trọng cảm ơn Bộ trưởng Tô Lâm đã dành thời gian tiếp, đại diện Đoàn các công ty thành viên USABC nhấn mạnh buổi làm việc ngày hôm nay là cơ hội tốt để hai bên trao đổi về những nội dung cùng quan tâm, từ đó góp phần đưa quan hệ song phương nói chung và quan hệ hợp tác trên lĩnh vực kinh tế-thương mại-đầu tư giữa hai nước nói riêng đi vào chiều sâu, thiết thực, hiệu quả./.
![]()
Views: 0
![]()
Views: 0
Hôm 1/12, Ngoại trưởng Nga Sergei Lavrov cáo buộc NATO thổi bùng căng thẳng ở Biển Đông, mang đến những mối đe dọa và rủi ro cho Nga.

“Biển Đông đang trở thành một trong những khu vực mà NATO đẩy căng thẳng leo thang. Chúng tôi hiểu rằng việc NATO chơi với lửa ở những khu vực này mang đến mối đe dọa và rủi ro cho Liên bang Nga. Nó gần bờ biển và vùng biển của chúng tôi”, Ngoại trưởng Nga Sergei Lavrov nói.
Ông Lavrov cho rằng, đó là lý do Nga đang phát triển hợp tác quân sự với Trung Quốc và tiến hành các cuộc tập trận chung.
Theo Reuters, Ngoại trưởng Lavrov đang liên hệ đến việc thành lập liên minh AUKUS giữa Mỹ, Anh và Australia. Ông cũng cáo buộc NATO đang cố lôi kéo Ấn Độ tham gia vào liên minh chống Nga và Trung Quốc.
Ngoại trưởng Nga cho rằng, Washington và liên minh NATO đang can dự vào cuộc xung đột tại Ukraine khi liên tục cung cấp vũ khí và huấn luyện binh sĩ cho Ukraine.
Tuy nhiên, ông Lavrov nói, Moskva sẵn sàng lắng nghe nếu các bên muốn tổ chức đàm phán về Ukraine, tuyên bố những cáo buộc của Ukraine khi cho rằng Nga muốn đàm phán để giành thời gian củng cố lại lực lượng là vô lý.
Ông Lavrov cho biết Nga cũng sẵn sàng quay lại đàm phán với phương Tây nếu họ nhất trí thảo luận về những đề xuất an ninh mà Moskva đưa ra vào tháng 12 năm ngoái.
Hồi tháng 8, Bộ trưởng Quốc phòng Nga Sergey Shoigu cảnh báo hiệp ước an ninh AUKUS giữa Mỹ, Anh và Australia có thể “kích nổ” khu vực châu Á – Thái Bình Dương bằng việc liên minh này tổ chức các cuộc tập trận hạt nhân.
“Liên minh AUKUS có tiềm năng trở thành một liên minh quân sự – chính trị. Không thể loại trừ khả năng NATO lập kế hoạch hạt nhân chung và tổ chức các cuộc tập trận hạt nhân ở khu vực”, Bộ trưởng Quốc phòng Nga Sergey Shoigu cho biết.
Ra đời năm ngoái, AUKUS được quảng bá như là thỏa thuận nhằm làm sâu sắc hơn mối quan hệ quốc phòng và tăng cường khả năng tương tác giữa 3 quốc gia Mỹ, Anh và Australia.
Hồi tháng 4, lãnh đạo các nước tham gia AUKUS đã đưa ra một tuyên bố chung, khẳng định “cam kết của họ đối với khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và rộng mở”. Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Lloyd Austin nói rằng Washington không tìm cách thành lập “Một NATO châu Á”
BDN
![]()
Views: 0
Hiện nay trên quần đảo Trường Sa của Việt Nam, Trung Quốc đã ngang ngược chiếm đóng và xây dựng phi pháp bởi đảo nhân tạo khổng lồ trên bảy thực thể là đá Châu Viên, đá Chữ Thập, cụm đá Ga Ven, đá Gạc Ma, đá Tự Nghĩa, đá Vành Khăn và đá Xu Bi. Trong đó thì nước này đã cho xây dựng 3 sân bay quân sự khổng lồ dài 3.000m trên ba thực thể và ba điểm tận cùng của các bãi đá mà nước này chiếm đóng phi pháp, bao gồm điểm tận cùng của phía Bắc đá Xu Bi, điểm tận cùng ở phía Tây đá Chữ Thập, điểm tận cùng ở phía Đông là đá Vành Khăn, trên thực tế thì việc chiếm đóng và xây dựng sân bay phi pháp trên các rạn san hô này đã được Trung Quốc tính toán tỉ mỉ và chuẩn bị công phu từ nhiều năm về trước.

Việc xây dựng ba sân bay ở 3 điểm mút nhằm mục đích tối đa hoá phạm vi kiểm soát và tạo thể trận tam giác liên hoàn, kiểm soát toàn bộ phần phía Bắc của quần đảo Trường Sa, những tính toán của nước này dường như rất kín kẽ. Tuy nhiên, người xưa có câu “vỏ quýt dày có móng tay nhọn”, “cao nhân tất hữu cao nhân trị” Biển Đông không phải ao nhà của người Hán, đây là vùng biển lâu đời của Việt Nam tại đây người Việt đang sở hữu một thanh gươm vô cùng sắc bén mà nếu được đầu tư đúng mực thì thanh bảo kiếm này có thể dễ dàng chém nát tam giác quỷ Bermuda mà người Hán đã đốt hàng chục tỷ USD để vẽ ra trên vùng biển quần đảo Trường Sa của Việt Nam.
Vậy thanh bảo kiếm đó là cái gì, nó nằm ở đâu, chi tiết cụ thể về thanh bảo kiếm đó ra sao?
Đảo Đá Lớn một trong những thanh bảo kiếm lớn, sắc bén và có vị trí chiến lược nhất trên Biển Đông của Việt Nam. Đảo Đá Lớn là rạn san hô vòng thuộc cụm Nam Yết của quần đảo Trường Sa nằm ở gần trung tâm của tam giác quỷ Bermuda của người Hán, cách bán đảo Cam Ranh khoảng 540km về phía Đông Nam, cách đảo Nam Yết khoảng 55km về phía Tây, cách đảo Sinh Tồn khoảng 53km về phía Tây Bắc, cách đảo Song Tử Tây điểm tận cùng ở phía Bắc tại quần đảo Trường Sa của Việt Nam khoảng 150km, cách đảo Trường Sa Lớn khoảng 260km về phía Đông Bắc. Có thể nói thềm Đá Lớn là một trong những điểm đảo có vị trí vô cùng chiến lược cho việc rút nước biển và xây dựng sân bay thứ hai của Việt Nam trên Biển Đông, vì ba lý do sau đây.
Thứ nhất, từ Đá Lớn nếu Việt Nam cho xây dựng một sân bay thứ ba tại đảo Tiên Lữ thì sẽ tạo thành một tam giác chiến lược phòng thủ liên hoàn giúp chia cắt và bẻ gãy thế trận tam giác quỷ Bermuda mà Trung Quốc đã tạo ra tại đây.
Thứ hai, Đá Lớn có vị trí rất chiến lược khi nằm tách biệt với các rạn san hô khác khoảng cách của nó tới sân bay trên đảo Trường Sa Lớn là 260km, cách đảo Song Tử Tây đảo xa nhất ở phía Bắc của Việt Nam chỉ khoảng 150km không những vậy khoảng cách giữ Đá Lớn tới nhóm đảo ở phía Đông Bắc của Việt Nam như Nam Yết, Sơn Ca, Sinh Tồn, Sinh Tử Đông,… chỉ là hơn 50km. Tất cả những đặc điểm chiến lược trên biến Đá Lớn thành trạm trung chuyển tuyệt vời của Việt Nam để kết nối khu vực kiểm soát ở phía Nam với các đảo ở phía Bắc tạo thành thế trận liên hoàn phòng thủ hình lưới chống lại sự bành trướng của Trung Quốc trên Biển Đông.
Cuối cùng, Đá Lớn có thềm san hô khép kín hình trải dài theo hướng từ Nam tới Bắc và với phần lớn địa hình tương đối là bằng phẳng, độ sâu trung bình so với mực nước biển chỉ khoảng 0,5m. Mặt khác, lòng hồ của đảo không quá lớn với độ sâu vừa phải nếu được nạo vét hợp lý sẽ giúp tiết kiệm tối đa chi phí khi sử dụng được các vật liệu bồi đắp sẵn có.
Bản đồ hành chính đều thể hiện danh từ riêng là “Lớn”, còn danh từ riêng thể hiện các thực thể là “Đá”, về bản chất địa lý Đá Lớn không phải là một đảo mà là một rạn san hô vòng thuộc cụm Nam Yết của quần đảo Trường Sa nó là một phần của xã Sinh Tồn, huyện Trường Sa, tỉnh Khánh Hoà. Rạn san hô đá Lớn có chiều dài lớn nhất là 15km với chiều rộng trung bình vào khoảng 2km, diện tích ước tính vào khoảng 20km2 tương đương khoảng 2.000ha, thềm san hô của đảo khép kín ở bên trong đảo có một hồ ở phía Nam, lòng hồ có chiều dài khoảng 10km chiều rộng trung bình khoảng 1km, khi thuỷ triều lên cao toàn bãi ngập nước, khi thuỷ triều xuống còn 0,5m trên bãi có nhiều đá mồ côi nhô lên khỏi mặt nước.
Khí hậu thuỷ văn trên đảo Đá Lớn mang đặc trưng thuỷ văn của quần đào Trường Sa mùa hè mát, mùa đông ấm hơn trong đất liền. Tuy nhiên, do vĩ độ thấp nên thời tiết buổi trưa hơi oi bức, mùa khô của đảo bắt đầu từ tháng 2 đến tháng 5, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 1 năm sau những tháng mùa khô thì thời tiết rất là khắc nghiệt, ngày nắng kéo dài từ sáng sớm đến tối nhưng đây lại là thời kỳ sóng yên biển lặng rất thuận tiện cho tàu thuyền ngư dân đánh bắt hải sản quanh khu vực, đặc biệt với kết cấu thềm san hô ngầm lớn đây là nơi tập trung của nhiều loại hải sản có vỏ như: tôm, cua, ghẹ, vẹm và các loài cá san hô với giá trị kinh tế cao, rất tiềm năng trong việc nuôi trồng, đánh bắt và chế biến thuỷ hải sản xa bờ.
Trên đảo thì nguồn nước ngọt sinh hoạt chủ yếu là nước mưa và nước ngọt vận chuyển từ đất liền ra được tích trữ trong bể và bồn chứa. Vì vậy, nước ngọt rất hạn chế tuy nhiên nhờ sự cần cù và sáng tạo của mình bộ đội ta trên các nhà lâu bền vẫn có thể tăng gia sản xuất, trồng thêm các loại rau xanh trong các thùng xốp và chăn nuôi gia súc, gia cầm như: gà, vịt, ngan, ngỗng, lợn và chó.
Hiện tại Hải quân Việt Nam đang đóng quân tại 3 điểm nhà lâu bền A, B, C, cán bộ và chiến sỹ Hải quân Việt Nam thì đóng chốt ở các nhà kiên cố nằm so le cách nhau vài hải lý trong thế chân kiềng vững chãi. Tự bản thân Đá Lớn tạo đã giúp quân và dân ta bảo vệ vững chắc khu vực này. Đặc biệt là tất cả những điểm đóng quân đều được xây dựng nhà văn hoá đa năng và đã được đưa vào hoạt động.
Đá Lớn A với tổ hợp 3 toà nhà cao tầng được kết nối với nhau bằng các cây cầu bê tông, tại Đá Lớn A còn có hệ thống cầu tàu giúp cho ngư dân và tàu quân sự tiếp tế hậu cần và là nơi tránh trú bão cho ngư dân khi cần thiết. Đặc biệt trong thời gian gần đây một khu vực nhà lớn vừa được xây dựng tại Đá Lớn A, nó có kết cấu như một pháo đài với chiều cao từ 3 đến 5 tầng, tại điểm giữa của cụm kết cấu thì có một sân đỗ trực thăng, trên cụm công sự còn có cả bể chứa nước ngọt và bể chứa nhiên liệu kiên cố.
Đá Lớn B là một kết cấu bê tông với một nhà lâu bền và một nhà văn hoá đa năng tương đồng với các đảo chìm khác của Việt Nam tại quần đảo Trường Sa, ở gần Đá Lớn B còn có một xác tàu đắm, đây cũng chính là con tàu đã đưa quân ta lên đảo đóng quân năm 1988.
Trong thời gian qua thì đời sống của các cán bộ, chiến sỹ trên đảo đã ngày càng được cải thiện. Đặc biệt là cả Đá Lớn A và Đá Lớn B đều được trang bị hệ thống điện bao gồm cả điện gió và điện mặt trời. Ngoài ra, thì các hệ thống liên lạc qua vệ tinh cũng được đưa vào sử dụng giúp nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho các cán bộ, chiến sỹ trên đảo.
Ngày 27 tháng 1 năm 1988, tàu HQ-611 và tàu HQ-712 của lữ đoàn 146, Vùng 4 Hải quân do đại tá Phạm Công Phán làm biên đội trưởng và trung tá Nguyễn Văn Dân (phó Tham mưu trưởng Vùng 4) làm biên đội phó chỉ huy 1 đại đội công binh và 2 khung bảo vệ đảo tổ chức đóng giữ các bãi đá ở quần đảo Trường Sa gồm: Đá Lớn, Đá Lát, đá Chữ Thập và đá Châu Viên.
Đến đảo Trường Sa Đông thì tàu HQ-611 hỏng máy dừng lại sửa chữa. Đêm ngày 30 tháng 1 năm 1988 biên đội 2 tàu tiếp tục tiến trình đến đá Chữ Thập. Sáng 31 tháng 1 năm 1988, khi 2 tàu cách Chữ Thập khoảng 5 hải lý thì phát hiện 4 tàu chiến của Hải quân Trung Quốc, trong đó có 2 tàu hộ vệ tên lửa 502, 503 lao ra cắt mũi ngăn cản không cho tiếp cận đảo buộc 2 tàu phải quay về Trường Sa Đông. Từ tàu HQ-611 đang sửa chữa tại Trường Sa Đông trung tá Nguyễn Văn Dân nhận chuyển sang đi cùng tàu HQ-07 để thực hiện nhiệm vụ đóng giữ đảo Đá Lớn.
Ngày 6 tháng 2 năm 1988, 2 tàu HQ-611 và HQ-712 đưa lực lượng đổ bộ lên đảo Đá Lớn.
Ngày 13 tháng 2 năm 1988, lữ đoàn 125 cho tàu HQ-505 kéo theo tàu đổ bộ LCU-556 cùng một trung đội công binh làm nhà cao chân đóng giữ Đá Lớn.
Ngày 15 tháng 2 năm 1988, tàu HQ-505 đã đưa tàu đổ bộ LCU-556 tiến về phía bắc đảo Đá lớn và đóng chốt thành công.
Ngày 20 tháng 2 năm 1988 tàu LCU-556 đã vào được phía nam đảo Đá Lớn. Cùng thời gian này, tàu Đại lãnh của Công ty trục vớt cứu hộ Sài Gòn kéo tàu đổ bộ HQ-582 và pông-tông Đ02 đi Đá Lớn.
Ngày 1 tháng 3 năm 1988, pông tông Đ02 được kéo vào phía Bắc đảo Đá Lớn.
Ngày 13 tháng 3 năm 1988, hoàn thành xây dựng nhà cấp 3 cho đảo Đá Lớn và chúng ta đã đóng quân trên đảo Đá Lớn từ đó đến nay.
Tình hình Biển Đông nói chung và quần đảo Trường Sa nói riêng đang vô cùng phức tạp với nhiều hoạt động xây dựng cũng như là những gây hấn bất hợp pháp của các bên liên quan đặc biệt là Trung Quốc, trong tình hình đó thì hướng đi của Việt Nam là rất sáng suốt khi tiến hành rút nước biển tại các điểm đảo có tầm quan trọng chiến lược tại quần đảo Trường Sa. Điều đáng nói ở đây đó là những hoạt động rút nước biển của Việt Nam thường gây ra rất ít sự chú ý cũng như là sự chỉ trích của các bên liên quan mặc dù tốc độ nổi hoá là không hề kém, điều quan trọng đối với Việt Nam bây giờ không phải là kiểm soát thêm được nhiều các điểm đảo mà là làm sao để xây dựng và kiểm soát thật vững chắc các điểm đảo hiện có. Muốn làm được điều đó thì ngoài sự tập trung nguồn lực thì chúng ta phải có đi đúng hướng và phải có sự đồng lòng của Đảng, Nhà nước và Nhân dân.
BDN
![]()
Views: 0