Sáng 16-6, quân đội Hàn Quốc cho biết tàu ngầm hạt nhân của Mỹ USS Michigan đã cập cảng Busan của nước này.
Theo Hãng tin Reuters, đây là lần đầu tiên sau gần 6 năm, một tàu ngầm tên lửa dẫn đường chạy bằng năng lượng hạt nhân (SSGN) mới cập cảng Hàn Quốc.
Tàu USS Michigan đang có mặt ở căn cứ hải quân tại Busan, cách thủ đô Seoul 320km về phía Đông Nam. Hãng tin Yonhap dẫn lời quan chức quốc phòng giấu tên của Hàn Quốc cho hay con tàu dự kiến ở lại nước này cho tới ngày 22-6.
“Chuyến thăm của tàu SSGN của Mỹ tới Hàn Quốc nhằm thực hiện thỏa thuận trong Tuyên bố Washington hồi tháng 4, nhằm tăng cường việc thường xuyên xuất hiện của các khí tài chiến lược trên bán đảo Triều Tiên”, phó đô đốc Kim Myung Soo thuộc Hải quân Hàn Quốc cho biết.
Trong Tuyên bố Washington, Mỹ đã cam kết gửi một tàu ngầm tên lửa đạn đạo hạt nhân đến thăm Hàn Quốc.
Trong chuyến thăm lần này, Hải quân Hàn Quốc và Mỹ có kế hoạch tiến hành các cuộc tập trận, nhằm tăng cường khả năng phối hợp đối phó với các mối đe dọa ngày càng tăng của Triều Tiên.
Tàu USS Michigan cũng sẽ tham gia nhiều hoạt động giao lưu hữu nghị với Hải quân Hàn Quốc để kỷ niệm 70 năm liên minh giữa hai nước. Tàu USS Michigan hoạt động từ năm 1982. Con tàu có thể thực hiện các nhiệm vụ tấn công bằng tên lửa hành trình Tomahawk.
Theo Bộ Quốc phòng Hàn Quốc, USS Michigan nặng 18.000 tấn, dài 170m và có thể trang bị hơn 150 tên lửa Tomahawk có tầm bắn 2.500km. Căng thẳng khu vực
Tàu ngầm hạt nhân Mỹ đến Hàn Quốc trong bối cảnh Triều Tiên phóng hai tên lửa đạn đạo chiều tối 15-6, sau đó rơi xuống vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Nhật Bản.
Trước đó, ngày 31-5, Triều Tiên phóng vệ tinh quan sát quân sự Malligyong-1 gắn trên tên lửa đẩy kiểu mới Chollima-1 nhưng thất bại.
Vào tháng 4, tại Washington, Tổng thống Hàn Quốc Yoon Suk Yeol và Tổng thống Mỹ Joe Biden đã nhất trí phải tăng cường hơn nữa quan hệ đồng minh giữa hai nước nhằm đối phó với những thách thức chung, đặc biệt là về an ninh và kinh tế.
Ngày 15-6, Mỹ và Hàn Quốc đã kết thúc cuộc tập trận chung bắn đạn thật tại thao trường ở Pocheon, chỉ cách biên giới liên Triều 25km về phía Nam.
Đây là cuộc tập trận bắn đạn thật chung phối hợp được tổ chức lần đầu tiên trong 6 năm qua, được đích thân Tổng thống Hàn Quốc Yoon Suk Yeol tới giám sát.
Hơn 610 khí tài quân sự được huy động, bao gồm các chiến đấu cơ F-35A và pháo tự hành K9 của phía Hàn Quốc, máy bay chiến đấu F-16 của Mỹ, cùng với sự tham gia của hơn 2.500 binh sĩ.
Cuộc tập trận cũng đánh dấu 70 năm thiết lập liên minh Hàn – Mỹ và kỷ niệm 75 năm ngày thành lập lực lượng vũ trang Hàn Quốc.
Trong chiến lược an ninh quốc gia đầu tiên, Đức gọi Trung Quốc là ‘đối tác’ vừa là ‘đối thủ’ mang tham vọng định hình lại trật tự thế giới, đồng thời cho rằng Nga là mối đe dọa lớn nhất đối với châu Âu.
Thủ tướng Đức Olaf Scholz phát biểu tại cuộc họp báo ở Berlin ngày 14-6.
Tại buổi công bố ngày 14-6, chính quyền Thủ tướng Đức Olaf Scholz nói rằng Trung Quốc đang gia tăng sức ép lên an ninh quốc tế và sự ổn định khu vực.
Theo ông Scholz, chiến lược an ninh quốc gia tuân theo nguyên tắc “an ninh tích hợp”, bao gồm cả quốc phòng, ngoại giao, phát triển và khả năng phục hồi của chuỗi cung ứng.
Giảm rủi ro với Trung Quốc
“Trung Quốc đang cố gắng bằng nhiều cách khác nhau để sắp xếp lại trật tự thế giới dựa trên luật lệ hiện tại, đang khẳng định vị trí thống trị khu vực với sức mạnh hơn bao giờ hết, hành động hết lần này đến lần khác đi ngược lại lợi ích và giá trị của chúng ta”, bản chiến lược dài 76 trang nhấn mạnh.
Chiến lược gọi Trung Quốc là “đối tác, đối thủ cạnh tranh và đối thủ có hệ thống”, trong đó yếu tố cạnh tranh và đối đầu ngày càng tăng trong những năm gần đây. Dù vậy, Berlin cũng coi gã khổng lồ châu Á là một đối tác không thể thiếu trong giải quyết nhiều thách thức và khủng hoảng toàn cầu.
Chiến lược an ninh của Đức được công bố chỉ vài ngày trước khi Thủ tướng Trung Quốc Lý Cường đến thăm Berlin.
Hãng tin AFP dẫn lời Thủ tướng Scholz cho rằng Đức không muốn tách rời Trung Quốc mà chỉ muốn “giảm rủi ro”. Ông cho biết Berlin sẽ có một chiến lược cụ thể riêng đối với Bắc Kinh.
Trong thời gian qua, Đức cũng tìm cách đa dạng nguồn nhập khẩu và đưa sản xuất các sản phẩm quan trọng như chất bán dẫn về nước nhằm giảm phụ thuộc vào Trung Quốc.
Ngoại trưởng Đức Annalena Baerbock mới đây cảnh báo rằng Berlin sẽ không thể hỗ trợ hết các nhóm công nghiệp lớn làm ăn với Trung Quốc trong trường hợp xảy ra khủng hoảng với Bắc Kinh.
Đức tăng chi tiêu quốc phòng
Ngoài ra, chiến lược an ninh của Đức cũng nhấn mạnh khả năng phòng thủ, chống chịu và thích ứng của nền kinh tế lớn nhất châu Âu này.
Theo đó, Đức đặt ra một số mục tiêu chiến lược bao gồm mục tiêu chi 2% GDP cho quốc phòng của Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) từ năm 2024. Hiện chi tiêu quốc phòng của Đức là khoảng 1,5% GDP.
Chính quyền Thủ tướng Scholz coi Nga là “mối đe dọa đáng kể nhất đối với hòa bình và an ninh ở khu vực châu Âu – Đại Tây Dương” do cuộc xung đột Nga – Ukraine. Ngoại trưởng Baerbock nói rằng cuộc xung đột nổ ra cho thấy “châu Âu dễ bị tổn thương”.
Đức cáo buộc Nga tăng cường vũ khí hạt nhân đe dọa sự ổn định chiến lược. Chiến lược an ninh của Bắc Kinh nhấn mạnh việc “duy trì khả năng răn đe hạt nhân đáng tin cậy là điều cần thiết” đối với NATO và an ninh của châu Âu, chừng nào còn vũ khí hạt nhân.
“Gườm” là từ thể hiện cái nhìn ganh ghét, đố kỵ, khó chịu trước sự trỗi dậy của đối thủ. Theo nghĩa ấy, Trung Quốc đang “gườm” hoạt động của hai tàu sân bay của Ấn Độ trong một hoạt động phối hợp ở Biển Ả-rập vào đầu tuần này. Còn Ấn Độ, hẳn cũng không dành cho hải quân Trung Quốc ánh mắt thiện cảm.
Hai tàu sân bay Ấn Độ trong một hoạt động phối hợp ở Biển Ả-rập.
Hải quân Ấn Độ – quốc gia láng giềng Trung Quốc – từng biên chế hàng không mẫu hạm từ năm 1961. Tuy nhiên, điều đó dường như chỉ có tình hình thức, ít nhất tới trước năm 2013. Những khó khăn về kinh tế của một quốc gia vì như “nhà đông con” (tới nay, Ấn Độ vượt Trung Quốc thành quốc gia đông dân nhất thế giới với 1,7 tỷ người), lo ăn còn khó nhọc, khiến việc sở hữu chiếc hàng không mẫu hạm đầu tiên này chỉ có ý nghĩa giúp hải quân Ấn Độ thực tập, làm quen trước khi có được những hàng không mẫu hạm tối tân, góp phần khẳng định vị thế của hải quân Ấn Độ trên các đại dương.
Tuy nhiên, mọi chuyện bắt đầu khác kể từ năm 2013 – thời điểm Ấn Độ chính thức tiếp nhận tàu sân bay INS Vikramaditya, mua từ Nga, sau những lằng nhằng về giá khiến New Delhi phải chi tới gần 3 tỷ USD thay vì 900 triệu USD như thỏa thuận ban đầu. Uất vì tốn thêm tiền, nhưng bù lại, sự có mặt của INS Vikramaditya trong hạm đội khẳng định vị thế nằm trong top 5 thế giới hải quân của nước này.
Tham vọng chiếm lĩnh ưu thế cuộc chơi trên biển khiến Trung Quốc ráo riết gia tăng sức mạnh hải quân. Sự trỗi dậy của hải quân Ấn Độ – quốc gia từng xô xát với Trung Quốc trên bộ nhiều lần – càng khiến Trung Quốc biết họ cần phải làm gì để khỏi bị lép vế trên biển Ấn Độ dương. Sau tàu sân bay Liêu Ninh hoán cải từ tàu mua của Ukraine, Trung Quốc tăng tốc để có được tàu sân bay tự đóng, hiện thực hóa với việc hạ thủy tàu sân bay Sơn Đông năm 2017.
Éo le thay, bước tiến đột phá này của Trung Quốc lại góp phần kích thích Ấn Độ trên đường đua tự chủ năng lực hải quân và quốc phòng. 5 năm sau khi Trung Quốc đưa tàu Sơn Đông vào biên chế, Ấn Độ biên chế tàu sân bay nội địa đầu tiên mang tên Vikrant. Với chiều dài 262 m và lượng giãn nước 47.400 tấn, thủy thủ đoàn 1.600 người, mang theo 30 máy bay trực thăng và tiêm kích, Vikrant là chiến hạm lớn nhất của hải quân Ấn Độ. Điều đặc biệt là Ấn Độ làm được tới 75% thành phần thiết bị trên tàu. Nó đồng nghĩa việc New Delhi đã đạt được bước tiến đột phá trong phát triển hàng không mẫu hạm.
Khi Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi hân hoan với bước đột phá đó trong lời phát biểu tại nhà máy đóng tàu Cochin ở miền nam Ấn Độ ngày 2/9 năm 2022: “”Đây là một ngày lịch sử và thành tựu mang tính bước ngoặt. Đó là ví dụ về sự thúc đẩy của chính phủ để Ấn Độ tự chủ trong lĩnh vực quốc phòng”, thì Trung Quốc lại “gườm” mắt nhận ra mình đang bị thách thức bởi đối thủ láng giềng.
Cái “gườm” của Trung Quốc càng sắc lạnh hơn khi chứng kiến những ngày giữa tháng 6 năm nay, Hải quân Ấn Độ ra thông cáo báo chí cho biết: Hai tàu sân bay INS Vikramaditya và INS Vikrant đã dẫn đầu cuộc tập trận với hơn 35 máy bay cùng một loạt tàu nổi và tàu ngầm trên Biển Ả-rập. Mục đích của việc huy động đồng thời cả 2 tàu sân bay vào cuộc tập trận này của Ấn Độ là gì nếu không phải nhằm phô diễn năng lực hải quân và khả năng triển khai sức mạnh quân sự của Ấn Độ trên biển Ấn Độ dương và xa hơn?
Thế là, đằng sau việc thi thoảng nói với nhau những lời bằng hữu khả nghi về sự chân thành, nhiều chuyên gia đang đặt ra khả năng đang có một cuộc chạy đua về công nghệ đóng tàu sân bay giữa hai quốc gia đông dân nhất, cũng là hai nền kinh tế quy mô thứ hai và thứ năm toàn cầu, là Trung Quốc và Ấn Độ.
Điều này lợi hay hại cho sự ổn định và hòa bình?
Câu hỏi thừa! Mọi sự ganh ghét đều tiêu cực. Tham vọng bá chủ thế giới càng là điều tệ hại hơn bởi nó chỉ thúc đẩy chạy đua vũ trang, gây ra mất ổn định, đe dọa hòa bình thế giới.
Thụy Điển hi vọng có thể xác định ai đứng sau vụ phá hoại đường ống dẫn khí đốt Nord Stream (Dòng chảy phương Bắc) vào mùa thu tới.
Khí đốt rò rỉ từ đường ống Nord Stream.
Đường ống dẫn khí Nord Stream 1 và Nord Stream 2 nối liền Nga và Đức qua Biển Baltic bị vỡ vào tháng 9.2022 sau một số vụ nổ dưới nước không rõ nguyên nhân.
Vụ nổ đường ống dẫn khí đốt Nga xảy ra trong vùng đặc quyền kinh tế của Thụy Điển và Đan Mạch. Hai nước đều cho biết, đường ống Nord Stream nổ là có chủ ý nhưng chưa chỉ rõ bên nào chịu trách nhiệm.
Mats Ljungqvist – công tố viên dẫn đầu cuộc điều tra của Thụy Điển trong vụ Nord Stream – chia sẻ Swedish Radio rằng, ông đã gặp công tố viên Đức và các bên đã làm việc cùng nhau. Tuy nhiên, ông từ chối cung cấp thêm thông tin chi tiết về vấn đề này.
“Tôi hi vọng rằng ít nhất là vào mùa thu này chúng ta sẽ có thể đưa ra quyết định liên quan đến các cáo trạng, ít nhất thì đây là tham vọng trong bối cảnh hiện tại. Tôi nghĩ rằng, đúng thời điểm, kẻ thực hiện vụ phá hoại sẽ bị đưa ra ánh sáng” – ông Ljungqvist chia sẻ với Swedish Radio.
Đức đã xác nhận, hồi tháng 1, các nhà điều tra vụ Nord Stream của nước này đã đột kích một con tàu nghi dùng để vận chuyển chất nổ phục vụ việc nổ tung các đường ống dẫn khí đốt ở Biển Baltic. Truyền thông Đức cho biết, con tàu có thể đã được một nhóm nhỏ người Ukraina hoặc thân Ukraina sử dụng.
Hồi tháng 4 năm nay, ông Ljungqvist chia sẻ với Reuters rằng, kịch bản chính là một nhà nước hoặc một nhóm được nhà nước hậu thuẫn đứng sau vụ tấn công Nord Stream.
“Tôi nghĩ rằng giả thuyết đó đã được củng cố trong quá trình điều tra” – nhà điều tra chính của Thuỵ Điển chia sẻ trong cuộc phỏng vấn mới nhất với Swedish Radio.
Xung đột Nga – Ukraina khiến sự phụ thuộc của châu Âu vào khí đốt Nga trở thành vấn đề lớn và việc phá huỷ đường ống Nord Stream đẩy nhanh việc khối này chuyển sang các nhà cung cấp năng lượng khác.
Nord Stream 1 và Nord Stream 2, mỗi đường ống gồm 2 tuyến, do Gazprom của Nga xây dựng, có khả năng bơm 110 tỉ mét khối khí đốt cho Đức mỗi năm.
Bộ Ngoại giao bác bình luận của Trung Quốc, sau khi Bắc Kinh ngang nhiên nói rằng nhóm tàu khảo sát Hướng Dương Hồng 10 hoạt động hợp pháp ở Biển Đông.
Trong cuộc họp báo hôm 6/6, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc Uông Văn Bân được yêu cầu bình luận về thông tin nhóm tàu khảo sát Hướng Dương Hồng 10 rời khỏi vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Việt Nam. Ông Uông ngang nhiên nói rằng Trung Quốc có chủ quyền với “quần đảo Nam Sa và vùng biển lân cận”, đề cập tới khu vực quần đảo Trường Sa của Việt Nam.
Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc còn ngang ngược nói rằng “việc nhóm tàu Trung Quốc thực hiện các hoạt động nghiên cứu bình thường trong vùng biển thuộc quyền tài phán của chúng tôi là hợp pháp. Không có chuyện tàu của chúng tôi đi vào vùng đặc quyền kinh tế của các quốc gia khác”.
Trả lời đề nghị bình luận về phát biểu của phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc hôm 6/6, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Phạm Thu Hằng hôm nay nhấn mạnh Việt Nam có đầy đủ cơ sở pháp lý và bằng chứng lịch sử để khẳng định chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường sa. “Quy chế pháp lý của quần đảo Trường Sa cũng như các thực thể của quần đảo này đã được xác định rõ theo Công ước Luật biển của Liên Hợp Quốc năm 1982”, bà Phạm Thu Hằng nói. Bà Hằng nhấn mạnh chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với các vùng biển của một quốc gia được xác lập phù hợp với Công ước Luật biển của LHQ năm 1982, cũng như các quyền và lợi ích hợp pháp của các nước ven biển, trong đó có Việt Nam, phải được tôn trọng. “Điều đó thể hiện tinh thần trách nhiệm, xây dựng và đóng góp thiết thực của các nước liên quan vào hòa bình, ổn định, hợp tác và thượng tôn pháp luật khu vực, trong đó có khu vực Biển Đông”, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam nói thêm.
Theo SCMP, tàu khảo sát Hướng Dương Hồng 10 được hộ tống bởi hai tàu hải cảnh và nhiều tàu cá Trung Quốc đầu tháng 5 hướng đến khu vực bãi Tư Chính nằm trong EEZ của Việt Nam.
Bộ Ngoại giao Việt Nam đã yêu cầu Trung Quốc rút nhóm tàu khỏi vùng biển Việt Nam. Ngày 5/6, nhóm tàu này đã rời vùng biển Việt Nam và hướng về đảo Hải Nam của Trung Quốc, Reuters dẫn lời Ray Powell, lãnh đạo Dự án Myoushu về Biển Đông của Đại học Stanford, Mỹ.
Lần gần nhất Trung Quốc đưa tàu hướng vào khu vực bãi Tư Chính là vào tháng 7/2019. Tàu nghiên cứu Hải dương Địa chất 8 hoạt động trong vùng biển này cùng ít nhất 4 tàu hải cảnh Trung Quốc trong hơn hai tháng.
Ngày 10/6, tại thủ đô Paris của Pháp đã diễn ra Hội thảo khoa học với chủ đề: “Biển Đông và vấn đề chủ quyền của Việt Nam” với sự tham dự của đông đảo học giả và những người yêu biển đảo Việt Nam.
Đại sứ Việt Nam tại Pháp Đinh Toàn Thắng phát biểu tại hội thảo.
Theo phóng viên TTXVN tại Paris, chia sẻ về ý nghĩa và mục đích tổ chức sự kiện, bà Cao Hồng Vinh, Trưởng Ban liên lạc người Việt tại châu Âu vì biển đảo Việt Nam cho biết: “Hội thảo lần này là dịp thu thập tài liệu, cập nhật, trao đổi những thông tin mới nhất về tình hình Biển Đông thời gian qua. Thông qua hội thảo, những anh chị em Việt kiều đã đi thăm Trường Sa và nhà giàn DK1, cũng như những người yêu biển đảo Việt Nam có cơ hội kết nối với nhau, cùng nhau tổ chức các hoạt động hướng về biển đảo Việt Nam. Chúng tôi mong muốn đây sẽ là hoạt động thường niên của Ban liên lạc người Việt tại châu Âu vì biển đảo Việt Nam”.
Phát biểu tại lễ khai mạc, Đại sứ Việt Nam tại Pháp Đinh Toàn Thắng đánh giá cao nỗ lực của các cá nhân và hội đoàn cùng đóng góp để tổ chức hội thảo. Đại sứ cho rằng đây là sự kiện có ý nghĩa rất lớn đối với kiều bào Việt Nam ở nước ngoài, đặc biệt là kiều bào tại châu Âu, thể hiện tình cảm và sự gắn bó của kiều bào với quê hương, đất nước, và cả với những chủ đề lớn của quốc gia, dân tộc.
Được tổ chức theo sáng kiến của Ban liên lạc người Việt tại châu Âu vì biển đảo Việt Nam, hội thảo đã nhận được 14 tham luận của các học giả, là các giáo sư, tiến sĩ, nhà nghiên cứu về châu Á, Biển Đông, các nhà kinh tế học, nhà giáo dục, từ các nước châu Âu (Ba Lan, Đức, Pháp, Italy, Séc, Ukraine), Canada và Việt Nam. Các tham luận đã đề cập nhiều góc nhìn về Biển Đông và vấn đề về chủ quyền biển đảo Việt Nam, xét trên các góc độ lịch sử, văn hóa, chính trị và pháp lý. Tình hình trên Biển Đông, những giải pháp để xử lý tranh chấp và những phương án phát triển kinh tế biển cũng được các diễn giả đề cập đến. Không chỉ lắng nghe những bài thuyết trình có giá trị khoa học, các đại biểu còn cùng nhau trao đổi, thảo luận những vấn đề đặt ra qua các bài tham luận.
Trao đổi với phóng viên TTXVN về góc nhìn của mình đối với vấn đề Biển Đông và các quần đảo Việt Nam, ông Patrice Jorland, Giáo sư Sử học, nguyên chủ tịch Hội hữu nghị Pháp – Việt cho biết, xét theo luật biển quốc tế, Việt Nam có một vùng đặc quyền kinh tế rộng lớn. Ông Jorland cho biết Việt Nam có chủ quyền ở Biển Đông. Liên quan đến chủ quyền Trường Sa và Hoàng Sa, ông cho biết những chứng cứ lịch sử cho thấy Việt Nam đã khẳng định chủ quyền ở hai quần đảo này, đặc biệt là Hoàng Sa, từ cuối thế kỷ 18, dưới triều nhà Nguyễn. Giáo sư người Pháp cũng cho rằng các bên liên quan cần phải tôn trọng luật quốc tế, và khối ASEAN, trong đó Việt Nam là một thành viên tích cực, cần củng cố khối đoàn kết, tăng cường nỗ lực ngoại giao và đàm phán, tránh dùng vũ lực để giải quyết các tranh chấp.
Các diễn giả trình bày tham luận tại Hội thảo khoa học với chủ đề: “Biển Đông và vấn đề chủ quyền của Việt Nam”, ngày 10/6 tại thủ đô Paris (Pháp).
Về phần mình, bà Malgorzata Pietrasiak, Giáo sư Đại học Lodz ở Ba Lan, chuyên gia nghiên cứu về Việt Nam, đánh giá cao phương pháp xử lý của Việt Nam về các vấn đề trên biển, mà bà gọi bằng thuật ngữ “Hedgingowa” (tạm dịch là “phòng ngừa rủi ro”). Theo bà, đây là chiến lược sáng suốt, mềm dẻo, hòa bình, không căng thẳng, nhưng cũng không nhượng bộ. Bà khẳng định: “Phương pháp này rất hiệu quả và mang lại điểm tốt cho ngoại giao Việt Nam trên chính trường quốc tế. Việt Nam cũng rất linh hoạt trong việc xử lý các vấn đề”.
Hiện đang có mặt tại thủ đô Paris, nhà văn khuyết tật Trần Thị Trà My dù đi lại và nói năng khó khăn, cũng cố gắng đến tham dự. Chị cho biết : “Lý do tham dự hội thảo vì tôi là người Việt Nam, tôi rất hay xem thời sự và thường xuyên tìm hiểu về Hoàng Sa và Trường Sa. Đến tham dự diễn đàn, tôi được biết thêm nhiều ý kiến khách quan về tình hình Việt Nam, được nghe nhiều bài chia sẻ hay của các giáo sư tiến sĩ ở Liên minh châu Âu, những người am hiểu vấn đề”.
Theo bà Bùi Thị Thu Minh, Việt kiều, Chủ tịch CLB Trường Sa tại Đức, ý tưởng tổ chức hội thảo là rất tuyệt vời vì nếu như theo truyền thống những người lớn tuổi như thế hệ bà thường chỉ tổ chức việc quyên góp tiền ủng hộ các chiến sĩ, nhưng các bạn trẻ đã có ý tưởng tốt là tổ chức hội thảo để có thể đạt được mục đích lớn hơn là kết nối, lan tỏa, hành động cùng Trường Sa. Bà nhấn mạnh: “Do đó, hoạt động như thế này sẽ giúp kết nối, đoàn kết tạo nên sức mạnh. Đó là điều tuyệt vời và mọi người nên ủng hộ để hằng năm có thể tổ chức những diễn đàn như thế này ở nhiều nơi, nhằm lan tỏa rộng hơn tới bạn bè quốc tế”.
Biển và chủ quyền biển đảo luôn là vấn đề được quan tâm không chỉ với Việt Nam mà với tất cả các nước có biên giới trên biển. Với 14 tham luận được trình bày, hội thảo góp phần mang đến cho công chúng những góc nhìn và các sáng kiến để cùng nhau xây dựng và phát triển trên cơ sở tôn trọng chủ quyền và lãnh thổ của nhau.
Sự cố suýt va chạm giữa tàu chiến Mỹ và Trung Quốc gần đây cho thấy xung đột có thể bùng phát nếu hai bên tính toán sai lầm.
Khu trục hạm mang tên lửa dẫn đường USS Chung-hoon hoạt động trên Thái Bình Dương vào năm 2018.
Hải quân Mỹ ngày 5/6 cáo buộc khu trục hạm mang tên lửa dẫn đường lớp Type-052D Trung Quốc có hành động chạy cắt mặt tàu khu trục Mỹ USS Chung-hoon ở khoảng cách gần khi chiến hạm này di chuyển qua eo biển Đài Loan hôm 3/6.
Video do Bộ tư lệnh Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương (INDOPACOM) công bố cho thấy tàu mang số hiệu 132 của Trung Quốc di chuyển từ bên trái và cắt ngang đường di chuyển của USS Chung-hoon ở khoảng cách 140 m, buộc chiến hạm Mỹ phải giảm tốc độ và chuyển hướng để tránh xảy ra va chạm trên biển.
Đây là lần đầu tiên tàu chiến Trung Quốc áp sát chiến hạm Mỹ ở khoảng cách gần như vậy trên eo biển Đài Loan. Thuyền trưởng Paul Mountford, chỉ huy tàu HMCS Montreal của Canada đi ngay phía sau tàu khu trục Mỹ, mô tả đây là hành động “không chuyên nghiệp”, còn hải quân Mỹ cho rằng đây là hành vi “cơ động mất an toàn” của tàu Trung Quốc.
Bộ Ngoại giao Trung Quốc tuyên bố hành động của tàu chiến nước này là “hoàn toàn hợp lý, hợp pháp và an toàn”, trong khi người phát ngôn Đại sứ quán Trung Quốc tại Canada khẳng định lực lượng nước này hoạt động “một cách hợp pháp và chuyên nghiệp” trong sự cố.
Tuy nhiên, giới chuyên gia cho rằng các quy định về an toàn hàng hải quốc tế không cho phép tàu thuyền có những hành động chuyển hướng ở khoảng cách gần như vậy, bởi nguy cơ va chạm, đe dọa an toàn hàng hải là rất lớn.
“Tàu hải quân không giống như ôtô, chúng không thể nhanh chóng dừng lại khi di chuyển trên biển. Đây là lý do mọi thủy thủ trên thế giới đều hiểu họ phải duy trì khoảng cách an toàn giữa các tàu”, Gregory Poling, giám đốc chương trình Sáng kiến Minh bạch Hàng hải châu Á (AMTI) và chương trình nghiên cứu Đông Nam Á, thuộc Trung tâm Chiến lược và Nghiên cứu Quốc tế (CSIS), nói với VnExpress.
INDOPACOM cho biết sau khi áp sát khu trục hạm Mỹ ở khoảng cách gần, tàu 132 Trung Quốc tiếp tục chạy cắt ngang hướng di chuyển của tàu USS Chung-hoon một lần nữa khi hai tàu cách nhau khoảng 1,8 km.
“Cách hành xử này thể hiện sự thiếu chuyên nghiệp nghiêm trọng và tiềm ẩn nhiều rủi ro”, chuyên gia Poling nhận định.
Theo ông, hướng di chuyển của tàu 132 cho thấy hải quân Trung Quốc dường như đang thi gan bằng cách tạo ra tình huống có nguy cơ va chạm cao với chiến hạm Mỹ. Poling lưu ý rằng đây không phải là lần duy nhất lực lượng thuộc Trung Quốc có những hoạt động tương tự trên biển lẫn trên không, nhắm vào cả tàu và máy bay của nhiều nước như Mỹ, Canada, Australia và Philippines.
Ngày 26/5, tiêm kích J-16 Trung Quốc áp sát và bay cắt mặt trinh sát cơ Mỹ RC-135 hoạt động trong không phận quốc tế trên Biển Đông ở khoảng cách hơn 120 m, gây nhiễu động không khí khiến phi cơ Mỹ rung lắc.
Hồi tháng 2/2022, Australia cũng cáo buộc tàu chiến Trung Quốc chiếu tia laser nhắm vào trinh sát cơ P-8A Poseidon khi nó đang tuần tra ở biển Arafura, phía tây Thái Bình Dương. Chiến hạm Trung Quốc liên quan sự việc cũng là một tàu thuộc lớp khu trục hạm mang tên lửa dẫn đường Type-052D, khi đó đang cùng một tàu khác của hải quân Trung Quốc di chuyển về phía đông qua biển Arafura, phía bắc Australia.
Jennifer Parker, chuyên gia quốc phòng thuộc Viện Chính sách Chiến lược Australia (ASPI), nhận định các sĩ quan chỉ huy quân đội Trung Quốc (PLA) trên thực địa gần đây dường như được “bật đèn xanh” để có những hành động quyết liệt hơn trong mỗi lần đối mặt tàu chiến hoặc máy bay quân sự nước ngoài ở các điểm nóng.
Những lần chạm mặt đó diễn ra trong bối cảnh cạnh tranh siêu cường giữa Mỹ và Trung Quốc trở nên quyết liệt hơn, khiến quan hệ song phương trên các lĩnh vực, trong đó có quân sự, trở nên căng thẳng hơn.
Bà bày tỏ lo ngại chiến thuật này có thể dẫn tới “cách hành xử ngày càng quyết đoán hơn nữa ở cấp đơn vị cơ sở” trong những tình huống chạm mặt lực lượng nước ngoài ở khu vực rủi ro cao.
“Đây có thể là một phần trong chiến lược của Bắc Kinh nhằm thúc đẩy tuyên bố chủ quyền của họ trên các vùng biển, đồng thời tăng áp lực với các bên liên quan”, Poling đánh giá. “Nếu tình trạng này tiếp diễn, những tính toán sai lầm có thể khiến va chạm xảy ra, kéo theo nguy cơ bùng nổ xung đột vũ trang”.
Hoàng Việt, chuyên gia Biển Đông và các vấn đề an ninh trên biển, giảng viên Trường Đại học Luật TP HCM, nhận định Trung Quốc luôn xem các hoạt động tự do hàng hải của máy bay và tàu quân sự Mỹ qua eo biển Đài Loan là hành động “khiêu khích”.
Trung Quốc coi Đài Loan là một tỉnh chờ thống nhất và tuyên bố sẵn sàng sử dụng vũ lực nếu cần. Mỹ cam kết tôn trọng nguyên tắc “Một Trung Quốc”, nhưng tiếp tục duy trì quan hệ với Đài Loan, đồng thời thường xuyên điều tàu chiến và máy bay quân sự đi qua eo biển để thực thi quyền “đi qua vô hại” qua vùng biển quốc tế.
Trung Quốc từ lâu cho rằng eo biển Đài Loan không phải “vùng biển quốc tế” mà là một phần vùng đặc quyền kinh tế của họ, nên phương tiện quân sự nước ngoài không được phép hoạt động ở khu vực. Bắc Kinh nhiều lần phản đối Washington điều máy bay, tàu chiến đi qua eo biển, nhưng trước đây chưa từng có biện pháp ngăn cản quyết liệt như vụ chạm mặt ngày 3/6.
Lầu Năm Góc tuyên bố mọi hoạt động của họ ở eo biển Đài Loan đều tuân thủ luật pháp quốc tế, bất chấp thông điệp “không chào đón” từ Trung Quốc. Việc hai bên thể hiện thái độ không nhượng bộ và ngày càng quyết liệt đã đẩy rủi ro tăng cao trong từng lần chạm mặt tại khu vực, theo chuyên gia Hoàng Việt.
Theo ông, trong sự cố ngày 3/6, nếu hạm trưởng tàu chiến Mỹ không quyết định giảm tốc độ và chuyển hướng mà giữ nguyên lộ trình, va chạm chắc chắn sẽ xảy ra, kéo theo đó là nguy cơ xung đột quân sự bùng nổ giữa hai nước. “Cả Mỹ và Trung Quốc đều là cường quốc hạt nhân, nên viễn cảnh xung đột nóng giữa hải quân hai nước sẽ dẫn đến thảm họa”, ông nói.
Derek Grossman, chuyên viên phân tích quốc phòng cấp cao tại RAND, tổ chức tư vấn chính sách an ninh của Mỹ, cũng cho rằng nguy cơ va chạm vì sự cố ngoài ý muốn sẽ ngày càng lớn nếu những sự việc tương tự tái diễn. “Đây là kịch bản có khả năng cao nhất sẽ đẩy Mỹ và Trung Quốc vào xung đột”, ông nhấn mạnh.
Triệu Thông, chuyên gia chính trị quốc tế thuộc Trường Vấn đề Công và Quốc tế của Đại học Princeton tại Mỹ, cho rằng giới lãnh đạo Trung Quốc nhận định Mỹ đang theo đuổi vị thế “bá chủ quân sự” tại khu vực và là bên khiêu khích trước, nên sẽ không có những động thái kiềm chế hoạt động của lực lượng tại thực địa.
“Lập luận của Trung Quốc là họ chỉ có thể giảm nguy cơ bằng cách tăng cường độ hoạt động quân sự, đối phó những hành vi mà họ cho là hung hăng của Mỹ, buộc Washington cảm nhận được mức độ rủi ro trong các vụ chạm trán và tự tìm phương án tránh xung đột”, ông Triệu đánh giá về chiến thuật của Trung Quốc.
Chuyên gia Hoàng Việt cho rằng nguy cơ tính toán sai lầm càng cao hơn khi Mỹ – Trung gần đây đổ lỗi cho nhau về việc không duy trì các kênh liên lạc quân sự. Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Lloyd Austin trong Đối thoại Shangri-La hôm 3/6 bày tỏ “quan ngại sâu sắc” khi Trung Quốc không sẵn sàng tham gia nghiêm túc hơn vào các cơ chế xử lý khủng hoảng tốt hơn giữa quân đội hai nước.
“Càng trao đổi nhiều, càng tránh được hiểu lầm và tính toán sai lầm có thể dẫn đến khủng hoảng hoặc xung đột”, ông Austin nói.
Đáp lại, trung tướng Cảnh Kiến Phong, phó tham mưu trưởng Bộ Tham mưu liên hợp Quân ủy Trung ương Trung Quốc, cáo buộc Mỹ tìm cách “kích động đối đầu theo khối bằng cách rao giảng chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương” và tuyên bố quân đội Trung Quốc đã “chuẩn bị đầy đủ” cho mục tiêu “thống nhất” với đảo Đài Loan.
“Rủi ro lớn nhất chính là các vụ chạm mặt trên biển hay trên không có nguy cơ châm ngòi xung đột quân sự giữa hai cường quốc. Chỉ cần sĩ quan cấp cơ sở của một bên có hành động bột phát, thiếu kiềm chế, va chạm có thể xảy ra với tác động không thể lường trước”, chuyên gia Hoàng Việt cảnh báo.
Tàu nghiên cứu Trung Quốc và các tàu hộ tống, hoạt động gần một tháng trong vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Việt Nam ở Biển Đông, đã rời vùng biển đó vào tối 5/6, ngay sau cuộc đàm phán cấp cao giữa Mỹ và Trung Quốc.
Tàu Hướng Dương Hồng 10 của Trung Quốc bắt đầu đi vào vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam vào ngày 7/5, đôi khi có tới hàng chục tàu hộ tống và thường xuyên đi qua các mỏ dầu khí do các công ty Nga điều hành, theo dữ liệu theo dõi tàu thuyền cho biết.
Hôm 5/6, sau khi các quan chức cấp cao của Hoa Kỳ và Trung Quốc có cuộc hội đàm ở Bắc Kinh mà cả hai bên đều gọi là mang tính xây dựng, tàu Trung Quốc và hơn nửa tá tàu hộ tống bắt đầu hành trình quay trở lại đảo Hải Nam của Trung Quốc, rời vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam vào khoảng nửa đêm.
Khi được hỏi về hoạt động của các con tàu, Bộ Ngoại giao Trung Quốc không bình luận về việc quay trở lại Hải Nam.
Theo luật quốc tế, các tàu được phép đi qua các vùng đặc quyền kinh tế của nước ngoài, nhưng các hoạt động khảo sát trái phép không được phép. Các hoạt động của Trung Quốc ở Biển Đông từ lâu đã trở thành vấn đề đối với các nước trong khu vực, vì Bắc Kinh tuyên bố chủ quyền đối với hầu hết vùng biển giàu năng lượng, bao gồm cả vùng biển thuộc vùng đặc quyền kinh tế các nước khác.
Trong một cuộc phản đối công khai, chính phủ Việt Nam vào ngày 25/5 đã yêu cầu tàu nghiên cứu Trung Quốc và tàu hộ tống rời khỏi vùng đặc quyền kinh tế của nước này, ngày sau chuyến thăm Hà Nội của quan chức cấp cao Nga Dmitry Medvedev.
Ray Powell, người đứng đầu Dự án Myoushu của Đại học Stanford trên Biển Đông, cho biết vào lúc 03:00 GMT ngày 6/6, tàu nghiên cứu của Trung Quốc được nhìn thấy đang tiến đến Hải Nam.
Ông Powell cho biết thêm, các tàu kiểm ngư của Việt Nam đã quay trở lại sau khi tàu Trung Quốc và tàu hộ tống rời vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam vào khoảng nửa đêm theo giờ Việt Nam.
Nhà nghiên cứu tại Việt Nam Van Pham, người đứng đầu tổ chức phi lợi nhuận độc lập Sáng kiến Biên niên sử Biển Đông (SCSCI), xác nhận các tàu đã rời vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam nhưng cảnh báo rằng Hải Nam không phải là cảng nhà của tàu nghiên cứu và sau khi tạm nghỉ ở đó, nó có thể tiếp tục hoạt động ở Biển Đông.
Ngay sau khi kết thúc Đại hội Đảng 20 của Trung Quốc, TBT Nguyễn Phú Trọng đã sang thăm Bắc Kinh (1/11/2022). Tuyên bố Chung hai nước khẳng định sẽ “xử lý thỏa đáng các vấn đề trên biển… kiểm soát tốt các bất đồng trên biển…không hành động làm phức tạp thêm tình hình và mở rộng tranh chấp”. Nhiều người hy vọng ngoại giao cây tre mềm dẻo của Hà Nội sẽ làm cho quan hệ Việt-Trung ổn định, để có thể nâng cấp quan hệ với Mỹ.
Nhưng Trung Quốc không từ bỏ tham vọng ở Biển Đông. Từ ngày 7/5, họ đã cho tàu khảo sát Hướng Dương Hồng 10 với nhiều tàu hộ tống tiến sâu vào vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam gần bãi Tư Chính, gây ra khủng hoảng mới tại Biển Đông. Trung Quốc muốn lợi dụng khoảng trống quyền lực để triển khai “âm mưu mới”, bất chấp Công Ước LHQ về Luật Biển (UNCLOS 1982) và phán quyết của Tòa Trọng tài Thường trực (PCA 2016).
Bối cảnh mới
Năm 2014, Trung Quốc đã điều dàn khoan HD-981và hàng trăm tàu hộ tống vào vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Việt Nam, tạo ra cuộc khủng hoảng và bước ngoặt tại Biển Đông. Sau đó họ đã ráo riết bồi đắp và quân sự hóa các vị trí đã chiếm ở Hoàng Sa và Trường Sa nhằm biến đường chín đoạn thành “chuyện đã rồi”. Để làm rõ tham vọng của Trung Quốc, tôi đã có bài Trung Quốc có thể làm gì tại Biển Đông (Viet-studies, 29/2/2016).
Năm 2019, Trung Quốc lại điều tàu thăm dò dầu khí HD-8 vào vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam gần bãi Tư Chính để gây sức ép buộc Việt Nam và Repsol (Tây Ban Nha) phải bỏ dở dự án dầu khí tại lô 07-03 (Cá Rồng Đỏ), làm Việt Nam thiệt hại hàng tỷ đô-la. Họ còn quấy rối để gây sức ép với Việt Nam và Rosneft (Nga) tại mỏ Lan Tây và Lan Đỏ. Trước tình thế mới, tôi đã có bài Việt Nam có thể làm gì tại Biển Đông (NCQT, 22/7/2019).
Những gì diễn ra tại khu vực bãi Tư Chính (7/2019) là sự tiếp nối những gì đã xảy ra trước đó (7/2017 và 3/2018) tại lô 136-03 (Cá Kiếm Nâu) và lô 07-03 (Cá Rồng Đỏ), như “khúc dạo đầu” cho tham vọng của Trung Quốc tại Biển Đông. Nói cách khác, đây là “ván cờ vây” kéo dài trong chiến lược “vùng xám” mà Trung Quốc giành thế thượng phong ở Biển Đông, trong khi Việt Nam cô đơn bị Trung Quốc bắt nạt, phải nhịn để “giữ đại cục”.
Trung Quốc là một nước lớn nên đã tự coi mình là “thiên triều”, có quyền bắt nạt các nước láng giềng nhỏ yếu hơn như “chư hầu”. Nước nào dám chống lại luật chơi do họ áp đặt sẽ bị họ “dạy một bài học”. Việt Nam đã bị Trung Quốc “dạy một bài học” năm 1979. Năm 2014, khi Trung Quốc tạo ra bước ngoặt tại Biển Đông, họ đã xô đẩy Việt Nam xích lại gần với Mỹ. Nay điều đó đang lặp lại.
Để dạy các nước khác một bài học, Bắc Kinh đã áp đặt các biện pháp trừng phạt thương mại các nước nào không theo họ, bằng cách “vũ khí hóa các vấn đề kinh tế”. Ví dụ, họ đã trừng phạt Úc (vì đòi điều tra nguồn gốc của Covid-19), Hàn Quốc (vì lắp đặt hệ thống phòng thủ tên lửa của Mỹ), Lithuania (vì cho phép Đài Loan lập đại sứ quán). Các biện pháp trừng phạt làm cho các nước đó gặp khó khăn, nhưng cũng làm Trung Quốc thiệt hại.
Biển Đông đã nhiều lần nổi sóng do Trung Quốc bắt nạt các nước láng giềng, với ý đồ biến nó thành cái ao của họ. Tuy thỉnh thoảng Biển Đông có khoảng lặng nhưng chỉ tạm thời vì Trung Quốc không từ bỏ tham vọng. Nay Trung Quốc âm mưu tiến thêm một bước nữa nhằm khẳng định chủ quyền của họ ở Biển Đông, bất chấp Công ước UNCLOS 1982 và phán quyết của Tòa Trọng tài Thường trực năm 2016.
Sau gần một thập kỷ, Trung Quốc đã phát triển về kinh tế và quân sự, tích lũy được nhiều nguồn lực. Nay Trung Quốc có tham vọng và nguồn lực để mở rộng phạm vi ảnh hưởng, không chỉ ở Biển Đông, Biển Hoa Đông và eo biển Đài Loan, mà còn vươn tới Nam Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Nay chiến tranh Ukraine đã làm đảo lộn trật tự thế giới và đang tạo ra các khoảng trống quyền lực để Trung Quốc lợi dụng “đục nước béo cò”.
Đây là thời điểm Trung Quốc muốn tranh thủ leo thang trong “vùng xám” mà họ ở thế thượng phong, đẩy mạnh “tam chủng chiến pháp” mà họ có lợi thế ở khu vực. Trung Quốc lợi dụng cơ hội định gạt Nga khỏi các dự án dầu khí ở Biển Đông vì Nga đang phụ thuộc nhiều vào Trung Quốc do vấn đề Ukraine. Trung Quốc gây sức ép với Việt Nam ở phía đông và phía Tây khi Hà Nội chưa kịp nâng cấp quan hệ với Mỹ lên đối tác chiến lược.
Phạm vi mới
Theo chuyên gia Raymond Powell (Stanford University) động thái mới của Trung Quốc tại Biển Đông và bán đảo Đông Dương đã tạo ra một thế trận mới bao vây Việt Nam, cả phía Đông và phía Tây. Trung Quốc đã xây dựng căn cứ Hải quân Ream ở Campuchia, đã tập trận chung với Campuchia (3/2023) và với Lào (5/2023). Đồng thời, họ cho nhóm tàu khảo sát XYH-10 vào sâu hơn trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam (5/2023).
Căn cứ Hải quân Ream và Sân bay Dara Sakor cách Phú Quốc 20 hải lý. Đó là những điểm triển khai tác chiến tiềm năng cho lực lượng hải quân và không quân Trung Quốc. Campuchia cho Trung Quốc mở rộng quyền tiếp cận các căn cứ này. Mục đích chính của Trung Quốc trong việc xây dựng các căn cứ ở Biển Đông là phô diễn sức mạnh để kiểm soát không gian biển qua cách sử dụng lực lượng hải quân, cảnh sát biển và dân quân biển.
Những gì Trung Quốc đang làm ở căn cứ hải quân Ream chỉ là một phần của chiến thuật “vùng xám”, theo đó họ xúc tiến dần từng bước như “tằm ăn dâu”. Vì vậy, cần xem xét lệnh cấm đánh cá trên Biển Đông trong tổng thể chiến thuật “vùng xám” của Trung Quốc. Bên cạnh đó, Trung Quốc tiếp tục triển khai “tam chủng chiến pháp” (gồm chiến tranh pháp lý, chiến tranh dư luận và chiến tranh tâm lý), để đơn phương áp đặt luật chơi của họ.
Sau khi chiếm thế thượng phong ở Biển Đông, Trung Quốc mở rộng ảnh hưởng ở Nam Thái Bình Dương. Có mấy lý do chính. Một là các đảo quốc này rất nhạy cảm về địa chiến lược đối với Mỹ và Úc. Hai là các đảo ở Nam Thái Bình Dương có mối liên quan chặt chẽ với Biển Đông và Biển Hoa Đông, trong chiến lược phòng thủ bằng chuỗi đảo của Trung Quốc. Ba là các đảo này còn có ý nghĩa quan trọng về ngoại giao đối với Đài Loan.
Trung Quốc mở rộng ảnh hưởng ở Nam Thái Bình Dương sẽ buộc Mỹ, Úc, Nhật Bản và Ấn Độ phải đáp trả. Trong khi Trung Quốc mở 8 đại sứ quán và lãnh sự quán ở các đảo Nam Thái Bình Dương thì Mỹ mở 9 đại sứ quán và lãnh sự quán ở Micronesia, Marshal, Kiribati, Samoa, Palau, Papua New Guinea, Solomon, Fiji, và Tonga. Sau Cấp cao G7 tại Hiroshima là Cấp cao QUAD tại Sydney (24/5) tập trung vào vấn đề Nam Thái Bình Dương.
Theo TS Nguyễn Khắc Giang (ISEAS), các đảo Nam Thái Bình Dương quan trọng đối với Úc cũng như các đảo Hoàng Sa và Trường Sa ở Biển Đông quan trọng đối với Việt Nam, vì án ngữ sân sau của họ. Úc phải tăng cường phòng thủ, trong đó có dự án tàu ngầm hạt nhân AUKUS. Tuy khó đảo ngược được thế thượng phong của Trung Quốc ở Biển Đông, nhưng có thể đảo ngược ảnh hưởng của Trung Quốc ở Nam Thái Bình Dương.
Hành động của Trung Quốc tại ba vùng biển nói trên đều có những nét tương đồng. Một là họ coi thường luật pháp quốc tế khi đưa ra các yêu sách đối với lãnh thổ. Hai là họ lợi dụng triệt để thời điểm khu vực có “khoảng trống quyền lực”. Ba là họ kết hợp chặt chẽ mục tiêu mở rộng lãnh thổ với lá bài kinh tế như “Sáng kiến Vành đai và Con đường” với bẫy nợ do các dự án xây dựng hạ tầng và “ngoại giao vắc-xin” để đối phó với đại dịch.
Theo các chuyên gia quốc tế, những hành động của Trung Quốc ở Nam Thái Bình Dương liên quan chặt chẽ tới Biển Đông, vì cả hai đều nằm trong “chiến lược chuỗi đảo” của Trung Quốc. Hoạt động bành trướng lãnh thổ của Trung Quốc ở Biển Đông, vùng biển Nam Thái Bình Dương, biên giới Trung-Ấn và khu vực Ấn Độ Dương có nhiều điểm tương đồng với những gì nước này đã làm ở vùng biển xung quanh Nhật Bản và Đài Loan.
Lãnh đạo các nước G7 đã gửi một thông điệp mạnh mẽ tới Nga và Trung Quốc bằng cách mời Tổng thống Ukraine Zelensky tới Hiroshima bên lề Cấp cao G7. Thủ tướng Nhật đã mời thủ tướng Phạm Minh Chính đến dự G7 mở rộng. Thủ tướng Anh Rishi Sunak nói rõ tại G7: “Trung Quốc là thách thức lớn nhất trong thời đại của chúng ta”, đối với an ninh và thịnh vượng toàn cầu. Trung Quốc “ngày càng độc đoán ở trong và ngoài nước”.
Cấp cao G7 tại Hiroshima đặc biệt quan tâm đến Nam Thái Bình Dương, coi động thái Trung Quốc xâm nhập Nam Thái Bình Dương nằm trong tổng thể chiến lược bành trướng trên biển và đất liền của họ. Ngay sau G7, Tổng thống Biden có kế hoạch thăm các đảo quốc ở Nam Thái Bình Dương để đối phó với tham vọng của Trung Quốc, nhưng vào phút chót ông phải hủy chuyến thăm để về giải quyết vấn đề trần nợ công với Quốc hội.
Bàn cờ mới
Theo Reuters, Tổng thống Marcos Jr. đã đi thăm Mỹ (1-4/5/2023). Đây là chuyến thăm cấp nhà nước đầu tiên của Tổng thống Philippines trong 10 năm qua, để “cập nhật lợi ích quốc gia trong bình diện địa chính trị mới tại khu vực”. Hai bên đã ký một thỏa thuận mới có tên “Hướng dẫn phòng thủ song phương” (ngày 3/5) khẳng định cam kết phòng thủ chung trong trường hợp một trong hai bên bị tấn công “bất kỳ ở đâu trên Biển Đông”.
Một số nhà phân tích đã lập luận rằng Philippines và Mỹ sẽ lợi hơn với “một hiệp ước phòng thủ chung ít mơ hồ hơn”. Kể từ khi ký “Hiệp ước phòng thủ chung” (MDT) vào năm 1951, đây là lần đầu tiên có các hướng dẫn mới tiếp theo hàng loạt phản đối về ngoại giao của Manila trong năm qua về những gì mà Philippines gọi là “các hành động và mối đe dọa hung hăng của Trung Quốc” đối với lực lượng bảo vệ bờ biển của Philippines.
Cùng với MDT, “Thỏa thuận các lực lượng thăm viếng” (VFA) ký năm 1998 và “Thỏa thuận hợp tác quốc phòng tăng cường” (EDCA) ký năm 2014, đã tạo ra một khuôn khổ pháp lý vững chắc để Philippines từ đó sẵn sàng đối phó với các mối đe dọa có thể phát sinh trong một số lĩnh vực bao gồm đất liền, trên biển, trên không, vũ trụ và không gian mạng, ở dạng “chiến tranh bất đối xứng”, và bất thường của chiến thuật “vùng xám”.
Các nhà quan sát đã dự đoán rằng ông Marcos Jr. trúng cử sẽ có các bước đi có ý nghĩa chiến lược nhằm đưa quan hệ với Mỹ trở lại nồng ấm như trước, trong bối cảnh Mỹ đang triển khai chiến lược Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương tự do và rộng mở (FOIP). Ông cho rằng đến lúc Manila phải ưu tiên quan hệ với Mỹ để đối phó với những thách thức mới và triển khai “Thỏa thuận hợp tác quốc phòng tăng cường” (EDCA) ký đầu năm.
Sau những năm cầm quyền không bình thường của Tổng thống Duterte, với chủ trương xích lại gần Trung Quốc vì lý do kinh tế và do bất hòa với Mỹ, đã đến lúc Manila phải “quay xe” trở lại với Mỹ là đồng minh truyền thống. Điều đó không chỉ vì lợi ích an ninh của Philippines hay của Mỹ, mà còn do thái độ ngạo mạn và chủ quan của Bắc Kinh đối với các nước khu vực ven Biển Đông như Philippines, Malaysia, Indonesia, và Việt Nam.
Tuy Trung Quốc có cơ hội lôi kéo một số nước khu vực (Philippines, Thailand, Campuchia và Lào) theo mình vì nhu cầu phát triển kinh tế của họ, với bẫy nợ trong chính sách “vành đai con đường” (BRI), và do một số sai lầm của Mỹ đối với đồng minh và đối tác khu vực dưới thời Chính quyền Trump, nhưng cơ hội đó chỉ là nhất thời vì một khi Mỹ điều chỉnh chính sách và các nước đó thay đổi chính phủ thì chính phủ mới sẽ xoay trục.
Theo báo Sydney Morning Herald (4/5/2023), “dữ liệu lớn” là tài sản kinh tế lớn nhất ở Biển Đông. Tương lai của toàn bộ Internet phụ thuộc vào việc bên nào thắng trong cuộc chiến thống trị tuyến đường thủy chiến lược này. Đến năm 2030, kinh tế internet của Đông Nam Á sẽ có giá trị US$1000 tỷ. Ai kiểm soát được hạ tầng cáp ngầm của Châu Á-Thái Bình Dương sẽ thống trị nền kinh tế đang bùng nổ này và kiểm soát internet toàn cầu”.
Nói cách khác, các luồng dữ liệu trên Internet sẽ có giá trị hơn dầu mỏ vì chứa dữ liệu giao dịch kinh doanh và bí mật quân sự. Cơ sở hạ tầng cáp ngầm của thế giới ngày càng dễ bị tổn thương không chỉ do sự phá hoại mà còn bởi hoạt động gián điệp, có thể dễ dàng thâm nhập các tuyến cáp trên lãnh thổ của họ. Đó là lý do tại sao cạnh tranh địa chính trị Mỹ-Trung ngày càng tập trung vào việc kiểm soát các mạng cáp ngầm trên toàn thế giới.
Theo TeleGeography (ở Washington DC), hơn 486 tuyến cáp quang biển chứa hơn 99% lưu lượng truy cập internet toàn cầu, phần lớn được kiểm soát bởi các hãng công nghệ khổng lồ của Mỹ như Alphabet, chủ sở hữu của Google, Meta, Amazon, Microsoft, và Facebook. Trung Quốc cũng đang có kế hoạch xây dựng một mạng cáp internet dưới biển trị giá US$500 triệu để tạo ra kết nối tốc độ nhanh nối Châu Á với Trung Đông và Châu Âu.
Mỹ đã cản trở một số dự án cáp ngầm dưới biển của Trung Quốc vì lo ngại về khả năng giám sát của Bắc Kinh. Sáu thỏa thuận về cáp biển của Google, Meta và Amazon nhằm kết nối Mỹ với Hồng Kông đã bị Mỹ cản để chặn HMN Tech (một công ty con của Hoa Vi). Để tránh kiểm soát của Trung Quốc, Facebook và Google xây dựng Apricot là tuyến cáp ngầm xuyên biển mới dài 12.000 km không qua Hồng Kông, kết nối với các nước khu vực.
Apricot loại Malaysia vì cạnh tranh Mỹ-Trung để thống trị internet toàn cầu. Năm 2022, Malaysia tham gia hệ thống cáp cao tốc Hải Nam-Hồng Kông (SEA-H2X) dài 5000 km được Trung Quốc hỗ trợ, kết nối Trung Quốc, Hồng Kông, Philippines, Thái Lan, Malaysia, và Singapore. Nếu Malaysia bị Trung Quốc thao túng thì ASEAN sẽ bị hiệu ứng domino. Nay dưới thời Anwar Ibrahim, Mỹ có cơ hội hàn gắn quan hệ với Malaysia.
Động thái mới
Theo báo Tuổi trẻ, lần này Trung Quốc có hai mục tiêu chiến lược chính tại Biển Đông: Một là Trung Quốc chủ động quấy rối các hoạt động mở rộng khai thác các lô dầu khí có trữ lượng lớn của nhóm A5 (Indonesia, Malaysia, Brunei, Philippines, Việt Nam) ở khu vực chồng lấn giữa EEZ của các nước A5 với “đường 9 đoạn” của Trung Quốc. Hai là Trung Quốc đang “giương đông kích tây” để củng cố các lập luận pháp lý mà họ có lợi thế.
Trong khi tàu khảo sát Hướng Dương Hồng 10 (XYH-10) khiêu khích ở bãi Tư Chính, Trung Quốc giảm áp lực thả phao đèn hiệu ở cụm Sinh Tồn. Hai sự kiện đó nhằm làm dư luận ít chú ý đến động thái Cục Quản lý Di sản Văn hóa quốc gia Trung Quốc công bố tiến độ khảo sát hai xác tàu đắm ở khu vực phía tây bắc của Biển Đông. Có thể nói, đây là giai đoạn có nhiều động thái quyết đoán và đồng bộ của Trung Quốc trên Biển Đông.
Các động thái đó diễn ra khi các phiên tòa phân định biển trong tương lai có xu hướng ưu tiên cho quốc gia nào có khả năng chấp pháp thực tế ở khu vực tranh chấp theo nguyên tắc “chiếm hữu thực sự”. Trong bối cảnh đàm phán về Bộ quy tắc ứng xử (COC) đang đến giai đoạn cuối, các bước leo thang trong phạm vi “vùng xám” chứng tỏ Trung Quốc sẽ không từ bỏ ý đồ độc chiếm Biển Đông.
Theo Nghiên cứu Biển Đông (30/5/2023) từ đầu năm 2023 tới nay, Trung Quốc đã triển khai nhiều đợt tác nghiệp của tàu định danh nghiên cứu khảo sát tại vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, như tàu HD-4 vào đầu tháng 3/2023. Nhưng điều đáng nói là tàu XYH-10 đã tiến sâu hơn vào sát bờ biển Việt Nam và ngang nhiên tiến hành các hoạt động mà Trung Quốc cho là “bình thường”, nhằm khẳng định “đường chín đoạn” phi pháp của họ.
Theo Reuters (8/5/2023), Trung Quốc đã cho tàu nghiên cứu XYH-10 cùng một loạt tàu hộ tống bao gồm tàu cảnh sát biển, tàu dân binh biển và một số tàu không rõ định danh di chuyển tới vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Reuters cho rằng động thái này liên quan đến cuộc tập trận trên biển AIME 2023, của ASEAN và Ấn Độ (từ 8/5/2023), với sự tham gia của hải quân Ấn Độ, Việt Nam, Thái Lan, Philippines, Indonesia và Brunei.
Theo nguồn mở Marine Traffic/Sea Vision, tàu XYH-10 cùng các loại tàu hộ tống đến hết tháng 5/2023 vẫn chưa chịu rời đi và đang tạo ra cục diện rất phức tạp ở Biển Đông. Ngày 8/5, tàu XYH-10 xuất hiện ở vị trí cách đường cơ sở của Việt Nam khoảng 182 hải lý; đến ngày 13/5, tàu này tiến rất sâu vào khu vực chỉ cách đường cơ sở của Việt Nam khoảng 47 hải lý; đến ngày 18/5 tàu này cách đường cơ sở của Việt Nam khoảng 82 hải lý.
Đáng chú ý là để hộ tống XYH-10 có số lượng lớn các tàu cảnh sát biển, tàu cá dân binh và một số tàu không định danh mang cờ Trung Quốc. Sơ đồ di chuyển của các tàu đó cho thấy sự hộ tống, bám sát, bảo vệ cho XYH-10 trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam đã tạo ra cục diện mới phức tạp ở Biển Đông. Vị trí hoạt động và mức độ nghiêm trọng của XYH-10 là một bước leo thang “trước giờ chưa từng thấy” của Trung Quốc.
Thứ nhất, lần này vị trí hoạt động của nhóm tàu Trung Quốc đánh dấu một mốc mới khi họ tiến vào rất sâu với lộ trình hoạt động sát các lô 04-03 và lô 05-1-B&C, chỉ cách giàn khoan chính Thiên Ưng và Sao Vàng-Đại Nguyệt khoảng 10-20 hải lý. Trước đây, tàu Trung Quốc chỉ xuất hiện cách các dàn khoan của Việt Nam khoảng 50-60 hải lý.
Thứ hai, lần này số lượng tàu Trung Quốc đông một cách “bất thường” khi hộ tống XYH-10 tiến hành khảo sát trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Tàu Trung Quốc gồm các tàu hải cảnh, tàu cá dân binh và những tàu không định danh. Từ đầu 2023, khoảng 30-40 tàu cá dân binh Trung Quốc đã xuât hiện dài ngày dọc bờ biển miền Trung.
Thứ ba, về mức độ nghiêm trọng, năm 2014 Trung Quốc đã hạ đặt giàn khoan HD-981 cách đảo Tri Tôn thuộc quần đảo Hoàng Sa 17 hải lý, cách đảo Lý Sơn 120 hải lý. Tháng 8/2019, Trung Quốc đã tiến thêm một bước xuống phía Nam, cử tàu khảo sát HD-8 vào hoạt động trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, cách bãi Tư Chính 50-60 hải lý.
Lần này, Trung Quốc đã cho tàu XHY-10 tiến vào sâu hơn trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, thách thức trực tiếp các mỏ dầu khí có trữ lượng lớn thuộc địa bàn khai thác truyền thống của Việt Nam. PetroVietnam đã bắt đầu triển khai công tác nghiên cứu, thăm dò tại khu vực mỏ dầu khí Thiên Ưng ngay từ thập niên 1970.
Ngày 26/5, tại cuộc họp báo thường kỳ, người phát ngôn BNG Trung Quốc nói rằng, “các tàu liên quan của Trung Quốc không hề đi vào vùng biển hoặc vùng đặc quyền kinh tế của nước khác”. Theo dữ liệu từ các nguồn mở Marine Traffic/Sea Vision, phạm vi hoạt động của tàu XYH-10 đã liên tục diễn ra trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Rõ ràng Trung Quốc đã vi phạm nghiêm trọng Công ước UNCLOS 1982.
Báo chí Trung Quốc cũng đã thừa nhận số lượng lớn các tàu Trung Quốc đang hiện diện ở phía Nam Biển Đông, với số lượng tàu Trung Quốc gấp 10 lần so với tàu Việt Nam. Đây không phải là lần đầu tiên vì từ tháng 3/2023, tàu Trung Quốc đã xuất hiện trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam và đối đầu ở khu vực bãi Tư Chính. Âm mưu của Trung Quốc lần này là nhằm “xóa bỏ hoàn toàn vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam”.
Âm mưu mới
Tàu XYH-10 của Trung Quốc là loại tàu đa năng, vừa có thể khảo sát, vừa có thể nghiên cứu khoa học, vừa có thể phá băng. Đây là loại tàu có khả năng đâm và va đập mạnh nhưng không bị tổn hại. Với đặc điểm “đa chức năng” đó, tàu XYH-10 có tính chất nguy hiểm hơn bởi dễ dàng che giấu mục đích thực sự của Trung Quốc ở Biển Đông. Vì vậy, trong bối cảnh hiện nay có thể lý giải hoạt động của tàu XYH-10 dưới một số góc độ sau:
Thứ nhất, về kinh tế, tàu XYH-10 có thể hoạt động thăm dò trong quá trình triển khai “chiến lược cường quốc biển”. Động thái này được đặt trong bối cảnh tăng cường phát triển “kinh tế biển” lần đầu tiên được đưa vào văn kiện báo cáo Đại hội 20 Đảng Cộng sản Trung Quốc (10/2022). Theo đó, Trung Quốc trong nhiệm kỳ thứ ba của Tập Cận Bình đang nỗ lực khai thác và phát triển kinh tế biển, trong đó “dầu khí là khâu đột phá”.
Thứ hai, về chính trị-ngoại giao, hoạt động của XYH-10 nhằm gửi thông điệp mang tính “răn đe” đến các bên yêu sách trên Biển Đông. XYH-10 được triển khai trong bối cảnh Ấn Độ, Việt Nam, Thái Lan, Philippines, Indonesia và Brunei đang tiến hành tập trận chung trên Biển Đông lần đầu tiên năm 2023. Theo đó, Trung Quốc gắn hoạt động của XYH-10 lần này với động thái hợp tác giữa ASEAN và Ấn Độ là một thành viên của Bộ Tứ.
Một số đánh giá khác từ Trung Quốc đã gắn vụ XYH-10 với khả năng tăng cường hợp tác Mỹ-Việt trong thời gian tới, sau chuyến thăm của Ngoại trưởng Blinken đến Việt Nam (4/2023). Đồng thời, Mỹ cũng tăng cường hợp tác với Philippines để mở thêm 4 căn cứ quân sự cho Mỹ, nhằm răn đe trực tiếp Trung Quốc. Trong bối cảnh địa chính trị thay đổi, việc Trung Quốc làm căng lên tại khu vực Biển Đông là điều “có thể lý giải được”.
Thứ ba, Trung Quốc có thể muốn biến việc tăng cường hiện diện, khảo sát, tuần tra thành “bình thường mới” để kiểm soát Biển Đông. Ngày 1/4/2023, Uỷ ban Khoa học Tự nhiên Quốc gia Trung Quốc công bố bản đồ 33 đường khảo sát khoa học biển của tàu nghiên cứu khoa học biển ở vùng biển xa và vùng biển gần. Đây là lần đầu tiên Trung Quốc công khai kế hoạch điều tàu nghiên cứu khoa học đến khảo sát khoa học biển trên Biển Đông.
Mặc dù Trung Quốc đang dùng một mũi tên nhắm nhiều đích, dùng tàu khảo sát XYH-10 hoạt động với nhiều ý đồ khác nhau, nhưng mục đích chính của nó là nhằm thách thức trực tiếp vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Trung Quốc cho rằng yêu sách về “Tứ Sa” (hay “Nam Hải Chư đảo”), thuộc khu vực “chồng lấn”, nên phạm vi hoạt động của XYH-10 hoàn toàn nằm trong vị trí 9 lô dầu khí mà Trung Quốc mời thầu quốc tế từ năm 2012.
Với ý đồ biến vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam thành “khu vực chồng lấn” với yêu sách “Nam Hải chư đảo”, Trung Quốc đang xâm phạm vùng biển thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam tại Biển Đông, vi phạm nghiêm trọng UNCLOS 1982. Đồng thời, hành động nói trên của Trung Quốc đi ngược lại những thoả thuận giữa lãnh đạo cấp cao hai nước đã đạt được trong chuyến thăm Trung Quốc (1/11/2022).
Thứ nhất, khu vực tàu XYH-10 hoạt động nằm hoàn toàn trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam, được xác định trên cơ sở Điều 57 và Điều 76 của UNCLOS 1982. Theo đó, Việt Nam đã ban hành các văn bản pháp lý và chế độ pháp lý tại vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của mình. Việt Nam có quyền thăm dò và khai thác tài nguyên biển. Hoạt động của XYH-10 vi phạm nghiêm trọng quy định của UNCLOS 1982.
Thứ hai, Trung Quốc từng đưa ra cái gọi là “chủ quyền đối với Nam hải Chư đảo” và yêu sách về “vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa đối với các đảo tại Biển Đông”. Vì vậy, Trung Quốc cho rằng XYH-10 “đang hoạt động bình thường” trong vùng biển thuộc quyền tài phán của Trung Quốc. Nhưng các nhóm đảo tại Biển Đông, bao gồm quần đảo Trường Sa, không có đường cơ sở nối liền các điểm ngoài cùng của các cấu trúc xa nhất.
Thứ ba, Việt Nam và Trung Quốc đều là thành viên của UNCLOS, nên mọi giải thích, áp dụng trái quy định của Công ước đều không có giá trị. Điều này đã được Toà Trọng tài Thường trực xác nhận. Yêu sách của Trung Quốc về “các quyền lịch sử” đối với vùng biển nằm trong “đường chín đoạn” là trái với UNCLOS 1982. Trung Quốc không có “tư cách lịch sử” đối với các vùng biển ở Biển Đông và tài nguyên trong “đường chín đoạn”.
Vì vậy, các hoạt động của tàu khảo sát XYH-10 và nhóm tàu hộ tống đang ngang nhiên thách thức dư luận quốc tế, đe doạ nghiêm trọng tự do hàng hải ở Biển Đông, gia tăng nguy cơ va chạm và đụng độ ngoài ý muốn. Trong bối cảnh Trung Quốc và các nước ASEAN đang thúc đẩy đàm phán về COC, các hành động đó của Trung Quốc sẽ làm tiến trình đàm phán càng khó khăn và bế tắc.
Theo các chuyên gia về Biển Đông, lần này Trung Quốc điều các tàu hải tuần đến Biển Đông để hỗ trợ XYH-10. Tàu Hải tuần 173 là tàu thả phao của Cục Hải sự. Khi tàu Hải tuần 173 đi vào vùng đặc quyền kinh tế của Philippines, tàu tuần duyên của họ đã bám theo đến khi tàu 173 di chuyển đến Đá Vành Khăn. Trong khi đó, Hải tuần 09 là tàu tuần tra lớn nhất của Trung Quốc (10.000 tấn) lần đầu tiên có mặt ở Trường Sa.
Với việc sử dụng tàu hải tuần thuộc Cục Hải sự, Bắc Kinh muốn “khoác vỏ bọc dân sự” để tránh leo thang thành một cuộc đối đầu quân sự với Mỹ. Tại quần đảo Trường Sa, Trung Quốc hiện duy trì hai tàu nghiên cứu khác là Hướng Dương Hồng 14 và Hướng Dương Hồng 31 (có chức năng thay thả phao). Sau một thời gian neo đậu ở cụm Sinh Tồn, XYH-14 đã di chuyển về Đá Chữ Thập, trong khi XYH-31 đã di chuyển sang Đá Vành Khăn.
Trung Quốc vẫn đẩy mạnh chiến thuật “vùng xám”. Việc họ dùng tàu dân binh là một bước leo thang mới. Việt Nam yếu hơn do “bất cân xứng” nên buộc phải kiềm chế. Tình thế năm 2023 khác trước vì vấn đề Ukraine, khi Trung Quốc và Nga đã trở thành đối tác “không giới hạn”. Nay Nga yếu hơn và phụ thuộc vào Trung Quốc, nên Bắc Kinh sẽ gây sức ép với Nga để can thiệp buộc Zarubezhneft và Gazprom ngừng khai thác dầu khí.
Theo dự án Đại Sự Ký Biển Đông, kể từ tháng 12/2022, tàu cảnh sát biển Trung Quốc đã tiến sâu vào khu vực thăm dò dầu khí do Nga điều hành, trong EEZ của Việt Nam. Sáng kiến Minh bạch Hàng hải Châu Ấ (AMTI/CSIS) cảnh báo rằng trong năm nay hoạt động dầu khí có thể nổi cộm lên như một điểm nóng ở Biển Đông. Trung Quốc sẽ tiếp tục quấy rối hoạt động dầu khí của Việt Nam, Malaysia và Indonesia.
Theo các chuyên gia về Biển Đông, Trung Quốc có 4 mục tiêu chính: Một là Trung Quốc xâm phạm trắng trợn chủ quyền Việt Nam để khẳng định chủ quyền của họ. Hai là Trung Quốc muốn phá rối các hoạt động khai thác dầu khí của Nga và Việt Nam. Ba là Trung Quốc muốn dùng các tàu cá có vũ trang như dân binh để hộ tống thay cho tàu hải cảnh. Bốn là Trung Quốc đang tăng cường sử dụng chiến thuật “vùng xám” để thách thức Việt Nam.
Theo nhà nghiên cứu Vũ Xuân Khang (Boston College), ngoài mục đích chính là khẳng định chủ quyền phi pháp của họ ở Biển Đông, Trung Quốc còn muốn cô lập Việt Nam vì cho rằng không nước nào sẵn sàng giúp Việt Nam đối đầu với Trung Quốc. Các nước như Mỹ, Ấn Độ, Úc và Nhật Bản đều có lợi ích riêng nên rất khó bảo vệ Việt Nam. Vì vậy, Trung Quốc tin rằng Việt Nam không dám đối đầu với Trung Quốc trên Biển Đông.
Đối phó của Việt Nam
Tổng thống Joe Biden và TBT Nguyễn Phú Trọng đã điện đàm (29/3) và Ngoại trưởng Anthony Blinken đã thăm Việt Nam (14-16/4), liên quan đến kế hoạch nâng cấp quan hệ hai nước lên đối tác chiến lược, khi TBT Nguyễn Phú Trọng đi thăm Mỹ (dự kiến tháng 7). Trong bối cảnh đó, Thủ tướng Nhật Fumio Kishida đã mời Thủ tướng Phạm Minh Chính dự họp Cấp cao G7 Mở rộng (21/5), ngay sau Hội nghị Trung ương 7 (15-17/5/2023).
Tại G7 Mở rộng, Thủ tướng Phạm Minh Chính đã gặp Tổng thống Mỹ Biden và Tổng thống Ukraine Zelensky. Sau đó, Phó Chủ tịch Hội đồng An ninh Quốc gia Nga Medvedev đã vội đến thăm Việt Nam (22/5). Thủ tướng Phạm Minh Chính đã tới thăm Nghĩa trang Liệt sĩ Vị Xuyên (28/5) trong bối cảnh căng thẳng đang gia tăng tại Biển Đông. Vị Xuyên là nơi tưởng nhớ các liệt sĩ đã hy sinh trong cuộc chiến tranh Biên giới (1979) nên rất nhạy cảm đối với Trung Quốc.
Việc Thủ tướng Việt Nam đến thắp hương tại nghĩa trang Liệt sỹ Vị Xuyên là một thông điệp rõ ràng gửi đến người dân Việt Nam và Trung Quốc rằng nếu Trung Quốc không dừng lại thì Việt Nam sẵn sàng chiến đấu bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của mình. Trung Quốc đã xâm lược Việt Nam năm 1979, nay vẫn là nguy cơ an ninh lớn nhất đối với Việt Nam. Vì vậy, Việt Nam không thể làm ngơ trước những gì diễn ra ở biển Đông.
Về lâu dài, Trung Quốc vẫn theo đuổi chiến thuật “vùng xám” ở biển Đông. Trung Quốc mạnh hơn Việt Nam nhiều lần về quân sự, nên Việt Nam không được để bị động và bất ngờ trong bất kỳ tình huống nào. Việt Nam vẫn phải vận dụng chính sách “vừa hợp tác vừa đấu tranh” với Trung Quốc, vì “bất đối xứng về quyền lực” giữa hai nước là một thực tế. Báo chí Việt Nam thường tránh không nêu đích danh là “Trung Quốc xâm lược”.
Nhưng lần này báo chí chính thống của Việt Nam đã đồng loạt đưa tin. Báo Tuổi trẻ đã có bài bình luận Trung Quốc âm mưu gì ở Biển Đông? (27/5/2023), đề cập đến thực chất vấn đề, và nhấn mạnh “Bộ Ngoại giao Việt Nam đã phản đối mạnh mẽ tàu khảo sát Hướng Dương Hồng 10 của Trung Quốc cùng một số tàu hải cảnh và tàu cá bảo vệ đã xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, được xác lập phù hợp với UNCLOS 1982”.
Trong khi tàu khảo sát Hướng Dương Hồng 10 (XYH-10) xuất hiện trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam ở bãi Tư Chính, thì hai tàu khảo sát Hướng Dương Hồng 14 và Hướng Dương Hồng 31 được xác định vẫn đang hiện diện trong khu vực quanh cụm Sinh Tồn thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Cả hai khu vực đó đều có trữ lượng dầu khí lớn và ngư trường nhiều hải sản.
Theo các chuyên gia về Biển Đông, ngoài hai tàu hải cảnh 5305 và 3303 cùng các tàu dân binh của Trung Quốc, đội hình hộ tống tàu khảo sát XYH-10 đã được bổ sung thêm tàu Hải cảnh 4103. Việt Nam đã điều hai tàu kiểm ngư KN-465 và KN-469 bám sát đội hình này. Tàu XYH-10 đã di chuyển qua lô 04-03 do liên doanh Vietsovpetro vận hành và thường xuyên di chuyển qua các lô 132 và 131 do liên doanh Vietgazprom vận hành.
Năm 2019, Trung Quốc đã gây sức ép rất mạnh tại khu vực Bãi Tư Chính để đuổi Repsol (Tây Ban Nha) khỏi khu vực này, nhưng không đuổi được Nga. Nay Nga gặp rắc rối lớn tại Ukraine, phải phụ thuộc nhiều hơn vào Trung Quốc, nên Bắc Kinh tin rằng họ đang có cơ hội đuổi Nga khỏi khu vực vùng này. Vì Gazprom của Nga cũng đang hợp tác với Indonesia tại lô Cá Ngừ, nên Trung Quốc muốn gây sức ép lên cả Hà Nội và Jakarta.
Thay lời kết
Nếu 2014 là thời điểm Biển Đông khủng hoảng lần thứ nhất và 2019 là khủng hoảng lần thứ hai, thì 2023 có thể là khủng hoảng lần thứ ba. Tuy chưa rõ khủng hoảng lần này có dẫn đến bước ngoặt mới hay không, nhưng Mỹ và đồng minh phương Tây nay đoàn kết hơn thời Trump. Mỹ tuy bị chia rẽ, nhưng hai đảng nhất trí coi Trung Quốc là đối thủ chính. Các biện pháp trừng phạt kinh tế và quân sự với Nga hay Trung Quốc sẽ hiệu quả hơn.
Không chỉ Tổng thống Putin mà cả Chủ tịch Tập Cận Bình đều có giấc mộng vĩ cuồng, muốn Nga hay Trung Quốc “vĩ đại trở lại” như thời kỳ hoàng kim trong quá khứ. Vì vậy, Putin đã mắc phải sai lầm lớn tại Ukraine. Sự ngạo man về quyền lực nước lớn đã tạo ra điểm mù làm che khuất tầm nhìn của họ, nên không thấy “giới hạn của quyền lực”. Cũng như Mỹ trước đây, Nga và Trung Quốc đang mắc phải sai lầm đó.
Quá trình hiện đại hóa quân đội Trung Quốc ngày càng nhanh, tiềm lực kinh tế ngày càng mạnh, và cường độ hiện diện ở Biển Đông ngày càng nhiều, trong khi quá trình hiện đại hóa quân đội Việt Nam đã bị chậm lại. Để đối phó với tham vọng của Trung Quốc tại Biển Đông, Việt Nam tuy không cô đơn như trước, nhưng cần sớm nâng cấp quan hệ với Mỹ. Nếu tình hình Biển Đông diễn biến quá nhanh, Việt Nam có thể phản ứng không kịp.
Đến 5/6 thì tàu XYH-10 bất ngờ rút, nhưng nó có thể quay lại bất cứ lúc nào, vì tham vọng của Trung Quốc ở Biển Đông không thay đổi. Để không bị động và bất ngờ, Việt Nam phải chuẩn bị sẵn sàng cho mọi tình huống, sẵn sàng đấu tranh ngoại giao, đấu tranh pháp lý, và có những biện pháp răn đe hiệu quả hơn. Muốn ngăn chặn xung đột từ sớm và từ xa, Việt Nam phải dựa vào nội lực của mình là chính, nhưng phải có đối trọng đủ mạnh.
Ngân hàng Phát triển Mới (NDB) đang đàm phán với Ả Rập Saudi về việc kết nạp quốc gia Trung Đông này làm thành viên.
Tổng thống Nga Vladimir Putin, Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình
BRICS là tên gọi của nhóm gồm các nền kinh tế mới nổi – Brazil, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc và Nam Phi (gia nhập sau).
Thuật ngữ BRIC chính thức xuất hiện từ năm 2001. Chuyên gia kinh tế Jim O’Neill của ngân hàng Goldman Sachs đã dùng tên gọi này cho nhóm các quốc gia có tốc độ tăng trưởng GDP rất cao gồm Brazil, Nga, Ấn Độ và Trung Quốc.
BRIC được coi là niềm lạc quan mới mẻ đối với các nhà đầu tư trong lúc toàn bộ thị trường tài chính u ám sau sự kiện nước Mỹ bị khủng bố vào ngày 11/9/2001.
Bốn quốc gia kể trên đã tiếp nhận và rất hào hứng với ý tưởng này. Cùng có nền kinh tế đang tăng trưởng rất tốt, họ có nhiều lợi ích chung và cũng phải đối mặt với những thách thức giống nhau.
Ả Rập Saudi chuẩn bị gia nhập NDB: BRICS hưởng lợi lớn Tờ Financial Time (FT) đưa tin, Ngân hàng Phát triển Mới (NDB) còn được gọi là “ngân hàng BRICS” đang đàm phán với Ả Rập Saudi về việc kết nạp quốc gia Trung Đông này làm thành viên thứ 9. Điều này sẽ tăng cường các lựa chọn tài trợ của NDB trong bối cảnh chiến sự ở Ukraine vẫn đang tiếp diễn.
“Ở Trung Đông, chúng tôi rất coi trọng Ả Rập Saudi và hiện đang tham gia vào một cuộc đối thoại với họ,” NDB cho biết trong một tuyên bố.
NDB được thành lập vào năm 2015 để huy động các nguồn lực cho các dự án phát triển cơ sở hạ tầng và phát triển bền vững ở các nước BRICS và các nền kinh tế mới nổi khác, theo Bộ Ngoại giao Trung Quốc.
Tờ Thời báo Hoàn Cầu (Trung Quốc) dẫn lời các chuyên gia lưu ý rằng, khả năng gia nhập NDB của Ả Rập Saudi sẽ tăng hơn nữa khả năng của các quốc gia BRICS trong việc phòng ngừa rủi ro trong bối cảnh làn sóng phi đô la hóa đang lan rộng trên toàn cầu .
NDB có vai trò chính trong việc ngăn chặn khủng hoảng tài chính ở các nước BRICS và sẽ hỗ trợ hiệu quả hơn cho những khủng hoảng – Pan Helin, giám đốc chung của Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế Kỹ thuật số và Đổi mới Tài chính trực thuộc Trường Kinh doanh Quốc tế của Đại học Chiết Giang, nói với Hoàn Cầu. Chuyên gia Pan cho biết thêm rằng, Ả Rập Saudi đang ở trong tình trạng tài chính ổn định với tiềm năng rủi ro tương đối nhỏ, do đó, việc đưa nước này vào NDB sẽ tăng cường sức mạnh tài chính của nhóm quỹ BRICS, đồng thời nâng cao khả năng quản lý và ứng phó khủng hoảng của các quốc gia.
Ả Rập Saudi được cho là đang tìm cách gia nhập BRICS, điều sẽ được các thành viên thảo luận tại hội nghị thượng đỉnh vào tháng 8.
Zhu Jie, giáo sư tại Đại học Fudan, nói rằng Ả Rập Xê Út có thể bắt đầu bằng cách đăng ký tham gia NDB trước khi gia nhập BRICS, đồng thời nói thêm rằng NDB quyết tâm mạnh mẽ trong việc mở rộng thành viên.
Hơn 30 quốc gia đã nộp đơn gia nhập Đại diện của Nam Phi tại BRICS – đại sứ Anil Sooklal đã bày tỏ quan điểm cho rằng nhóm sẽ phát triển lớn hơn trong năm nay với hơn 30 quốc gia đã nộp đơn xin gia nhập tổ chức một cách chính thức và không chính thức.
Báo cáo mới nhất cho biết, các quốc gia sẵn sàng gia nhập BRICS là Afghanistan, Algeria, Argentina, Bahrain, Bangladesh, Belarus, Ai Cập, Indonesia, Iran, Kazakhstan, Mexico, Nicaragua, Nigeria, Pakistan, Ả Rập Saudi, Senegal, Sudan, Syria, Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất, Thái Lan, Tunisia, Thổ Nhĩ Kỳ, Uruguay, Venezuela và Zimbabwe.
Bloomberg cho rằng, năm ngoái, Trung Quốc – nước đang nỗ lực tăng tầm ảnh hưởng trên toàn cầu và muốn kiềm chế sự ảnh hưởng của phương Tây – đã khởi xướng cuộc thảo luận về việc mở rộng nhóm. Tuy nhiên các thành viên còn lại lo lắng như vậy sẽ làm giảm đi tầm ảnh hưởng của họ.
Diễn biến này là tin không vui đối với Mỹ và các quốc gia phương Tây khác. Họ sẽ chứng kiến GDP của mình giảm dần so với GDP của BRICS. Tỷ trọng đóng góp vào GDP toàn cầu của BRICS hiện đã vượt qua cả nhóm G7 (nhóm 7 quốc gia có nền kinh tế phát triển lớn nhất thế giới).
Xây dựng và phê duyệt quy hoạch không gian biển; tăng cường quản trị và điều phối trong các lĩnh vực kinh tế biển; trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm với các nước trong quá trình thực hiện Chiến lược… Đây là ba khuyến nghị được bà Ramla Khalidi, Trưởng đại diện thường trú của Tổ chức phát triển Liên hợp quốc (UNDP) tại Việt Nam đưa ra tại Hội nghị công bố Chiến lược khai thác, sử dụng bền vũng tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 diễn ra vào ngày 3/6 tại Nghệ An.
Bà Ramla Khalidi, Trưởng đại diện thường trú của UNDP tại Việt Nam (Ảnh: Bộ Tài nguyên và Môi trường).
Hội nghị công bố Chiến lược khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 là sự kiện có ý nghĩa, khẳng định quyết tâm, tầm nhìn chiến lược nhằm cụ thể hóa việc thực hiện các chủ trương của Đảng về phát triển bền vững kinh tế biển; bảo đảm khai thác, sử dụng hiệu quả, công bằng tài nguyên trên cơ sở kết hợp hài hòa giữa lợi ích kinh tế – xã hội, bảo vệ môi trường và quốc phòng, an ninh trên các vùng đất ven biển, các đảo, quần đảo, vùng biển, vùng trời thuộc quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia của Việt Nam.
Chia sẻ về ba khuyến nghị mà Chiến lược khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 cần hướng tới, bà Ramla Khalidi chỉ rõ: Sau khi Chiến lược được thông qua, Chính phủ cần đẩy nhanh việc xây dựng và phê duyệt quy hoạch không gian biển (MSP), điều cần thiết để khai thác tiềm năng to lớn của nền kinh tế biển bền vững. UNDP và Nauy vinh dự được hỗ trợ và tham gia vào quá trình xây dựng MSP.
Cũng theo đại diện UNDP tại Việt Nam, biển và hải đảo của Việt Nam hiện đang được khai thác bởi nhiều ngành khác nhau nhưng sự phối hợp còn hạn chế. Tăng cường quản trị và điều phối trong các lĩnh vực kinh tế biển (như du lịch, vận tải biển, thủy sản, công nghiệp, thăm dò và phát triển năng lượng, quy hoạch, đầu tư và môi trường) là rất quan trọng để thực hiện thành công Chiến lược cũng như các chính sách quan trọng khác về biển và hải đảo.
Cuối cùng, hỗ trợ quốc tế về bí quyết, chuyển giao công nghệ, tài chính bền vững sẽ rất cần thiết để thúc đẩy cho sự thay đổi và cũng là một trong những mục tiêu chính của Nghị quyết số 48/NQ-CP ngày 03 tháng 4 năm 2023 về Chiến lược khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050. UNDP khuyến nghị Việt Nam nên học hỏi kinh nghiệm của các nước và các đối tác phát triển trong quá trình thực hiện Chiến lược, đặc biệt là khi nhiều nguồn tài nguyên biển vượt ra khỏi biên giới quốc gia và sẽ cần có sự hợp tác quốc tế để quản lý hiệu quả và lâu dài.
Chiến lược khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 xác định: tài nguyên, môi trường biển và hải đảo là nền tảng và nguồn lực quan trọng để phát triển đất nước, phải được khai thác, sử dụng hiệu quả, bền vững; việc khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo phải dựa trên kết quả điều tra cơ bản, khoa học công nghệ hiện đại…; khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên, bảo vệ môi trường là quyền lợi, trách nhiệm của các bên liên quan.
Về mục tiêu, Chiến lược đề ra mục tiêu tổng quát và bốn mục tiêu cụ thể đến năm 2030 về: khai thác, sử dụng tài nguyên biển và hải đảo; bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học; ứng phó với biến đổi khí hậu và phòng chống thiên tai; điều tra cơ bản và nghiên cứu khoa học.
Trong đó có một số chỉ tiêu quan trọng như: Ở các đô thị ven biển, 100% chất thải nguy hại, chất thải rắn sinh hoạt được thu gom và xử lý đạt quy chuẩn môi trường; tăng diện tích các khu bảo tồn biển, khu vực biển, ven biển được bảo tồn đạt tối thiểu 6% diện tích tự nhiên vùng biển quốc gia; tối thiểu 50% diện tích vùng biển Việt Nam được điều tra cơ bản tài nguyên, môi trường biển ở tỷ lệ bản đồ 1:500.000.
Đến năm 2050, tài nguyên biển và hải đảo được khai thác hợp lý, sử dụng hiệu quả nhằm đưa Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh trên nền tảng tăng trưởng xanh, đa dạng sinh học biển được bảo tồn, môi trường biển và các hải đảo trong lành, xã hội hài hòa với thiên nhiên…
Để thực hiện được các mục tiêu đã đề ra, Chiến lược chỉ ra các giải pháp định hướng, nhiệm vụ, giải pháp tổng thể như: Khai thác, sử dụng tài nguyên biển và hải đảo; bảo vệ môi trường biển, hải đảo; bảo tồn đa dạng sinh học và nguồn lợi biển và hải đảo; ứng phó với biến đổi khí hậu và nước biển dâng; điều tra cơ bản biển và hải đảo; khoa học, công nghệ và hợp tác quốc tế; hoàn thiện hệ thống pháp luật về quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo; tăng cường và mở rộng hợp tác quốc tế về quản lý, nghiên cứu tài nguyên, môi trường biển và hải đảo…
Bộ trưởng Quốc phòng Đức thông báo nước này sẽ triển khai hai tàu chiến đến Ấn Độ Dương -Thái Bình Dương trong bối cảnh căng thẳng leo thang trong khu vực.
Trong bài phát biểu tại hội nghị an ninh Đối thoại Shangri-La ở Singapore hôm 4/6, Bộ trưởng Quốc phòng Đức Boris Pistorius tuyên bố tuyến hàng hải ở Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, nơi diễn ra khoảng 40% hoạt động thương mại nước ngoài của châu Âu, phải được tôn trọng.
“Để đạt được mục tiêu này, chính phủ Đức từng điều một tàu khu trục đến Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương vào năm 2021, và một lần nữa, vào năm 2024, sẽ triển khai các tàu tới khu vực này”, ông Pistorius phát biểu tại hội nghị có sự tham dự của nhiều quan chức quốc phòng các nước.
Bộ trưởng Pistorius cho biết, các tàu được Đức triển khai tới khu vực sẽ bao gồm một tàu hộ vệ và một tàu tiếp tế, nhưng ông nhấn mạnh việc triển khai các tàu này không nhằm chống lại hành động của bất kỳ đối tượng cụ thể nào trong khu vực.
“Ngược lại, các tàu này cam kết bảo vệ trật tự quốc tế dựa trên luật lệ mà tất cả chúng ta đã ký kết và tất cả chúng ta nên được hưởng lợi từ đó”, ông Pistorius nhấn mạnh.
Vào năm 2021, một tàu chiến của Đức đã được triển khai tới khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương lần đầu tiên sau gần hai thập niên. Các nước phương Tây khác cũng tăng cường hiện diện quân sự trong khu vực trong bối cảnh ngày càng nhiều nước lo ngại về tham vọng lãnh thổ của Bắc Kinh, đặc biệt liên quan đến Biển Đông và eo biển Đài Loan.
Tháng trước, Bắc Kinh đã bày tỏ “sự không hài lòng” trước chuyến thăm của Bộ trưởng Giáo dục Đức Bettina Stark-Watzinger tới Đài Loan, nơi Trung Quốc coi là vùng lãnh thổ không thể tách rời và sẵn sàng sáp nhập bằng mọi cách.
Các công ty phương Tây đang nhận thấy việc rời khỏi Nga không hề đơn giản, thậm chí một số doanh nghiệp còn âm thầm ở lại.
Một góc cửa hàng bán đồ ăn nhanh ở Moskva, Nga.
Ngay sau khi xung đột Nga-Ukraine nổ ra, các công ty toàn cầu đã nhanh chóng phản ứng, một số tuyên bố họ sẽ rời khỏi Nga ngay lập tức, số khác cắt giảm nhập khẩu hoặc đầu tư mới. Các nhà máy, công ty năng lượng và nhà máy điện trị giá hàng tỷ USD đã ngừng hoạt động hoặc rao bán, kèm theo sự phản đối cuộc xung đột và bày tỏ tình đoàn kết với Ukraine.
Hơn một năm sau, mọi thứ trở nên rõ ràng: Rời khỏi nước Nga không đơn giản như những tuyên bố của họ. Nga ngày càng đặt ra nhiều rào cản đối với các công ty muốn rút khỏi nước này, yêu cầu sự chấp thuận của ủy ban chính phủ và trong một số trường hợp là từ chính Tổng thống Vladimir Putin, đồng thời áp đặt các khoản chiết khấu và thuế đối với giá bán.
Mặc dù câu chuyện của các công ty khác nhau, nhưng một chủ đề chung là phải vượt qua chướng ngại vật giữa một bên là các biện pháp trừng phạt và dư luận của phương Tây và bên kia là những nỗ lực của Nga nhằm ngăn cản và trừng phạt những công ty muốn rời đi. Một số thương hiệu quốc tế như Coke và Apple đang thâm nhập một cách không chính thức thông qua các nước thứ ba bất chấp quyết định rút lui.
Nhiều công ty chỉ đơn giản là “duy trì nguyên trạng”, đôi khi trích dẫn trách nhiệm với các cổ đông hoặc nhân viên hoặc nghĩa vụ pháp lý đối với các bên liên quan hoặc đối tác địa phương. Những công ty khác lập luận rằng họ đang cung cấp những mặt hàng thiết yếu như thực phẩm, nông sản hoặc thuốc men. Một số khác thì “im lặng”.
Chuỗi thời trang Benetton của Italy, có cửa hàng tại Trung tâm thương mại Evropeisky ở Moskva – có nghĩa là “châu Âu” trong tiếng Nga – vẫn bận rộn vào một buổi tối các ngày trong tuần gần đây.
Đối với người tiêu dùng ở Moskva, những gì họ có thể mua không thay đổi nhiều. Trong khi cửa hàng sản phẩm trẻ em Mothercare trở thành Mother Bear dưới quyền sở hữu mới của địa phương, hầu hết các mặt hàng trong trung tâm thương mại Evropeisky vẫn mang thương hiệu Mothercare.
Đó cũng là những gì sinh viên Alik Petrosyan nhận thấy khi mua sắm tại Maag, hiện sở hữu cửa hàng quần áo hàng đầu trước đây của Zara ở Moskva: “Chất lượng không hề thay đổi, mọi thứ vẫn như cũ. Giá không thay đổi nhiều, có tính đến lạm phát và các kịch bản kinh tế đã xảy ra vào năm ngoái”.
Cuộc rút lui ban đầu khỏi Nga được dẫn đầu bởi các nhà sản xuất ô tô lớn, các công ty dầu mỏ, công nghệ và dịch vụ, khi BP, Shell, ExxonMobil và Equinor tạm ngừng liên doanh hoặc hủy bỏ cổ phần trị giá hàng tỷ USD. McDonald’s đã bán 850 nhà hàng của mình cho một công ty địa phương, trong khi Renault của Pháp đã lấy một đồng rúp tượng trưng cho phần lớn cổ phần của mình trong Avtovaz, nhà sản xuất ô tô lớn nhất của Nga.
Sau làn sóng ra đi ban đầu đó, các hiện tượng mới đã xuất hiện: Một số công ty vẫn chờ đợi thời cơ của họ, những công ty đang gặp khó khăn trong việc thanh lý tài sản và những công ty khác đang tìm cách kinh doanh như bình thường.
Trong một lời giải thích thẳng thắn hiếm hoi, Steffen Greubel, Giám đốc điều hành của công ty vận tải Metro AG của Đức, cho biết tại cuộc họp cổ đông năm nay rằng quyết định ở lại được thúc đẩy bởi trách nhiệm đối với 10.000 nhân viên địa phương và “cũng vì lợi ích của việc bảo tồn giá trị của công ty này với các cổ đông”.
Metro nhận được khoảng 10% doanh thu hàng năm từ Nga – hơn 2,9 tỷ euro (3,1 tỷ USD). Trong khi đó, các kệ hàng vẫn đầy ắp tại các siêu thị Globus, một chuỗi cửa hàng có trụ sở tại Đức với khoảng 20 địa điểm hoạt động ở Moskva, như trước khi xung đột ở Ukraine nổ ra.
Globus cho biết họ đã “cắt giảm mạnh” khoản đầu tư mới nhưng vẫn mở các cửa hàng để đảm bảo cung cấp thực phẩm cho người dân, lưu ý rằng thực phẩm chưa bị xử phạt. Tương tự, Bayer AG của Đức, chuyên cung cấp thuốc, hóa chất nông nghiệp và hạt giống, lập luận rằng kinh doanh ở Nga là một bước đi đúng đắn.
“Việc hạn chế các sản phẩm nông nghiệp và chăm sóc sức khỏe thiết yếu đối với dân thường – như phương pháp điều trị ung thư hoặc tim mạch, các sản phẩm chăm sóc sức khỏe cho phụ nữ mang thai và trẻ em cũng như hạt giống để trồng lương thực – sẽ chỉ gây thêm thiệt hại do cuộc xung đột đang diễn ra đối với cuộc sống con người”, công ty trên cho biết trong một tuyên bố.
Sau khi từ chối gặp người đồng cấp Mỹ, Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Lý Thượng Phúc cáo buộc “một số quốc gia” can thiệp vào công việc của nước khác nhưng Bắc Kinh không muốn đối đầu.
Phát biểu tại Đối thoại Shangri-La (SLD) ở Singapore ngày 4.6, Thượng tướng Trung Quốc Lý Thượng Phúc cho rằng tâm lý Chiến tranh Lạnh đang trỗi dậy ở châu Á – Thái Bình Dương, nhưng Bắc Kinh tìm kiếm đối thoại thay vì đối đầu. Không nêu đích danh nước nào, người đứng đầu Bộ Quốc phòng Trung Quốc cáo buộc “một số quốc gia” thích áp đặt các quy tắc của mình lên các quốc gia khác theo “trật tự quốc tế dựa trên luật lệ”, theo South China Morning Post (SCMP).
“Cái gọi là trật tự quốc tế dựa trên luật lệ của họ không bao giờ cho bạn biết luật lệ là gì, và ai đã đặt ra những luật lệ này”, ông Lý nói trong bài phát biểu trước các tướng lĩnh quân đội và quan chức quốc phòng, ngoại giao có mặt tại SLD, diễn đàn an ninh hàng đầu châu Á được tổ chức thường niên ở Singapore.
“Họ thực hành chủ nghĩa ngoại lệ, tiêu chuẩn kép và chỉ phục vụ lợi ích và tuân theo các quy tắc của một số ít quốc gia”, SCMP dẫn lời vị tướng Trung Quốc.
Đây là phát biểu công khai đầu tiên của ông Lý trước khán giả quốc tế kể từ khi ông trở thành Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc hồi tháng 3. Trước sự kiện ở Singapore, ông đã trở thành tâm điểm chú ý khi từ chối gặp người đồng cấp Mỹ Lloyd Austin bên lề SLD theo đề nghị của Lầu Năm Góc.
Trong phát biểu tại SLD, Bộ trưởng Lý cũng quảng bá Sáng kiến An ninh Toàn cầu (GSI) mới của Bắc Kinh. Được công bố bởi Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình hồi tháng 4 năm ngoái, GSI tập hợp các nguyên tắc và đường lối về chính sách đối ngoại mà một số nhà quan sát cho là nỗ lực xây dựng đối trọng với trật tự quốc tế do Mỹ dẫn dắt.
“Chúng tôi cực lực phản đối việc áp đặt ý chí của nước này lên nước khác, đặt lợi ích của nước mình lên trên lợi ích của nước khác và theo đuổi an ninh của riêng mình bằng cái giá mà nước khác phải trả”, ông Lý nói, cáo buộc một số quốc gia “cố ý can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác”.
Song vị tướng tỏ ra mềm mỏng hơn khi nói về quan hệ song phương Trung – Mỹ với đánh giá rằng quan hệ giữa hai nước trong vài năm qua đã xuống mức “thấp kỷ lục” kể từ năm 1979. Theo ông Lý, xung đột hoặc đối đầu nghiêm trọng giữa Trung Quốc và Mỹ sẽ là một thảm họa “không thể chịu nổi” đối với thế giới.
Chủ tịch Tập Cận Bình kêu gọi Trung Quốc sẵn sàng cho tình huống “xấu nhất”
Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc cũng cho biết nước này sẵn sàng trao đổi với Mỹ, cũng như thúc đẩy đối thoại giữa quân đội hai nước, song việc này cần phải dựa trên sự tôn trọng lẫn nhau. “Đó là nguyên tắc hết sức cơ bản”, ông nói.
Trước đó hôm 3.6, cũng tại SLD, ông Austin cho rằng Trung Quốc thiếu thiện chí đối thoại khi từ chối đề nghị tổ chức hội đàm giữa hai vị bộ trưởng quốc phòng tại Singapore. Theo lãnh đạo Lầu Năm Góc, ông quan ngại sâu sắc về việc Trung Quốc không sẵn sàng tham gia nỗ lực quản lý khủng hoảng quân sự, cũng như cho rằng đàm phán là chìa khóa để tránh xung đột.
Một vị tướng trong phái đoàn Trung Quốc dự SLD nói với SCMP rằng Trung Quốc bác bỏ đề xuất gặp gỡ của Mỹ chủ yếu là vì lệnh trừng phạt của Washington đối với ông Lý từ năm 2018. Bắc Kinh cũng cho rằng Mỹ đã không tạo ra bầu không khí có lợi cho đối thoại.
Trong một diễn biến khác, Bộ Ngoại giao Mỹ ngày 3.6 thông báo ông Daniel Kritenbrink, trợ lý ngoại trưởng phụ trách Đông Á – Thái Bình Dương, sẽ có chuyến thăm Trung Quốc và New Zealand trong tuần tới. Chuyến đi diễn ra trong bối cảnh Ngoại trưởng Mỹ Antony Blinken đã hủy bỏ vô thời hạn kế hoạch thăm Bắc Kinh, sau khi hai bên nổ ra tranh cãi vì vụ “khinh khí cầu do thám”.
Cũng tại SLD ngày 3.6, Bộ trưởng Quốc phòng Đức Boris Pistorius đã kêu gọi Bắc Kinh chấm dứt việc chiêu mộ phi công quân sự Đức để huấn luyện lực lượng của Trung Quốc, theo Reuters. Ông cũng cho biết, trong cuộc gặp giữa hai bên, bộ trưởng quốc phòng Trung Quốc không phủ nhận việc này nhưng cho rằng vấn đề không có gì nghiêm trọng.
Tờ Spiegel của Đức hôm 2.6 đưa tin rằng các cựu phi công chiến đấu của Đức đã huấn luyện phi công quân sự Trung Quốc trong suốt nhiều năm. Theo bài báo, các quan chức an ninh Đức cho rằng rất có thể các phi công Đức đã truyền đạt cho phía Trung Quốc kiến thức quân sự chuyên môn, chẳng hạn các chiến thuật hoạt động bí mật của lực lượng Đức và NATO.
Giới chức Trung Quốc không lập tức bình luận về thông tin từ phía Đức.
Công trình xây dựng kênh đào mới mang tên Bình Lục, kết nối thành phố Nam Ninh, thủ phủ Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây của Trung Quốc, với vịnh Bắc bộ, đã bắt đầu vào ngày 22.5, theo tờ China Daily.
Kênh đào Bình Lục có tổng chiều dài 134,2 km
Kênh đào Bình Lục, có tổng chiều dài 134,2 km, bắt đầu từ hồ chứa Tây Tân ở thành phố Hoành Châu và kết thúc tại trấn Lục Ốc trong huyện Linh Sơn thuộc thành phố Khâm Châu, nơi tàu bè có thể đến vịnh Bắc bộ qua sông Tần.
Tiết kiệm gần 732 triệu USD/năm
Dụ án kênh đào Bình Lục chủ yếu bao gồm việc xây dựng các tuyến đường thủy, trung tâm vận chuyển, cơ sở bảo tồn nước và hỗ trợ các dự án khác dọc theo kênh, với tổng kinh phí ước tính khoảng 72,7 tỉ nhân dân tệ (10,3 tỉ USD), theo China Daily. Việc xây dựng 3 hệ thống khóa nước đường thủy nội địa, là thành phần chính của kênh Bình Lục, đã được tiến hành từ tháng 8.2022 và giai đoạn đầu tiên đã hoàn thành vào tháng 3.
Một bức ảnh chụp từ trên không cho thấy công trình xây dựng một trong 3 hệ thống khóa nước đường thủy nội địa cho kênh đào Bình Lục ở Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây (Trung Quốc)
Các quan chức cho biết ước tính trong quá trình xây kênh đào Bình Lục, khoảng 340 triệu m3 đất và đá, gấp ba lần khối lượng được đào để xây dựng đập Tam Hiệp của Trung Quốc, nhà máy thủy điện lớn nhất thế giới, sẽ được dọn sạch, theo tờ Nikkei Asia ngày 30.5. “Công việc đang được tiến hành 24/24” để đáp ứng thời hạn hoàn thành vào năm 2026, ông Lý Hiệu Hướng, một quan chức tại công trường, cho Nikkei Asia hay trong chuyến tham quan gần đây do văn phòng đối ngoại của Quảng Tây tổ chức và giám sát.
Một công trình thuộc dự án xây dựng kênh đào Bình Lục
Các quan chức nói rằng một khi được hoàn thành, kênh đào Bình Lục sẽ giúp rút ngắn khoảng cách vận chuyển từ hệ thống sông nội địa ra biển tới 560 km so với đi qua thành phố Quảng Châu thuộc tỉnh Quảng Đông. Điều này sẽ giúp tiết kiệm tới 5,2 tỉ nhân dân tệ (gần 732 triệu USD) mỗi năm, theo ông Lý. Ngoài ra, theo China Daily, kênh đào Bình Lục sẽ không chỉ hỗ trợ sự phát triển của khu vực mà còn trở thành cửa biển ngắn nhất và thuận tiện nhất ở tây nam Trung Quốc.
Giúp thúc đẩy thương mại Trung Quốc-ASEAN?
Giới quan sát cho rằng dự án kênh đào Bình Lục nêu bật sự chuyển trọng tâm của Bắc Kinh sang tăng cường kết nối hàng hải cho Sáng kiến Vành đai và Con đường. “Điều đó khá mới”, ông Dương Giang, một chuyên gia về chính trị và kinh tế Trung Quốc tại Viện Nghiên cứu Quốc tế Đan Mạch, nhận định. Ông Dương lưu ý kênh đào Bình Lục được hình thành trong kế hoạch năm 2019 nhằm xây dựng một quốc gia vận tải mạnh.
Các quan chức Trung Quốc còn nói rằng kênh đào Bình Lục nhằm thúc đẩy thương mại vốn đã phát triển với 10 nước ASEAN, tất cả cùng với Trung Quốc nằm trong khuôn khổ thương mại tự do Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP). Họ khẳng định kênh đào Bình Lục hứa hẹn sẽ giúp Trung Quốc gặt hái được nhiều lợi ích hơn nữa từ RCEP, theo Nikkei Asia. Hiện nay, ASEAN và Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất của nhau, với thương mại hai chiều tăng 52% từ năm 2019 đến năm 2022 – vượt xa mức tăng 20% với Liên minh châu Âu (EU).
Mô hình về kênh đào Bình Lục đang được xây ở Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây, Trung Quốc
Trong khi đó, nhà nghiên cứu kỳ cựu Stephen Olson tại Quỹ Hinrich (Singapore) cho rằng nền kinh tế của Trung Quốc lớn hơn nhiều so với bất kỳ nền kinh tế đơn lẻ nào trong ASEAN và điều đó tạo ra đòn bẩy đôi khi có thể dẫn đến các mối quan hệ thương mại không cân bằng và không bền vững, theo Nikkei Asia. Ông Olson cũng bày tỏ sự hoài nghi về những nỗ lực của cả Mỹ lẫn Trung Quốc kéo các nước ASEAN lại gần mình hơn. “Đối với hầu hết các quốc gia trong ASEAN, lợi ích quốc gia của họ được phục vụ tốt nhất bằng cách không nghiêng về bên nào mà duy trì quan hệ kinh tế và chiến lược mạnh mẽ với cả hai bên”, ông Olson nhận định.
Kênh đào Bình Lục chỉ là một phần trong nỗ lực đầy tham vọng nhằm tạo ra một hành lang đất liền-biển hiệu quả của Trung Quốc, theo Nikkei Asia. Cách địa điểm xây dựng khoảng 40 km, một đội xe tải không người lái di chuyển các container tại Cảng container tự động Khâm Châu.
Các xe tải lăn bánh về phía một bến cảng, nơi những cần cẩu được vận hành qua máy tính sẽ nhấc các container lên và chuyển chúng sang một con tàu chở hàng đang neo đậu. “Chào mừng đến với cảng thông minh của chúng tôi”, một thành viên tại cảng cho hay. Người này cho biết thêm đây là sản phẩm của 22 tháng nâng cấp được hoàn thành vào tháng 6.2022.
Các quan chức chính quyền Quảng Tây cho biết hành lang mới nổi đã tăng tốc hoạt động hậu cần, tăng tốc các chuyến hàng từ thành phố Trùng Khánh ở miền tây Trung Quốc đến Singapore từ 22 ngày xuống còn 7 ngày, theo Nikkei Asia.
Tư lệnh Tuần duyên Mỹ khẳng định Mỹ sẵn sàng hợp tác cùng Việt Nam và các nước trong khu vực nhằm thúc đẩy trật tự hàng hải dựa trên luật lệ.
Đô đốc Linda L. Fagan, tư lệnh Tuần duyên Mỹ.
“Mối quan hệ chặt chẽ giữa các lực lượng tuần duyên, không chỉ với lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam mà còn lực lượng của các nước khác trong khu vực, đóng vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao pháp quyền trong khu vực”, Đô đốc Linda L. Fagan, tư lệnh Tuần duyên Mỹ, nói trong cuộc trao đổi với báo chí ngày 30/5.
Đô đốc Fagan cho biết Mỹ đánh giá cao sự tham gia và vai trò của lực lượng thực thi pháp luật trên biển của Việt Nam trong các nền tảng hợp tác đa phương như Sáng kiến Thực thi Pháp luật trên biển Đông Nam Á (SEAMLEI).
“Năm nay Mỹ và Việt Nam kỷ niệm 10 năm quan hệ đối tác toàn diện và chúng tôi hài lòng với mối quan hệ đối tác liên tục như vậy kể từ khi hai nước bình thường hóa quan hệ vào năm 1995”, bà Fagan nhấn mạnh.
Đô đốc Fagan khẳng định Mỹ sẵn sàng hợp tác với Việt Nam để thúc đẩy trật tự hàng hải quốc tế dựa trên luật lệ.
“Sự hợp tác của chúng tôi với lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam và các cơ quan khác trong lĩnh vực hàng hải là điểm sáng nổi bật trong những năm gần đây. Mỹ sẵn sàng hợp tác cùng Việt Nam và các đối tác quan trọng khác trong khu vực để tiếp tục thúc đẩy trật tự hàng hải quốc tế dựa trên luật lệ”, tư lệnh Tuần duyên Mỹ nói thêm.
Theo bà Fagan, vai trò của lực lượng Tuần duyên Mỹ trong khu vực là hợp tác với lực lượng tuần duyên của các nước khác, hỗ trợ họ xây dựng nguồn lực và năng lực nhằm duy trì hiện diện trong các vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của mỗi nước, trao đổi kinh nghiệm và tăng cường thông tin về cách thực thi chủ quyền của mỗi nước.
Đô đốc Linda Fagan tuyên thệ nhậm chức vào tháng 6/2022, trở thành tư lệnh thứ 27 của lực lượng Tuần duyên Mỹ. Đây là một dấu mốc có ý nghĩa lớn khi bà Fagan trở thành người phụ nữ đầu tiên trong lịch sử lãnh đạo một quân chủng trong lực lượng vũ trang Mỹ.