Kyodo News ngày 3.2 loan tin tàu hải cảnh Trung Quốc trong tháng trước bắt đầu đưa ra cảnh báo yêu cầu máy bay của Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản (SDF) rời khỏi không phận trên và xung quanh quần đảo tranh chấp Senkaku/Điếu Ngư.
Quần đảo Senkaku/Điếu Ngư
Kyodo News dẫn một số nguồn thạo tin cho hay cảnh báo qua liên lạc vô tuyến nói trên dựa trên tuyên bố của Bắc Kinh rằng máy bay SDF có thể vi phạm không phận lãnh thổ của Trung Quốc xung quanh quần đảo Senkaku/Điếu Ngư và đã được đưa ra nhiều lần kể từ tháng 1.
Cũng theo các nguồn tin, Tokyo đã bác bỏ tuyên bố nói trên và nói với Bắc Kinh thông qua các kênh ngoại giao rằng những cảnh báo như thế là “hoàn toàn không thể chấp nhận được”.
Tokyo không công bố động thái mới của Bắc Kinh trong nỗ lực dường như không muốn làm tổn hại thêm quan hệ song phương, theo Kyodo News. Hiện chưa có thông tin về phản ứng của Trung Quốc.
Các nguồn tin còn nói rằng trong số các tàu hải cảnh Trung Quốc đưa ra cảnh báo cho máy bay SDF khi đi vào vùng tiếp giáp bên ngoài vùng biển Nhật xem là lãnh hải có một tàu được trang bị pháo 76 mm với tầm bắn khoảng 12 km.
Trước đây, các tàu quân sự Trung Quốc đã yêu cầu máy bay thuộc Lực lượng Phòng vệ biển của Nhật rời khỏi không phận gần quần đảo Senkaku/Điếu Ngư. Một quan chức chính phủ Nhật khẳng định đây là lần đầu tiên các tàu hải cảnh thường xuyên đi quanh Senkaku/Điếu Ngư đưa ra cảnh báo đối với các máy bay SDF trong “không phận chủ quyền Nhật”.
Việc đưa ra cảnh báo có thể mới được bổ sung vào nhiệm vụ của Lực lượng Hải cảnh Trung Quốc, lực lượng thường xuyên cử tàu tới vùng biển gần Senkaku/Điếu Ngư và truy đuổi các tàu đánh cá Nhật trong vùng biển khu vực, theo Kyodo News.
Trước đó, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình đã kêu gọi củng cố yêu sách chủ quyền của Bắc Kinh đối với quần đảo Senkaku/Điếu Ngư trong chuyến thăm hiếm hoi tới văn phòng chỉ huy khu vực biển Hoa Đông của Lực lượng Hải cảnh Trung Quốc ở Thượng Hải vào ngày 29.11.2023, theo Kyodo News.
Trong chuyến thăm ngày 29.11, ông Tập nhấn mạnh Bắc Kinh cần phải “không ngừng tăng cường” các nỗ lực bảo vệ chủ quyền về quần đảo Senkaku/Điếu Ngư, theo Kyodo News dẫn các nguồn tin thạo tin.
Lực lượng Hải cảnh Trung Quốc sau đó được cho là đã soạn thảo kế hoạch duy trì sự hiện diện của các tàu hải cảnh gần quần đảo Senkaku/Điếu Ngư hằng ngày trong năm 2024 và tiến hành kiểm tra các tàu đánh bắt cá của Nhật trong khu vực, nếu cần thiết.
Ngày 3/2, Trung Quốc phóng thành công Jielong-3, tên lửa đẩy loại nhỏ nhưng có khả năng mang tải trọng lớn với chi phí cạnh tranh.
Theo China News, Jielong-3 được Trung tâm Phóng Vệ tinh Thái Nguyên phóng ngoài khơi vùng biển Dương Giang (thuộc tỉnh Quảng Đông, miền nam Trung Quốc), để đưa 9 vệ tinh vào quỹ đạo. Đây là lần phóng thứ ba của Jielong-3, sau lần đầu tiên vào tháng 12/2022 và lần thứ 2 cách đây một tháng.
Tên lửa đẩy Jielong-3 được Tập đoàn Khoa học công nghệ hàng không vũ trụ Trung Quốc (CASC) phát triển, có khả năng mang trọng tải 1.500kg vào quỹ đạo 500km, và có thể phóng từ trên biển hoặc mặt đất.
CASC từng tuyên bố rằng Jielong-3 có thể mang theo hơn 20 vệ tinh với chi phí phóng dưới 10.000 USD/kg, một mức giá cạnh tranh trên toàn cầu trong phân khúc tên lửa hạng nhỏ.
Theo Reuters, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã kêu gọi mở rộng các ngành công nghiệp chiến lược, bao gồm cả lĩnh vực không gian thương mại, coi đây là chìa khóa để xây dựng các “chòm sao vệ tinh” phục vụ liên lạc, cảm biến từ xa và định vị.
Đóng vai trò then chốt trong việc xây dựng mạng lưới vệ tinh thương mại của Trung Quốc là khả năng mở rộng hệ thống phóng, đa dạng hóa các loại tên lửa để phù hợp với kích cỡ hàng hóa khác nhau, giảm chi phí phóng và tăng số lượng địa điểm phóng vệ tinh, bao gồm cả việc xây dựng thêm cảng vũ trụ và sử dụng tàu phóng trên biển.
Ngoài CASC, lĩnh vực phóng vệ tinh thương mại của Trung Quốc còn có sự tham gia của nhiều công ty khác như Công ty Năng lượng Thiên hà (Galactic Energy). Tên lửa Ceres-1 của công ty này thực hiện chuyến bay đầu tiên vào tháng 11/2020. Điểm nổi bật của Ceres-1 là khả năng mang theo trọng tải 300kg lên quỹ đạo 500km.
Công ty Năng lượng Thiên hà đã thực hiện 7 vụ phóng Ceres-1 trong năm 2023, so với 4 vụ trong giai đoạn năm 2020 – 2022.
Trong cuộc đua không gian thương mại của Trung Quốc, không thể không nhắc đến Landspace. Năm 2023, công ty này đã ghi dấu lịch sử với tên lửa Zhuque-2, thực hiện thành công vụ phóng vệ tinh đầu tiên trên thế giới sử dụng nhiên liệu khí metan và oxy hóa lỏng. Đây được coi là một bước đột phá trong việc sử dụng nhiên liệu giá rẻ cho tên lửa ở Trung Quốc.
Với thị trường tên lửa cỡ lớn, Orienspace được thành lập từ năm 2020, đã thực hiện một bước đột phá vào tháng 1 năm nay với vụ phóng tên lửa Gravity-1 từ con tàu ngoài khơi tỉnh Sơn Đông (phía đông Trung Quốc).
Gravity-1 có khả năng đưa trọng tải lên tới 6.500kg lên quỹ đạo Trái Đất thấp, trở thành phương tiện phóng mạnh mẽ nhất do một doanh nghiệp tư nhân Trung Quốc phát triển.
Tên lửa hạng nhỏ có thể mang trọng tải 2.000kg, phù hợp với các vệ tinh nhỏ và siêu nhỏ. Trong khi tên lửa hạng trung có thể mang trọng tải 20.000kg, phù hợp với các vệ tinh quan sát Trái Đất, viễn thông và các nhiệm vụ khoa học.
Cuối cùng là tên lửa hạng nặng có thể mang trọng tải hơn 20.000kg, thường được sử dụng cho các sứ mệnh liên hành tinh, lắp đặt trạm vũ trụ và phóng các vệ tinh lớn. Tên lửa Falcon do SpaceX phát triển có sức trở 64.000kg lên quỹ đạo.
Ngày 3/2 năm nay là kỷ niệm 30 năm ngày Tổng thống Mỹ Bill Clinton tuyên bố bãi bỏ lệnh cấm vận đối với Việt Nam, mở đường cho tiến trình bình thường hóa quan hệ hai nước, đưa hai cựu thù xích lại gần nhau, trở thành đối tác chiến lược toàn diện.
Nỗ lực ra khỏi “cấm vận”
Sau khi chiến tranh Việt Nam kết thúc, tháng 5/1975, Tổng thống Gerald R. Ford đã ký lệnh áp đặt cấm vận thương mại với Việt Nam. Dẫu có những nỗ lực ngoại giao từ hai phía để thay đổi tình hình, lệnh cấm vận cuối cũng đã kéo dài gần 20 năm vì nhiều lý do khác nhau.
Đại hội lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức vào năm 1986 đã đặt nền móng cho quá trình đổi mới tư duy nói chung và trong lĩnh vực đối ngoại nói riêng. Báo cáo Chính trị của Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam nêu rõ quan điểm Việt Nam muốn mở rộng quan hệ với các tổ chức quốc tế; mở rộng quan hệ với tất cả các nước trên nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình. Riêng đối với Mỹ, Việt Nam sẽ “tiếp tục bàn bạc để giải quyết các vấn đề nhân đạo do cuộc chiến tranh để lại và sẵn sàng cải thiện quan hệ song phương vì lợi ích, hòa bình, ổn định ở Đông Nam Á”.
Sau khi Hiệp ước Paris chấm dứt chiến tranh Campuchia được ký kết năm 1991, bang giao giữa Việt Nam và các nước trong Cộng đồng các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) chuyển dần sang đối thoại, hợp tác. Sự cải thiện quan hệ trong nội bộ ASEAN đã giúp cải thiện quan hệ của Việt Nam với thế giới nói chung, đặc biệt là với Mỹ.
Từ năm 1991, Mỹ nới lỏng dần lệnh cấm vận đối với Việt Nam, mở đường cho tiến trình bình thường hóa quan hệ hai nước.
Ngày 29/9/1990, Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Nguyễn Cơ Thạch đã có cuộc gặp với Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ James Baker tại Washington. Cuộc gặp này đã mở ra các cuộc gặp, làm việc, đàm phán quan trọng trong những năm tiếp theo.
Tháng 6/1991, Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức Đại hội toàn quốc lần thứ VII, đề ra đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế. Đại hội lần thứ VII đã xác định bình thường hóa quan hệ với Mỹ là một chủ trương đối ngoại quan trọng, đáp ứng nguyện vọng của đông đảo nhân dân hai nước, có lợi cho hoà bình, ổn định và phát triển ở khu vực.
Trong năm 1992, Việt Nam và Mỹ đã có nhiều cuộc tiếp xúc để thảo luận về vấn đề tìm kiếm quân nhân Mỹ mất tích trong chiến tranh Việt Nam. Trong ba ngày từ 17- 19/10/1992, phái đoàn của J. Vessey, đặc phái viên của Tổng thống Mỹ, đến Hà Nội nhằm thảo luận về các biện pháp tăng cường hợp tác việc tìm kiếm các quân nhân Mỹ bị mất tích trong chiến tranh Việt Nam.
Việc xử lý khối tài sản của Việt Nam bị Mỹ tịch thu và tài sản của Mỹ bị Việt Nam tịch thu cũng được tiến hành trong giai đoạn này. Sau khi chiến tranh kết thúc, chính quyền Mỹ trình Quốc hội một nghị định để tất cả những công dân Mỹ có tài sản bị mất mát, bị tịch thu ở Việt Nam trước 30/4/1975 làm tờ khai, sau đó tổng hợp lại để thương lượng với Việt Nam.
Năm 1989, Hội đồng Thương mại Mỹ – Việt Nam (USVTC), trực thuộc Trung tâm Quốc tế tại Washington D.C đã được thành lập. USVTC luôn đi đầu trong các nỗ lực vận động dư luận, chính phủ và quốc hội Mỹ dỡ bỏ cấm vận, tiến đến bình thường hoá với Việt Nam.
Tháng 11/1992, Tổng thống George H. W. Bush lần đầu tiên gửi thư cho Chủ tịch nước Việt Nam Lê Đức Anh qua đặc phái viên J. Vessey về quan hệ ngoại giao song phương. Ngày 14/12/1992, Tổng thống Mỹ Bush tuyên bố bãi bỏ một phần lệnh cấm vận đối với Việt Nam.
Đầu năm 1993, ông Bill Clinton được bầu làm Tổng thống. Là người từng chống việc Mỹ tham chiến ở Việt Nam, Tổng thống Bill Clinton đã tích cực thúc đẩy tiến trình bình thường hóa quan hệ giữa hai nước.
Hàng loạt vấn đề vướng mắc, trở ngại đã lần lượt được giải quyết để đến ngày 3/2/1994, Tổng thống Bill Clinton đã tuyên bố bãi bỏ lệnh cấm vận đối với Việt Nam.
Mở ra dòng chảy đầu tư, thương mại
Sau khi bỏ cấm vận, Bộ thương mại Mỹ cũng đã chuyển Việt Nam từ nhóm Z, tức nhóm bị hạn chế thương mại gồm Bắc Triều Tiên, Cuba, Việt Nam, lên nhóm Y là nhóm ít bị hạn chế thương mại hơn, gồm Liên Xô và các nước thuộc khối Vacsava cũ như Albania, Mông Cổ, Lào, Campuchia…
Ngày 26/6/1994, Mỹ và Việt Nam đã nhất trí trao đổi các văn phòng đại diện liên lạc nhằm cụ thể hóa việc thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức giữa hai nước. Và ngày 11/7/1995, Tổng thống Bill Clinton đã công bố “bình thường hóa quan hệ” với Việt Nam, đánh dấu trang mới trong lịch sử quan hệ ngoại giao của hai nước. Trong bài phát biểu của mình, Tổng thống Bill Clinton nhấn mạnh “bước đi này cũng sẽ giúp đất nước chúng ta tiến lên phía trước về một vấn đề chia rẽ người Mỹ với nhau quá lâu rồi”.
Tiếp đó, ngày 6/8/1995, Ngoại trưởng Warren Christopher thăm Hà Nội và chính thức mở Đại sứ quán Mỹ tại Việt Nam, đồng thời Việt Nam cũng mở Đại sứ quán tại Washington D.C.
Ngay khi lệnh cấm vận vẫn còn hiệu lực, ngày 30/10/1985, một đoàn 30 doanh nghiệp Mỹ thuộc các ngành sản xuất xe hơi, máy bay, chế tạo máy, điện lực, điện thoại, du lịch đến thăm Hà Nội. Trong chuyến thăm này, các doanh nghiệp Mỹ đã được Thủ tướng Phạm Văn Đồng tiếp đón.
Luật Đầu tư nước ngoài 1987 đã khiến cho dòng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam liên tục gia tăng cuối thập niên 1980, đầu thập niên 1990. Trong bối cảnh đó, một số công ty của Mỹ cũng bắt đầu muốn đầu tư vào Việt Nam.
Năm 1989, các công ty Mỹ như General Electric, IBM, Boeing, Ford… thông qua các hình thức khác nhau đã đến Việt Nam tìm cơ hội đầu tư. Tháng 11/1991, Mỹ bắt đầu cho phép các doanh nghiệp tổ chức đoàn đi Việt Nam, trong đó một số doanh nghiệp bắt đầu đặt văn phòng đại diện để chuẩn bị cho hoạt động đầu tư.
Đến tháng 12/1992, Văn phòng kiểm soát tài sản nước ngoài của Mỹ đã cấp tổng cộng 160 giấy phép cho các công ty Mỹ để hoạt động tại Việt Nam. Trong số này, 27 công ty đã có hoạt động thực sự, và 18/27 công ty này đã được Bộ Thương mại Việt Nam cấp giấy phép mở Văn phòng đại diện.
Trong khi đầu tư trực tiếp (FDI) của Mỹ vào Việt Nam từ 1988 đến 1993, khi lệnh cấm vận chưa được dỡ bỏ, chỉ đạt 3,3 triệu USD, thì chỉ sau năm đầu tiên lệnh cấm vận được dỡ bỏ (1994), con số này đạt trên 266 triệu USD, tức trên 80 lần của toàn bộ 6 năm trước.
Như vậy, sau hơn một năm bỏ cấm vận, Mỹ đã chuyển từ vị trí thứ 11 (1994) lên vị trí thứ 8 trong tổng số trên 50 quốc gia, vùng lãnh thổ có vốn đầu tư FDI vào Việt Nam. Nếu chỉ tính riêng năm 1995 thì Mỹ đã chuyển lên vị trí thứ 6, chỉ sau Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc, Singapore và Thụy Điển.
Điều quan trọng hơn là sau khi Mỹ dỡ bỏ lệnh cấm vận, các nhà đầu từ các quốc gia khác đã yên tâm đầu tư vào Việt Nam.
Với các diễn biến quan trọng sau đó như việc hai nước ký kết Hiệp định thương mại Việt Nam – Mỹ vào năm 2000, Việt Nam gia nhập WTO năm 2007 sau nhiều năm đàm phán, chủ yếu với Mỹ, dòng vốn đầu tư của Mỹ vào Việt Nam đã có sự gia tăng rất đáng kể, mặc dù vẫn chưa xứng với tiềm năng.
Theo thống kê của Bộ Kế hoạch và đầu tư, tính đến cuối năm 2022, Mỹ đang đứng thứ 11 trên tổng số 143 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam với tổng vốn đăng ký FDI còn hiệu lực tính đến tháng 10/2023 là 11,8 tỷ USD và 1.306 dự án.
Tuy nhiên trong khi quan hệ đầu tư còn khiêm tốn, quan hệ thương mại đã có sự tăng trưởng rất nhanh chóng. Năm 2021, xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và Mỹ đạt 111,56 tỷ USD, tăng gần 21 tỷ USD so với mốc 90,8 tỷ USD trong năm 2020. Trong lịch sử ngoại thương của Việt Nam, Mỹ là đối tác thương mại thứ hai đạt được mốc 100 tỷ USD kim ngạch xuất nhập khẩu (sau Trung Quốc).
Nhân chuyến thăm Việt Nam vào năm 2023 của Tổng thống Mỹ Joe Biden, hai nước đã tuyên bố nâng cấp quan hệ lên đối tác chiến lược toàn diện, mở ra nhiều cơ hội hợp tác quan trọng trong tương lai. Sau 30 năm thoát khỏi lệnh cấm vận, Việt Nam giờ đây đang dần trở thành một đối tác kinh tế quan trọng của Mỹ.
Quân đội Mỹ đã tăng gấp đôi nỗ lực răn đe Trung Quốc và CHDCND Triều Tiên bằng cách triển khai ba tàu sân bay tới Tây Thái Bình Dương, theo tờ Nikkei Asia hôm 1.2.
Hai nhóm tác chiến tàu sân bay Mỹ USS Carl Vinson và USS Theodore Roosevelt cùng Lực lượng phòng vệ biển của Nhật Bản diễn tập ở biển Philippines ngày 31.1
Hải quân Mỹ đã cho phép phóng viên từ một số cơ quan truyền thông, trong đó có cả Nikkei Asia, lên tàu sân bay USS Carl Vinson khi tàu này tham gia cuộc tập trận với Nhật Bản ở biển Philippines ngày 31.1.
Tàu USS Carl Vinson đi theo đội hình cùng với một tàu sân bay khác của Mỹ là USS Theodore Roosevelt và tàu khu trục trực thăng JS Ise của Nhật. Tham gia cuộc tập trận còn có 9 tàu khác, theo tuyên bố từ Lực lượng Phòng vệ biển của Nhật Bản.
Ngoài ra, tàu sân bay USS Ronald Reagan, tàu sân bay tiền phương duy nhất của Mỹ đóng tại Yokosuka ở Nhật, hiện đang ở cảng nhà, nghĩa là ba trong số 11 tàu sân bay của Mỹ đang ở Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương. Đây dường như là lần đầu tiên sau hai năm, 3 tàu sân bay Mỹ được bố trí gần cái gọi là chuỗi đảo thứ nhất, nối liền đảo Okinawa của Nhật và Đài Loan với Philippines, theo Viện Hải quân Mỹ.
Theo một quan chức Hải quân Mỹ, một tàu do thám thuộc hải quân Trung Quốc đã bị phát hiện cách tàu sân bay USS Carl Vinson từ 8 đến 16 km. Tàu Trung Quốc này bị nghi là đang thu thập thông tin tình báo về khả năng và hoạt động của Mỹ và Nhật Bản trong cuộc tập trận nói trên, theo Nikkei Asia.
Chuẩn Đô đốc Christopher Alexander, chỉ huy nhóm tác chiến tàu sân bay USS Theodore Roosevelt, khẳng định “việc tàu [hải quân Trung Quốc] đến đây cùng chúng tôi không khiến chúng tôi lo ngại”. Ông nhấn mạnh: “Vào lúc này, chúng tôi ở đây để tăng cường mối quan hệ với các đồng minh và đối tác của mình, đồng thời để thể hiện rằng chúng tôi có thể ứng phó với bất kỳ cuộc khủng hoảng hoặc tình huống bất ngờ nào đang xảy ra ở Tây Thái Bình Dương”.
Trước đó, vào tháng 11.2023, Hải quân Mỹ cũng đã mời một số cơ quan truyền thông tới quan sát các cuộc tập trận của tàu sân bay ở biển Philippines, cho thấy rằng họ mong muốn công chúng chú ý nhiều hơn đến các hoạt động của mình ở Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, theo Nikkei Asia.
Trong khi kế hoạch triển khai tàu sân bay được cho là đã hoàn tất từ nhiều tháng trước, một loạt cuộc tập trận có tác dụng nhắc nhở rằng quân đội Mỹ không phớt lờ khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương trong lúc một cuộc chiến tranh khu vực có thể nổ ra ở Trung Đông.
“Đó là một thông điệp răn đe. Việc gửi thông điệp này sẽ tiếp diễn bất kể điều kiện ở những nơi khác trên thế giới như thế nào vì Trung Quốc là một mối đe dọa ngày càng tăng”, nhà khoa học chính trị cấp cao Jeffrey Hornung tại tổ chức nghiên cứu Rand Cooperation (Mỹ) nhận định.
Ngoài ra, chuyên gia Patrick Cronin, giám đốc an ninh châu Á-Thái Bình Dương tại Viện Hudson (Mỹ), nhận định: “Với cuộc chiến ở châu Âu và nguy cơ xung đột rộng hơn ở Trung Đông, Hải quân [Mỹ] biết đây là thời điểm quan trọng để tăng cường răn đe và trấn an các đồng minh rằng Mỹ sẵn sàng hành động nếu lợi ích của nước này bị đe dọa”.
Ở Trung Đông, USS Dwight Eisenhower là tàu sân bay duy nhất của Mỹ xử lý căng thẳng gia tăng trong khu vực. Tàu sân bay USS Gerald Ford, được điều đến phía đông Địa Trung Hải, đã rời khu vực vào tháng 1 và được thay thế bằng tàu đổ bộ tấn công USS Bataan.
Hiện chưa có thông tin về phản ứng của Trung Quốc cũng như Triều Tiên đối với động thái trên của Mỹ.
Các kế hoạch đang được tiến hành nhằm tạo ra một mạng lưới “hành lang quân sự” trên khắp châu Âu, nới lỏng qui định hạn chế trao đổi thiết bị và nhân sự giữa các quốc gia.
Tờ Times đưa tin, vào tháng 11/2023, Giám đốc hậu cần châu Âu của NATO, Trung tướng Alexander Sollfrank đã kêu gọi các nước trong khu vực thiết lập các khu vực cho phép quân đội và đạn dược di chuyển nhanh chóng trong trường hợp xảy ra xung đột lớn với Nga.
Tờ Times lưu ý rằng ý tưởng này đã được các nhà lãnh đạo quân sự đưa ra trong nhiều năm, đồng thời cho biết các cuộc đàm phán về việc tạo ra các hành lang “hiện đang được tiến hành” và kết quả có thể được công bố trước hội nghị thượng đỉnh tiếp theo của NATO vào tháng 7. Tờ báo này cho biết “mớ hỗn độn các quy định hạn chế trao đổi và vận chuyển thiết bị quân sự” ở EU đã tạo ra “sự đau đầu đáng kể” đối với các nhà hoạch định NATO.
“Các cuộc tập trận xuyên biên giới thường liên quan đến số lượng giấy tờ chóng mặt, có thể gây tốn kém thời gian quan trọng trong một cuộc khủng hoảng quân sự”, tờ báo nói thêm.
Trong một cuộc phỏng vấn với Times, Sollfrank cho biết các thành viên khối quân sự do Mỹ đứng đầu phải bắt đầu ngay lập tức, nỗ lực “giảm bớt hoặc điều chỉnh tình trạng quan liêu” bất cứ khi nào có thể.
“Mọi người đều có thể bắt đầu. Cứ làm đi. Và đừng chờ đợi. Bởi vì cuối cùng chúng ta không còn thời gian để lãng phí nữa”, ông cảnh báo.
Người đứng đầu hậu cần nêu ví dụ về việc lính dù bị cấm sử dụng dù của các quốc gia thành viên khác, ngay cả khi không có lý do gì cho việc hạn chế đó.
“Vấn đề ở đâu, chẳng hạn như việc một lính nhảy dù từ quốc gia châu Âu A sử dụng dù từ quốc gia láng giềng B sau khi được huấn luyện về hệ thống này, hoặc gắn thiết bị từ quốc gia này vào trực thăng của quốc gia khác?” Ông nói, nếu không có vấn đề “kỹ thuật hoặc an ninh” nào liên quan thì sẽ không có trở ngại nào.
Trong những tuần gần đây, các quan chức cấp cao ở một số quốc gia châu Âu đã kêu gọi công dân của họ chuẩn bị cho một cuộc đối đầu quân sự tiềm tàng với Nga.
Tuy nhiên, Moskva đã nhiều lần khẳng định rằng họ không quan tâm đến việc tiến hành chiến tranh chống lại NATO. Tổng thống Nga Vladimir Putin bác bỏ những cảnh báo này là “vô nghĩa” và nói rằng Nga “không quan tâm” đến việc tấn công bất kỳ thành viên nào trong khối.
Liên quan đến quần đảo tranh chấp, Thủ tướng Nhật Fumio Kishida nói Tokyo mong muốn có hiệp ước hòa bình với Nga, nhưng không từ bỏ các lệnh trừng phạt Nga.
Theo Hãng thông tấn Tass, Phó chủ tịch Hội đồng An ninh Nga Dmitry Medvedev ngày 30-1 nói Nga sẽ triển khai nhiều vũ khí mới đến quần đảo Kuril đang tranh chấp với Nhật Bản.
Theo đó, Nga và Nhật Bản chưa từng ký một hiệp ước hòa bình chính thức chấm dứt xung đột giữa hai bên liên quan đến quần đảo Kuril kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ 2.
Quần đảo Kuril, phía Tokyo gọi là lãnh thổ phương bắc, là trung tâm trong cuộc tranh chấp lãnh thổ giữa Nga và Nhật.
Ông Medvedev nói Nga không phản đối việc ký kết hiệp ước hòa bình với Nhật Bản, chỉ khi Tokyo không còn tranh chấp chủ quyền của quần đảo này với Nga.
Trong Sách xanh ngoại giao 2022 công bố ngày 22-4, Nhật Bản đã gọi bốn hòn đảo đang tranh chấp với Nga ở phía bắc nước này là “nơi bị Nga chiếm đóng trái phép”.
Trong khi đó, Điện Kremlin khẳng định bốn hòn đảo trên là một phần không thể thiếu của lãnh thổ Nga.
Cũng trong ngày 30-1, phát biểu trước Hạ viện, Thủ tướng Nhật Bản Fumio Kishida cho biết Nhật muốn ký kết hiệp ước hòa bình với Nga, nhưng đồng thời có ý định tiếp tục chính sách trừng phạt chống lại Nga và ủng hộ Ukraine.
“Chúng ta sẽ tiếp tục tích cực thúc đẩy các lệnh trừng phạt đối với Nga và ủng hộ Ukraine”, ông Kishida nói. Thủ tướng Nhật cũng nêu tình thế khó khăn trong quan hệ song phương Nhật – Nga, khi Matxcơva tiến hành cuộc chiến tại Ukraine.
“Tuy nhiên, Nhật Bản vẫn cam kết kiên quyết với lộ trình cho việc giải quyết tranh chấp lãnh thổ và kết thúc bằng một hiệp ước hòa bình”, ông Kishida nói thêm.
Tháng 3-2022, Bộ Ngoại giao Nga ra thông báo Matxcơva đã chấm dứt đàm phán với Tokyo cho một hiệp ước hòa bình, khi Nhật Bản đơn phương có các biện pháp hạn chế đối với Nga do cuộc chiến tại Ukraine.
Nga cũng đã rút khỏi đối thoại với Nhật Bản cho các hoạt động kinh tế chung ở phía nam quần đảo Kuril và ngăn chặn việc gia hạn tư cách đối tác đối thoại của Nhật Bản trong Tổ chức Hợp tác kinh tế Biển Đen.
Tàu hộ tống Nguyên soái Shaposhnikov của Nga đã thực hiện cuộc tập trận chống ngầm tại Biển Đông, một phần trong chuyến hải trình xa từ hôm 22.1.
Tàu hộ tống Nguyên soái Shaposhnikov
Tàu hộ tống Nguyên soái Shaposhnikov của Hạm đội Thái Bình Dương Nga đã thực hiện một cuộc tập trận chống ngầm tại Biển Đông, Reuters ngày 29.1 dẫn thông tin từ truyền thông Nga, vốn trích lại từ thông báo của hạm đội.
Nội dung của cuộc tập trận là tìm kiếm và tiêu diệt tàu ngầm. Cụ thể, sau khi phát hiện tàu ngầm của đối phương và xác định tọa độ nhờ máy bay trực thăng, tàu chiến phóng các ngư lôi và thả vũ khí chống ngầm để tiêu diệt.
Tàu Nguyên soái Shaposhnikov rời khỏi cảng Vladivostok ở vùng Viễn Đông của Nga vào ngày 22.1. Một biên đội tàu chiến của Hạm đội Thái Bình Dương Nga, gồm soái hạm Varyag và tàu Nguyên soái Shaposhnikov, đang trong chuyến hải trình xa bờ, gồm các hoạt động tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương, thăm cảng nước ngoài cho mục đích ngoại giao. Chưa rõ sứ mệnh này kéo dài bao lâu.
Trang tin Eurasian Times hôm 26.1 đưa tin hai tàu chiến nói trên đã thực hiện một cuộc tập trận chiến lược tại biển Hoa Đông, ngăn chặn một cuộc tấn công giả định trên không của đối phương.
Trong cuộc tập trận, các tàu chiến phô diễn chuyên môn bằng cách phát hiện nhiều mục tiêu trên không tiếp cận đội tàu, sau đó kích hoạt hệ thống tác chiến điện tử và hệ thống tên lửa chống máy bay để ngăn chặn mối đe dọa tiềm tàng.
Cuộc tấn công giả định trên không được thực hiện trên máy tính và không có tên lửa phòng không thực tế nào được phóng, Eurasian Times dẫn thông báo của Quân khu miền Đông của Nga.
Tham nhũng trong quân đội là vấn đề đặc biệt nhạy cảm ở Ukraine. Cục an ninh tình báo của Ukraine SBU đã phát hiện ra một hệ thống gian lận khổng lồ ở ngay trong Bộ Quốc phòng. Cơ quan an ninh tình báo Ukraine SBU tuyên bố, đã phát hiện ra một kế hoạch tham nhũng trong việc mua vũ khí trị giá khoảng 40 triệu USD trong quân đội Ukraine.
Các nhà điều tra cáo buộc 100.000 quả đạn súng cối không được cung cấp cho quân đội trong khi một phần tiền lại được chuyển sang các tài khoản khác ở nước ngoài. Ảnh: NPR
Một cuộc điều tra “đã lật tẩy vụ gian lận giữa các quan chức Bộ Quốc phòng và giám đốc công ty cung cấp vũ khí Lviv Arsenal.” Tuyên bố cho biết, vụ tham ô liên quan đến việc mua 100.000 quả đạn súng cối cho quân đội.
“Theo điều tra, các quan chức cấp cao cũ và mới của Bộ Quốc phòng cùng người đứng đầu các công ty con đều có liên quan đến vụ tham ô”, SBU cho biết hôm thứ Bảy (giờ địa phương).
Theo SBU, hợp đồng mua đạn sũng cối với Lviv Arsenal đã được ký kết vào tháng 8 năm 2022, sáu tháng sau khi chiến tranh bắt đầu. Việc thanh toán đã được thực hiện trước khi nhận hàng và một khoản tiền được chuyển ra nước ngoài.
Tuy nhiên, theo tuyên bố, vũ khí chưa bao giờ được chuyển giao.
“Căn cứ vào các báo cáo nghi chứng” – Thủ tục tố tụng pháp lý giai đoạn đầu chống lại 5 người trong Bộ và nhà cung cấp vũ khí đã được gửi lên tòa án Ukraine. Một nghi phạm đã bị bắt khi đang cố gắng vượt biên giới Ukraine.
Bộ trưởng Quốc phòng Ukraine Oleksii Reznikov đã bị cách chức vào tháng 9 năm ngoái vì nhiều vụ tham nhũng khác nhau, mặc dù vị quan chức này có danh tiếng vững chắc khi đại diện cho Ukraine trong các cuộc thảo luận với các đồng minh phương Tây.
Cá nhân ông Oleksii Reznikov không bị cáo buộc tham nhũng, nhưng một số vụ tham nhũng đã xảy ra dưới sự quản lý của ông. Trong đó có một vụ liên quan cung cấp thực phẩm cho quân đội, một vụ khác liên quan đến việc mua trang phục.
Tham nhũng gây khó khăn cho Ukraine trong việc gia nhập EU và tổn hại đến tinh thần chiến đấu người dân Ukraine.
Vị chuyên gia Mỹ đã chỉ ra những cách mà Nga và Triều Tiên có thể tăng cường hợp tác quốc phòng trong tương lai và hành động này sẽ khiến Mỹ phải lo ngại.
Triều Tiên trong những năm gần đây đã đầu tư nhiều vào việc hiện đại hóa các cơ sở không quân của mình và trình làng các loại tên lửa không đối không nội địa mới.
Công việc này bắt đầu vào năm 2021 tại một trong những căn cứ không quân quan trọng nhất của nước này, đó là sân bay Sunchon. Sân bay này nằm cách Bình Nhưỡng 45 km về phía đông bắc. Đây là căn cứ chính, có đường băng lớn, các nhà chờ máy bay, sân đỗ và đường lăn hiện đại.
Nhiều chuyên gia phân tích cho rằng, Triều Tiên đã hiện đại hóa toàn diện hệ thống phòng không trên mặt đất với các thế hệ hệ thống tên lửa đất đối không mới ngày càng hiện đại, vì vậy họ sẽ tìm cách đầu tư vào việc mua bổ sung các máy bay chiến đấu mới để đóng vai trò hỗ trợ trên không.
Triều Tiên nỗ lực mua máy bay chiến đấu
Thương vụ mua máy bay chiến đấu gần đây nhất của Triều Tiên được biết đến là 30 chiếc chiến đấu cơ thế hệ thứ ba MiG-21BiS, mua từ Kazakhstan năm 1997.
Tuy nhiên, đơn đặt hàng này chưa bao giờ được thực hiện do sự can thiệp của Mỹ đã gây áp lực lên Kazakhstan. Điều này nêu bật những khó khăn Bình Nhưỡng phải đối mặt trong thời kỳ hậu Xô Viết, nơi tất cả các đối tác thương mại lớn ngoại trừ Iran đều hết sức thận trọng để tránh làm mất lòng Washington.
Các nguồn tin Triều Tiên cũng cho biết, nước này tiếp tục được cấp phép sản xuất máy bay chiến đấu thế hệ thứ tư MiG-29 với sự hỗ trợ của Nga cho đến đầu những năm 2000, trong đó những chiếc MiG do Triều Tiên chế tạo đã bay lần đầu tiên vào năm 1993 và 15 chiếc đã được sản xuất vào cuối thập kỷ này.
Sau đó Triều Tiên cũng đã tìm cách mua máy bay chiến đấu Su-35 của Nga để bổ sung cho lực lượng không quân nhằm thay thế những chiếc MiG-29. Tuy nhiên có hai yếu tố chính đã ngăn cản Moskva bán máy bay mới cho Triều Tiên khi đó.
Đầu tiên là việc duy trì quan hệ với Hàn Quốc và Mỹ, điều mà từ những năm 1990 đã được Moskva ưu tiên trong chiến lược hướng đông của mình. Và rào cản thứ hai là do các nghị quyết của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc cấm các nước xuất khẩu vũ khí cho Triều Tiên.
Cách Nga hỗ trợ Triều Tiên
Chuyên gia về an ninh Triều Tiên AB Abrams nhận định rằng, Nga có thể tìm cách để vượt qua lệnh cấm vận vũ khí của Hội đồng Bảo an LHQ và ông chỉ ra Moskva có hai phương án chính để đạt được điều này.
Đầu tiên, có thể Nga sẽ xuất khẩu máy bay chiến đấu sang Triều Tiên, những loại máy bay mà Triều Tiên đã có sẵn như MiG-29. Để đối phó với các câu hỏi từ phương Tây thì họ có thể giải thích rằng, đây là những chiếc máy bay đã được sản xuất và nâng cấp trong chính Triều Tiên.
Hiện Triều Tiên đang biên chế một trung đoàn máy bay MiG-29, bất cứ hình ảnh được chụp bằng vệ tinh nào mà phương Tây đưa ra đều có thể được giải thích đơn thuần là những chiếc MiG-29 được đưa ra khỏi kho và đây là những chiếc máy bay được giao trước khi lệnh cấm vận được áp dụng.
Những chiếc MiG-29 mới của Triều Tiên có thể sẽ được hưởng lợi từ hệ thống điện tử hàng không, radar mới và tích hợp những vũ khí hiện đại hơn. Vị chuyên gia này nhấn mạnh rằng, MiG-29 có chi phí hoạt động tương đối thấp và vẫn là máy bay chiến đấu tối ưu cho nhu cầu phòng thủ của Triều Tiên hiện nay.
Lựa chọn thứ hai được Abrams nhấn mạnh có thể mang lại nhiều biến đổi hơn cho cán cân quyền lực ở Đông Á là việc “chia sẻ hệ thống vũ khí và thành lập các đơn vị chung giữa hai nước”. Ví dụ tiêu biểu là các đơn vị không quân của Liên Xô trong Chiến tranh Triều Tiên và việc Mỹ chia sẻ vũ khí hạt nhân cho các hoạt động chung với các thành viên NATO ở châu Âu. Vị chuyên gia này chỉ ra rằng, “Nếu Triều Tiên mua những loại máy bay chiến đấu mới của Nga, chẳng hạn như máy bay chiến đấu Su-35 và Su-57 – những chiếc máy bay được lãnh đạo Kim Jong-un thị sát trong chuyến thăm Nga vào tháng 9/2023. Những chiếc máy bay này có thể sẽ có nhân viên Nga đi cùng để hoạt động tại các căn cứ của Triều Tiên và được thông báo là hoạt động dưới sự chỉ đạo của một đơn vị chung do Nga quản lý. Những máy bay chiến đấu tầm xa như vậy rất dễ dàng bay qua Hàn Quốc từ các sân bay của Triều Tiên nằm sát biên giới Nga, trong khi vẫn đảm bảo được các nhiệm vụ như đánh chặn máy bay ném bom Mỹ trong phạm vi khu vực”.
Abrams nói thêm rằng “các đơn vị này sẽ chỉ được trang bị cho nhiệm vụ phòng không nên không có khả năng triển khai vũ khí hạt nhân và có thể sẽ không được trang bị vũ khí không đối đất”. Biện pháp này “sẽ là chìa khóa để xua tan mọi lời chỉ trích rằng, Nga đang cung cấp vũ khí cho Triều Tiên và phớt lờ các nghị quyết của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Đánh giá của Abrams được đưa ra sau khi Nga đã tăng gấp đôi sản lượng máy bay chiến đấu thế hệ thứ năm Su-57 trong năm 2023, với số lượng dự kiến sẽ tăng thêm 80-90% vào năm 2024, cho phép đáp ứng các đơn đặt hàng trong nước và sẽ bảo đảm cho xuất khẩu.
Trước đó, Nga cũng đã chia sẻ vũ khí hạt nhân cho Belarus vào năm 2023 theo một thỏa thuận tương tự như những thỏa thuận mà Mỹ tiến hành với các đồng minh châu Âu.
Chiều 25/1, Thủ tướng Phạm Minh Chính tiếp ông Jose Fernandez, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Mỹ phụ trách tăng trưởng kinh tế, môi trường và năng lượng, đang thăm và làm việc tại Việt Nam.
Ông Jose Fernandez cho biết, Mỹ sẽ tiếp tục hỗ trợ để phát triển hệ sinh thái bán dẫn tại Việt Nam; thúc đẩy hợp tác trong các lĩnh vực chuyển đổi năng lượng sạch và khoáng sản thiết yếu…
Thủ tướng hoan nghênh chuyến thăm của Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Mỹ để tiếp tục hiện thực hóa, triển khai cụ thể các thỏa thuận của lãnh đạo cấp cao hai nước trong chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Mỹ Joe Biden tháng 9/2023.
Thủ tướng đề nghị Thứ trưởng tiếp tục thúc đẩy phía Mỹ khẩn trương xem xét công nhận Việt Nam có nền kinh tế thị trường và bãi bỏ các hạn chế liên quan xuất khẩu công nghệ cao với Việt Nam; tiếp tục mở rộng và làm sâu sắc hơn nữa hợp tác trên tất cả các lĩnh vực theo tinh thần lợi ích hài hòa, rủi ro chia sẻ, trong đó có các lĩnh vực mới, mang tính đột phá, như đổi mới sáng tạo, trí tuệ nhân tạo, hợp tác về chuỗi cung ứng, chuyển đổi xanh và đặc biệt là đẩy mạnh hợp tác về chuỗi cung ứng bán dẫn.
Thủ tướng cũng đề nghị Mỹ tích cực hỗ trợ Việt Nam nâng cao năng lực tham gia Khuôn khổ kinh tế Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương vì sự thịnh vượng (IPEF) đang tiếp tục được đàm phán; triển khai khuôn khổ quan hệ Đối tác Chuyển đổi năng lượng công bằng (JETP), hỗ trợ Việt Nam thực hiện mục tiêu giảm phát thải ròng khí nhà kính về “0” vào năm 2050, đặc biệt là về tài chính, chuyển giao công nghệ, nâng cao năng lực, trên cơ sở phù hợp với điều kiện kinh tế-xã hội của Việt Nam.
Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Mỹ cho biết, chuyến thăm nhằm tiếp tục cụ thể hóa, thúc đẩy khuôn khổ quan hệ Đối tác Chiến lược toàn diện giữa hai nước; thông báo kết quả làm việc với các bộ, ngành về nội dung này trong chuyến thăm.
Ông cho biết, phía Mỹ đang rất tích cực tiếp tục xem xét, giải quyết các vấn đề mà Thủ tướng đã nêu liên quan quy chế kinh tế thị trường và các hạn chế liên quan xuất khẩu công nghệ cao.
Cho rằng cần tận dụng thời cơ hiện nay để thúc đẩy quan hệ hai nước và đánh giá cao tinh thần khởi nghiệp tại Việt Nam, ông Jose Fernandez nhấn mạnh, cần phát huy nhanh chóng những tiềm năng rất lớn của Việt Nam trong lĩnh vực bán dẫn. Mỹ sẽ tiếp tục hỗ trợ để phát triển hệ sinh thái bán dẫn tại Việt Nam, trong đó có hợp tác đào tạo nhân lực, thúc đẩy thương mại bán dẫn.
Phía Hoa Kỳ cũng sẽ thúc đẩy hợp tác trong các lĩnh vực chuyển đổi năng lượng sạch và khoáng sản thiết yếu. Đánh giá cao cam kết của Việt Nam về giảm phát thải ròng, ông cho biết qua trao đổi với ông, có khoảng 15 doanh nghiệp Mỹ đang mong muốn đầu tư ngay vào Việt Nam khoảng 8 tỷ USD trong lĩnh vực năng lượng sạch, đề nghị Việt Nam tiếp tục tháo gỡ các vấn đề liên quan đến thủ tục pháp lý.
Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Mỹ đề xuất tổ chức đối thoại giữa hai bên về các lĩnh vực kinh tế quan trọng nói trên.
Hoan nghênh các đề xuất này, Thủ tướng cho biết Việt Nam đang tích cực triển khai nhanh chương trình đào tạo 50.000-100.000 nhân lực chất lượng cao cho lĩnh vực bán dẫn; hoàn thiện cơ sở pháp lý (sửa đổi Luật Điện lực) với lĩnh vực năng lượng tái tạo; hoàn thiện các quy hoạch trong lĩnh vực đất hiếm; qua đó tạo thuận lợi, thu hút đầu tư vào các dự án cụ thể, thúc đẩy hợp tác, phát triển trong 3 lĩnh vực nói trên.
Đánh giá cao thông điệp nhất quán của Mỹ ủng hộ một Việt Nam “mạnh, độc lập, tự cường và thịnh vượng”, Thủ tướng nêu rõ, Việt Nam sẵn sàng cùng Mỹ triển khai quan hệ Đối tác Chiến lược toàn diện theo hướng ngày càng thực chất, đi vào chiều sâu, ổn định trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và thể chế chính trị của nhau; phù hợp với lợi ích của nhân dân hai nước và đóng góp cho hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực.
Được xem là lực lượng quan trọng nhất, chủ chốt nhất trong lịch sử chiến tranh kéo dài gần 5000 năm của nhân loại, là thành phần mà máy móc AI không thể thay thế được, đó chính là Lục quân, nơi lòng can đảm và sự dũng cảm của con người được thử thách qua từng giây, từng phút. Thuận theo dòng lịch sử chiến tranh, các đơn vị lục quân ngày nay cũng ngày càng được hiện đại hóa mà như người ta vẫn nói đó là “trang bị tới tận răng”. Vậy, Việt Nam đã đi tới đâu trên con đường này?
Lực lượng lục quân trong QĐND Việt Nam
Con người chính là yếu tố quan trọng nhất trong một cuộc chiến. Nhờ có yếu tố này mà chiến tranh đã trở thành một môn nghệ thuật với đầy biến số có thể xảy ra. Binh pháp từ Đông sang Tây, tự cổ chí kim, mỗi khi nhắc tới xây dựng quân đội nói chung hay lục quân nói riêng đều không hẹn mà gặp đúc kết lại thành một câu nói, “Binh cốt tinh, không cốt đông”. Điều này chính xác với cả những quân đội hiện đại ngày nay.
Việt Nam lúc cao điểm nhất vào những năm 1980, khi chiến sự vẫn đang nổ ra trên hai đầu đất nước, từng có lúc quân số lên tới 1,6 triệu quân thường trực, chia thành 9 quân đoàn và 13 quân khu, chủ yếu là Lục quân. Điều này đã tạo ra những gánh nặng khổng lồ về kinh tế và lực lượng lao động. Chính vì vậy, ngay sau khi chiến sự hai đầu ổn định, Bộ Quốc phòng đã phải cắt giảm quân đội liên tục xuống như mức hiện này là 450.000 quân, chia thành 4 quân đoàn chủ lực, 7 Quân khu và 1 Bộ Tư lệnh Thủ đô, trong đó lục quân chiếm đến 80% nhân lực. Điều này cũng dễ hiểu, bởi Việt Nam phía Tây và phía Bắc đều là đất liền, đặc biệt mối họa phương Bắc luôn thường trực trong suốt hàng ngàn năm lịch sử. Vậy nhưng, như đã từng nói, “Binh cốt tinh, không cốt đông”. Chính vì vậy, việc tinh gọn biên chế lực lượng Bộ Binh vẫn là chủ trương hiện nay của Việt Nam, ít nhất là đến năm 2030.
Quân đội nhân dân Việt Nam dự kiến lấy cấp sư đoàn làm đơn vị cơ bản để xây dựng và chính thức thành lập Quân chủng Lục quân, để có thể xây dựng theo các mô hình sư đoàn mạnh, tăng thêm về tăng thiết giáp, pháo binh, phòng không, có thể biên chế trung đoàn bộ binh cơ giới, sư đoàn nhẹ, tổ chức như sư đoàn hiện nay, biên chế ở cấp quân khu, nhất là những quân khu ở địa hình rừng núi, tổ chức Bộ Tư lệnh Lục quân chỉ huy lực lượng cơ động chiến lược, gồm các sư đoàn mạnh và các lữ đoàn binh chủng hiện đại. Ở thời điểm hiện tại Việt Nam đang tiến hành sáp nhập các quân đoàn chủ lực. Cụ thể, có quân đoàn 1, Binh đoàn Quyết Thắng hợp nhất với Quân đoàn 2, Binh đoàn Hương Giang, sáp nhập lại thành Quân đoàn 12 trong năm 2023. Sau đó sẽ là Quân đoàn 3 và Quân đoàn 4 cũng sẽ được sáp nhập trong thời gian tới.
Một câu hỏi được đặt ra đó là: sáp nhập như vậy có nghĩa là sẽ giảm quân số, liệu có ảnh hưởng gì tới đất nước khi có chiến tranh hay không? Như chúng ta đã biết, quân đoàn là những nắm đấm chủ lực dùng để phản công lại kẻ thù khi có chiến tranh. Việc số lượng ít hơn có ảnh hưởng gì tới sức mạnh tổng thể hay không?
Sau khi tìm hiểu sâu, chúng tôi nhận thấy rằng đây cũng là xu hướng chung của toàn thế giới và Việt Nam đã có sự học tập và tham khảo kinh nghiệm của rất nhiều cường quốc, đặc biệt là từ quân đội Mỹ. Tất nhiên là có sự điều chỉnh cho phù hợp với tình hình của Việt Nam vì chúng ta không có ngân sách quốc phòng và nguồn nhân lực khổng lồ cũng như những mục đích giống họ. Theo đó, Hoa Kỳ đã lấy các đơn vị sư đoàn làm đơn vị cơ bản. Thế nhưng, một sư đoàn của họ được trang bị đầy đủ từ xe tăng, pháo tự hành, pháo phóng loạt…. Thậm chí, chính Hoa Kỳ cũng đang chuyển dần từ việc lấy sư đoàn làm cơ bản thành lữ đoàn làm đơn vị cơ bản. Trở lại với nội dung chính, Việt Nam chủ trương xây dựng quân đội tinh, gọn và mạnh. Làm sao để đạt được mục tiêu đó?
Thực ra, đây là ba nội dung có vấn đề khác nhau, nhưng có một mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Vậy nên, trong quá trình điều chỉnh tổ chức quân đội, không được xem nhẹ bất cứ một nội dung nào.
Tinh có nghĩa là Tinh nhuệ, muốn nói tới chất lượng con người và vũ khí trang bị. Gọn có nghĩa là các đầu mối tổ chức cơ quan, đơn vị phải được xây dựng cân đối, đồng bộ, hợp lý, khoa học giữa các thành phần lực lượng, không được để chồng chéo chức năng, nhiệm vụ. Mạnh nghĩa là sức mạnh quân đội phải hội tụ được ba yếu tố đó là tổ chức con người, vũ khí trang bị và nghệ thuật quân sự Việt Nam, tạo thành một sức mạnh tổng hợp vượt trội.
Vì vậy quân đội mạnh không nhất thiết là phải đông đảo. Với việc sáp nhập hai quân đoàn, Việt Nam có thể từng bước cắt giảm tới hàng vạn bộ đội, tạo ra dư địa ngân sách cho hiện đại hóa quân đội. Suy cho cùng, mục tiêu của Việt Nam vẫn là tiến tới cơ giới hóa 100% quân đội.
Thay vì có một trung đoàn xe tăng T-54 cũ, chỉ cần một tiểu đoàn T-90 mới đã đạt được sức mạnh vượt trội, mà quân số lại ít hơn nhiều. Nếu nhìn rộng ra, một quân đoàn với trang bị mạnh mẽ, hiện đại, sức chiến đấu cao còn hơn hai quân đoàn cũ. Mặt khác, việc tinh gọn lực lượng đồng nghĩa là sẽ có thêm ngân sách quốc phòng để hiện đại hóa từ trang bị cá nhân đến cơ giới hóa quân đội.
Nếu các bạn theo dõi Thời sự Quốc phòng vào năm 2022, kỷ niệm 55 năm thành lập Sư đoàn 10, đã cho thấy bộ mặt của các sư đoàn tương lai của Việt Nam. Sư đoàn 10 là đơn vị được cải tổ biên chế để trở thành sư đoàn bộ binh đủ quân thời bình, chỉ ở cấp sư đoàn thôi mà đã có biên chế cả xe tăng, pháo cao xạ tầm thấp, pháo tự hành 122 mm và cả pháo phản lực nữa.
Ở các phân đội bộ binh, cũng được tăng cường hỏa lực, có cả tên lửa chống tăng B-72, súng phóng lựu liên thanh AGS-17, súng chống tăng RPG-29. Thay thế súng AK-47 kiểu cũ bằng súng tiểu liên STV, biên chế cấp sư đoàn đã như vậy, thì hỏi biên chế cấp quân đoàn kiểu mới còn mạnh mẽ như thế nào? Chắc là chúng ta cũng có thể hình dung ra được.
Thứ hai, trong điều kiện hiện nay, chiến tranh không phải sẽ xảy ra lập tức theo kiểu nay tuyên chiến, mai đánh luôn. Kẻ thù cũng cần điều kiện chính trị, tìm thời cơ hội thích hợp để đẩy nước ta vào hoàn cảnh rối loạn, rồi mới có thể ra tay. Vì vậy, từ khi tình hình căng thẳng đến khi chiến sự, nhiều khi kéo dài hàng tháng, thậm chí là cả năm trời. Chừng đó thời gian là đủ để Việt Nam huy động các lực lượng dự bị động viên hay các đơn vị biên chế, thiếu đơn vị khung thường trực thì sẽ được bổ sung thêm trang bị, sắp xếp thành các đơn vị đủ quân, đủ hỏa lực, không loại trừ khả năng khi có chiến tranh sẽ quay về như cũ vì lực lượng dự bị của Việt Nam lên đến 5 triệu quân, chưa kể chúng ta mới chỉ nói tới các quân đoàn, còn chưa nói tới các quân khu, các lực lượng địa phương, các đơn vị bán vũ trang.
Thứ ba, mang tiếng là có một quân đoàn bao gồm 3 sư đoàn bộ binh và nhiều lữ đoàn binh chủng hợp thành, nhưng thực ra trong thời bình, mỗi quân đoàn cũng chỉ có một sư đoàn bộ binh đủ quân mà thôi. Còn lại là biên chế thiếu, biên chế không thường trực. Mỗi quân khu cũng chỉ có một sư đoàn bộ binh đủ quân. Tức là như hiện nay, cả nước sẽ có 11 sư đoàn bộ binh đủ quân. Đây chính là lực lượng sẵn sàng chiến đấu cao nhất để đáp trả các đòn tấn công bất ngờ của kẻ thù xâm lược.
Vậy, khi sáp nhập 4 quân đoàn xuống thành 2 quân đoàn, trước đây mỗi quân đoàn sẽ có một sư đoàn đủ quân, bây giờ mỗi quân đoàn mới duy trì từ hai hoặc ba sư đoàn bộ binh đủ quân. Như vậy, số sư đoàn đủ quân không giảm đi mà còn tăng thêm. Điểm mấu chốt chính là số quân đoàn giảm đi, nhưng số sư đoàn đủ quân vẫn giữ nguyên. Quân đoàn mới được tăng cường về vũ khí trang bị, thiên về cơ động, sẵn sàng chiến đấu, giảm bớt các đơn vị biên chế thiếu, chuyển các chức năng như quản lý dự bị động viên về cho các quân khu. Đây chính là cách tổ chức quân đội chuyên nghiệp hóa theo kinh nghiệm từ các nước tiên tiến. Nếu ta để ý, thì việc sáp nhập quân đoàn đã gần như gạo nấu thành công rồi mới công bố cho toàn dân biết. Năm 2022, đã xuất hiện những thông tin về việc này, thế nhưng chỉ dưới dạng tin đồn, đến tháng 10/2023, Bộ Quốc phòng mới có tuyên bố chính thức thì Quân đoàn 1 và 2 đã được sáp nhập. Như vậy, ngay trong thời điểm này, có khi Quân đoàn 3 và 4 cũng đang sáp nhập sắp xong rồi cũng nên, ai mà biết được chứ.
Một vấn đề khác, khi nói tới Lục quân nói chung và bộ binh nói riêng, đó là trang bị cá nhân của người lính. Việt Nam, từ trước tới nay, có hai vấn đề được quan tâm nhất, đó là trang bị đại trà áo giáp chống đạn cho người lính và thay thế vũ khí bộ binh kiểu cũ. Trong nhiều năm, mỗi khi nhắc tới trang bị áo giáp chống đạn, chúng ta chỉ thường được thấy chúng trang bị cho những đơn vị đặc biệt như Trinh sát Đặc công, Đặc nhiệm Biên phòng, Đặc công chống khủng bố… Nhưng, đến năm 2023, đã xuất hiện những hình ảnh cho thấy việc tiến hành trang bị đại trà áo giáp chống đạn đang được triển khai.
Ngày 16/9/2023, trong cuộc diễn tập tác chiến phòng thủ Quân khu 3, Đại tướng Phan Văn Giang, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, đã tham gia chỉ đạo thực binh bắn đã thật tại Trường bắn Quốc gia khu vực 1. Kết thúc diễn tập tác chiến phòng thủ Quân khu 3, điều đặc biệt ở đây đó là theo hình ảnh được quay trực tiếp ta có thể thấy rằng, các chiến sĩ Quân khu 3 đều được trang bị áo chống đạn hạng trung, mặc dù mũ thì vẫn là mũ A2 chỉ có tác dụng chống mảnh văng thế nhưng đem lại một cái nhìn khác biệt hoàn toàn.
Theo những hình ảnh được công bố, các chiến sĩ Quân khu 3 được trang bị áo giáp bộ binh hạng trung lắp tấm da cường chống đạn, đây là một kiểu tấm kính được bọc thép hoặc sản xuất bằng vật liệu tổng hợp gốm hợp chất, được lắp vào vật mang hoặc áo chống đạn có thể được sử dụng độc lập hoặc kết hợp với các loại áo giáp khác.
Từ trước tới nay, việc nghiên cứu và sản xuất áo giáp chống đạn được giao cho Nhà máy Z117, vấn đề nan giải trong việc trang bị áo giáp đại trà cho quân đội không phải là công nghệ hạn chế mà là chưa chốt được phương án cuối cùng cho quân đội. Trong 20 năm qua, Nhà máy Z117 đã nghiên cứu, thiết kế, để chế tạo, sản xuất số lượng lớn áo giáp chống đạn cho quân đội. Thế nhưng, vấn đề là chưa chốt được thiết kế cuối cùng, đến tận năm 2023, Viện Công nghệ Quốc phòng mới chốt được phương án tối ưu, phát triển vật liệu gốm và vật liệu composite cấp độ chống đạn đạt tiêu chuẩn của Mỹ, tấm da cường chống đạn được chế tạo từ 100% composite dama, có thể chống được đạn súng tiểu liên AK47 cỡ 7,62 ly x39 theo tiêu chuẩn ở cự ly 15 m. Sau khi được định hình, các miếng gốm này sẽ được nung trong nhiệt độ thích hợp để miếng gốm kết khối đúng theo tiêu chuẩn. Đây là sản phẩm của đề tài khoa học cấp Nhà nước Nghiên cứu chế tạo do Tiến sĩ Tạ Văn Khoa cán bộ phòng vật liệu Viện Công nghệ, làm chủ nhiệm đề tài. Áo giáp chống đạn được chế tạo từ 100% composite denama có trọng lượng nhẹ phù hợp để trang bị cho bộ đội Việt Nam. Từ đây, các nhà khoa học của Viện Công nghệ đã mở ra khả năng tự chủ cho việc sản xuất hàng loạt với giá thành rẻ hơn nhập ngoại. Điều đáng nói ở đây, là việc làm chủ công nghệ chế tạo từ A – Z trong nước đã được hoàn thành từ tận năm 2012 và đã có nhiều mẫu thiết kế mới ra mắt thế nhưng phải mất tới 10 năm mới chốt được phương án.
Tháng 9 vừa qua, lần đầu tiên, đơn vị bộ binh của cả một quân khu được trang bị áo giáp chống đạn. Điều này cho thấy rằng việc trang bị đại trà cũng đang được triển khai trên từng quân khu một.
Tại sao chưa trang bị cho các quân đoàn đầu mà là các quân khu đảm bảo công tác quốc phòng địa phương vì từ đó sẽ được đúc kết kinh nghiệm cho việc trang bị mới và tổ chức ở cấp quân đoàn chủ lực. Hơn nữa, việc xây dựng lực lượng quân khu mạnh cũng là mạnh từ gốc. Tuy nhiên, đây thì cũng chỉ là bước đầu mà thôi. Trang bị của người lính đâu chỉ có áo chống đạn, còn cả mũ, ba lô, vũ khí, nhìn đêm, đủ thứ. Đặc biệt là mũ, khi mà các đơn vị bộ binh vẫn sử dụng mũ A2 không chống được đạn, còn rất nhiều phụ kiện nữa.
Vấn đề đến vũ khí cá nhân, như đã nói phần trên, đây là một trong những chủ trương xây dựng quân đội tinh, gọn và mạnh. Với sư đoàn 10 Quân khu 3 là tiêu chuẩn khi Việt Nam thay thế súng trường AK-47 kiểu cũ bằng loại STV, dựa trên thiết kế Galil ACE của Israel. Nói chung, sư đoàn 10 chính là sư đoàn kiểu mẫu cho các đơn vị về sau, còn việc trong tương lai có trang bị thêm hay cái tiến gì không thì thời gian mới trả lời được. Cùng với đó loại bỏ dần các loại vũ khí phóng lựu và chống tăng kiểu cũ, thay thế bằng các loại hiện đại được nội địa hóa trong nước. Vậy nhưng, đây mới chỉ là những bước đầu tiên mà thôi.
Do thời thế thay đổi, Việt Nam phải ưu tiên các đơn vị hải quân, không quân, tác chiến điện tử… được tiến thẳng lên hiện đại trước. Còn Lục quân sẽ là từng bước tiến lên hiện đại. Vậy nên, có một bức tranh toàn cảnh thì ta mới có thể thấy đầu tư trang bị của Việt Nam cho lục quân vẫn là khá thấp và khá chậm chạp so với các đơn vị khác.
Một quan chức cấp cao của Nhà Trắng nói rằng bản chất “mối đe dọa an ninh” mà Triều Tiên gây ra có thể thay đổi rất nhiều trong thập kỷ tới vì mối quan hệ chưa từng có tiền lệ của nước này với Nga.
“Điều chúng tôi đang nhìn thấy giữa Nga và Triều Tiên là mức độ hợp tác chưa từng có tiền lệ trong lĩnh vực quân sự”, ông Pranay Vaddi – Giám đốc cấp cao về kiểm soát vũ khí của Nhà Trắng, phát biểu ngày 18/1.
“Tôi dùng từ ‘chưa từng có tiền lệ’ một cách chủ ý, nghĩa là chúng tôi chưa từng nhìn thấy điều này trước đây”, ông nói.
Quan chức này cho rằng Mỹ không chỉ chú ý đến sự giúp đỡ của Triều Tiên cho Nga trong chiến dịch quân sự ở Ukraine, chủ yếu bằng các hệ thống tên lửa, mà “điều đó có thể đi theo một hướng khác nữa”.
“Điều đó có thể nâng cao năng lực của Triều Tiên như thế nào? Điều đó có nghĩa gì đối với thế trận răn đe mở rộng ở khu vực với Hàn Quốc và Nhật Bản? Tôi nghĩ bản chất của Triều Tiên như một mối đe dọa ở khu vực có thể thay đổi mạnh trong thập kỷ tới vì sự hợp tác này”, ông Vaddi nói.
Quan chức này cho biết, Mỹ sẽ tiếp tục hợp tác với Hàn Quốc tế bảo đảm “năng lực răn đe phối hợp” đáng tin cậy ngay cả khi mối đe dọa từ Triều Tiên tăng lên, hàm ý nói đến “chiếc ô hạt nhân” của Mỹ để bảo vệ các đồng minh.
Ngày 17/1, Nga cho biết đang phát triển quan hệ với Triều Tiên trên mọi lĩnh vực, bao gồm các lĩnh vực nhạy cảm. Phát biểu được đưa ra sau khi Ngoại trưởng Triều Tiên có chuyến thăm Mátxcơva để hội đàm với người đồng cấp Sergei Lavrov và hội kiến Tổng thống Nga Vladimir Putin.
Nga làm sâu sắc hợp tác với Triều Tiên trong mấy năm gần đây. Washington cho rằng Bình Nhưỡng cung cấp tên lửa cho Mátxcơva, đổi lại Nga sẽ chia sẻ công nghệ vũ khí cho Triều Tiên.
Lần thứ hai trong 3 năm, một cuộc xung đột ở khu vực lân cận của châu Âu đe dọa làm suy yếu nền kinh tế vốn đang gặp khó khăn của lục địa già.
Lần này, các cuộc tấn công của lực lượng Houthi ở Yemen nhắm vào các tàu chở hàng ở Biển Đỏ đã buộc nhiều hãng vận tải phải lựa chọn hành trình an toàn hơn nhưng dài hơn và tốn kém hơn đi vòng qua Mũi Hảo Vọng ở cực Nam châu Phi.
Việc thay đổi tuyến đường đang làm tăng chi phí vận chuyển hàng hóa và khiến các nhà bán lẻ lo ngại về tình trạng khan hiếm hàng hóa. Một số nhà máy đã tạm dừng hoạt động do thiếu các linh kiện cần thiết. Nếu mối đe dọa vẫn tiếp diễn, các nhà kinh tế cho rằng, lạm phát ở châu Âu có thể tăng trở lại, đẩy lùi khả năng cắt giảm lãi suất cơ bản.
Ana Boata, nhà kinh tế trưởng tại công ty bảo hiểm Allianz Trade, cho biết: “Đây rõ ràng là một trong những rủi ro lớn, nó có thể làm giảm tăng trưởng và làm tăng lạm phát. Chúng ta có thể nói về nguy cơ suy thoái”.
Các tàu đi qua Biển Đỏ vận chuyển khoảng 40% hàng hóa trao đổi giữa châu Âu và châu Á. Lực lượng Houthi ban đầu tuyên bố nhắm mục tiêu vào các tàu của Israel hoặc những tàu đi đến các cảng của nước này, nhưng trên thực tế mục tiêu của họ bao gồm cả các tàu quốc tế. Điều đó đã thúc đẩy nhiều công ty vận tải chuyển hướng sang tuyến đường đi vòng qua Mũi Hảo Vọng.
Tuần trước, Tesla cho biết sự chậm trễ trong việc giao linh kiện do thay đổi lộ trình vận chuyển đường biển sẽ buộc hãng phải tạm thời đình chỉ sản xuất tại nhà máy lớn duy nhất ở châu Âu.
Nhà máy tại Bỉ của Volvo Cars, hãng sản xuất ô tô Trung Quốc-Thụy Điển, cũng phải ngừng sản xuất trong 3 ngày.
Các nhà máy của Volkswagen không bị ảnh hưởng nhưng hãng này vẫn tiếp tục theo dõi tình hình và liên hệ chặt chẽ với các nhà cung cấp.
Oxford Economics ước tính, một con tàu di chuyển với tốc độ 16,5 hải lý/giờ từ Đài Loan (Trung Quốc) đến Hà Lan qua Biển Đỏ và Kênh đào Suez sẽ mất khoảng 25,5 ngày. Nếu hành trình chuyển hướng đi vòng qua Mũi Hảo Vọng, thời gian sẽ tăng lên khoảng 34 ngày, thậm chí có thể còn kéo dài hơn nữa nếu các tàu chuyển hướng phải chờ tiếp thêm nhiên liệu.
Thời gian di chuyển kéo dài thêm sẽ làm giảm năng lực vận chuyển hàng năm của mỗi tàu và có thể tác động dây chuyền đến chi phí vận chuyển hàng hóa. Theo Chỉ số Freightos Baltic, chi phí trung bình để vận chuyển hàng hóa trong một container đi khắp toàn cầu đã tăng gấp đôi trong khoảng thời gian từ ngày 22/12/2023 đến ngày 12/1/2024.
Đối với châu Âu, tác động của cuộc khủng hoảng phần lớn sẽ phụ thuộc vào mức độ và thời gian gián đoạn. Các nhà kinh tế tại Allianz Trade tính toán rằng khoảng thời gian chi phí vận chuyển tăng gấp đôi kéo dài hơn 3 tháng có thể đẩy tỷ lệ lạm phát của khu vực đồng euro lên 0,75 điểm phần trăm và làm giảm tăng trưởng kinh tế gần 1 điểm phần trăm. Với nền kinh tế khu vực đồng euro vốn đã suy yếu, điều đó có thể đẩy khu vực này vào tình trạng thu hẹp trong năm 2024.
Paolo Gentiloni, quan chức kinh tế hàng đầu của Liên minh châu Âu, nói rằng tình hình ở Biển Đỏ “cần được theo dõi chặt chẽ” vì nó có thể khiến giá năng lượng và lạm phát tăng trở lại. Bối cảnh đã khác thời kỳ đại dịch Covid-19
Dù vậy, sự gián đoạn đối với chuỗi cung ứng ở châu Âu hiệu nay ít nghiêm trọng hơn so với tình trạng tắc nghẽn năm 2020 và 2021. Tác động kinh tế của chúng có thể sẽ nhỏ hơn tương ứng. Các doanh nghiệp cũng đã rút ra bài học từ sự gián đoạn trong đại dịch Covid-19 và hiện có lượng hàng lưu kho lớn hơn so với thời điểm đó.
Ông chủ IKEA, Jesper Brodin cho biết xung đột ở Biển Đỏ đã khiến hành trình vận chuyển bằng đường biển của họ kéo dài thêm khoảng 10 ngày, thậm chí lâu hơn nhưng khách hàng của họ không bị ảnh hưởng.
“Sự khác biệt lớn ở thời điểm hiện nay là chúng tôi đã hồi phục sau đại dịch. Số lượng hàng trong kho của chúng tôi vẫn đủ để cung ứng cho khách hàng”, ông Brodin cho biết tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới ở Davos, Thụy Sĩ.
Nhà bán lẻ giảm giá Pepco cho biết xung đột ở Biển Đỏ ít ảnh hưởng đến lượng hàng sẵn có nhưng có thể ảnh hưởng đến nguồn cung trong những tháng tới nếu tình trạng này tiếp diễn. Các cuộc tấn công của Houthi vào tàu thương mại đã khiến giá cước vận chuyển giao ngay cao hơn và thời gian vận chuyển bị kéo dài hơn.
Có một số lý do khiến tác động của cuộc khủng hoảng ở Biển Đỏ đối với nền kinh tế châu Âu ít nghiêm trọng hơn so với các đợt tăng chi phí vận chuyển hàng hóa trước đây.
Patrick Lepperhoff, chuyên gia tư vấn của Inverto, một đơn vị của BCG, cho biết các cuộc khủng hoảng trước đây đã giúp các công ty chuẩn bị tốt hơn cho những cú sốc bất ngờ.
Ngoài sự chuẩn bị tốt hơn, môi trường kinh tế cũng khác so với thời kỳ đại dịch — một sự kiện toàn cầu ảnh hưởng đến chuỗi cung ứng trên toàn thế giới. Cuộc khủng hoảng hiện nay mang tính cục bộ, các nhà cung cấp có nhiều lựa chọn thay thế hơn và nhiều doanh nghiệp cũng giữ lượng hàng trong kho lớn hơn so với trước khi đại dịch xảy ra.
“Biển Đỏ không còn nguy hiểm đối với thương mại toàn cầu như những sự kiện cách đây vài năm”, ông Lepperhoff cho biết.
Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) đang triển khai cuộc tập trận lớn nhất kể từ Chiến tranh Lạnh, nhằm diễn tập cách quân đội Mỹ tăng viện cho các đồng minh châu Âu giáp Nga và ở sườn phía đông của liên minh nếu xung đột bùng lên với một đối thủ “ngang hàng”.
Khoảng 90.000 binh sĩ sẽ tham gia cuộc tập trận Steadfast Defender 2024 kéo dài đến tháng 5, chỉ huy hàng đầu của liên minh – Chris Cavoli cho biết hôm 18/1.
Cuộc tập trận còn có sự góp mặt của hơn 50 tàu chiến, từ tàu sân bay đến tàu khu trục, cùng hơn 80 máy bay chiến đấu, trực thăng và máy bay không người lái, cùng ít nhất 1.100 phương tiện chiến đấu bao gồm 133 xe tăng và 533 xe chiến đấu bộ binh.
Cuộc tập trận nhằm diễn tập việc NATO thực hiện các kế hoạch khu vực – kế hoạch phòng thủ đầu tiên mà liên minh này vạch ra trong nhiều thập kỷ, nêu chi tiết cách NATO sẽ phản ứng trước một cuộc tấn công.
NATO không đề cập đến Nga trong thông báo của mình. Nhưng tài liệu chiến lược hàng đầu của liên minh xác định Nga là mối đe dọa trực tiếp và rõ ràng nhất đối với an ninh của các nước thành viên NATO.
NATO cho biết: “Steadfast Defender 2024 sẽ thể hiện khả năng của NATO trong việc nhanh chóng triển khai lực lượng từ Bắc Mỹ và các khu vực khác của liên minh để củng cố khả năng phòng thủ của châu Âu”.
Việc tăng cường sẽ diễn ra trong một “kịch bản mô phỏng xung đột đang nổi lên với một đối thủ gần ngang hàng”, ông Cavoli nói với các phóng viên ở Brussels. Theo NATO, cuộc tập trận cuối cùng có quy mô tương tự là Reforger – trong Chiến tranh Lạnh năm 1988 với 125.000 người tham gia. Cuộc tập trận Trident Juncture vào năm 2018 của NATO có 50.000 người tham gia.
Các binh sĩ tham gia cuộc tập trận sẽ đến từ các nước NATO và Thụy Điển – quốc gia đang kỳ vọng có thể sớm gia nhập liên minh. Nội dung tập trận bao gồm mô phỏng việc đưa nhân sự đến châu Âu cũng như diễn tập trên thực địa. Trong phần thứ hai của cuộc tập trận, trọng tâm sẽ là việc triển khai lực lượng phản ứng nhanh của NATO tới Ba Lan, sườn phía đông của liên minh.
Các địa điểm chính khác của cuộc tập trận sẽ là các quốc gia vùng Baltic được coi là có nguy cơ cao nhất trước một cuộc tấn công tiềm tàng của Nga, Đức – trung tâm tiếp viện – và các quốc gia ở rìa liên minh như Na Uy và Romania.
Cơ quan Phòng vệ Đài Loan sáng nay 18.1 nói rằng trong 24 giờ trước đó, 10 máy bay quân sự Trung Quốc đã vượt qua đường trung tuyến của eo biển Đài Loan, theo Reuters.
Trước đó, vào tối 17.1, Cơ quan Phòng vệ Đài Loan nói rằng họ đã phát hiện 18 máy bay của lực lượng không quân Trung Quốc hoạt động quanh Đài Loan và thực hiện “các cuộc tuần tra sẵn sàng chiến đấu chung” với các tàu chiến Trung Quốc trong ngày 17.1. Đây là hoạt động quân sự quy mô lớn đầu tiên của Trung Quốc xung quanh Đài Loan kể từ sau cuộc bầu cử lãnh đạo và nghị viện ở Đài Loan, diễn ra ngày 13.1, theo Reuters.
Trong số 18 máy bay quân sự nói trên có 11 chiếc vượt qua đường trung tuyến của eo biển Đài Loan hoặc các khu vực lân cận. Đường trung tuyến của eo biển Đài Loan từng đóng vai trò là giới tuyến không chính thức giữa hai bên, nhưng máy bay Trung Quốc gần đây thường xuyên bay qua eo biển này.
Cơ quan Phòng vệ Đài Loan tối 17.1 nói rằng họ đã cử lực lượng của mình tới giám sát các máy bay Trung Quốc. Cơ quan này còn nhấn mạnh lực lượng phòng vệ Đài Loan “sẽ tiếp tục tăng cường khả năng tự vệ của mình phù hợp với các mối đe dọa của kẻ thù và nhu cầu tự vệ, đồng thời ứng phó với các mối đe dọa trong khu vực”.
Đài Loan nói nhiều máy bay quân sự Trung Quốc áp sát, Mỹ lên tiếng
Hiện chưa có thông tin về phản ứng của Trung Quốc đối với cáo buộc và tuyên bố trên của phía Đài Loan.
Trước đó vào ngày 17.1, Văn phòng các vấn đề Đài Loan của Trung Quốc cho hay quan điểm của Bắc Kinh – theo đó sẽ không từ bỏ khả năng sử dụng vũ lực để đặt Đài Loan dưới sự kiểm soát của mình – là nhằm vào sự can thiệp của nước ngoài và một số ít thành phần ly khai, nhưng nhấn mạnh người Đài Loan cần được loại bỏ “thành kiến” chống lại Trung Quốc, theo Reuters. Trong khi đó, một phát ngôn viên của Bộ Ngoại giao Mỹ cho hay Washington đang theo dõi chặt chẽ các hành động của Bắc Kinh và kêu gọi Trung Quốc không sử dụng cuộc bầu cử vừa qua ở Đài Loan làm “cái cớ để leo thang”.
Reuters dẫn một nguồn tin hiểu rõ tư duy của chính quyền Tổng thống Mỹ Joe Biden cho rằng “sẽ không ngạc nhiên khi thấy Bắc Kinh sử dụng vài tháng tới để tăng dần áp lực lên Đài Loan”.
Ông Lại Thanh Đức, đã thắng cử trong cuộc bầu cử lãnh đạo Đài Loan ngày 13.1 và sẽ nhậm chức vào ngày 20.5, đã nhiều lần đề nghị đàm phán với Trung Quốc nhưng đều bị từ chối. Ông Lại nói rằng ông sẽ duy trì hòa bình và ổn định ở eo biển Đài Loan, nhưng chỉ người dân Đài Loan mới có thể quyết định tương lai của vùng lãnh thổ này, theo Reuters.
Ngày 15-1, phái đoàn Mỹ đến Đài Loan nói Washington mong muốn tiếp tục quan hệ với Đài Loan dưới thời lãnh đạo mới.
Trao đổi với lãnh đạo đương nhiệm Đài Loan Thái Anh Văn, cựu cố vấn an ninh quốc gia Mỹ Stephen Hadley khẳng định cam kết của Mỹ với Đài Loan rất “vững chắc”.
Gặp bà Thái tại Văn phòng lãnh đạo Đài Loan, ông Hadley nói ông cùng phái đoàn Mỹ đến Đài Loan để gửi lời chúc mừng của nhân dân Mỹ đối với cuộc bầu cử lãnh đạo vừa qua của hòn đảo này, nhận xét nền dân chủ của Đài Loan là “ví dụ tươi sáng cho thế giới”.
Ông Lại Thanh Đức, lãnh đạo mới đắc cử hôm 13-1 của Đài Loan, dự kiến sẽ nhậm chức vào ngày 20-5 tới.
“Chúng tôi rất vinh dự có cơ hội gặp các bạn hôm nay để tái khẳng định cam kết của Mỹ đối với Đài Loan là vững chắc, có nguyên tắc, và lưỡng đảng Mỹ luôn sát cánh với bạn bè của mình”, ông Hadley nói thêm.
Cựu cố vấn an ninh Mỹ khẳng định Mỹ mong muốn tiếp tục cùng nỗ lực nói chung nhằm duy trì hòa bình và ổn định tại eo biển Đài Loan.
Gặp phái đoàn Mỹ sau đó tại trụ sở của Đảng Dân chủ tiến bộ Đài Loan (DPP), ông Lại bày tỏ hy vọng Mỹ sẽ tiếp tục ủng hộ Đài Loan và có hợp tác sâu sắc hơn với vùng lãnh thổ này.
Lãnh đạo mới đắc cử của Đài Loan nói chính quyền của ông sẽ “tiếp tục bảo vệ hòa bình và ổn định tại eo biển Đài Loan”, như chính quyền trước đây của bà Thái.
Cũng trong ngày 15-1, Trung Quốc cho biết Bắc Kinh “kiên quyết phản đối” các trao đổi chính thức giữa Mỹ và Đài Loan, khi đảo này vừa bầu lãnh đạo mới và chào đón phái đoàn Mỹ.
“Trung Quốc luôn kiên quyết phản đối bất kỳ hình thức trao đổi chính thức nào giữa Mỹ và Đài Loan, đồng thời kiên quyết phản đối việc Mỹ can thiệp vào công việc của Đài Loan dưới bất kỳ hình thức và dưới bất kỳ lý do nào”, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Mao Ninh nói trong buổi họp báo thường kỳ ngày 15-1.
Trong khi đó, Washington khẳng định phái đoàn Mỹ đến Đài Bắc là không chính thức và là một phần trong nghi thức.
Phái đoàn trên gồm một cựu cố vấn an ninh quốc gia, một cựu thứ trưởng ngoại giao, và đứng đầu là chủ tịch Viện Mỹ tại Đài Loan.
“Chúng tôi kêu gọi Mỹ nhìn nhận sự phức tạp và nhạy cảm cực độ của vấn đề Đài Loan, nghiêm túc tuân thủ nguyên tắc một Trung Quốc, đồng thời tái khẳng định các tuyên bố lặp lại của các nhà lãnh đạo Mỹ rằng họ không ủng hộ nền độc lập của Đài Loan, ‘hai Trung Quốc’, hay ‘một Trung Quốc, một Đài Loan’” bà Mao nêu rõ.
Bà Mao nói thêm rằng Washington nên “tuân theo các cam kết của mình đối với vấn đề Đài Loan, không tìm cách sử dụng vấn đề Đài Loan như một công cụ để kiềm chế Trung Quốc, và không gửi bất kỳ tín hiệu sai lầm nào đến các lực lượng ly khai đòi độc lập cho Đài Loan”.
Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc nói cuộc bầu cử tại Đài Loan là “một việc nội bộ của Trung Quốc”.
Nauru – đảo quốc nam Thái Bình Dương thông báo cắt quan hệ với Đài Loan để thiết lập quan hệ với Trung Quốc đại lục.
Nauru tuyên bố rằng việc tìm kiếm khôi phục quan hệ ngoại giao toàn diện với Trung Quốc là lợi ích tốt nhất của nhà nước và nhân dân đảo quốc. “Sự thay đổi này không hề nhằm ảnh hưởng các mối quan hệ nồng ấm hiện có của chúng tôi với các nước khác. Nauru vẫn là nước có chủ quyền và độc lập và muốn duy trì mối quan hệ hữu nghị với các nước khác”, chính quyền Nauru nhấn mạnh.
Thêm một đảo quốc cắt đứt với Đài Loan, thiết lập quan hệ với Trung Quốc
Bộ Ngoại giao Trung Quốc đã ra tuyên bố cảm kích và hoan nghênh quyết định của chính quyền Nauru, đồng thời khẳng định sẵn sàng mở ra chương mới trong quan hệ song phương với Nauru trên cơ sở nguyên tắc “Một Trung Quốc”.
Trong một tuyên bố ngay sau đó, ông Điền Trung Quang, Phó lãnh đạo Cơ quan Đối ngoại Đài Loan, nói Đài Loan sẽ cắt đứt quan hệ với Nauru và hiệu lực ngay lập tức nhằm bảo vệ danh dự.
Động thái nói trên diễn ra sau cuộc bầu cử lãnh đạo và cơ quan lập pháp Đài Loan hôm cuối tuần. Theo đó, ông Lại Thanh Đức đắc cử chức lãnh đạo Đài Loan nhưng đảng Dân Tiến cầm quyền của ông mất thế đa số tại cơ quan lập pháp sau 8 năm.
Nauru là một trong những nước nhỏ nhất thế giới với dân số chỉ khoảng 12.500 người. Trước đó, Honduras là nước gần nhất cắt quan hệ với Đài Loan, vào tháng 3.2023.