Category Archives: Aktuell

Khách Tây đến Phú Quốc tăng đột biến

Sở Du lịch Kiên Giang cho hay, trong 2 tháng đầu năm, lượng khách đến Phú Quốc tăng đột biến, đặc biệt là khách quốc tế. Chỉ riêng dịp Tết Nguyên đán vừa qua, đảo ngọc Phú Quốc đã đón lượng khách quốc tế tăng tới hơn 500% so với cùng kỳ năm trước. Khách du lịch mang tới cho tỉnh Kiên Giang hơn 5.200 tỷ đồng doanh thu trong 2 tháng đầu năm.

UBND TP. Phú Quốc thông tin, tổng lượt khách đến huyện đảo này trong dịp Tết Nguyên đán Giáp Thìn 2024 (từ ngày 8 – 13/2) đạt trên 160.000 lượt. Trong đó, khách lưu trú trên 56.000 lượt. Đáng chú ý, lượng khách quốc tế đến Phú Quốc dịp Tết vừa qua đạt trên 43.200 lượt tăng gần 517% so với cùng kỳ Tết năm 2023.

Trong những ngày Tết, sân bay Phú Quốc có khoảng 454 chuyến bay hạ/cất cánh; với tổng số khách đi/đến trên 84.500 lượt. Tàu và phà cao tốc ra vào đảo có 104 chuyến, phục vụ khoảng 32.200 lượt khách.

Đặc biệt, ngày 2/2 (ngày 23 Tết), Phú Quốc đón tàu du lịch Costa Serena với gần 1.100 khách đến từ Thái Lan, Mỹ, Trung Quốc, Đài Loan (Trung Quốc)…

Ngày 9/2 (tức 30 Tết), đảo ngọc đón tàu du lịch Aida Bella cập cảng với 1.979 du khách Châu Âu (hầu hết là du khách quốc tịch Đức).

Với lượng khách dịch Tết vừa qua tăng đột biến, nhiều khách sạn từ 4 sao trở lên tại Phú Quốc đạt công suất đặt phòng trên 90%, đa phần khách quốc tế lưu trú.

Ngày 22/2, trao đổi với PV Tiền Phong , ông Nguyễn Vũ Khắc Huy – Phó Chủ tịch Hiệp hội Du lịch tỉnh Kiên Giang – cho biết, dịp Tết năm nay, khách nội địa đến Kiên Giang có tăng, nhưng “chưa đáng kể”. Điều này một phần do giá vé máy bay nội địa cao, người dân ưu tiên lựa chọn điểm đến có thể đi bằng ô tô, hoặc du lịch nước ngoài.

Với khách quốc tế tới Phú Quốc tăng mạnh dịp Tết, theo ông Huy, ngoài hiệu quả từ hoạt động quảng bá, liên kết du lịch trong và ngoài nước, cũng có nhiều dự án du lịch đi vào hoạt động, góp phần nâng chất lượng dịch vụ.

Lãnh đạo UBND TP. Phú Quốc cho biết, việc kết nối các đường bay quốc tế đến Phú Quốc cũng là một trong những yếu tố hút khách tới đảo dịp đầu năm. Phú Quốc đang đẩy mạnh kết nối và thu hút khách tới từ các thị trường như: Thái Lan, Malaysia, Nga, Trung Quốc, Kazakhstan, Cộng hòa Czech, Ba Lan, Mỹ, Mông Cổ… Bên cạnh đó, Vietjet mở đường bay Phú Quốc – Đài Loan (Trung Quốc), tần suất 7 chuyến khứ hồi/ngày tạo thêm nhiều cơ hội hút khách cho du lịch địa phương.

Số liệu từ Sở Du lịch Kiên Giang cho thấy, tính chung 2 tháng đầu năm nay, địa phương đón gần 2 triệu lượt khách (tăng hơn 79% so với cùng kỳ, bằng 21% kế hoạch năm). Tổng doanh thu từ du lịch ước đạt 5.232 tỷ đồng.

Trong đó, khách quốc tế đến Kiên Giang đạt trên 215.000 lượt, tăng gần 105% so với cùng kỳ.

Thời gian tới, Sở Du lịch Kiên Giang sẽ xây dựng và triển khai Đề án xây dựng Phú Quốc thành trung tâm dịch vụ, du lịch sinh thái chất lượng cao, du lịch biển, đảo tầm cỡ quốc gia và quốc tế; triển khai phát triển các điểm đến, đặc biệt vùng nông thôn; hợp tác du lịch 13 tỉnh/thành Đồng bằng sông Cửu Long và TP.HCM; kiểm tra chất lượng dịch vụ các cơ sở lưu trú du lịch trên địa bàn…

Với các giải pháp trên, ngành du lịch Kiên Giang kỳ vọng tiếp tục duy trì vị thế điểm đến du lịch hàng đầu khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long và cả nước.

BDN

Loading

Views: 0

Tàu khảo sát TQ cập cảng Maldives gây quan ngại

Một tàu khảo sát của Trung Quốc hôm nay 22/2 đã cập cảng ở Maldives làm dấy lên lo ngại của giới chức Ấn Độ về vấn đề an ninh.

Reuters đưa tin, hôm nay 22/2, tàu khảo sát Xiang Yang Hong 03 của một viện nghiên cứu thuộc Bộ Tài nguyên Trung Quốc đã cập cảng ở thủ đô Male của Maldives.

Con tàu đã rời cảng nhà ở Hạ Môn, Trung Quốc cách đây hơn một tháng. Trong quá trình đó, tàu khảo sát Xiang Yang Hong 03 đã dành 3 tuần để khảo sát vùng biển gần vùng đặc quyền kinh tế của Ấn Độ, Maldives và Sri Lanka.

Chính quyền Maldives cho biết, con tàu không khảo sát vùng biển của họ, chỉ ghé vào để luân chuyển nhân sự và tiếp tế.

Tháng trước, một cơ quan phân tích của Mỹ cho rằng hải quân Trung Quốc có thể khai thác dữ liệu mà tàu khảo sát thu thập được để phục vụ cho mục đích triển khai lực lượng hải quân.

Tuy nhiên, Bắc Kinh đã bác bỏ lập luận này. Chính phủ Trung Quốc khẳng định hoạt động của tàu khảo sát chỉ nhằm các mục đích dân sự, phục vụ nghiên cứu khoa học.

Những năm gần đây, giới chức an ninh Ấn Độ bày tỏ quan ngại về sự hiện diện của các tàu khảo sát của Trung Quốc ở Ấn Độ Dương ngay cả khi chúng không thuộc sở hữu của quân đội.

Xiang Yang Hong 03 từng nhiều lần hoạt động ở Ấn Độ dương. Nó đã đi qua eo biển Sunda ở Indonesia vào năm 2021. Giới chức Indonesia khi đó đã phải cảnh giác cao do con tàu tắt hệ thống giám sát tới 3 lần.

Các tàu khảo sát của Trung Quốc cũng xuất hiện gần Sri Lanka. Năm 2022, tàu quân sự Yuan Wang 5 có khả năng theo dõi tên lửa đã cập cảng Colombo của Sri Lanka, khiến Ấn Độ bất an. Lần gần nhất tàu khảo sát Trung Quốc cập cảng Sri Lanka là vào tháng 10/2023.

BDN

Loading

Views: 0

Tên lửa Triều Tiên được lắp linh kiện Mỹ, châu Âu?

Một tổ chức theo dõi vũ khí ở Anh công bố báo cáo ghi nhận xác của tên lửa Triều Tiên được tìm thấy ở Ukraine được lắp đa số các linh kiện có dấu của những công ty đặt trụ sở ở Mỹ và châu Âu.

Báo cáo của tổ chức Nghiên cứu Vũ khí tại vùng xung đột (CAR) cho thấy Triều Tiên vẫn có thể tiếp cận các linh kiện của phương Tây cho hoạt động chế tạo vũ khí, bất chấp hàng rào cấm vận nghiêm ngặt lâu nay.

Cụ thể, các nhà điều tra CAR “xác định tên lửa đạn đạo do Triều Tiên sản xuất và được phát hiện ở Ukraine có hơn 290 linh kiện điện tử phi nội địa”, AFP hôm 21.2 dẫn báo cáo của tổ chức ở Anh.

Trong đó, 75% số linh kiện có liên quan với các công ty đặt nhà máy ở Mỹ, và 16% đến từ những công ty ở châu Âu.

“Phân nửa số linh kiện được ghi chép có in mã ngày sản xuất, và hơn 75% số mã cho thấy ngày sản xuất từ năm 2021 đến năm 2023. Dựa trên ngày sản xuất, CAR kết luận tên lửa được tìm thấy ở Kharkiv không thể được lắp ráp trước tháng 3.2023”, theo CAR.

Cũng theo CAR, các nhà điều tra của tổ chức đã tìm được tên lửa ở Kharkiv vào ngày 2.1.

Bình Nhưỡng và Moscow chưa bình luận về thông tin trên.

Tháng 1, Nhà Trắng cáo buộc Triều Tiên cung cấp tên lửa đạn đạo và bệ phóng tên lửa cho Nga, và Moscow đã sử dụng số vũ khí này ở Ukraine.

BDN

Loading

Views: 0

Hải cảnh TQ tuyên bố xua đuổi tàu Philippines khỏi Scarborough

Hải cảnh Trung Quốc nói tàu của Cục Nghề cá và Nguồn lợi thủy sản Philippines đã ‘xâm nhập trái phép’ vào vùng biển tiếp giáp với bãi cạn Scarborough.

Ngày 22-2, Đài truyền hình trung ương Trung Quốc (CCTV) đưa tin hải cảnh Trung Quốc vừa xua đuổi tàu mang số hiệu 3002 của Cục Nghề cá và Nguồn lợi thủy sản Philippines.

Hải cảnh Trung Quốc cáo buộc tàu này “xâm nhập trái phép vào vùng biển tiếp giáp với đảo Hoàng Nham (cách Bắc Kinh gọi bãi cạn Scarborough)”.

CCTV dẫn thông báo ngắn gọn của hải cảnh Trung Quốc trên mạng xã hội Weibo, cho biết vụ việc diễn ra ngày 22-2.

Cục Nghề cá và Nguồn lợi thủy sản (BFAR) là cơ quan của Chính phủ Philippines. BFAR trực thuộc Bộ Nông nghiệp Philippines và chịu trách nhiệm phát triển, cải thiện, quản lý và bảo tồn nghề cá cũng như nguồn lợi thủy sản của Philippines.

Hiện BFAR chưa lên tiếng về thông tin trên của hải cảnh Trung Quốc.

Bãi cạn Scarborough nằm cách đảo Luzon của Philippines khoảng 230km và cách bờ biển đông nam Trung Quốc khoảng 1.000km.

Cả Trung Quốc và Philippines đều tuyên bố chủ quyền đối với bãi cạn Scarborough. Năm 2012, Trung Quốc giành quyền kiểm soát bãi cạn Scarborough từ tay Philippines.

Hải cảnh Trung Quốc nói rằng Trung Quốc “có chủ quyền không thể tranh cãi” đối với bãi cạn Scarborough và vùng biển lân cận.

Tuy nhiên, Bộ Ngoại giao Philippines lập luận bãi cạn Scarborough nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Philippines và nước này có quyền chủ quyền cũng như quyền tài phán đối với Scarborough.

BDN

Loading

Views: 0

Hải quân Việt Nam chuẩn bị tham gia Diễn tập hàng hải Milan tại Ấn Độ

Ấn Độ sẽ chủ trì tổ chức cuộc Diễn tập Hàng hải đa phương quy mô lớn mang tên Milan từ ngày 19-27/2 tại thành phố Visakhapatnam, bang miền Đông Andhra Pradesh. Hải quân Nhân dân Việt Nam cũng sẽ cử tàu chiến tham dự hoạt động.

Diễn tập Hàng hải Milan 2024, với chủ đề “Xây dựng liên minh hải quân vì một tương lai hàng hải an toàn”, có sự tham gia của các lực lượng hải quân từ hơn 50 quốc gia. Tham gia cuộc diễn tập, phía Việt Nam cử Tàu 20 thuộc Hải đội 132, Lữ đoàn 172, Vùng 3 Hải quân cùng đoàn công tác Hải quân Nhân dân Việt Nam do Đại tá Đoàn Bảo Anh, Phó Tư lệnh Vùng 3 Hải quân, làm Trưởng đoàn.

Theo thông cáo của Hải quân Ấn Độ, cuộc diễn tập Milan 2024 nhằm tạo cơ hội cho các bên tham gia chia sẻ ý tưởng nhằm tăng cường an ninh trên biển và đảm bảo an toàn cho thương mại hàng hải vì sự tăng trưởng và thịnh vượng của tất cả các bên.

Cuộc diễn tập năm nay sẽ được tổ chức trong hai giai đoạn. Giai đoạn 1 diễn ra tại cảng, từ ngày 19-23/2, sẽ bao gồm các hoạt động như diễu hành quốc tế, hội thảo hàng hải quốc tế, triển lãm công nghệ hàng hải và trao đổi cấp chuyên gia về các chủ đề liên quan… Trong giai đoạn 2, các hoạt động tương tác diễn ra trên biển, hải quân các nước tham dự sẽ tiến hành các cuộc diễn tập phòng không, chống tàu ngầm và các hoạt động trên mặt nước. Các lực lượng cũng sẽ diễn tập bắn đạn thật vào các mục tiêu trên không và trên mặt nước, cũng như các hoạt động tiếp tế.

Ngoài việc xây dựng sự kết nối và tăng cường mối quan hệ, cuộc diễn tập trên biển sẽ góp phần tăng cường khả năng tương tác, tạo điều kiện để các bên tham gia trao đổi các kinh nghiệm thực tiễn tốt nhất và tăng cường hợp tác trong thực hiện các nhiệm vụ trong tương lai, nhằm giải quyết các thách thức chung.

BDN

Loading

Views: 0

Trung Quốc khoan lỗ sâu gần 10.000m vào tâm Trái Đất

Một giếng thăm dò ở lưu vực Tarim của Trung Quốc đã khoan tới độ sâu gần 10.000 m dưới lòng đất, được cho là mũi khoan sâu nhất từ trước đến nay của nước này.

Theo The Paper, mũi khoan của giếng thăm dò trên 10.000 m đầu tiên của Trung Quốc đã vượt độ sâu 9.900 m sau hơn 200 ngày khoan.

Giếng khoan này nằm trên sa mạc Taklamakan trong lưu vực Tarim, thuộc khu tự trị Tân Cương (Tây Bắc Trung Quốc). Kế hoạch thăm dò độ sâu khoảng 11.100 m. Tại vị trí giếng khoan, một dàn tháp bằng thép 20 tầng cùng với mũi khoan, ống khoan và ống vách nặng hơn 2.000 tấn sẽ khoan sâu vào trong lòng đất, xuyên qua hơn 10 địa tầng bao gồm cả kỷ Phấn trắng, nơi đất đá có niên đại khoảng 145 triệu năm.
Theo The Paper, tính đến chiều 16/2, giếng đã được khoan tới độ sâu 9.950 m dưới lòng đất sau hơn 200 ngày. Hiện mũi khoan tiếp tục xuyên thủng hàng rào đá cứng dưới lòng đất và tiến về 50 m cuối cùng của hệ tầng 10.000 m.

Giếng đạt độ sâu 9.000 m vào cuối tháng 12 năm ngoái. Tuy nhiên, nhiệt độ và áp suất cao ở độ sâu hệ tầng này, cùng với việc đẩy đá ra ngoài đã khiến tiến độ khoan bị chững lại đáng kể.

Ngoài ra, nhiệt độ và áp suất cao ở sâu trong thành hệ cũng gây hư hỏng một số dụng cụ khoan và hỏng hóc một số linh kiện điện tử.

“Theo đo đạc thực tế của chúng tôi, nhiệt độ của hệ tầng độ sâu 9.900 m lên tới 195 độ C, áp suất trong hệ tầng này cũng lên tới 230 MPa, tương đương với áp lực phải chịu dưới đáy biển sâu 20.000 m. Điều kiện làm việc khắc nghiệt này luôn thách thức các dụng cụ và thiết bị khoan của chúng tôi”, Chủ tịch Viện Nghiên cứu Kỹ thuật Dầu khí mỏ dầu PetroChina Tarim Phùng Thiếu Ba nói.

Ông Phùng cho biết thêm rằng nhiệt độ dưới lòng đất hiện đã vượt quá giới hạn chịu nhiệt độ của các công cụ chống lệch chủ động. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu đã khám phá một bộ cơ chế và phương tiện kỹ thuật để ngăn ngừa hiện tượng nghiêng. Khi không thể sử dụng các công cụ khoan đứng hiện có, vẫn còn nhiều cách để chống lệch và làm thẳng giếng để đảm bảo chất lượng giếng ở độ sâu 10.000 m.

Những năm gần đây, với sự phát triển của ngành dầu mỏ Trung Quốc, việc phát hiện tài nguyên dầu khí ở tầng giữa và tầng nông của Trái đất ngày càng trở nên khó khăn, buộc nước này phải tiến hành thăm dò sâu trong lòng đất. Việc khoan những giếng sâu vừa giúp xác định các nguồn tài nguyên khoáng sản và năng lượng, đồng thời giúp đánh giá rủi ro của các thảm họa môi trường, như động đất và núi lửa phun trào.

Tarim là lưu vực lớn nhất thế giới nằm trên đất liền và là lưu vực dầu khí lớn nhất Trung Quốc, phần lớn các mỏ đều ở độ sâu dưới 6.000 m và 8.000 m. Theo dự đoán địa chất, có thể tồn tại nguồn tài nguyên dầu khí dồi dào được chôn sâu 10.000 m trong lưu vực Tarim. Một khi giếng thăm dò trên đạt được bước đột phá, nó sẽ mở ra một “kho tàng” dầu khí ở độ sâu hơn 10.000 m và hình thành một mỏ thay thế để tăng trữ lượng và sản xuất.

Giếng thăm dò ở Tarim của Trung Quốc dự kiến sẽ khoan trong 457 ngày. Nếu hoàn thành đúng kế hoạch, đây sẽ trở thành giếng khoan trong lục địa thứ hai trên thế giới có độ sâu thẳng đứng trên 10.000 m và lập kỷ lục về thời gian khoan.

Thế giới hiện chỉ có một giếng trong lục địa đạt độ sâu thẳng đứng trên 10.000m, đó là giếng Kola SG-3 do Liên Xô cũ khoan năm 1970, có độ sâu thẳng đứng 12.262 m và mất 23 năm để hoàn tất.

BDN

Loading

Views: 0

Ấn Độ, Đông Nam Á kêu gọi đầu tư từ tỉ phú Elon Musk

Tình hình địa chính trị phức tạp cộng thêm sự cạnh tranh gay gắt trong thị trường xe điện đã khiến một số quốc gia ở châu Á và công ty Tesla ‘tìm đến nhau’.

Giới lãnh đạo Ấn Độ và Đông Nam Á đang trực tiếp kêu gọi đầu tư từ tỉ phú Elon Musk, tổng giám đốc Tesla, trong bối cảnh tập đoàn sản xuất xe điện này của Mỹ đang cân nhắc các phương án nhằm hạn chế sự phụ thuộc vào thị trường Trung Quốc, theo báo Nikkei Asia.
Ấn Độ chào đón Tesla

Tesla được cho là đang đàm phán để thâm nhập thị trường Ấn Độ và có thể đầu tư gần 30 tỉ USD (732.000 tỉ đồng), cả trực tiếp và gián tiếp, trong 5 năm tới, tờ The Hindustan Times đưa tin. Đây là kết quả của nhiều tháng thương thuyết giữa chính quyền Thủ tướng Narendra Modi với đại diện Tesla.

Cụ thể, ông Modi có cuộc gặp với ông Musk ở TP.New York (Mỹ) vào tháng 6.2023, một tháng sau khi chính phủ Ấn Độ được cho là đã bật đèn xanh để Tesla xâm nhập thị trường nước này. Bộ trưởng Thương mại Ấn Độ Piyush Goyal cũng đã đến thăm nhà máy Tesla ở bang California (Mỹ) vào tháng 11.2023.
Các nỗ lực của New Delhi là một phần trong chiến dịch “Made in India” (sản xuất tại Ấn Độ) nhằm thúc đẩy lĩnh vực sản xuất trong nước. Trong bối cảnh bùng nổ dân số, tạo việc làm đang là thách thức lớn mà Ấn Độ đang đối mặt. Do đó, ngành công nghiệp xe điện phát triển có thể thúc đẩy việc làm đồng thời giảm thiểu ô nhiễm và giảm sự phụ thuộc vào dầu thô nhập khẩu.

Kế hoạch của Tesla ở Ấn Độ đã trở thành chủ đề nóng kể từ khi hãng này thành lập đơn vị ở địa phương vào tháng 1.2021. Quốc gia Nam Á đã vượt qua Nhật Bản để trở thành thị trường ô tô lớn thứ ba thế giới về doanh số bán xe mới vào năm 2022 và bảo vệ vị thế của mình vào năm 2023, theo Nikkei Asia.

Tesla chưa chính thức bình luận về kế hoạch cụ thể tại Ấn Độ. Những người ủng hộ dự án cho biết khoản đầu tư sẽ phục vụ một số mục tiêu của New Delhi về sản xuất nội địa, chống khủng hoảng khí hậu, hội nhập vào chuỗi cung ứng toàn cầu mới và củng cố quan hệ đối tác chiến lược Ấn Độ – Mỹ.

Một số phương tiện truyền thông Ấn Độ đưa tin Tesla có thể đưa ra quyết định cuối cùng vào đầu năm nay, bao gồm việc xây dựng một nhà máy có công suất sản xuất lên tới 500.000 xe mỗi năm ở quốc gia Nam Á.
Đông Nam Á cũng nhập cuộc

Nhiều quốc gia khác ở châu Á cũng đang trải thảm đỏ cho Tesla. Tổng thống Indonesia Joko Widodo vào tháng 5.2022 đã đến bang Texas (Mỹ) để thuyết phục ông Musk xây dựng một nhà máy xe điện ở quốc gia Đông Nam Á này.
Indonesia là nổi tiếng với trữ lượng lớn niken và các nguyên vật liệu được sử dụng trong pin xe điện. Theo Nikkei Asia, ông Musk trước đây đã thể hiện sự quan tâm đến việc hợp tác chặt chẽ với Indonesia, thừa nhận tiềm năng đáng kể của thị trường ở nước này.

Thủ tướng Malaysia Anwar Ibrahim cũng có cuộc thảo luận trực tuyến về các khoản đầu tư tiềm năng và các chủ đề khác với ông Musk vào tháng 7.2023.

Trong khi đó, Thủ tướng Thái Lan Srettha Thavisin đã gặp ông Musk vào tháng 9.2023. Ông Thavisin nói nước ông có thể nhận được tổng số tiền đầu tư ít nhất là 5 tỉ USD từ Tesla và các tập đoàn khác của Mỹ. Điều này làm dấy lên suy đoán rằng 2 bên đã đạt được một số tiến bộ sau cuộc gặp. CEO Tesla đã đến Thái Lan vào cuối tháng 11.2023.

Theo Reuters, làn sóng sử dụng xe điện ở Thái Lan những năm gần đây cũng đang bùng nổ với nhu cầu cao. Đây cũng là một trong những thị trường lâu đời nhất ở Đông Nam Á.

Báo Mỹ: Tỉ phú Musk thường xuyên sử dụng chất cấm
Cạnh tranh gay gắt

Những “chuyến hành hương” đến gặp ông Musk diễn ra khi các thị trường từ Mỹ, châu Âu và Trung Quốc đến Ấn Độ và Đông Nam Á đang giải quyết nỗi lo ô nhiễm môi trường.

Nikkei Asia dẫn lời chuyên gia Hirotaka Uchida tại công ty tư vấn thị trường Arthur D. Little (Bỉ) cho biết: “Tesla là công ty tiên phong trong lĩnh vực xe điện. Công ty có hình ảnh thương hiệu mạnh mẽ và sẽ mang lại sức hấp dẫn lớn hơn cho các quốc gia, so với việc các nước này nhận đầu tư từ [công ty xe điện] BYD của Trung Quốc”.

Trong quý IV năm 2023, BYD vượt qua Tesla về doanh số bán xe điện và xe plug-in hybrid (phương tiện dùng cả xăng dầu và điện) trên toàn cầu.

Việc Tesla cũng cân nhắc hợp tác với Ấn Độ và Đông Nam Á cũng diễn ra giữa lúc Mỹ nỗ lực tách chuỗi cung ứng xe điện khỏi Trung Quốc. Tesla hiện sản xuất khoảng 950.000 xe mỗi năm, tương đương khoảng 40% sản lượng toàn thế giới.

Tesla cũng sản xuất xe điện tại hai nhà máy ô tô ở Mỹ và một ở Berlin (Đức). Vào năm 2023, hãng công bố kế hoạch xây dựng một chiếc ở Mexico. Nhà máy ô tô thứ năm ở Ấn Độ hoặc Đông Nam Á có thể giúp cân bằng hơn nữa chuỗi cung ứng của công ty này.

BDN

Loading

Views: 0

Thế cục Biển Đông và ứng phó của Việt Nam

Làm gì để giữ hòa bình, ổn định trên Biển Đông? Đó là câu hỏi tưởng như đã cũ nhưng lại rất mới, bởi tình hình thế giới và khu vực đã và đang có những thay đổi nhanh chóng, bất ngờ.

Khi nói đến tình hình, có ba điểm tác động rất mạnh đến sự yên ả hay sóng gió trên Biển Đông. Có một mối họa đối với Trung Quốc, tuy “xa” mà rất “gần” – mối họa sự can thiệp của Mỹ, nhất là khi cựu Tổng thống Mỹ Donald Trump có thể trở lại làm Tổng thống Mỹ trong nhiệm kỳ tới. Một vị Tổng thống quyết tâm làm cho nước Mỹ “vĩ đại trở lại”, thề không để Trung Quốc làm mưa làm gió trên Biển Đông, vì lợi ích của Mỹ ở khu vực này là rất lớn.

Một mối họa khác đã hiện hữu là cuộc bầu cử ở Đài Loan vừa kết thúc với sự thắng lợi của Đảng Dân Tiến. Ông Lại Thanh Đức, người của Đảng này đã ngồi vào ghế Tổng thống. Bắc Kinh coi ông Lại là kẻ “li khai nguy hiểm”, bởi quan điểm cứng rắn của ông về một Đài Loan độc lập, quan điểm này không khác gì so với cựu Tổng thống Thái Anh Văn.

Theo các nhà bình luận quốc tế, “Kịch bản ác mộng” thật sự của Bắc Kinh không nhất thiết là chứng kiến Lại Thanh Đức đắc cử tổng thống Đài Loan, mà cần nhìn xa hơn là sự kết hợp giữa Lại Thanh Đức và có lẽ là Donald Trump, nếu Trump quay trở lại Nhà Trắng vào cuối năm 2024.

Mối họa thứ ba là, những căng thẳng trên bán đảo Triều Tiên. Đầu năm 2024, trong thông điệp năm mới, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình tuyên bố: “Thống nhất đất nước là tất yếu lịch sử, đồng bào hai bờ chung tay đồng tâm, cùng hưởng vinh quang vĩ đại của sự phục hưng vĩ đại của dân tộc Trung Hoa”. Có nghĩa là Trung Quốc đủ tỉnh táo trong vấn đề thu hồi Đài Loan trong hòa bình. Thế nhưng, căng thẳng ở biển Hoàng Hải giữa Hàn Quốc với Triều Tiên lại đang bùng phát dữ dội.

Từ đây có thể nảy sinh vấn đề: Phi hạt nhân hóa bán đảo Triều Tiên sẽ là ưu tiên hàng đầu trong chính sách của Nhà Trắng nếu Donald Trump đắc cử Tổng thống Mỹ. Khi ấy, mối quan tâm của Wasinghton đối với Biển Đông sẽ được giảm bớt. Mỹ sẽ đẩy trách nhiệm, làm tăng vai trò của các đối tác đồng minh của họ trong các vấn đề ở Biển Đông.

Năm 2024 cũng sẽ là một năm các nước ASEAN có sự điều chỉnh chiến lược ngoại giao và chính sách trên Biển Đông. Dự báo các cuộc diễn tập quân sự hỗn hợp giữa Mỹ với các quốc gia ven Biển Đông sẽ nhiều hơn về số lượng, lớn về quy mô, nâng cấp hơn về nội dung diễn tập. Các cuộc diễn tập quân sự không phải cốt để chống khủng bố, cướp biển mà giống như một sự răn đe Trung Quốc.

Căng thẳng giữa Trung Quốc- Philippines đang bị đẩy lên cao. Hôm 22/01/2024, Manila lên án hành động của hải cảnh Trung Quốc gây tổn hại đến ngư dân Philippines.

Một quốc gia vốn “hiền lành” như Brunei bỗng tỏ ra cứng rắn. Bộ Ngoại giao nước này đã ra tuyên bố khẳng định “duy trì cách tiếp cận hai bước trong việc giải quyết vấn đề Biển Đông”; đối với các vấn đề cụ thể cần được giải quyết song phương bởi các quốc gia có liên quan trực tiếp thông qua đối thoại và tham vấn hòa bình. Các động thái này diễn ra khi Trung Quốc muốn đưa Brunei vào trục chiến lược của mình để không bị Mỹ lôi kéo.

Còn Malaysia thì chọn cách tiếp cận ôn hòa với hai cường quốc Mỹ và Trung Quốc, tránh gây căng thẳng trong khu vực, thúc đẩy các bên đối thoại hòa bình. Đây cũng là cách của nhiều quốc gia có tranh chấp chủ quyền, đó là, hợp tác với Mỹ trên một mức độ nào đó, nhưng vẫn ngần ngại trước sức mạnh Trung Quốc.

Bây giờ chúng ta hãy nhìn rộng ra thế giới xem các lực lượng bên ngoài sẽ can dự ra sao? Trước hết, hệ thống liên minh, đồng minh trên khắp thế giới của Mỹ có ưu thế vượt trội về mặt quân sự so với nhiều quốc gia khác. Tại khu vực Đông Nam Á – Biển Đông điển hình có cơ chế Tứ giác An ninh QUAD, chiến lược “liên kết tam hải” JAPHUS và bộ đối tác An ninh Ba bên Mỹ – Anh – Úc (AUKUS).

Tuy các thành viên không bao gồm các quốc gia Đông Nam Á, nhưng Đông Nam Á lại nằm trong phạm vi hoạt động trọng điểm của AUKUS. Ấy là chưa kể còn nhiều cơ chế hợp tác kinh tế, an ninh Mỹ lập nên để thu hút sự ủng hộ. Sự xuất hiện của các lực lượng bên ngoài khu vực ở Biển Đông sẽ góp phần làm giảm tình trạng mất cân bằng trong kết cấu an ninh khu vực để cùng kiềm chế Trung Quốc.

Trong bối cảnh nêu trên Việt Nam cần có những đối sách gì? Đối với khu vực ASEAN, quan hệ của khu vực với Bắc Kinh và Washington có xu hướng phân hóa dựa vào tầm ảnh hưởng thực tế của hai siêu cường. Còn đối với Việt Nam, nước này đang xây dựng mối quan hệ tích cực và cân bằng với cả Mỹ và Trung Quốc.

Hà Nội nhận rõ một điều, kể từ năm 2014, sau sự kiện Hải Dương-981 vi phạm chủ quyền Việt Nam trên biển, và sự hiện diện ngày càng gia tăng của hải quân Mỹ trong khu vực, đã đặt ra bài toán hóc búa trong việc điều hòa mối quan hệ của Việt Nam với hai siêu cường.

Năm 2023, Việt Nam – Mỹ nâng mức hợp tác lên Đối tác chiến lược toàn diện. Song không có nghĩa là từ đây Việt Nam dựa hẳn vào Mỹ để phục vụ cho việc đấu tranh gìn giữ chủ quyền biển đảo, bởi lợi ích cốt lõi của Việt Nam và các cường quốc có sự khác biệt rất lớn.

Từ tình hình trên, Hà Nội thể tập trung làm tốt một số công việc sau: Một là, tạo ra sự thống nhất về nhận thức và quan điểm, giữ vững ổn định nội bộ, ổn định chính trị trong nước; hai là, giữ vững chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, mang bản sắc “ngoại giao cây tre”, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, kiên trì thực hiện chính sách quốc phòng “bốn không”; ba là, tôn trọng vị thế nước lớn và đạt được sự cân bằng chính sách đối với cả Mỹ và Trung Quốc; bốn là, chủ động trong thúc đẩy quan hệ hợp tác cùng có lợi với các nước lớn phù hợp với lợi ích chính đáng của tất cả các bên có liên quan; năm là, dựa trên nền tảng ngoại giao đa phương, lấy ASEAN làm trung tâm và dựa vào hệ thống luật pháp quốc tế làm trung gian trọng tài xử lí các tranh chấp.

Việt Nam cần phối hợp chặt chẽ hơn nữa với các nước trong khu vực như Philippines, Malaysia, Indonesia và Brunei để tăng cường hợp tác đa phương hẹp về vấn đề Biển Đông. Sự phối hợp chặt chẽ, ăn ý này bao gồm cả việc tổ chức đối thoại 5 bên, thậm chí tổ chức các cuộc tập trận chung trên biển, tuần tra chung và các hoạt động giao lưu hữu nghị trên các đảo, đá trong khuôn khổ đa phương hẹp.

BDN

Loading

Views: 0

Mỹ cảnh báo năng lực hạt nhân mới của Nga

Tình báo Mỹ được cho là đã phát cảnh báo tới quốc hội và chính phủ các đồng minh châu Âu về kế hoạch vệ tinh hạt nhân mới của Nga, New York Times ngày 14/2 dẫn lời một số quan chức giấu tên cho biết.

Theo New York Times, tình báo Mỹ đã gửi một thông báo ngắn tới quốc hội và một số nước đồng minh chủ chốt của Nhà Trắng. Trong khi một số nhà lập pháp đánh giá vấn đề tương đối nghiêm trọng và cần được công khai, một số thành viên cấp cao của quốc hội lại cho rằng tình hình vẫn chưa đến mức có thể ngay lập tức đe dọa nước Mỹ.

Ba quan chức giấu tên nói rằng, kế hoạch hạt nhân mới của Nga vẫn đang trong giai đoạn phát triển và chưa đi vào quỹ đạo. Một trong số các nguồn tin cho biết hiện chưa rõ thông tin về trình độ công nghệ của kế hoạch này, song, theo một quan chức khác, dự án hạt nhân được cho là sẽ không liên quan đến dòng vũ khí tấn công con người.

Có thể thấy, bản báo cáo từ tình báo Mỹ cũng chưa đề cập rõ ràng tài liệu mới của Nga tập trung vào lĩnh vực vệ tinh, năng lượng hạt nhân hay trang bị vũ khí hạt nhân.

Sáng 14/2, Chủ tịch Ủy ban Tình báo Hạ viện, Hạ nghị sĩ đảng Cộng hòa Mike Turner đã khiến Điện Capitol xôn xao với tuyên bố lấp lửng “mối đe dọa hiện hữu đối với an ninh quốc gia Mỹ”.

“Tôi đề nghị Tổng thống Joe Biden giải mật tất cả thông tin liên quan tới mối đe dọa này để quốc hội, chính quyền và các đồng minh của chúng ta có thể thảo luận cởi mở về những hành động cần thiết nhằm ứng phó với mối đe dọa đó”, ông Turner nói.

Hiện vẫn có nhiều tranh cãi nội bộ chính quyền Washington về tin tình báo này, tuy nhiên, các nhà lập pháp từ chối cung cấp thêm thông tin chi tiết.

Trong nhiều năm qua, Cơ quan Tình báo Quốc phòng Mỹ (DIA) nhiều lần cảnh báo Nga đang xây dựng các hệ thống có khả năng vô hiệu hóa không gian thương mại và quân sự của Washington. Nga thậm chí đã phát triển học thuyết về an ninh không gian, trong đó có đề cập đến khả năng tấn công đối thủ không chỉ từ mặt đất, trên không, mạng mà còn cả không gian bằng các đợt gây nhiễu tạm thời tới phá hủy hoàn toàn.

Vào năm 2020, Nga thử nghiệm một dòng vũ khí chống vệ tinh trên không gian với quỹ đạo tinh vi. Loại vũ khí này được phát triển có thể chỉ đơn giản là để phục vụ và kiểm tra các vệ tinh thân thiện khác, hoặc cũng có thể bao gồm khả năng tấn công các vệ tinh của đối phương.

Việc phóng hệ thống chống vệ tinh được trang bị vũ khí hạt nhân vào không gian sẽ vi phạm Hiệp ước ngoài vũ trụ năm 1967, trong đó nghiêm cấm rõ ràng việc mang bất kỳ vật thể nào chứa vũ khí hạt nhân hoặc bất kỳ loại vũ khí hủy diệt hàng loạt nào khác ra ngoài không gian.

BDN

Loading

Views: 0

Tỷ lệ nội địa hóa trong sản xuất vũ khí của Việt Nam

Liên quan tới ngành công nghiệp quốc phòng nội địa, bên cạnh việc chúng ta sản xuất thành công nhiều chủng loại vũ khí, nhưng một trong những điều rất nhiều người trăn trở đó là vấn đề linh kiện cấu thành nên loại vũ khí đó, liệu có bao nhiêu phần chúng ta tự sản xuất được, bao nhiêu phần phải đi nhập khẩu.

Đây là một điều hết sức quan trọng trong bối cảnh tình hình thế giới hiện nay, các mối quan hệ quốc tế chồng chéo lẫn nhau, pha lẫn lợi ích quốc gia tối cao của bất cứ cường quốc nào. Ví dụ, nếu chúng ta phải nhập khẩu linh kiện đến từ Mỹ chẳng hạn, để cấu thành nên một khẩu pháo hay một chiếc tàu chiến, vào một ngày đẹp trời, nước Mỹ giận dỗi áp lệnh cấm vận, không xuất khẩu linh kiện, thì chuyện gì sẽ xảy ra?

Hay một bài học nhãn tiền là công nghiệp đóng tàu quân sự của nước Nga hiện tại, dưới thời Liên Xô, rất nhiều cơ sở công nghiệp quốc phòng quan trọng nằm tại Ukraina, bao gồm các nhà máy phát triển động cơ tàu biển, động cơ hàng không, động cơ tên lửa. Có ai ngờ đâu, sau khi Liên Xô tan giã Ukraina trong vòng xoáy chính trị,tranh chấp Đông Tây, bắt đầu có những mâu thuẫn nhỏ, rồi tới xung khắc lớn và rồi xung đột đã ảnh hưởng nghiêm trọng tới nền đóng tàu của Nga,khi phần lớn động cơ tua bin khí trên tàu chiến Nga đều do Ukraina sản xuất, lưu ý rằng, toàn bộ các tổ hợp máy tua bin khí trên các tàu chiến Việt Nam mua của Nga hiện nay đều nhập khẩu từ Ukraina.

Thế mới nói, việc công nghiệp quốc phòng Việt Nam phát triển thành công các loại vũ khí trang bị hiện đại là điều tốt, nhưng sẽ tốt hơn nếu chúng ta đạt tỉ lệ nội địa hóa càng cao càng tốt.

Mới đây, đã có một sự xác nhận rõ ràng từ Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng, đơn vị quản lý chung các dự án phát triển vũ khí nội địa hiện nay, trong bài viết “Giải pháp bảo đảm kỹ thuật theo vòng đời sản phẩm vũ khí trang bị” được đăng tải trên Cổng thông tin Tổng Cục vào sáng ngày 13/12, thiếu tướng Dương Văn Yên, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng cho biết: “Hiện nay, Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng đã làm chủ việc nghiên cứu, thiết kế, chế thử, sản xuất loạt lớn vũ khí trang bị kỹ thuật cho sư đoàn bộ binh đủ quân, đáp ứng một phần vũ khí trang bị cho các binh chủng pháo binh tăng thiết giáp.

Bước đầu nghiên cứu, sản xuất được một số vũ khí trang bị kỹ thuật cho không quân, hải quân, đang xây dựng tiềm lực kỹ thuật, công nghệ để hướng tới việc làm chủ nghiên cứu, sản xuất vũ khí trang bị kỹ thuật cho hải quân, không quân. Các nhóm sản phẩm chính bao gồm: súng bộ binh, súng chống tăng, súng cối, đạn bộ binh, đạn cối, đạn chống tăng, đạn pháo cao xạ, đạn pháo mặt đất, tàu quân sự, tàu bổ trợ, khí tài quang điện tử, vật tư kỹ thuật với hàng trăm chủng loại sản phẩm, trong đó tỉ lệ sản phẩm nghiên cứu được ứng dụng vào sản xuất loạt đạt trên 85%, hơn 80% sản phẩm có nguồn gốc từ các đề tài nghiên cứu khoa học, tỷ lệ nội địa hóa về công nghệ cũng như về giá trị của các sản phẩm đều đạt mức cao hơn 80%, nhiều sản phẩm đạt tỉ lệ nội địa hóa lên tới hơn 90%.

Khâu bảo dưỡng, sửa chữa nhỏ và vừa được thực hiện đồng bộ với hệ thống cơ quan kỹ thuật và các trạm sửa chữa trong toàn quân, đối với sửa chữa lớn và cải tiến được thực hiện tại các nhà máy của Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng, Tổng cục Kỹ thuật. Lời của một vị thiếu tướng, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng là chính thức, là đáng tin cậy.

Quân đội một quốc gia không phải là chuyện để đùa. Một quân đội được thế giới công nhận và thế giới mong được thấy Việt Nam là cường quốc kinh tế chứ không phải là cường quốc quân sự thì các bạn phải hiểu như thế nào rồi đấy. Đành rằng câu chuyện tiêu cực tham nhũng là có trong xã hội rất nhiều đại án đã được phanh phui nhưng không có nghĩa là cả đất nước tiêu cực. Nếu thế thì nước mình phải nghèo chứ. Tôi thấy vẫn đang phát triển đây thôi.

Ngày xưa, xế hộp bốn bánh thường chỉ tập trung ở thành phố lớn, giờ về các tỉnh thành xe đi chật đường. Tầm năm năm không về quê, đến lúc về ngỡ ngàng anh em ạ, làng quê nghèo khó năm xưa giờ toàn nhà cao cửa rộng, đi làm trên thành phố bằng ô tô, giàu thật! Cho nên chúng tôi mong những ai còn đang nghi ngờ các thành tựu của quân đội hãy nhìn nhận vấn đề một cách tích cực hơn.

Có bao nhiêu loại vũ khí đạt tỉ lệ nội địa hóa 80 đến 90% tất cả phải không? Hay chỉ là một số?

Dĩ nhiên để trả lời câu hỏi này thực sự là không dễ chút nào. Ít nhất phải tầm cỡ chức vụ như thiếu tướng Dương Văn Yên thì may ra, chứ tầm cỡ anh chúng tôi thì sao mà biết được. Dẫu vậy, trong tầm hiểu biết của mình, chúng tôi cho rằng có thể dự đoán được một số lĩnh vực đạt tỉ lệ nội điệu hóa cao nhất, căn cứ vào nhóm sản phẩm chính mà nền công nghiệp quốc phòng đã và đang phát triển, sản xuất.

Đầu tiên là nhóm vũ khí bộ binh, bao gồm các loại súng trường, súng máy, súng chống tăng. Chúng tôi tin tưởng đây là nhóm vũ khí đạt tỉ lệ nội địa hóa ở mức cao nhất, thậm chí lên tới 100%. Thực ra, nói về lĩnh vực sản xuất súng bộ binh, chúng ta có một bề dày lịch sử rất lớn. Ngay từ thập niên 60, ở miền Bắc đã hình thành các nhà máy sản xuất súng trường AK, CKC, các loại trung liên, đại liên dựa trên dây chuyền của Trung Quốc chuyển giao.

Các dây chuyền này hoạt động liên tục suốt thời kỳ chống Mỹ và kể cả cho tới hiện tại. Ngoài súng trường, các dây chuyền thời đó đã sản xuất các loại súng máy, súng cối và kể cả súng chống tăng kiểu B40, B41 ngay từ lúc đó. Dĩ nhiên, đi kèm với súng là cả các kiểu đạn.

Bước vào thời kỳ hiện đại, từ năm 2014, khi chúng ta quyết định nhập khẩu dây chuyền sản xuất súng trường Galilac 31, 32 của Israel trên nền tảng đã có sẵn, kết hợp với các phương tiện máy móc, công nghệ mới, hoàn toàn có đủ sự tự tin về việc tự nội địa hóa mọi linh kiện cơ khí quan trọng với một khẩu súng. Và bằng chứng là việc không chỉ sản xuất theo mẫu, ta còn cải tiến để phát triển một phiên bản phù hợp với chiến thuật chiến đấu, thói quen, thể hình của người Việt Nam mà đại diện nổi bật là các sản phẩm súng trường STV 215, 380, STV 022 đã và đang được từng bước trang bị cho toàn quân.

Với dòng AK, ta cũng tiến hành hiện đại hóa với các phương án như AKN để tiếp tục trang bị song song. Với các dòng súng máy, được biết chúng ta đã làm chủ khả năng sản xuất trong nước các dòng trung liên, đại liên kiểu PKM 7,62 ly, NSV 12,7ly từ thập niên 90. Đặc biệt, khẩu NSV 12,7ly được phát triển trên cơ sở bản nguyên mẫu được nhập khẩu từ khối Đông Âu sau khi Liên Xô tan rã.

Với súng cối, hiện nay nhiều đơn vị hỏa lực đã được trang bị súng cối 60Ly, 100Ly, một sản phẩm của ngành công nghiệp quốc phòng Việt Nam trên cơ sở tham khảo các kinh nghiệm về hỏa lực địch trong cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc. Được biết, khẩu súng cối 100Ly là một cỡ súng cối mà Liên Xô chưa từng phát triển được ta học hỏi và cải tiến trên cơ sở thiết kế khẩu súng cối 100ly K71 do Trung Quốc phát triển.

Với súng chống tăng, bên cạnh việc tiếp tục cải tiến súng chống tăng B41, ta cũng học hỏi và sản xuất thành công các phương án chống tăng kiểu RPG2 cũng như là loại RPG-30 hiện đại hơn, hoàn toàn bằng công nghệ trong nước. Ngoài súng cối, súng chống tăng, một loại hỏa lực mang vai trò quan trọng nữa là súng không giật cũng được ta sản xuất thành công. Điển hình là khẩu SCCT-73 trên cơ sở khẩu SPG-9 của Liên Xô cũ. Thứ hai, đi kèm với tất cả các loại hỏa lực trên, chúng ta đã sản xuất được hầu hết các loại đạn: súng máy, đạn súng chống tăng, đạn súng không giật, đạn súng cối, bao gồm cả những loại đạn có yêu cầu cao về độ phức tạp, uy lực mạnh. Nổi bật là công nghệ đạn chống tăng liều đúc, trang bị cho súng chống tăng kiểu B-41, RPG-29, RPG-30. Cùng với đó, ta cũng đã công khai trước dư luận về việc ta đã sản xuất và đưa vào trang bị cho các quân binh chủng các loại đạn pháo cho binh chủng tăng thiết giáp, binh chủng pháo binh, binh chủng pháo phòng không, cho tàu chiến của hải quân, thậm chí là cho các máy bay tiêm kích có trong biên chế. Riêng lĩnh vực này, đạn cho máy bay tiêm kích chưa được công bố, nên chúng tôi chỉ coi là một sự suy đoán. Tuy nhiên, với các thành tựu về hỏa dược hiện nay, việc phát triển đạn pháo không quân cũng không phải là điều làm khó chúng ta.

Đây là hai nhóm vũ khí trang bị kỹ thuật mà chúng tôi tin rằng ta đạt được tỉ lệ nội địa hóa ở mức cao nhất. Với các nhóm còn lại, đặc biệt là tập trung ở các lĩnh vực kỹ thuật công nghệ cao, ví dụ như tàu quân sự, tàu bổ trợ, khí tài quang điện tử, hệ thống radar, hệ thống UAV, hệ thống tên lửa, mức độ nội địa hóa không được công bố, nhưng chúng tôi ước đoán rằng mức độ có thể đạt ở mức trên dưới 50%. Bởi phải thừa nhận một cách thẳng thắn rằng các ngành công nghiệp phụ trợ của Việt Nam còn yếu và thiếu. Cứ cho Viettel rất giỏi, nhưng không phải tất cả họ có thể làm được. Thực tế, chỉ có thể làm được một phần, phần còn lại phải có sự phối hợp từ các nhà máy quốc phòng hoặc các công ty dân sự.

Ví dụ nổi bật là hệ thống tên lửa hành trình VCM-1, phần vỏ đã từng xuất hiện ở một nhà máy đóng tàu, phần khung gầm bệ phóng từng xuất hiện ở một nhà máy chuyên về xe máy quốc phòng như thế thì chúng ta thấy Viettel là đơn vị đứng mũi chịu sào, nhưng phải có sự liên kết với nhiều đơn vị khác, chứ không phải mình anh có thể phát triển hoàn chỉnh tất cả mọi thứ.

Hay là các tổ hợp radar, có thể sơ lược các thành phần lớn của một tổ hợp radar phòng không di động sẽ bao gồm: khung cơ gầm tự hành, cụm vỏ khí tài, hệ thống anten, hệ thống điện tử, hệ thống hiện sóng, hệ thống nguồn điện và phần mềm điều hành. Nhưng trong mỗi hệ thống lớn sẽ còn các hệ thống nhỏ hơn nữa. Ví dụ, trong cụm máy tính sẽ bao gồm các con chip, RAM, vi mạch điện tử, hệ thống làm mát. Nó cũng như một chiếc máy tính mà các bạn đang sử dụng, tùy theo HP, Lenovo hay là Apple là đơn vị sản xuất máy tính, nhưng linh kiện thì được cấu thành từ nhiều nhà cung ứng. Tương tự, hầu hết các sản phẩm công nghệ điện tử hiện nay không hẳn là các nhà sản xuất đạt tỉ lệ 100% nội địa, mà thường có sự vay mượn nhất định, vũ khí cũng vậy thôi. Đôi khi chúng ta chỉ được nghe cái bề nổi, còn bề chìm hầu như không ai nói, chứ thực ra riêng động cơ hàng không để tạo ra nó là sự liên kết của nhiều nhà thầu, thậm chí từ nhiều quốc gia, chứ không phải bảo nội địa 100% là làm được ngay.

Dĩ nhiên, điểm yếu này quân đội ta thừa nhận, chứ không chối bỏ. Đó là một tín hiệu vui, sự thẳng thắn thừa nhận cái yếu, cái thiếu là điều kiện cốt lõi để tiến bộ. Cụ thể, thiếu tướng Dương Văn Yên cho biết hiện nay khả năng nghiên cứu, thiết kế, sản xuất vũ khí trang bị hiện đại, tích hợp hệ thống công nghệ cao của Tổng cục vẫn còn hạn chế. Việc đề xuất ý tưởng nghiên cứu sản phẩm mới chưa theo kịp nhu cầu phát triển hiện đại hóa quân đội. Mặt khác, quá trình nghiên cứu, thiết kế, cải tiến, chế thử sản phẩm còn dài, chưa đáp ứng được đòi hỏi cấp bách về thời gian đưa sản phẩm vào trang bị. Tổng cục cũng chưa làm chủ được một số nguyên vật liệu, vật tư đặc trưng đầu vào cho sản xuất vũ khí, trang bị kỹ thuật, số lượng chủng loại vũ khí công nghiệp quốc phòng sản xuất còn ít so với số lượng chủng loại vũ khí, trang bị trong toàn quân. Do đó, phạm vi, quy mô, mức độ ảnh hưởng của hoạt động đảm bảo kỹ thuật đối với toàn quân còn hạn chế.

Nguyên nhân của những hạn chế nêu trên là do quản lý sản phẩm theo vòng đời là xu hướng mới, hiện đại, đang được áp dụng ở nhiều quốc gia, các tập đoàn có nền sản xuất lớn, thị trường rộng, sản phẩm đa dạng. Trong khi quy mô sản xuất của Việt Nam còn nhỏ, thị trường hẹp, sản phẩm chưa đa dạng, chưa có hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, chính sách, quy định hoạt động quản lý theo vòng đời sản phẩm.

Bên cạnh đó, nguồn nhân lực, ngân sách, cơ sở vật chất, kỹ thuật cho nghiên cứu, thiết kế, cải tiến vũ khí công nghệ cao còn thiếu, khả năng đáp ứng, hỗ trợ của nền công nghiệp quốc gia cho công nghiệp quốc phòng còn hạn chế, đặc biệt là công nghiệp phụ trợ. Đồng thời, hệ thống bảo đảm kỹ thuật chưa hoạt động theo tính chất vòng đời sản phẩm, thiếu các công cụ quản lý, thiếu nhân lực có kỹ năng trong nghiên cứu nhu cầu, đánh giá hiệu quả sử dụng, tham mưu ra quyết định về tối ưu hóa vòng đời sản phẩm.

Do đó, công nghiệp quốc phòng Việt Nam cần có bước đi, lộ trình phù hợp trong xây dựng năng lực quản lý sản phẩm theo vòng đời nhằm nâng cao năng lực nghiên cứu, chế tạo, sản xuất, sửa chữa vũ khí, trang bị hiện đại, góp phần nâng cao sức mạnh tổng hợp và khả năng sẵn sàng chiến đấu của Quân đội nhân dân Việt Nam.

BDN

Loading

Views: 0

Philippines cáo buộc TQ “hung hăng” trên biển

Ngày 11/2, Lực lượng bảo vệ bờ biển Philippines đã cáo buộc Trung Quốc thực hiện các hoạt động nguy hiểm và gây cản trở việc đi lại của tàu của nước này tuần tra gần bãi cạn Scarborough ở Biển Đông.

Lực lượng bảo vệ bờ biển Manila cho biết trong một tuyên bố rằng trong cuộc tuần tra kéo dài 9 ngày gần bãi cạn này bằng tàu Teresa Magbanua dài 97 mét, 4 tàu của lực lượng bảo vệ bờ biển Trung Quốc đã tiến hành theo dõi chiếc tàu này hơn 40 lần.

Lực lượng bảo vệ bờ biển Philippines cho biết 4 tàu dân quân biển Trung Quốc cũng có mặt gần bãi cạn này.

Nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Philippines, nhưng bãi cạn Scarborough vẫn được Trung Quốc ngang nhiên tuyên bố chủ quyền. Tranh chấp này khiến bãi cạn trở thành một trong những thực thể biển có nhiều tranh chấp nhất ở châu Á và là điểm có nguy cơ cao bùng phát vụ xung đột.

Lực lượng bảo vệ bờ biển Philippines cho biết tàu của họ đang có mặt trong khu vực này, nơi vẫn được xem là ngư trường truyền thống của Philippines.

Trung Quốc tuyên bố chủ quyền gần như toàn bộ Biển Đông, nơi vận chuyển hàng hải trị giá hơn 3 nghìn tỷ USD mỗi năm. Các tuyên bố về lãnh thổ của Trung Quốc chồng chéo lên các vùng đặc quyền kinh tế của Philippines, Việt Nam, Indonesia, Malaysia và Brunei.

Vào năm 2016, Tòa án Trọng tài Thường trực ở La Hay cho biết những yêu sách trên của Trung Quốc ;là không có cơ sở pháp lý ,tuy nhiên Bắc Kinh đã bác bỏ những nội dung này.

BDN

Loading

Views: 0

“Bóng bay” làm “nóng eo biển

“Eo biển” trường hợp này là eo biển Đài Loan; còn “bóng bay” là một cách nói về sự kiện khinh khí cầu bay ngay phía trên hòn đảo này ngay trước thềm năm mới Giáp Thìn.

Vào tháng 1 năm nay, Đài Bắc từng đã 2 lần công bố phát hiện các khinh khí cầu Trung Quốc bay qua eo biển Đài Loan. Không rõ do thận trọng hay không muốn phức tạp thêm tình hình giữa hai bờ vốn đã và đang căng thẳng bấy nay, Đài Bắc chỉ nói một cách dè dặt: Các khinh khí cầu này có thể “đe dọa nghiêm trọng” đối với an toàn hàng không quốc tế vì đường bay của chúng, chứ chưa gắn vào đó các cáo buộc mang tính chính trị.

Vậy mà Bắc Kinh đã đùng đùng nổi giận, cho rằng, khinh khí cầu của Trung Quốc chỉ là phục vụ mục đích nghiên cứu khí tượng, và kêu gọi Đài Loan bỏ kiểu ăn nói hồ đồ, làm nghiêm trọng hóa sự việc.

Tuy nhiên, lần mới nhất này thì khác.Thông tin do Cơ quan Phòng vệ Đài Loan thông báo ngày 9/2: Đã phát hiện khinh khí cầu Trung Quốc ở độ cao từ 4.500 m đến 11.600 m, ngay trên vùng trời của hòn đảo. Mà có ít đâu: một “đàn” tới 8 quả – con số nhiều nhất kể từ khi Đài Bắc bắt đầu thường xuyên công bố dữ liệu về việc này vào tháng 12/2023.

Khác với sự đốp chát một cách nhanh nhảu trước kia, tận thời điểm này, Bắc Kinh vẫn chưa đưa ra phản ứng.

Cái im lặng khác thường của Bắc Kinh hóa ra càng làm dấy lên những lo lắng, dị nghị. Một số người thì cho rằng, nên coi im lặng cũng là một cách phản ứng. Thì đấy, cuối năm ngoài, Bắc Kinh chẳng đã nói rõ các khinh khí cầu chỉ để “phục vụ mục đích nghiên cứu khí tượng, thời tiết” đó sao. Lần này, dù “lượng” (số khinh khí cầu) tăng, nhưng tính chất vẫn thế. Vẫn thế thì hà tất phải nói lại cho “phí lời”, nhất là hạ mình đôi co với một hòn đảo mà lâu nay Trung Quốc chỉ coi là một tỉnh, trước sau gì cũng thu hồi.

Tuy nhiên, không ít người am hiểu thời cuộc, quan tâm tới câu chuyện Đài Loan, thì nghĩ khác. “Quá tam ba bận”, mới qua tháng đầu vắt sang tháng sau được ít ngày, mà thả khinh khí cầu ba lần, lần sau nhiều hơn lần trước, thì chẳng thể tin chỉ nhằm mục đích chuyên môn thời tiết. Người có tý kiến thức thiên văn, thì càng hoài nghi hơn, cho rằng: hai bờ eo biển Đài Loan cách nhau có bao xa mà phải thu thập nhiều đến thế các thông số kỹ thuật…?

Nghĩa là, cái sự thanh minh, thanh nga nóng nảy của Bắc Kinh hồi cuối năm ngoái chẳng thể tin được. Hàng đàn khinh khí cầu, cùng tần xuất cao, nhất định Bắc Kinh nhằm một mục tiêu khác.

Từ cái khác này, họ không thể không liên hệ vụ “bóng bay” Trung Quốc “lạc” vào không phận Mỹ hồi tháng 2 năm 2022. Cùng là khinh khí cầu, nhưng cái khác ở đây là chuyện xảy ra giữa hai siêu cường đang gầm gừ nhau, chứ không phải giữa Trung Hoa đại lục và hòn đảo nhỏ nhỏ tý Đài Loan đang muốn thoát ly đại lục. Chính thế, khinh khính cầu đã tạo nên một cuộc khủng hoảng thực sự Mỹ – Trung. Vụ việc càng căng thẳng hơn khi Mỹ dùng tên lửa trị giá nửa triệu USD bắn hạ không thương tiếc khinh khí cầu trị giá có vài chục USD của Trung Quốc, vì cho rằng, nó đang thực thi việc “do thám, thu thập tin tức tình báo” nước Mỹ.

Nhà ngoại giao hàng đầu Trung Quốc Vương Nghị đã dùng các cụm từ “không thể tưởng tượng được”, “quá kích động”, “vô lý”, “vi phạm các chuẩn mực quốc tế”, “manh động”… để cáo buộc cách phản ứng của Mỹ.

Nhưng với Mỹ, thế cũng còn là chưa đủ. Ngay sau đó, ngoại trưởng Mỹ Blinken đã hủy chuyến thăm Trung Quốc (do đích thân tổng thống Biden và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đấu mối nhân nhà lãnh đạo gặp nhau tại hội nghị thượng đỉnh G20 ở Indonesia vào tháng 11/2021). Dư luận đều biết, bằng cú hãm bang giaop này, Washington coi đó như sự trừng phạt cho những hành vi nghiêm trọng mà Bắc Kinh cố tình thực hiện nhằm vào nước Mỹ.

Bảy tháng sau, chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân Mỹ – ông Mark Milley – mới cho biết: “Tóm lại, đó là một khinh khí cầu do thám nhưng nó không làm nhiệm vụ do thám…”. Nên hiểu rằng, đó không phải một câu đãi bôi, ân hận. Một siêu cường ngạo mạn như Mỹ, cho dù do thám hay không, chỉ cần “đụng” tới không phận nước Mỹ, Washington lệnh khai hỏa tên lửa để bắn hạ là điều không thể nghi ngờ…

Sau vụ việc căng thẳng nêu trên, Trung Quốc, chừng như thấm thía cái giá phải trả, đồng thời, cảnh giác về những hậu quả nghiêm trọng có thể xảy ra, đã “đình chỉ chương trình khinh khí cầu giám sát” – theo giới thạo tin phương Tây lan truyền. Nhưng “đình chỉ…” nếu có, chỉ là với Mỹ, chứ không bao gồm các khu vực, đối thủ, đối tượng khác, trong đó có Đài Loan. Thế nên, trong hơn năm qua, các vụ thả khinh khí cầu lơ lửng trên eo biển Đài Loan, thậm chí, bay ngang qua hòn đảo ly khai Đài Loan, đã liên tục diễn ra. Các vụ việc diễn ra ngay trước và sau bầu cử lãnh đạo và Đài Loan cùng thắng lợi của ông Lại Thanh Đức – nhân vật chính trị mà Bắc Kinh cho là “”kẻ ly khai nguy hiểm” càng cho thấy, cùng với may bay, tàu chiến, việc Trung Quốc sử dụng khinh khí cầu như biện pháp đe dọa Đài Loan, không chỉ là câu chuyện suy diễn, thêu dệt, mà nhiều khả năng là sự thật.

Mới đầu năm, eo biển Đài Loan đã có chiều hướng “nóng” hơn năm ngoái rồi.

BDN

Loading

Views: 0

TQ chính thức khai trương trạm nghiên cứu Nam Cực thứ 5

Trạm nghiên cứu Nam Cực thứ 5 của Trung Quốc ngày 7/2 đã chính thức đi vào hoạt động. Trạm mang tên Tần Lĩnh (Qinling) và là trạm nghiên cứu đầu tiên của nước này hướng tới khu vực Thái Bình Dương.

Thông tin khai trương trạm khoa học Tần Lĩnh được Bộ Tài nguyên thiên nhiên Trung Quốc công bố ngày 7/2. Đây là trạm nghiên cứu khoa học thứ 5 của nước này được xây ở Nam Cực, tiếp sau các trạm Trường Thành, Trung Sơn, Côn Lôn và Thái Sơn.

Trạm Tần Lĩnh nằm trên đảo Inexpressible thuộc biển Ross của Nam Cực, có diện tích 5.244 mét vuông. Đây cũng là trạm nghiên cứu khoa học quanh năm thứ 3 sau các trạm Trường Thành và Trung Sơn, đồng thời là trạm nghiên cứu đầu tiên hướng với khu vực Thái Bình Dương.

Biển Ross, nơi đặt trạm Tần Lĩnh, là vùng biển gần Nam Cực nhất và là nơi lý tưởng cho các chuyến thám hiểm khoa học vùng cực. Dự kiến, sau khi hoàn thành, trạm này có thể chứa 80 người vào mùa Hè và 30 người vào mùa Đông.

Cùng ngày, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã gửi thư chúc mừng việc nước này hoàn thành xây dựng trạm Tần Lĩnh và hoạt động của nó ở Nam Cực. Lưu ý rằng năm nay đánh dấu kỷ niệm 40 năm Trung Quốc thám hiểm vùng cực, ông nhấn mạnh, hoạt động nghiên cứu vùng cực của nước này đã đạt được những thành quả to lớn và “việc hoàn thành trạm Tần Lĩnh sẽ mang lại sự đảm bảo mạnh mẽ cho các nhà khoa học Trung Quốc và trên thế giới tiếp tục khám phá những bí ẩn của thiên nhiên và dũng cảm leo lên đỉnh cao của khoa học”.

Chiều ngày 7/2, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Uông Văn Bân cho biết, cơ sở nghiên cứu này sẽ giúp nâng cao hiểu biết khoa học của nhân loại về Nam Cực, tạo nền tảng để Trung Quốc hợp tác với các nước trong các cuộc thám hiểm khoa học, thúc đẩy việc phát triển hòa bình và bền vững khu vực này.

Trong khi đó, theo ông Hà Kiếm Phong, nghiên cứu viên của Trung tâm Nghiên cứu Địa cực Trung Quốc, trạm Tần Lĩnh sẽ giúp nước này lấp đầy khoảng trống ở khu vực Thái Bình Dương về mặt bố trí mạng lưới quan sát dài hạn và giúp hiểu sâu hơn về những thay đổi môi trường ở toàn bộ khu vực quanh Nam Cực. Ba trạm nghiên cứu quanh năm gồm Trường Thành, Trung Sơn và Tần Lĩnh lần lượt tương ứng với các khu vực Đại Tây Dương, Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương. Mạng lưới quan sát lâu dài này ở Nam Cực được xây dựng một cách có hệ thống để trả lời tốt hơn các câu hỏi khoa học tiền duyên về biến đổi khí hậu, băng tuyết và các cơ chế thay đổi của môi trường sinh thái.

Được biết, trạm Tần Lĩnh sử dụng công nghệ và vật liệu xây dựng nhẹ, cường độ cao, có thể chịu được nhiệt độ cực thấp âm 60 độ C và sự ăn mòn mạnh ở môi trường ven biển. Sức cản gió thiết kế đạt 65 mét/giây, tương đương với sức gió trên cấp 17.

BDN

Loading

Views: 0

Một số thông tin liên quan đến chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa

Sử sách Trung Hoa suốt từ các đời Tần, Hán đến tận sau Thế chiến thứ hai không có tài liệu nào xác nhận Biển Đông với quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa thuộc chủ quyền của Trung Quốc. 

Bản đồ Đông Ấn Độ do Jodocus Hondius I vẽ năm 1613 ghi nhận sự liên hệ mật thiết giữa hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (tác giả đặt tên là Pracel), rất sát với vùng biển miền Trung Việt Nam (tác giả đặt tên là Costa de Pracel).

Trước đây, biển Đông được người Trung Quốc và giới Hàng Hải gọi là Trung Quốc Nam Hải hay là Biển Hoa Nam, hay là South China Sea. Người Philippines từ năm 2012 gọi là Biển Tây Philippines (West Philippines Sea). Quần đảo Hoàng Sa được người Trung Quốc gọi là Tây Sa, tiếng Anh là Paracel. Còn quần đảo Trường Sa, người Trung Quốc gọi là Nam Sa, tiếng Anh là Spratly. Trong khi đó, không ít bản đồ phương Tây vẽ trước thế kỷ thứ 19, thư tịch cổ Trung Hoa do người Trung Hoa viết lại đã thừa nhận Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam.

Phía Trung Quốc thường xuyên tuyên truyền quyền của họ đối với biển Đông có từ hơn 2000 năm trước, khi mà cả quận Giao Chỉ là của Trung Quốc. Nhưng những chứng cứ chủ yếu lại chỉ từ những ghi chép của người đương thời và người đời sau về các con đường hàng hải từ Trung Quốc ra nước ngoài, hoặc các hoạt động thám hiểm, buôn bán, đánh cá… qua đó có ghi chép về lịch sử, địa lý, phong tục ở các vùng mà những người chứng kiến đã đi qua. Cũng có những tài liệu nói người đánh cá Trung Hoa, Nhật Bản, Việt Nam và các nước khi buôn bán, đánh cá, hoặc gặp thiên tai trên biển đã từng sống trên các đảo tùy theo mùa vụ. Nhưng cụ thể là vào mùa nào, vụ nào, bao nhiêu lâu, chưa thấy tài liệu nào ghi chép rõ. Chỉ riêng điều đó thì cũng không có ý nghĩa về mặt chủ quyền.

Các nhà nghiên cứu đôi khi phát hiện sự nhầm lẫn hoặc cố tình nhầm lẫn những người làm sử thiếu khách quan. Theo luật pháp quốc tế, việc thực thi chủ quyền và quyền chủ quyền trên các biển đảo ngày nay không phụ thuộc vào việc phát hiện, thám hiểm hay thực thi việc buôn bán, làm ăn trên biển. Cũng không phụ thuộc vào sự hiểu biết của người quan sát về biển đảo. Bởi từ thế kỷ thứ 7, người châu Âu hay là những người ViKing, gồm những nhà thám hiểm, nhà buôn, chiến binh, và cả những hải tặc đã tung hoành trên nhiều vùng biển của trái đất. Những ghi chép của người Anglo-Saxon về Hải Dương từ lâu đã là nguồn tra cứu phong phú và quý giá của nhân loại. Tiếp theo là những người Ấn Độ, Trung Quốc, Philippines, Việt Nam cũng đã có mặt ở nhiều vùng biển trên Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương.

Phương Đông không có các ViKing, ít các nhà thám hiểm nên người Phương Đông có mặt trên biển chủ yếu là để buôn bán, làm ăn và đánh cá. Trước đây, phía Trung Quốc còn đưa thêm nhà thám hiểm người Hồi tên là Trịnh Hòa và hồ sơ tranh chấp biển đảo. Nhưng thực ra, Trịnh Hòa chỉ đi ngang qua biển Đông. Các ghi chép về 7 chuyến đi của ông cũng không thấy nói gì đến Hoàng Sa và Trường Sa cả. Từ năm 1405 – 1433, Minh Thành Tổ đã cử đô đốc Thái Giám Trịnh Hòa chỉ huy đoàn thám hiểm của Trung Quốc hạ Tây Dương bảy lần. Họ đã đi đến Ấn Độ và biển Ả Rập nhằm thiết lập mối quan hệ bang giao với trên 30 quốc gia vùng Duyên Hải, triển khai con đường tơ lụa trên biển tại Ấn Độ, Châu Phi và cả Trung Đông.

Những chuyến hải trình của Trịnh Hòa trên thực tế không hề dừng ở Biển Đông. Trạm chân duy nhất của đoàn trong khu vực này chính là Đồ Bàn, thủ phủ của nước Chiêm Thành lúc bấy giờ. Sau khi Minh Thành Tổ mất, triều Minh đã phê phán những cuộc hải trình này chỉ là phô diễn, làm hao tiền tốn của làm suy yếu nền kinh tế quốc gia. Gần đây, khi đụng đến những vấn đề Biển Đông, các chuyến thám hiểm của Trịnh Hòa đã không còn được phía Trung Quốc nhắc đến như trước đó nữa.

Trên thực tế, kể từ Định ước Berlin năm 1885, nguyên tắc quyền phát hiện và nguyên tắc chủ quyền lịch sử đã không còn phù hợp, bị thay thế bởi nguyên tắc chiếm hữu thực sự và có hiệu lực. Ngày nay, nguyên tắc chiếm hữu biển đảo còn được quy định một cách chặt chẽ hơn. Nó bao gồm thực sự, không gián đoạn, hòa bình và minh bạch. Nghĩa là, nếu giả sử như luật pháp quốc tế vẫn còn căn cứ vào chuyện là luận thuyết chủ quyền lịch sử hay là sự phát hiện biển đảo để xác định chủ quyền thì quyền chiếm hữu và quyền sở hữu các châu lục ngày nay hầu hết đã thuộc về các nhóm Viking và các nhà thám hiểm hay là các tay cướp biển châu Âu.

Chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa được các triều đại phong kiến Việt Nam thực thi từ rất sớm. Có tài liệu nói là từ thế kỷ thứ 15, nhưng rõ nét nhất là từ đầu thế kỷ thứ 17 đến tận năm 1932, khi Pháp chính thức tuyên bố kế thừa và tiếp tục quyền chủ quyền tại hai quần đảo này.

Các triều đại phong kiến Việt Nam đều đã chiếm hữu và thực thi chủ quyền thực tế đối với Hoàng Sa và Trường Sa. Quá trình này diễn ra một cách liên tục với những hoạt động kinh tế xã hội rất hòa bình. Lúc đó cũng chưa hề có tranh chấp về mặt pháp lý, ít nhất từ thế kỷ thứ 17, Hoàng Sa đã không còn là lãnh thổ vô chủ nữa.

Năm 1688, Hoàng Sa đã trở thành địa danh nổi tiếng được các nhà hàng hải Phương Tây biết đến qua biển đến Biên niên sử Hàng Hải với các vụ mắc cạn của tàu Lamps. Dưới thời vua Louis XIV, khi đi từ Pháp sang Trung Quốc, Hoàng Sa được biết đến như một bãi cát nguy hiểm ở vùng biển Đông Việt Nam. Tàu bè quốc tế đến vùng này, nếu không biết và đề phòng có thể bị mắc cạn, đói khát và chết.

Đến thời các chúa Nguyễn, tức là từ giữa thế kỷ thứ 16 cho đến khi Tây Sơn chiến thắng năm 1777, hàng năm các chúa Nguyễn đều phái người ra Hoàng Sa làm nhiệm vụ trên đảo nhằm thực thi chủ quyền, thu hoạch sản vật trên đảo cùng những sản vật của các tàu bị đắm trôi dạt vào đảo.

Trong sách Lịch triều Hiến chương loại chí, quyển “Chi ngũ dư địa chí”, trang 11A-12A, Phan Huy Chú đã ghi chép: “Thời các chúa Nguyễn đặt đội Hoàng Sa, 70 suất người xã An Vĩnh luân phiên đi hàng năm vào tháng 3, nhận chỉ thị sai đi mang sáu tháng lương, dùng năm chiếc thuyền nhỏ chương buồm xuất dương ba ngày ba đêm là đến đảo. Đến đây mặc tình đánh bắt cá ăn, nhặt được rất nhiều đồ vật quý, lại lấy được hải sản rất nhiều. Tháng 8 trở về, vào cửa eo Thuận An để đến thành Phú Xuân”.

Năm 1753, một sự kiện có liên quan đến chủ quyền của Hoàng Sa xảy ra với những người lính của đội Bắc Hải đã được Lê Quý Đôn ghi chép khá kỹ trong Phủ biên tạp lục. Đó là: “Hoàng Sa gần Hải Nam, Châu Liêm, người đi thuyền thường gặp người Bắc Quốc đánh cá ngoài biển, hỏi thăm biết được họ là người huyện Văn Xương, Quỳnh Châu, quan Chính đường sưu tra công văn trong đó kể rằng vào tháng 7 năm Càn Long thứ 18 (1753), 10 người lính thuộc đội Cát Liêm, xã An Bình, huyện Chương Nghĩa, Quảng Ngãi ngày nay, đến Vạn Lý Trường Sa thu thập các vật. Tám tên lính lên bờ thu thập, chỉ có hai người lưu lại giữ thuyền, chợt có một cơn bão nổi lên, đưa thuyền ra đến tận cảng Thanh Lam ở Hải Nam, Trung Quốc. Viên quan Trung Quốc ở đây bèn cho điều tra, sau khi biết sự thật đành cho áp giải trở về. Chúa Nguyễn Phúc Chu đã sai cai bạ Thuận Hóa thức thượng hầu gửi thư phúc đáp”. Sự kiện này cũng là một bằng chứng cho thấy người Trung Quốc không coi Hoàng Sa là của mình.

Năm 1816, vua Gia Long chính thức chiếm hữu đảo Hoàng Sa, ra lệnh cắm cờ trên đảo và đo thủy trình. Xin nhắc lại là chính thức vào năm 1816, Việt Nam ra lệnh cắm cờ trên đảo Hoàng Sa. Khâm sứ Pháp tại Đông Dương lúc đó là Jules Brévié đã ra lệnh thành lập cơ quan hành chính quần đảo Hoàng Sa và cho dựng trên quần đảo một tấm bia có dòng chữ là “Cộng hòa Pháp – Vương quốc An Nam – Quần đảo Hoàng Sa”. Năm 1816 – 1835, vua Minh Mạng cho xây đền, đặt bia, móng, đóng cọc, rồi trồng cây.

Đội Hoàng Sa và đội Bắc Hải được trao nhiệm vụ khai thác, tuần tiễu, thu thuế trên đảo và nhiệm vụ biên phòng bảo vệ hai quần đảo. Hai đội lính hải quân này tiếp tục duy trì công việc cho đến khi người Pháp vào Đông Dương. Việc quản lý hành chính các đảo đã được triều Nguyễn duy trì nhằm giúp đỡ các tàu bè cũng như là để thu thuế ngư dân trong vùng.

Theo nhà nghiên cứu Vũ Quang Việt, các dữ kiện lịch sử chiếm hữu Hoàng Sa cho thấy Việt Nam đã có tuyên bố rõ ràng và thực thi quyền của mình ở Paracel ít nhất suốt 70 năm trước, từ năm 1770 cho tới khi vua Gia Long chính thức khẳng định chủ quyền vào năm 1816 và tiếp tục cho đến thời Minh Mạng. Được ghi rõ ràng trong Chính sử Việt Nam cho đến năm 1837.

Thời gian có mặt của Việt Nam ở Paracel, tức quần đảo Hoàng Sa, như vậy, là đã kéo dài liên tục ít nhất là 74 năm, từ năm 1774, được ghi nhận trong chính sử. Ý chí và hành động nhằm khẳng định chủ quyền được vua Gia Long và vua Minh Mạng đã thể hiện trong văn bản “Các chuyến ra đảo”. Dù chỉ kéo dài nhiều nhất là 6 tháng nhưng liên tục từ năm này qua năm khác như thế là đủ. Nước Pháp công nhận việc thực thi chủ quyền của các chúa đại phong kiến Việt Nam tại hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và chịu trách nhiệm kế thừa.

Năm 1884, hiệp ước Patenôtre Huế đã áp đặt chế độ thuộc địa của Việt Nam. Nước Pháp có nghĩa vụ bảo hộ, giữ gìn sự toàn vẹn lãnh thổ của xứ An Nam.

Ngày 9/6/1885, hiệp ước Pháp – Thanh tại Thiên Tân chấm dứt xung đột Pháp – Thanh. Việt Nam đã chính thức vĩnh viễn thoát khỏi chế độ phong kiến với phương Bắc.

Ngày 26/6/1887, thêm một hiệp ước Pháp – Thanh nữa được ký kết về vấn đề biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc. Nghĩa là từ đây, mọi tuyên bố hay hành vi của Pháp về Hoàng Sa, Trường Sa được hiểu và trên thực tế là đại diện cho Việt Nam, của Việt Nam.

Năm 1895, con tàu La Bona và năm 1896 con tàu Imeji Maru đã bị đắm ở gần Hoàng Sa. Những người đánh cá ở đảo Hải Nam đã đến thu lượm đồng nát từ hai chiếc tàu đắm này. Các công ty bảo hiểm của hai con tàu này đã lên tiếng phản đối với chính quyền Nhà Thanh. Chính quyền Nhà Thanh trả lời rằng họ không chịu trách nhiệm, lấy lý do là Hoàng Sa không phải là lãnh thổ của Trung Quốc, cũng không phải là lãnh thổ của Việt Nam.

Năm 1899, toàn quyền Pondichéry đề nghị chính phủ Pháp xây dựng ngọn hải đăng tại Hoàng Sa nhưng việc này không thành vì lý do tài chính.

Năm 1909, Tổng đốc Lưỡng Quảng đã ra lệnh cho Đô đốc Lý Chuẩn đổ bộ lên quần đảo Hoàng Sa, cuộc đổ bộ này kéo dài không quá 24 giờ. Họ lên Hoàng Sa, kéo cờ và bắn súng để biểu thị chủ quyền của Trung Quốc. Tuy nhiên, chưa đầy 24 giờ thì lại rút đi.

Sự kiện này không gây ra phản ứng gì của các nước, kể cả là Pháp, đại diện cho An Nam, vì Pháp cho rằng đó chỉ là một nghi thức hải quân nhân chuyến thăm sát đảo này. Điều này cũng làm lộ ra mâu thuẫn trong các lập luận của Trung Quốc. Nếu quần đảo Hoàng Sa đã được Trung Quốc chiếm cứ thực sự từ lâu thì tại sao Lý Chuẩn lại không biết điều này và đã hành xử như là kiểu người đầu tiên phát hiện ra quần đảo vậy?

Đến năm 1920, một công ty Nhật Bản là Mitsui Busan Kaisha xin phép Pháp khai thác quần đảo Hoàng Sa, đã bị Pháp từ chối. Cũng kể từ đó, Pháp kiểm soát thuế quan và tuần tiễu trên đảo.

Đến tháng 3/1921, Tổng đốc Lưỡng Quảng lại tuyên bố sáp nhập Hoàng Sa với đảo Hải Nam. Pháp không phản đối, nhưng ngay sau đó, các nhà nghiên cứu và hoạt động xã hội người Pháp ở Hà Nội đã chỉ trích Ông Toàn quyền Đông Dương về thái độ hững hờ này. Đến tháng 3/1925, Toàn quyền Đông Dương lúc đó là Martial Henri Merlin long trọng tuyên bố là quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là lãnh thổ của Pháp. Chính phủ bảo hộ thuộc địa nhận trách nhiệm về chủ quyền của mình ở Hoàng Sa và Trường Sa, đẩy mạnh các hoạt động tuần tra, kiểm soát và nghiên cứu khoa học. Cũng kể từ năm 1925, Viện Hải dương học Nha Trang đã tiến hành những thí nghiệm khoa học đầu tiên trên quần đảo Hoàng Sa do Tiến sĩ Gruvel tổ chức.

Năm 1927, Tàu de Maleisie đã viễn thăm quần đảo Trường Sa. Đầu năm 1930, ba tàu của Pháp là La Malicieuse, L’Alerte, L’Astrobale đã khảo sát, chuẩn bị cho việc chiếm hữu quần đảo Trường Sa.

Ngày 13/4/1930, Toàn quyền Đông Dương là Pasquier đã điều tàu La Malicieuse ra quần đảo Trường Sa. Tại đây, Đại úy hải quân De Lattrie đã nhân danh nước Pháp bắn 21 loạt đại bác, tuyên bố chủ quyền đối với toàn bộ tất cả các hòn đảo ở Trường Sa và các vùng biển phụ cận, và kéo cờ trên đảo Bão Tố (tức đảo Spratly, nay còn được gọi là đảo Trường Sa lớn). Văn bản báo cáo ghi rõ: “Trường Sa nằm ở 8 độ 39 phút Vĩ Bắc và 111 độ 55 phút Kinh Đông”.

Ngày 23/9/1930, Pháp gửi thông báo ngoại giao tới tất cả các nước có liên quan về chủ quyền của Pháp trên quần đảo Trường Sa. Trong thông báo ghi rõ: “Phủ Toàn quyền Đông Dương ra thông cáo để thông báo cho các nước thứ ba biết về việc Cộng hòa Pháp chiếm hữu toàn bộ quần đảo Spratly”. Thông báo này cũng được đăng trên công báo của Phủ Toàn quyền.

Năm 1931, Trung Hoa ra lệnh khai thác phân chim tại quần đảo Hoàng Sa và bán quyền khai thác cho công ty Anglo-Chinese Development. Tuy nhiên, Pháp đã phản đối.

Năm 1932, Pháp chính thức tuyên bố An Nam có chủ quyền lịch sử lâu đời trên quần đảo Hoàng Sa, sáp nhập quần đảo Hoàng Sa với tỉnh Thừa Thiên Huế. Nghĩa là, Pháp công nhận và chịu trách nhiệm thừa kế chủ quyền của Việt Nam từ trước đó. Tiếp tục thực thi chủ quyền tại hai quần đảo này. Đây là một bước đi quan trọng và là sự kiện đặc biệt có ý nghĩa trong việc chiếm hữu và thực thi chủ quyền một cách liên tục đối với lãnh thổ quốc gia.

Năm 1933, quần đảo Trường Sa được sáp nhập với tỉnh Bà Rịa. Pháp đã ra thông báo chính thức về sự chiếm hữu của các đảo Trường Sa trên nhật báo của Pháp. Pháp cũng đề nghị với Trung Quốc là đưa vấn đề này ra tòa án quốc tế, nhưng Trung Quốc đã từ chối. Việc thuyết phục các nhà cầm quyền Pháp tại Đông Dương quan tâm một cách thiết thực hơn đối với chủ quyền của Việt Nam tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vào những năm đầu thế kỷ 20 là một quá trình không đơn giản, bởi lúc đó, khác với ngày nay, việc chiếm hữu các đảo ở xa chỉ mang đến sự tốn kém, phức tạp, nguy hiểm, rất ít lợi ích.

Chính chủ quyền hiển nhiên đã có từ lâu trong lịch sử của các vương triều An Nam đối với biển đảo mới là nguyên nhân chủ yếu thúc đẩy các quan chức Pháp tại Hà Nội thiết tha hơn và cảm thấy có trách nhiệm nặng nề hơn với Hoàng Sa và Trường Sa. Công đầu trong việc thúc đẩy này thuộc về tờ tuần báo Thức tỉnh Kinh tế Đông Dương. Tờ tuần báo L’Éveil Economique de l’indochine, ra số đầu tiên vào thứ bảy ngày 16/6/1917 và số cuối cùng là vào năm 1934. Người sáng lập và là chủ bút, cũng là tác giả của nhiều bài viết trong tuần báo này là Henri Cucherousset, ông qua đời tại Hà Nội vào năm 1934 và cũng là người đặc biệt yêu mến Hoàng Sa, chiến đấu không mệt mỏi cho chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa.

Trong 835 số tuần báo, chính phủ Pháp và An Nam đã triệt để giải quyết tranh chấp Hoàng Sa với chính quyền quân phiệt Quảng Đông lúc đó đã ly khai khỏi Trung Quốc, cho nên, chính quyền Quảng Đông không được Trung Quốc và các nước khác thừa nhận. Ông Henri Cucherousset đã đưa vấn đề ra Thượng viện và Hạ viện Pháp, vì lý do là Toàn quyền Đông Dương ở Hà Nội đã không nỗ lực quan tâm đến vấn đề Hoàng Sa.

Về trách nhiệm của nước Pháp và các quan chức Pháp tại Đông Dương, tác giả trách cứ một số quan chức Đông Dương vô trách nhiệm đối với chủ quyền của Quần đảo Hoàng Sa và nhờ đó các chính khách đã quan tâm đến vấn đề quần đảo Hoàng Sa hơn.

Ngày 14/3/1933, Pháp cho đội tàu gồm La Malicieuse, L’Alerte, L’Astrobale và De Lanessan từ Sài Gòn đến Trường Sa, ghé qua hàng loạt các cụm đảo, cụm này gồm Trường Sa Đông, Đá Đông, Đá Tây và Đá Châu Viên, bãi san hô gồm; đảo Ba Bình, đảo Bàn Than, đảo Sơn Ca, đảo Núi Thị, Én Đất, Nam Yết, Đá Lạc, Ga Ven, bãi san hô Loại Ta, cụm rạn Thị Tứ và rạn Thám Hiểm phía Bắc. Tại từng địa điểm đi qua, người Pháp đã tổ chức nghi lễ chiếm hữu tại các đảo chính thuộc nơi đó.

Ngày 19/7/1933, Bộ Ngoại giao Pháp ra thông báo về tuyên bố chủ quyền của Pháp, kèm theo danh sách liệt kê tên các đảo đã chiếm hữu, gồm sáu thực thể. Thứ nhất là Trường Sa Lớn, tuyên bố chủ quyền ngày 13/11930. Đảo An Bang, tuyên bố chủ quyền ngày 7/4/1933. Đảo Ba Bình, tuyên bố chủ quyền ngày 10/4/1933. Nhóm Song Tử gồm Song Tử Đông và Song Tử Tây, tuyên bố chủ quyền cũng ngày 10/4/1933. Đảo Loại Ta, tuyên bố chủ quyền ngày 11/4. Đảo Thị Tứ, tuyên bố chủ quyền ngày 12/4. Pháp tuyên bố những hòn đảo nói trên và các đảo phụ thuộc của từng hòn đảo này đều thuộc chủ quyền của Pháp.

Sau đó, Pháp lần lượt thông báo cho các quốc gia có thể có lợi ích tại Trường Sa biết về hành động của Pháp. Trừ Nhật Bản, tất cả các nước được thông báo trong đó có Trung Quốc, Hà Lan Mỹ đều không có phản đối hoặc không có phản hồi.

Ngày 21/12/1933, Thống đốc Nam Kỳ là Jean-Felix Krautheimer ký Nghị định số 4702, sát nhập một số đảo trên và các đảo phụ thuộc vào tỉnh Bà Rịa. Tuy nhiên, năm 1937, bất chấp sự phản đối của Pháp, Nhật đã chiếm tất cả các đảo ở ngoài khơi Đông Dương và đổi tên thành Shiman Gunto, tức là Tân Nam Quần đảo và đặt Hoàng Sa, Trường Sa dưới quyền Tài phán của Cao Hùng, Đài Loan.

Trong suốt thời gian Thế chiến thứ hai, cả hai quần đảo đều bị Nhật tuyên bố là đang bị Nhật chiếm đóng. Tuy nhiên, Nhật không cho quân đồn trú hay là tuần tra trên hai quần đảo.

Năm 1938, Pháp đã cho xây dựng bia đá, xây hải đăng, đài khí tượng và đưa bộ đội biên phòng người Việt ra để bảo vệ đảo Pattle, (tức là Đảo Hoàng Sa của Quần đảo Hoàng Sa).

Ngày 4/4/1939, chính phủ Pháp gửi đi công hàm phản đối quyết định của Nhật và bảo lưu chủ quyền của Pháp tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Ngày 6/5/1939, Toàn quyền Đông Dương Jules Brévié ký Nghị định số 3282, tách đơn vị hành chính Hoàng Sa thành hai đơn vị là Croissant và các đảo phụ thuộc, Am Phichit và các đảo phụ thuộc.

Khi chiến tranh thế giới thứ hai sắp kết thúc, ba cường quốc là Anh, Mỹ và Trung Quốc lúc bấy giờ, Tưởng Giới Thạch đại diện cho Trung Quốc đã nhóm họp tại Cairo, Ai Cập vào ngày 27/11/1943, để bàn về những quyết định hậu chiến và ra Tuyên bố Cairo.

Về biển đảo ở Thái Bình Dương tuyên bố đã viết rõ: Nhật Bản phải bị loại ra khỏi tất cả các đảo ở Thái Bình Dương mà Nhật đã cướp hoặc chiếm đóng kể từ khi bắt đầu cuộc Thế chiến thứ nhất năm 1914 và tất cả những lãnh thổ mà Nhật đã chiếm của Trung Quốc như Mãn Châu lý Đài Loan và bành hồ sẽ được trả lại cho Cộng hòa Trung Hoa.

Tuyên bố này không có liên quan gì đến hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Điều này có nghĩa rằng, Tuyên bố Cairo khẳng định các lãnh thổ mà Nhật Bản đã chiếm của Trung Quốc chỉ có Mãn Châu Lý, Đài Loan và Bành Hồ.

Ngày 26/7/1945, tại Potsdam của nước Đức bại trận, các nguyên thủ quốc gia của các nước thắng trận, bao gồm Harry Truman của Mỹ, Winston Churchill của Anh và Tưởng Giới Thạch khẳng định lại các điều khoản của Tuyên bố Cairo sẽ được thực hiện.

Tuyên bố Potsdam về các điều khoản cho sự đầu hàng của Nhật Bản tương tự như một tối hậu thư đối với Nhật. Sự thực thì Trung Quốc lúc đó đã quá thỏa mãn với phần thưởng hậu chiến có được là Mãn Châu, Đài Loan và Bành Hồ mà không có Hoàng Sa và Trường Sa trong đó.

Ngày 15/8/1945, Nhật Bản thua trận, phải rút khỏi Đông Dương, ngày 26/8/1945, quân đội Nhật phải rút khỏi Hoàng Sa và Trường Sa.

Tháng 6/1946, Pháp khôi phục lại sự có mặt của mình tại Hoàng Sa, tại đảo An Vĩnh, nhưng ngay sau đó đã phải rút đi vì lý do chi viện cho cuộc chiến đang căng thẳng ở miền Bắc Việt Nam.

Chúng tôi một lần nữa muốn lưu ý rằng suốt chiều dài lịch sử cho đến tận những năm 1945, ngoài nỗ lực thị uy của chính quyền Quảng Đông vào năm 1909, cho quân lên đảo bắn mấy phát súng rồi rút, Trung Quốc không hề có sự chiếm cứ thực sự, liên tục hay sự quản lý hành chính thực tế nào trên các đảo ở biển Đông.

Cuối năm 1946, Tưởng Giới Thạch đưa quân chiếm đóng đảo Ba Bình ở Trường Sa. Tháng 1/1947, xua quân lên chiếm Phú Lâm của Hoàng Sa. Ngay lập tức, Pháp đã phản đối việc xâm phạm trái phép này của Trung Quốc, và cử một phân đội ra quần đảo Hoàng Sa, lập đồn binh và xây trạm khí tượng. Các trạm khí tượng này về sau đã hoạt động liên tục trong suốt 26 năm, với những nhân viên Việt Nam cần mẫn, cho đến khi Trung Hoa Đại Lục cưỡng chiếm bằng quân sự vào năm 1974.

Ngày nay, thông tin về khí tượng, thủy văn phát đi từ Hoàng Sa vẫn được toàn thế giới biết đến với danh nghĩa là một trạm khí tượng của một hòn đảo nhiệt đới Việt Nam.

Cũng năm 1947, Pháp đã đề nghị đưa vấn đề tranh chấp ra trọng tài quốc tế, nhưng Trung Quốc lại một lần nữa từ chối.

Tháng 10/1949, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ra đời, chính phủ Trung Hoa Dân Quốc chạy ra Đài Loan.

Tháng 5/1950, quân Đài Loan phải rút ra khỏi các đảo Phú Lâm ở Hoàng Sa, đảo Ba Bình ở Trường Sa. Các trại đồn chú của Pháp tiếp tục được duy trì ở Hoàng Sa.

Năm 1950, chính phủ Pháp đã chính thức chuyển giao cho chính phủ Bảo Đại quyền quản lý quần đảo này. Một năm sau đó, với thế giới và với Hoàng Sa, Trường Sa đã diễn ra một sự kiện quan trọng, đó là hội nghị San Francisco ở California, nước Mỹ, giữa lực lượng đồng minh với Nhật Bản. Trước khi hội nghị San Francisco diễn ra, Trung Quốc Đại Lục đã thể hiện yêu sách của họ đối với các quần đảo qua tuyên bố của Bộ Trưởng ngoại giao Chu Ân Lai nhưng chính quyền Tưởng Giới Thạch không phản ứng gì. Lúc đó, đa số các nước vẫn công nhận chính phủ Trung Hoa Dân Quốc của Tưởng Giới Thạch mới là đại diện chính thức cho Trung Quốc. Hội nghị San Francisco diễn ra từ ngày 4/9 – 8/9/1951, có phái đoàn của 51 quốc gia tham dự, để thảo luận về vấn đề chấm dứt chiến tranh tại châu Á- Thái Bình Dương và mở ra quan hệ với Nhật Bản thời hậu chiến.

Trong hội nghị này, Trung Hoa đại lục và Trung Hoa Dân Quốc đều không được tham dự, do Mỹ và Liên Xô không thống nhất được ai mới là đại diện chính thức cho quyền lợi của Trung Quốc.

Ngày 6/9/1951, ngoại trưởng Liên Xô là Gromyko đã đề nghị 13 khoản tu chính, trong đó có khoản tu chính liên quan đến việc Nhật Bản nhìn nhận chủ quyền của Trung Quốc đại lục đối với quần đảo Hoàng Sa. Hội nghị bác bỏ với 46 phiếu trống, một phiếu trắng và hai phiếu thuận. Danh nghĩa chủ quyền của Trung Quốc đối với các quần đảo ở ngoài khơi Biển Đông đã bị cộng đồng quốc tế bác bỏ rõ ràng trong khuôn khổ của một hội nghị quốc tế.

Đến ngày 7/9/1951, cũng tại hội nghị, Thủ tướng, kiêm Ngoại trưởng Chính phủ Bảo Đại là Trần Văn Hữu đã tuyên bố, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là lãnh thổ của Việt Nam.

Ông đã nói rằng, cần phải thành thật lợi dụng tất cả mọi cơ hội để dập tắt các mầm mống chiến tranh sau này. Chúng tôi xác nhận chủ quyền đã có từ lâu đời của chúng tôi trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Kết thúc hội nghị là việc ký kết hòa ước với Nhật. Trong hòa ước này, ở điều hai, đoạn F có ghi rõ: Nhật Bản phải khước từ mọi chủ quyền và đòi hỏi đối với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Sau hội nghị tại San Francisco, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vẫn do chính quyền Bảo Đại quản lý. Đến năm 1954, hai quần đảo này được đặt dưới sự quản lý của chính quyền Việt Nam Cộng hòa.

Tháng 5/1956, quân đội viễn chinh Pháp rút khỏi Đông Dương. Đội tuần tra của Pháp trên đảo Hoàng Sa được thay thế bởi đội tuần tra của chính phủ Việt Nam Cộng hòa. Nhưng khi đó, chính quyền Trung Quốc Đại Lục đã bí mật cho quân đội bộ binh chiếm phần phía Đông của quần đảo Hoàng Sa, là các đảo thuộc cụm đảo An Vĩnh (phía Trung Quốc gọi là Tuyên Đức quần đảo). Trong khi đó, ở phía Tây, nhóm lưỡi liềm (còn gọi là Nguyệt Thiềm) thì vẫn do quân đội Việt Nam Cộng hòa đóng trên đảo Pattle nắm giữ.

Ngày 22/8/1956, một đơn vị hải quân của Việt Nam Cộng hòa đã cắm cờ trên quần đảo Trường Sa và dựng bia. Đến ngày 13/7/1961, Tổng thống Việt Nam Cộng hòa là Ngô Đình Diệm ký sắc lệnh số 174 về việc đặt quần đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Nam và thành lập tại quần đảo này một xã lấy tên là xã Định Hải thuộc quận Hòa Vang.

Ngày 4/9/1958, Trung Quốc ra tuyên bố về hải phận 12 hải lý, áp dụng cho cả quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đến ngày 14/9/1958, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là ông Phạm Văn Đồng đã gửi công thư cho Thủ tướng Quốc vụ viện Trung Quốc Chu Ân Lai, thông báo tán thành và tôn trọng quyết định về hải phận 12 hải lý của Trung Quốc. Công thư này không hề nói gì về Hoàng Sa và Trường Sa.

Tháng 1/1974, Trung Quốc tiến quân chiếm các đảo ở Hoàng Sa lúc đó đang do quân đội Việt Nam Cộng hòa đóng giữ, 75 sĩ quan và binh sĩ Sài Gòn hy sinh. Trung Quốc chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa.

Như vậy, từ năm 1974, trong vấn đề chủ quyền ở Hoàng Sa, Việt Nam đã bị tước mất yếu tố vật chất, nhưng chủ quyền của Việt Nam vẫn không bị gián đoạn do được đảm bảo bằng yếu tố tinh thần.

Tháng 12/1982, huyện Hoàng Sa trực thuộc tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng được thành lập. Nhưng điều quan trọng hơn, theo luật quốc tế, từ đầu thế kỷ 20, việc dùng vũ lực để chinh phục một lãnh thổ đã bị lên án và không được chấp nhận. Nghị quyết của Đại hội đồng Liên hợp quốc ngày 24/10/1970 ghi rõ: lãnh thổ của một quốc gia không thể là một đối tượng chiếm đoạt bởi một quốc gia khác bằng cách đe dọa sử dụng vũ lực hoặc là sử dụng vũ lực. Bất kỳ sự chiếm đóng lãnh thổ nào bằng sự đe dọa sử dụng vũ lực hoặc là sử dụng vũ lực đều là bất hợp pháp. Do đó, các hành động dùng vũ lực của Trung Quốc là đi ngược lại với luật pháp quốc tế. Trung Quốc không thể mang lại danh nghĩa pháp lý cho đất nước này đối với quần đảo Hoàng Sa.

Đối với Trường Sa, ngày 14/2/1975, Chính phủ Việt Nam Cộng hòa tuyên bố chính sách về chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa. Tháng 5/1975, Việt Nam thống nhất hai miền. Quân đội Nhân dân Việt Nam thay thế quân đội Việt Nam Cộng hòa tại quần đảo Trường Sa.

Năm 1977, Việt Nam ra tuyên bố lãnh hải đất nước, kể cả lãnh hải của các quần đảo. Khoảng thời gian này, một số quốc gia Đông Nam Á khác cũng đã chiếm một số đảo ở quần đảo Trường Sa.

Tháng 3/1988, lần đầu tiên Trung Quốc đặt chân lên quần đảo Trường Sa bằng cách đưa quân tới xâm lược bãi đá Colin, bãi đá Len Đao và đảo Gạc Ma. Do ba bãi đá này không có quân đội đồn trú nên hải quân Việt Nam phải đưa quân ra bảo vệ.

Ngày 11/3/1988, tàu HQ 604 lữ đoàn 125 của thuyền trưởng Vũ Phi Trừ xuất phát từ vịnh Cam Ranh với 70 chiến sĩ của Trung đoàn 82 và 22 bộ đội của lữ đoàn 146 ra xây dựng cụm đảo Gạc Ma. Khi đang vận chuyển vật liệu lên đảo thì ba tàu chiến Trung Quốc áp sát, giật cờ, nã súng xâm chiếm đảo Gạc Ma. Sau đó, tàu Trung Quốc tiếp tục tấn công tàu HQ 605 đang bảo vệ và xây dựng đảo Len Đao và tàu HQ 505 canh giữ đảo Colin.

Trận chiến này đã làm hai tàu chiến của Việt Nam bị chìm, một tàu hỏng, 64 sĩ quan và chiến sĩ hy sinh, chín người bị phía Trung Quốc bắt giữ làm tù binh. Trung Quốc còn chặn không cho tàu mang cờ chữ thập đỏ ra cứu hộ. Phía Trung Quốc bị hư hại tàu chiến, thương vong 24 thủy binh. Kể từ đó, Trung Quốc đã chiếm đóng đảo Gạc Ma.

Tháng 4/1988, Trung Quốc thành lập tỉnh thứ 33 bao gồm đảo Hải Nam và hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa.

Tháng 5/1989, Trung Quốc chiếm thêm một số đảo nhỏ trên quần đảo Trường Sa. Năm 1990, Trung Quốc đề nghị khai thác chung quần đảo Trường Sa. Năm 1992, Trung Quốc chiếm thêm một số đảo nữa. Năm 1994, đụng độ giữa Việt Nam và một số tàu cá Trung Quốc nghiên cứu cho công ty Crestone.

Tháng 2/1995, Trung Quốc lại huy động quân đội đánh chiếm đá Vành Khăn, một đảo đá nhỏ lúc đó đang do Philippines chiếm đóng. Hiện nay, họ đang sử dụng sức mạnh để bao vây và chiếm đóng bãi cạn Cỏ Mây. Đây là bãi cạn nằm về phía Đông, gần với đá Vành Khăn. Tuy nhiên, vẫn chưa thành công.

Như vậy, tổng số bãi đá, bãi cạn mà phía Trung Quốc đã dùng sức mạnh để đánh chiếm ở quần đảo Trường Sa cho đến nay là bảy vị trí, bao gồm đá Châu Viên, đá Chữ Thập, cụm đá Gaven, đá Gạc Ma, đá Subi, đá Tư Nghĩa và đá Vành Khăn. Philippines cũng là nước tuyên bố chủ quyền ở Trường Sa.

Philippines bắt đầu tranh chấp chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa bằng sự kiện ngày 17/5/1951, tổng thống Philippines tuyên bố các đảo ở quần đảo Trường Sa phải thuộc về lãnh thổ gần nhất là Philippines.

Trong cuộc họp báo ngày 15/9/1956, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Philippines khẳng định rằng, nhóm đảo Trường Sa, trong đó có đảo Ba Bình và đảo Trường Sa, phải thuộc về chủ quyền Philippines vì chúng nằm gần Philippines nhất. Quần đảo Trường Sa chỉ cách Philippines có 300 km. Từ năm 1971 – 1973, Philippines đưa quân ra chiếm đóng năm đảo.

Từ năm 1977 – 1978, Philippines chiếm thêm hai đảo. Năm 1979, Tổng thống Philippines Marcos ra sắc lệnh gộp toàn bộ quần đảo Trường Sa, trừ đảo Trường Sa lớn, vào trong một đơn vị hành chính gọi là Kalayaan, thuộc lãnh thổ Philippines.

Năm 1980, Philippines chiếm đóng thêm một đảo nữa nằm về phía Nam của Trường Sa. Đó là đảo Công Đỏ. Hiện nay Philippines đang chiếm đóng 9 vị trí trong quần đảo Trường Sa, bao gồm bảy đảo, đá san hô và hai bãi cạn, rạn san hô. Cụ thể bao gồm; đảo Bến Lạc, đảo Bình Nguyên, đảo Loại Ta, đảo Song Tử Đông, đảo Thị Tứ, đảo Vĩnh Viễn, đảo Loại Ta Tây, đá Công Đỏ, bãi Cỏ Mây.

Trên thực địa tại Trường Sa, Malaysia cũng đang nắm giữ mấy đảo, mở đầu bằng sự việc Sứ quán Malaysia ở Sài Gòn ngày 3/2/1971 đã gửi công hàm cho Bộ Ngoại giao Việt Nam Cộng hòa và hỏi rằng đảo Trường Sa hiện thời thuộc nước Cộng Hòa Morac Songhrati và nó có thuộc về lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa hay Việt Nam Cộng hòa có yêu sách gì đối với quần đảo đó hay không?

Ngày 20/2/1971, chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã trả lời rằng, quần đảo Trường Sa thuộc lãnh thổ của Việt Nam, mọi xâm phạm chủ quyền ở quần đảo này đều bị coi là vi phạm luật pháp quốc tế. Đến tháng 12/1979, chính phủ Malaysia xuất bản bản đồ gộp vào lãnh thổ Malaysia khu vực phía Nam Trường Sa, bao gồm đảo An Bang và Thuyền Chài, đã từng do quân đội Việt Nam Cộng Hòa đóng giữ. Từ năm 1983 – 1984, Malaysia cho quân chiếm đóng ba bãi ngầm ở phía Nam Trường Sa là Hoa Lau, Kiệu Ngựa, Kỳ Vân. Đến năm 1988, họ chiếm đóng thêm hai bãi ngầm nữa là Én Đất và Thám Hiểm. Đến nay, số điểm đóng quân của Malaysia là năm điểm, đều nằm ở phía Nam quần đảo Trường Sa, tất cả đều là các rạn san hô. Cụ thể là đá Én Ca, đá Hoa Lau, đá Kỳ Vân, đá Kiệu Ngựa, bãi Thám Hiểm.

Tiếp theo là Đài Loan. Đài Loan hiện đang chiếm đóng đảo Ba Bình, đây là hòn đảo lớn nhất của quần đảo Trường Sa và mở rộng thêm một bãi cạn, đá san hô.

Brunei tuy được coi là một bên tranh chấp liên quan đến khu vực quần đảo Trường Sa, nhưng trên thực tế Brunei chưa chiếm đóng một vị trí cụ thể nào. Yêu sách của họ là ranh giới vùng biển và thềm lục địa được thể hiện trên bản đồ có phần chồng lấn lên khu vực phía Nam Trường Sa.

Các bạn hãy cùng nhìn lại một lần nữa toàn cảnh thực trạng ở Trường Sa. Việt Nam hiện đang chiếm giữ 21 đảo, đá. Trung Quốc 7. Philippines 9. Malaysia 5. Đài Loan 1. Brunei không chiếm đảo nào. Như vậy, có tới sáu quốc gia và vùng lãnh thổ tuyên bố chủ quyền với quần đảo Trường Sa của Việt Nam.

Quay trở lại với câu chuyện của Trung Quốc ở quần đảo Trường Sa, những sự kiện điển hình vừa dẫn ở trên đã cho thấy ý đồ và những bước đi của nhà cầm quyền Trung Quốc trong nhiều thế kỷ qua đã diễn ra theo một logic đáng ngại cho hòa bình và công pháp quốc tế.

Nhưng không dừng ở đó, ngày 26/2/2011 và ngày 30/11/2012, tàu Trung Quốc đã vào đến tận khu vực thềm lục địa của Việt Nam và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, cắt cáp địa chấn, cáp thu tín hiệu của tàu Bình Minh 02 thuộc tập đoàn Petro Việt Nam.

Đến tháng 5/2014, Trung Quốc lại đưa giàn khoan khổng lồ Hải Dương 981. Cùng với đó là hàng chục máy bay chiến đấu, hàng trăm tàu quân sự vào thềm lục địa và đặc quyền kinh tế của Việt Nam.

Ngày 26/5/2014, tàu Trung Quốc số 11209 đã đâm chìm tàu cá DNA 90152 của ngư dân Đà Nẵng trong ngư trường truyền thống của Việt Nam, cách vị trí giàn khoan này 17 hải lý.

Tháng 6/2014, Trung Quốc tiếp tục đưa nhiều dàn khoan khác xuống biển Đông, trong đó có giàn khoan Nam Hải 09, đặt hạ ngay tại cửa vịnh Bắc Bộ, nơi đang được chờ phân định giữa Việt Nam và Trung Quốc. Thực chất, đây là một cuộc xâm lăng với tất cả các dấu hiệu vừa cổ điển, vừa chưa từng có trong tiền lệ. Cổ điển vì nó đã vượt biên giới, có vũ khí, hành động đơn phương với mưu đồ cưỡng chiếm, đánh thổ và thôn tính lâu dài. Nhưng lại chưa có tiền lệ vì sử dụng lãnh thổ di động, chưa nổ súng và có thể không nổ súng, nhưng vẫn có khả năng biến lãnh thổ quốc gia khác thành vùng tranh chấp rồi mới cưỡng đoạt.

Giấc Mơ Trung Hoa trên thực tế đã dần trút bỏ lớp lá nho che đậy nhưng cũng không kém phần trơ trẽn của nó. Những gì mà Trung Quốc đang làm khác xa với những gì mà Trung Quốc nói.

BDN

Loading

Views: 0

Những tiên đoán thú vị về năm 2024

942 câu thơ của bác sĩ chiêm tinh tiên tri người Pháp Nostradamus được cho là những dự đoán sự kiện xảy ra trong tương lai, nhiều người đã nhắc đến khi tiên đoán của ông về COVID-19 trở thành sự thật.

Những lời tiên tri của vị triết gia người Pháp Nostradamus đã được nhiều người tìm kiếm trong năm 2024 sau sự kiện động đất tại Nhật Bản hôm 1/1, kéo theo nguy cơ sóng thần.

Trước đó, trong văn bản Les Propheties’ năm 1955, nhà tiên tri từng cảnh báo: “Trái đất khô cằn sẽ trở nên khô cằn hơn và sẽ có những trận lụt lớn”. Đồng thời, ông dự đoán năm 2024, thế giới sẽ chứng kiến ​​một “nạn đói rất lớn do làn sóng sâu bệnh” ập đến.

Dưới đây là một số lời tiên tri có thể thành sự thật trong năm 2024:

Đối đầu với Trung Quốc

Trong một đoạn thơ, nhà tiên tri đã dự đoán: “Đối thủ Đỏ sẽ trở nên tái nhợt vì sợ hãi, khiến Đại dương vĩ đại phải khiếp sợ”. “Đối thủ Đỏ” được cho là ám chỉ Trung Quốc. Nhiều người cho rằng sự kiện được nhắc đến có thể là cuộc xung đột hải quân trong bối cảnh căng thẳng leo thang liên quan tới bán đảo Đài Loan. Tình hình này đã được nhiều quốc gia quan tâm và đang tìm cách hạ nhiệt căng thẳng.

Điều này có thể ứng với sự kiện Tổng thống Mỹ Joe Biden nỗ lực cải thiện quan hệ với Trung Quốc trong cuộc gặp Chủ tịch Tập Cận Bình vào tháng 11/2023. Trong buổi làm việc, hai nhà lãnh đạo đã thảo luận về nhiều vấn đề, bao gồm bán đảo Đài Loan, fentanyl và biến đổi khí hậu.

Tuy nhiên, ứng với dự đoán của Nostradamus, việc này chưa đủ để làm “tan băng” quan hệ.

Sự hỗn loạn trong Hoàng gia Anh

Tác giả người Anh và nhà bình luận Nostradamus Mario Reading trước đây từng nói về dự đoán của nhà chiêm tinh người Pháp về cái chết của Nữ hoàng Elizabeth II. Trong đó, nhà tiên tri Nostradamus từng nói rằng “Vua của quần đảo” bị “đuổi ra ngoài bằng vũ lực” và sau đó được thay thế bởi “một người không ngờ đến”.

Trong phân tích của ông Reading, lời tiên chi có thể ám chỉ Vua Charles III thoái vị do “các cuộc công kích liên tục vào cả ông và người vợ thứ hai”, và người thay thế ông có thể là con trai thứ Harry, chứ không phải Thái tử William – con trai cả của ông.

Thảm hoạ khí hậu

Với diễn biến khí hậu hiện nay, nhiều người tin rằng lời tiên tri của ông Nostradamus trong năm 2024 có thể thành hiện thực.

Cuộc khủng hoảng khí hậu đã bắt đầu với các vụ cháy rừng, lũ lụt và hạn hán ngày càng gia tăng trên toàn cầu trong những năm gần đây, đặc biệt là vào năm 2023.

Tuy nhiên, đáng nói, những hiện tượng này đã được ông tiên đoán từ nhiều thế kỷ trước. Trong đó, ông từng viết: “Đất khô sẽ ngày càng khô cằn và sẽ có các trận lũ lụt lớn”.

Nhà triên tri cũng cảnh báo những cơn bão sẽ dẫn đến nạn đói.

Trước đó, một vài lời tiên tri của Nostradamus được cho là chính xác khi so sánh với những gì xảy ra vào năm 2022 và 2023, bao gồm cuộc xung đột tại Ukraine khiến chi phí sinh hoạt tăng cao. Cụ thể, trong lời tiên tri từ nhiều thế kỷ trước, ông từng viết: “Giá lúa mì sẽ tăng cao đến mức người đàn ông phải ăn thịt đồng loại của mình”.

Kể từ tháng 2/2022, giá lúa mì thậm chí còn tăng lên mức cao hơn mức đã thấy sau cuộc khủng hoảng tài chính vào cuối những năm 2000 và hiện chỉ mới bắt đầu giảm trở lại mức trước xung đột.

Tuy có nhiều điểm được cho là tương đồng, nhưng những tiên đoán này vẫn chỉ mang tính tham khảo và không có nghĩa lúc nào cũng chính xác.

BDN

Loading

Views: 0

Mỹ điều tàu chiến tới tập trận “Hổ mang Vàng 2024” tại Thái Lan

Siêu tàu đổ bộ USS Somerset và “căn cứ viễn chinh di động” USS Miguel Keith của Mỹ với hơn 4.000 quân nhân sẽ được triển khai trong cuộc tập trận Hổ mang Vàng 2024 (Cobra Gold 2024) diễn ra tại Thái Lan từ ngày 26/2 đến ngày 8/3 tới đây.

Tổng Tham mưu trưởng Lực lượng Vũ trang Hoàng gia Thái Lan, Tướng Thitichai Tiantong cho biết hơn 4.000 binh sĩ của quân đội Mỹ sẽ nằm trong số 9.590 binh sĩ từ 30 quốc gia tham gia cuộc tập trận thường niên “Hổ mang Vàng 2024” tại Thái Lan.

Hai tàu đổ bộ của Mỹ là USS Miguel Keith và USS Somerset cũng sẽ tham gia diễn tập. Tàu USS Miguel Keith, thuộc lớp Lewis B Puller của Hải quân Mỹ trong khi tàu USS Somerset là siêu tàu vận tải đổ bộ thuộc lớp San Antonio.

Theo ông Kurtis A Leffler, Trưởng trưởng Nhóm Cố vấn quân sự chung của Mỹ tại Thái Lan, phía Mỹ năm nay sẽ tập trung nhiều hơn vào hoạt động tập trận đổ bộ.

Đại sứ quán Mỹ tại Thái Lan cũng cho biết trong khuôn khổ cuộc tập trận năm nay, lực lượng hải quân hai nước Thái Lan và Mỹ cũng sẽ phối hợp trục với xác tàu HTMS Sukhothai của Thái Lan đã bị chìm cách bờ biển Prachuap Khiri Khan của Thái Lan khoảng 35 km vào tháng 12/2022 sau khi gặp bão.

Binh sỹ từ 7 quốc gia gồm Thái Lan, Mỹ, Singapore, Nhật Bản, Indonesia, Hàn Quốc và Malaysia sẽ tham gia các hoạt động chính trong cuộc tập trận, trong khi Trung Quốc, Australia và Ấn Độ sẽ cử đoàn tham gia các hoạt động diễn tập cứu trợ nhân đạo và cứu trợ thiên tai.

10 quốc gia khác bao gồm Bangladesh, Canada, Pháp, Mông Cổ, Nepal, New Zealand, Philippines, Fiji, Anh và Brunei sẽ tham dự cuộc tập trận nhóm có tên gọi “Tăng cường lập kế hoạch đa quốc gia”. Trong khi đó, 10 quốc gia còn lại là Campuchia, Lào, Brazil, Pakistan, Việt Nam, Đức, Thụy Điển, Hy Lạp, Kuwait và Sri Lanka sẽ tham gia hoạt động diễn tập nhóm khác có tên gọi “Đội liên lạc quan sát viên tổng hợp.”

Bắt đầu tổ chức từ năm 1982, Hổ mang Vàng hiện là một trong những cuộc tập trận thường niên có quy mô lớn nhất và kéo dài nhất ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Cuộc tập trận được tổ chức nhằm tăng cường khả năng tương tác giữa quân đội Thái Lan và Mỹ cũng như lực lượng quân sự của các quốc gia trong khu vực.

BDN

Loading

Views: 0

Bàn về sự được – mất trong tranh chấp tại Biển Đông

Bước sang thế kỷ 21 thế giới đã thay đổi rất nhiều đã dẫn tới xu hướng mới của thời đại đó là, đối thoại thay cho đối đầu bằng những cuộc chiến đẫm máu. Nhìn vào gương nước Nga hiện nay, khi dùng vũ lực với Ukraine sẽ biết, dẫu có đánh được họ đi chăng nữa, thì cũng sẽ bị cả thế giới lên án cấm vận, khiến cho nền kinh tế và vị thế ngoại giao bị suy yếu đi rất nhiều.

Bản thân Việt Nam cũng ý thức được tầm quan trọng của ngoại giao đa phương. Chúng ta nâng cấp quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với những cường quốc hàng đầu thế giới như Nga, Mỹ, Trung Quốc, Ấn Độ và Hàn Quốc. Việc gia tăng ngoại giao đa phương giúp Việt Nam có thể tự chủ trong đường lối phát triển, tránh tình trạng trở thành chư hầu của bất kỳ một quốc gia nào và quan trọng hơn, là gắn chặt lợi ích của một số cường quốc vào lợi ích của Việt Nam. Điều này giúp cho Việt Nam giảm thiểu nguy cơ bị kéo vào một cuộc chiến tranh tổng lực bất đối xứng.

Từ ý trên, ta có thể rút ra rằng, trong vấn đề biển đảo hiện nay, chúng ta không thể dùng đơn thuần quân sự hay là cắt đứt quan hệ đối tác với đối thủ phương Bắc được. Phương pháp tốt nhất vẫn là vừa hợp tác vừa đấu tranh. Trong vấn đề đấu tranh ngoại giao nhất định phải luôn kiên trì, bền bỉ, không ngừng nghỉ. Chúng ta vẫn luôn lên tiếng phản đối, không bỏ qua bất kỳ một hành động nào, dù là nhỏ nhất của phía Trung Quốc nếu gây tổn hại tới lợi ích của ta. Trên biển Đông, ta cũng kiên quyết hỗ trợ và bảo vệ cho ngư dân bám biển.

Trong tình thế như hiện nay, chỉ cần ta bỏ qua, ta im lặng trước một số hành động của họ, thì dần dà chúng ta sẽ mất đi lợi ích vĩnh viễn. Thế nhưng, cũng cần phải thực tế, làm sao đừng để lợi bất cập hại. Cơ sở để giải quyết các tranh chấp ở Biển Đông là tranh thủ luật pháp quốc tế. Thế giới sẽ ủng hộ chúng ta, không chỉ vì ta mà còn vì lợi ích của chính họ. Chẳng ai muốn một Trung Quốc bành trướng rồi trở thành siêu cường và có thể tùy tiện áp đặt mọi sở thích cũng như tham vọng của họ lên toàn thế giới.

Năm 1956, khi Pháp buộc phải rút khỏi Việt Nam theo Hiệp định Genève 1954, trong bối cảnh ta chưa củng cố và quản lý tốt các vùng biển đảo, Trung Quốc đã tranh thủ chiếm cụm đảo phía đông quần đảo Hoàng Sa. Tới năm 1974, được sự thỏa hiệp của Mỹ, Trung Quốc đã khiêu khích, dẫn tới sự manh động nổ súng trước của quân Việt Nam Cộng hòa, rồi lấy cớ mạnh tay đánh chiếm toàn bộ Hoàng Sa. Đối với Trường Sa, chúng ta là nước đầu tiên làm chủ cả một vùng biển đảo rộng lớn, nhưng chúng ta cũng chỉ đóng giữ được một số đảo nổi.

Không chỉ Trung Quốc, năm 1971 Philippines, cũng đã lấn chiếm 5 đảo phía đông Trường Sa. Rồi tới năm 1973, họ lấn tiếp hai đảo ở phía bắc. Với Malaysia, năm 1979, họ đã chiếm được bảy đảo của phía nam Trường Sa. Đặc biệt, năm 1988, nhân cuộc chiến tranh biên giới phía Tây Nam, ta đang tập trung vào việc rút quân khỏi Campuchia, Trung Quốc đã tranh thủ đánh chiếm thêm 7 bãi đá ngầm ở Trường Sa. Bắt đầu là bãi đá Chữ Thập, mà ngày nay họ đã cải tạo thành một pháo đài.

Như vậy, hậu quả của các cuộc xung khắc thực là tai hại nhất là khi có các nước lớn sát vách như Trung Quốc. Họ luôn tranh thủ cơ hội để xâm lấn đất của ta. Rồi dù có bình thường hóa trở lại thì việc đòi lại những gì đã mất là rất khó. Nhất là những vùng hải đảo xa xôi, họ hoàn toàn có thể bịa ra căn cứ pháp lý chủ quyền như hiện nay mọi người vẫn thấy về cái “đường lưỡi bò”.

Việt Nam có sợ Trung Quốc không?

Câu trả lời đương nhiên là không! Chúng ta đã chiến đấu với họ cả nghìn năm nay và chưa bao giờ chúng ta chịu khuất phục họ hoàn toàn. Thế nhưng, với tương quan tiềm lực hiện nay giữa hai nước, nếu phải bước vào một cuộc chiến, dù là tổng thể hay xé lẻ ra là điều nên tránh. Chắc tất cả chúng ta đều chưa quên cuộc chiến 10 năm dài đằng đẵng ở biên giới phía Bắc đã khiến đất nước khó khăn thế nào.

Mặc dù, tháng 3/1979, Trung Quốc đã rút hết quân khỏi lãnh thổ Việt Nam, thế nhưng tiếng súng tại mặt trận biên giới vẫn chưa hề ngưng trong 10 năm tiếp theo. Việt Nam phải căng mình trên hai mặt trận là Campuchia và biên giới phía bắc, phải tiêu tốn nhân lực, vật lực vô cùng cho quân đội. Phải duy trì một đội quân khổng lồ và chịu nhiều thiệt hại to lớn về kinh tế trong suốt 10 năm trời đen tối.

Vì lẽ đó, mục tiêu duy trì sự ổn định, hòa bình trong khu vực là yếu tố tiên quyết trong cuộc chiến này. Đứng từ góc nhìn của Việt Nam, càng bất ổn, càng xung đột, nước yếu hơn sẽ càng thiệt hại so với nước lớn.

Với bộ máy tuyên truyền khổng lồ và đồ sộ, bất cứ một hành động thiếu cẩn trọng nào của phía Việt Nam cũng sẽ trở thành một sơ hở để Trung Quốc khai thác triệt để. Chính vì vậy, việc những thế lực chống phá hải ngoại thường xuyên kích động, chửi bới rồi chê bai chính quyền trong nước cũng chỉ nhằm một mục đích là kích động tâm lý của người dân, hướng tới những cục diện hỗn loạn hơn là đúng với ý đồ của phía Trung Quốc.

Chúng ta liên tục và thường xuyên phản đối cấp quốc gia và quốc tế đối với những tuyên bố của Trung Quốc và những hành động hành xử chủ quyền, hợp tác khai thác tài nguyên trong vùng tranh chấp. Chúng ta liên tục, thường xuyên công khai và chính thức khẳng định chủ quyền lãnh thổ mà Trung Quốc cũng tuyên bố. Chúng ta bác bỏ những tuyên bố chính thức của phía Trung Quốc. Chúng ta cũng liên tục nâng cấp vũ khí, liên tục hiện đại hóa hải quân, không quân, liên tục mua sắm mới và tự chủ sản xuất mới trong khi đang có tranh chấp biển đảo với Trung Quốc. Chúng ta cũng nhiều lần tập trận bắn đạn thật, phóng tên lửa thật ở Trường Sa trên vùng biển Đông, ngay cả trên những vùng Trung Quốc coi là chủ quyền của họ và tuyên bố chủ quyền.

Việt Nam công khai và chính thức, quang minh chính đại làm những hành động trực tiếp như trên khiến cả thế giới biết Việt Nam đang có tranh chấp bất đồng về biển đảo, lãnh hải, lãnh thổ với Trung Quốc. Việt Nam luôn đặt chủ quyền lên trên hết.

Tất cả những gì liên quan tới chủ quyền lãnh thổ Việt Nam đều đã làm những gì có thể làm, những gì trong khả năng thực tế mà thế và lực của Việt Nam hiện nay có thể làm.

Năm 1988, trong chiến dịch CQ 88 ở Trường Sa, chúng ta không thể để leo thang chiến tranh thành một chiến quy mô lớn trên biển. Trong tất cả những hành động đó, có thể thấy rõ ràng xưa nay Việt Nam luôn đặt chủ quyền lên trên hết. Vì chủ quyền, khi cần đánh, chúng ta vẫn đánh, ta không hy sinh chủ quyền chỉ vì muốn hòa bình. Ta không dùng chủ quyền để đánh đổi hòa bình phụ thuộc.

Những năm tháng chống Trung Quốc thời gian 1979 – 1989 đã cho chúng ta thấy rất rõ sự nhất quán. Chúng ta vừa đánh để bảo vệ chủ quyền, vừa tìm cách giữ cho nó trong sự kiểm soát, không để bất kỳ một thế lực nào thứ ba lợi dụng, khoét sâu, kích động làm leo thang cuộc chiến này. Cố gắng vãn hồi hòa bình, cố gắng tránh xung đột quy mô lớn. Người làm chính trị luôn lo tới cái lợi lớn của đất nước, cái tổng thể, cái chung nhất, cái lâu dài, cái bền vững. Không thể để những tiểu tiết làm hư đại sự, không vì muốn thỏa mãn những cảm tính, những tự ái nhất thời mà làm hỏng đại cuộc.

Đồng thời, không để thế lực thứ ba nào đó lợi dụng tình hình căng thẳng để mà trục lợi. Thử hỏi rằng, nếu Việt Nam chuyển sang chống Trung Quốc giống như giai đoạn 1979 – 1989, thì liệu rằng những con người đó có trở về nước, có chung tay với đất nước, chính quyền mà chống Trung Quốc hay không? Câu trả lời rõ ràng là không. Trái lại, họ sẽ lại càng lợi dụng mà phá thêm, thậm chí có thể là mong muốn Trung Quốc chiến thắng. Như họ đã từng mong muốn rằng Trung cộng đánh thẳng vào Hà Nội mà giết sạch Việt cộng đi như năm 1979, Fulro và những nhóm khủng bố tiền thân của Việt Tân, mà điển hình nhất là cái tên Hoàng Cơ Minh, đã từng nhân cơ hội chiến tranh mà đục nước béo cò, thừa nước đục thả câu, rồi thừa cơ đánh phá vào trong nước, đem tiền giả, chất cấm, súng đạn vào tấn công trong nước. Những kinh nghiệm lịch sử vẫn còn rành rành. Mối quan hệ phức tạp Việt – Trung chính là một trong những chiêu bài để họ nắm lấy, khai thác và lợi dụng để thực hiện mục đích tối hậu đó, vì lợi ích riêng của chính bản thân họ, bất chấp lợi ích chung của đất nước và dân tộc.

Người làm chính trị có thực tâm và thực tài là những người biết phân biệt giữa cái lợi của một người, cái lợi của một nhóm người và cái lợi tổng thể của tất cả dân tộc, đất nước. Chủ quyền cũng như hòa bình chính là cái lợi lớn đó. Lãnh đạo có tài và có tâm phải luôn biết đặt nặng và coi trọng vào cái lợi lớn, vào cái lợi chung của tất cả.

BDN

Loading

Views: 0

TQ âm thầm thay loạt tướng cấp cao: “Bão ngầm” – điểm nóng trong kế hoạch lớn của ông Tập

Đài CNN (Mỹ) cho rằng, trung tâm của đợt cải tổ mới nhất là lực lượng tên lửa của quân đội Trung Quốc.

Loạt tướng lĩnh Trung Quốc mất chức
Theo CNN, trong phần lớn thời gian của năm 2023, một “cơn bão” đã âm thầm diễn ra tại Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA): Nhiều tướng lĩnh quyền lực lần lượt bị bãi miễn các chức vụ mà không có lý do được công bố, bao gồm Bộ trưởng Quốc phòng.

Dấu hiệu rõ ràng diễn ra vào thứ Sáu (5/1), khi Tân Hoa Xã thông báo, Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc (tức Quốc hội) Trung Quốc chính thức bãi nhiệm tư cách đại biểu đối với 9 sĩ quan cấp cao của PLA.

Giới chuyên gia chuyên nghiên cứu về quân đội Trung Quốc chỉ ra, nguyên nhân của đợt bãi miễn trên có thể liên quan đến vấn đề tham nhũng: Có thể là do việc mua sắm và phát triển các thiết bị tiên tiến vốn là yếu tố then chốt trong nỗ lực của Chủ tịch Tập Cận Bình nhằm hiện đại hóa PLA và đưa PLA thành một lực lượng chiến đấu đẳng cấp thế giới.

CNN cho rằng, trung tâm của đợt cải tổ mới nhất là lực lượng tên lửa của PLA, quân chủng được thành lập để giám sát kho vũ khí tên lửa hạt nhân và đạn đạo đang mở rộng nhanh chóng của Trung Quốc.

Chủ tịch Tập Cận Bình đã mô tả lực lượng này là “cốt lõi của răn đe chiến lược, là trụ cột chiến lược cho vị thế cường quốc của đất nước và là nền tảng để xây dựng an ninh quốc gia”.

James Char, nhà nghiên cứu và theo dõi PLA lâu năm tại Trường Nghiên cứu Quốc tế S. Rajaratnam ở Singapore, cho biết: “Ngay bây giờ, ông Tập Cận Bình và ban lãnh đạo cấp cao của Trung Quốc đã thấy rõ ràng rằng đội ngũ chỉ huy lực lượng tên lửa đã bị tổn hại”.

Char nói: “Nếu điều này tiếp tục diễn ra trong thời gian dài, nó chắc chắn sẽ có tác động tiêu cực đến khả năng chiến đấu tổng thể của PLA”.

Điểm nóng trong nỗ lực cải tổ PLA
Trong số 9 quan chức PLA bị bãi nhiệm tư cách đại biểu, thì 5 quan chức có liên quan đến lực lượng tên lửa.

Đáng chú ý nhất là tướng Lý Ngọc Siêu, người đột ngột bị thay thế chức tư lệnh vào tháng 7/2023 cùng với chính ủy. Người tiền nhiệm của Lý và hai cựu phó chỉ huy cũng có tên trong danh sách, đồng thời là một quan chức phụ trách mua sắm thiết bị của lực lượng.

Ba nhân vật bị bãi nhiệm tư cách đại biểu khác cũng tham gia mua sắm vũ khí – hai người đến từ Cục Phát triển Thiết bị của PLA, trong khi người còn lại giám sát thiết bị cho Hạm đội Nam Hải của Hải quân PLA trước khi trở thành chỉ huy lực lượng này.

Vị tướng còn lại bị bãi nhiệm là cựu Tư lệnh Không quân PLA.

Char nói: “Bằng sự liên kết của chín nhân sự này… chúng ta ít nhiều có thể đoán được rằng tham nhũng là nguyên nhân chính đằng sau…”.

Việc bãi nhiệm 9 nhân sự này diễn ra chỉ hai ngày sau khi ba giám đốc điều hành hàng không vũ trụ của tổ hợp công nghiệp quân sự Trung Quốc bị tước bỏ vai trò trong cơ quan cố vấn chính trị hàng đầu.

Một số nhà phân tích cho rằng, động thái này là một dấu hiệu nữa cho thấy cuộc điều tra tham nhũng trong hoạt động mua sắm quân sự của lực lượng tên lửa – một lĩnh vực cực kỳ bí mật và sinh lợi với số tiền lên tới hàng tỷ USD.

“Kể từ năm 2016, lực lượng tên lửa của PLA đã đầu tư rất nhiều thiết bị đắt tiền”, ông Char nói, đề cập thời điểm ông Tập Cận Bình bắt đầu tiến hành cải cách quân đội trên diện rộng.

Trong vài năm qua, các bức ảnh vệ tinh đã cho thấy việc xây dựng hàng trăm hầm chứa tên lửa đạn đạo liên lục địa trên sa mạc Trung Quốc và Bộ Quốc phòng Mỹ dự đoán Trung Quốc có thể có khoảng 1.500 đầu đạn hạt nhân vào năm 2035 nếu nước này tiếp tục mở rộng kho dự trữ với tốc độ cấp số nhân hiện nay.

Ý nghĩa trong chiến đấu
Theo cựu Giám đốc bộ phận điều hành của Trung tâm tình báo hỗn hợp – Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương của hải quân Mỹ Carl O.Schuster, lực lượng tên lửa sẽ đóng vai trò then chốt trong bất kỳ cuộc xung đột nào liên quan đến vấn đề Đài Loan (Trung Quốc) hoặc Biển Đông – hai điểm nóng tiềm tàng giữa Mỹ và Trung Quốc – bằng cách dẫn đầu các cuộc tấn công đầu tiên của PLA.

Do tầm quan trọng chiến lược của quân chủng này, câu hỏi quan trọng là vụ việc vừa qua có ảnh hưởng đến hoạt động hoặc khả năng sẵn sàng chiến đấu của lực lượng này hay không.

Schuster cho rằng, đến nay, Trung Quốc vẫn chưa thực hiện bất kỳ thay đổi nào đối với các vị trí chỉ huy và nhân viên cấp tác chiến.

“Các lãnh đạo cấp cao đã tham gia vào việc phát triển lực lượng nhưng hiện tại chưa thể tham gia vào các hoạt động và lập kế hoạch”, chuyên gia Mỹ nói rằng, dù vậy xét về tổng thể, “khả năng chiến đấu của PLA khó có thể bị tổn hại ở bất kỳ mức độ đáng kể nào”.

Là một phần trong cải cách quân sự của Chủ tịch Tập Cận Bình, “các tài sản của lực lượng tên lửa thực tế ngày càng được tích hợp nhiều hơn vào hệ thống chỉ huy chung trên chiến trường của PLA. Vì vậy, điều này có nghĩa là khả năng tiến hành các cuộc tấn công tên lửa của PLA chỉ là một phần của các hoạt động chung lớn hơn, sẽ khó có thể bị tổn hại” – ông Schuster nhấn mạnh.

Các chuyên gia cho rằng, về lâu dài, Chủ tịch Trung Quốc sẽ cần làm trong sạch bộ máy của PLA, đặc biệt là các đơn vị liên quan đến hệ thống vũ khí của nước này, trong bối cảnh căng thẳng địa chính trị gia tăng.

Chuyên gia Char nói: “Việc chống tham nhũng rất quan trọng vì trong tương lai, ông [Tập Cận Bình] muốn đảm bảo lực lượng tên lửa PLA sở hữu các thiết bị sát thương hoạt động hiệu quả trên chiến trường”.

BDN

Loading

Views: 0