Author Archives: ducchung

Một số dự báo về Trung Quốc năm 2023

Phần 1: Kinh tế

Năm 2023 là năm đầu tiên quán triệt thực hiện Nghị quyết Đại hội 20, là năm bản lề của Quy hoạch phát triển kinh tế xã hội lần thứ 14, nằm trong giai đoạn khởi đầu của tiến trình xây dựng cường quốc xã hội chủ nghĩa hiện đại, về tổng thể vẫn thuộc vào giai đoạn đầu của Chủ nghĩa xã hội.

Ngày 6/12, Bộ Chính trị Trung Quốc họp, nghiên cứu kinh tế 2023, nhấn mạnh “Thúc đẩy kinh tế vận hành chuyển biến tốt về tổng thể, ra sức tăng cường lòng tin của thị trường; thực hiện “nâng cấp hữu hiệu về chất và tăng trưởng hợp lý về lượng”, triển khai và có bước đi mới xây dựng toàn diện quốc gia hiện đại hóa xã hội chủ nghĩa; phải đồng bộ tốt hơn giữa chống dịch và phát triển kinh tế xã hội, tối ưu hóa các biện pháp chống dịch, đi sâu toàn diện cải cách mở cửa. Đây chính là phương châm hành động của Trung Quốc năm 2023. Tập Cận Bình đưa ra yêu cầu “dịch bệnh cần phòng chống, kinh tế phải giữ ổn, phát triển phải an toàn, trước sau vẫn “lấy chữ ổn làm đầu, cầu tiến trong ổn định”. Ông Tập nhấn mạnh, tăng cường năng lực chống dịch ở cơ sở, tăng cường nghiên cứu ứng dụng thuốc và vacine, bảo đảm tốt việc chữa bệnh cho quần chúng… Năm 2023, Trung Quốc vẫn đặt chống dịch Covid ở vị trí quan trọng hàng đầu nhưng đã có sự điều chỉnh theo hướng hài hòa hơn giữa chống dịch với khôi phục phát triển kinh tế, hạn chế tác động tiêu cực của chống dịch đối với kinh tế.

Ông Tập chỉ rõ, muốn làm tốt công tác kinh tế năm 2023, cần phải nắm chắc “6 đồng bộ”: “Đồng bộ tốt hơn giữa chống dịch và phát triển kinh tế xã hội”, “giữa nâng cao một cách hiệu quả kinh tế về chất và tăng trưởng hợp lý về lượng”, giữa cải cách mang tính kết cấu bên cung với mở rộng nội nhu”, “giữa chính sách kinh tế và các loại chính sách khác”, “giữa tuần hoàn trong nước và tuần hoàn quốc tế”, “đồng bộ hơn giữa trước mắt và

lâu dài”. Hoàn thành nhiệm vụ mục tiêu công tác kinh tế năm 2023, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác kinh tế. Kinh tế Trung Quốc năm 2023 sẽ được vận hành xoay quanh “5 kiên trì” mà Hội nghị công tác kinh tế Trung ương (15-16/12/2022) đề ra: Kiên trì “phát triển là nhiệm vụ quan trọng số 1″ của Đảng; kiên trì công tác “cầu tiến lên trong ổn định”; kiên trì “hoàn thiện chế độ kinh tế cơ bản XHCN”; kiên trì “thúc đẩy mở cửa đối ngoại trình độ cao”; kiên trì “thúc đẩy kinh tế phát triển vậ hành trong quỹ đạo pháp trị”. Hội nghị chỉ rõ, năm 2023, dưới tiền đề kiên trì lấy chữ “ổn” làm đầu, tiếp tục thi hành chính sách tài chính tích cực và chính sách tiền tệ ổn định, gia tăng mức độ điều chỉnh chính sách vĩ mô, tăng cường điều chỉnh phối hợp chính sách các loại, hình thành sự hợp lực cùng thúc đẩy phát triển chất lượng cao. Hội nghị chỉ ra một số vấn đề trọng đại cần làm tốt trong công tác kinh tế năm 2023: Tập trung mở rộng nội nhu, đẩy nhanh xây dựng hệ thống sản nghiệp hiện đại hóa, thiết thực thực hiện “hai không dao động” (không dao động củng cố và phát triển kinh tế công hữu, không dao động cổ vũ, giúp đỡ, hướng dẫn kinh tế phi công hữu phát triển), tăng cường thu hút và sử dụng đầu tư nước ngoài, đề phòng và hóa giải hiệu quả các nguy cơ kinh tế tài chính lớn. Trung Quốc vẫn đề ra nhiệm vụ phòng chống những cơ mang tinh hệ thống”, nghĩa là Trung Quốc khẳng định nguy cơ này vẫn đang tồn tại.

Hội nghị kinh tế trung ương 2022 tuy tỏ ra tự tin về các ưu thế chế độ, quy mô thị trường nội địa, nền công nghiệp hoàn thiện ngày càng hiện đại… nhưng vẫn toát lên sự đề phòng, cảnh giác với các nguy cơ, kể cả những nguy cơ mang tinh hệ thống trong quá trình phát triển của kinh tế 2023 và những năm tiếp theo, nên bước đi rất thận trọng, luôn lấy chữ “ổn” làm đầu, tìm kiếm sự tăng trưởng hợp lý, tăng trưởng trong ổn định. Đây là đặc trưng nổi bật của tình hình kinh tế Trung Quốc năm 2023.

Loading

Views: 0

Động thái gần đây của Philippines liên quan Biển Đông

Lực lượng tuần duyên Philippines (17/02) đăng thông tin cho biết

Philippines đang tăng cường hoạt động tuần tra ở Biển Đông trong bối cảnh

Trung Quốc (TQ) đang mở rộng hiện diện tại khu vực, Philippines đã bố trí tàu

BRP Teresa Magbanua tuần tra ở khu vực quần đảo Trường Sa từ ngày 28/01

để bảo vệ ngư dẫn Philippines; cho biết ngày 09/02, Philippines đã phát hiện

và yêu cầu một tàu cá treo cờ Việt Nam “rời khỏi vùng đặc quyền kinh tế của

Philippines sau khi tàu này bị phát hiện đánh cá gần Bãi Cỏ Rong”.

Tổng thống Philippines F.Marcos Jr. (18/02) tuyên bố Philippines sẽ

“không để mất một tấc đất nào”, nhấn mạnh Philippines sẽ tiếp tục bảo vệ toàn

vẹn lãnh thổ và chủ quyền phù hợp với luật quốc tế, đồng thời hợp tác với các

nước láng giềng để bảo vệ an toàn và an ninh.

Tiếp đó, phát ngôn viên Lực lượng bảo vệ bờ biển Philippines (PCG) J. Tarriela

(20/02) tiếp tục thông báo, nước này đang thảo luận phương án tuần tra chung

với Tuần duyên Mỹ ở nhiều khu vực, trong đó có Biển Đông. Mặc dù chi tiết

về quy mô và thời gian tổ chức tuần tra chung không được tiết lộ, song ông J.

Tarriela cho biết các cuộc đàm phán đang tiến triển tích cực. Cùng ngày, Cựu

phó tư lệnh Hải quân Philippines R. J. Ong cho rằng, việc triển khai lực lượng

bảo vệ bờ biển thay vì hải quân sẽ giảm thiểu nguy cơ tính toán sai lầm, ngăn

Trung Quốc (TQ) lấy cớ leo thang căng thẳng ở Biền Đông.

Cũng trong ngày 20/2, Ngoại trưởng Philippines Enrique Manalo tuyên bố tái

khẳng định quyết tâm của Philippines giải quyết vấn đề Biển Đông thông qua

các biện pháp hòa bình và hợp pháp; nhấn mạnh những yêu sách mâu thuẫn

giữa các bên chỉ có thể được giải quyết một cách hòa bình thông qua cách tiếp

cận hòa bình và dựa trên luật pháp.

Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Lloyd Austin (23/2) đã điện đàm với người

đồng cấp Philippines Carlito Galvez Jr. để nhắc lại sự ủng hộ và cam kết của

Mỹ trong việc giúp bảo vệ đồng minh Philippines sau vụ việc lực lượng bảo vệ

bờ biển Trung Quốc chiếu tia laser cấp độ quân sự vào một tàu tuần tra của

Philippines gần một bãi cạn đang tranh chấp ở Biển Đông; đồng thời hai bên đã

thảo luận các đề xuất để tăng cường hợp tác tác chiến và tăng cường an ninh

chung giữa Mỹ và Philippines, bao gồm quyết định nối lại các hoạt động hàng

hải kết hợp ở Biển Đông.

Cố vấn tư lệnh Tuần duyên Philippines (PCG) về an ninh biển Jay

Tarriela (25/02) cho rằng việc công khai hành động gây hấn của Trung Quốc tại

Biển Đông đang định hình chiến thuật của chính quyền Philippines dưới thời

Tổng thống Ferdinand Marcos Jr. Philippines được cho là đang đối phó với

hành vi của TQ tại Biển Đông bằng cách công bố những hành vi đó ra trước

quốc tế, nhằm nâng cao nhận thức của người dân, truyền thông và cộng đồng

quốc tế về những điều TQ đang làm.

Trong một số diễn biến liên quan khác, trang SCMP (21/02) đưa tin

Trung Quốc (TQ) đã thành lập một trung tâm khảo cổ học dưới nước ở

Biển Đông, trị giá 250 triệu nhân dân tệ (36,4 triệu USD), nhằm củng cố

các yêu sách của mình ở vùng biển đang tranh chấp gay gắt. Việc thành

lập trung tâm khảo cổ được cho là có tầm quan trọng đặc biệt đối với

việc truyền lại văn hóa truyền thống TQ và bảo vệ chủ quyền quốc gia,

an ninh, quyền và lợi ích hàng hải của TQ.

Ngoại trưởng Indonesia Retno Marsudi và Ngoại trưởng Trung Quốc Tần

Cương (22/2) đã có cuộc gặp tại Jakarta; 2 bên cho biết, các cuộc đàm phán về

COC sẽ được tăng cường trong năm 2023, phía Trung Quốc sẽ tích cực làm việc

với ASEAN để đẩy nhanh hoạt động tham vấn CỌC.

Đài CNN (24/02) đưa tin máy bay tuần tra P-8 của Hải quân Mỹ bay ở độ

cao 21.500 feet trên Biển Đông, cách quần đảo Hoàng Sa 30 dặm, gặp một máy

bay chiến đấu J-11 của quân đội Trung Quốc (TQ) được trang bị tên lửa không

đối không và bị máy bay này áp sát./.

Loading

Views: 0

Những thay đổi về nhân khẩu học và tình trạng phi toàn cầu hóa sẽ khiến lạm phát cao hơn mức mà các nhà hoạch định chính sách đã quen thuộc trước đại dịch.

Trong nửa thế kỷ qua, khi các chính phủ và ngân hàng trung ương hợp tác chặt chẽ với nhau hơn bao giờ hết để quản lý tăng trưởng kinh tế, các cuộc suy thoái đã ngày càng ít xảy ra. Thông thường, chúng ngắn hơn và ít nghiêm trọng hơn so với giai đoạn trước. Sau nhiều lần suy thoái nhẹ, hầu hết chúng ta không thể hình dung một chu kỳ suy thoái kéo dài một cách đau đớn. Nhưng nền kinh tế toàn cầu đang bước vào một thời kỳ mà chúng ta chưa từng chứng kiến suốt hàng chục năm.

Niềm tin rằng chính phủ là vị cứu tinh trong thời kỳ suy thoái đã ăn sâu vào tâm trí mọi người trong phần lớn cuộc đời họ. Từ năm 1980 đến nay, nền kinh tế Mỹ chỉ có 10% thời gian rơi vào suy thoái, so với gần 20% từ khi kết thúc Thế chiến II (năm 1945) đến năm 1980, và hơn 40% từ năm 1870 đến năm 1945. Một lý do ngày càng quan trọng là các biện pháp giải cứu của chính phủ. Tại Mỹ, EU, Nhật và Anh, những gói kích thích tổng hợp gồm chi tiêu chính phủ và thu mua tài sản của ngân hàng trung ương đã tăng từ 1% tổng sản phẩm quốc nội trong các cuộc suy thoái năm 1980 và 1990 lên 3% vào năm 2001, 12% vào năm 2008, và đến mức đáng kinh ngạc là 35% vào năm 2020.

Dù suy thoái năm 2020 diễn ra khá gay gắt, nó lại là cuộc suy thoái ngắn nhất trong lịch sử các cuộc suy thoái, chỉ kéo dài hai tháng. Các gói cứu trợ trong đại dịch của chính phủ đã đến quá nhanh và quá lớn đến mức nhiều người, đặc biệt là những nhân viên văn phòng làm việc tại nhà, cảm thấy như thể suy thoái kinh tế chưa từng xảy ra. Thu nhập và điểm tín dụng của họ tăng cao. Tài sản của họ tăng gấp bội nhờ sự tăng trưởng của thị trường chứng khoán và trái phiếu. Giờ đây, suy nghĩ rằng suy thoái kinh tế không phải là sự kiện đáng quan tâm dường như đã ăn sâu vào tâm trí nhiều người.

Một số bình luận viên bắt đầu nói rằng nền kinh tế thế giới có thể rơi vào tình trạng “hạ cánh mềm” (soft landing), chứ không phải suy thoái hoàn toàn. Trong các cuộc khảo sát mới nhất, các nhà kinh tế không hoàn toàn lạc quan như vậy. Nhưng họ cũng dự đoán về một cuộc suy thoái nhẹ nhất kể từ Thế chiến II, sẽ sớm xảy ra và kéo dài chưa đầy sáu tháng, khi Cục Dự trữ Liên bang một lần nữa ra tay giải cứu.

Quan điểm đồng thuận này có lẽ đã sai ở các khía cạnh chính, bất kể cuộc suy thoái tiếp theo sẽ bắt đầu lúc nào, kéo dài trong bao lâu, hay nỗ lực giải cứu lớn đến đâu.

Năm 2020, các chính phủ đã bơm quá nhiều tiền vào nền kinh tế đến nỗi hai năm sau người tiêu dùng vẫn đang “ngồi” trên phần lớn số tiền đó – tận 1,5 nghìn tỷ đô la chỉ tính riêng ở Mỹ. Đầu tư của các doanh nghiệp Mỹ và châu Âu hầu như không có đột phá. Chính phủ vẫn tiếp tục chi tiêu. Do đó, đợt suy thoái tiếp theo có thể đến muộn hơn dự kiến, quan điểm này được củng cố bởi dữ liệu GDP mới nhất của Mỹ, cho thấy một nền kinh tế có khả năng phục hồi.

Khi các biện pháp hỗ trợ đại dịch cuối cùng cũng hết tác dụng vào cuối năm, thì đợt suy thoái tiếp theo, một khi nó xảy ra, có thể sẽ không trôi qua nhanh chóng. Điểm mấu chốt là lạm phát. Lạm phát hiện đang giảm nhanh như khi nó tăng vào năm ngoái – khi mà việc bình thường hóa chuỗi cung ứng và thói quen “chi tiêu phục thù”, được giải phóng khi phong tỏa kết thúc và được thúc đẩy bởi các biện pháp kích thích, dần lắng xuống. Nhưng lạm phát không có khả năng quay trở lại mức trước đại dịch là dưới 2%.

Di sản lâu dài nhất của Covid có thể là tác động của nó đối với việc làm và lạm phát tiền lương. Cứ tám người thì có một người nói rằng họ “không có kế hoạch quay lại” các hoạt động trước đại dịch, bao gồm cả công việc. Số giờ mà các cá nhân thuộc mọi lứa tuổi sẵn sàng dành cho công việc đã giảm xuống, và thái độ của họ cũng thay đổi. Các mạng xã hội tôn vinh “bỏ việc trong yên lặng” và “làm việc tương xứng với mức lương” – nghĩa là chỉ làm đúng những việc bạn được trả lương, chứ không làm thêm việc gì khác.

Trong các cuộc trò chuyện, tôi nghe các giám đốc điều hành nói rằng, lần đầu tiên sau nhiều thập niên, họ nắm trong tay “sức mạnh định giá”. Lạm phát đối với hàng hóa như xe hơi đang chậm lại nhanh chóng, nhưng lạm phát đối với dịch vụ còn chậm hơn. Fed theo dõi một chỉ số đặc biệt cho “các dịch vụ có giá cả ít linh hoạt” (sticky services) như bất động sản và giải trí – nghĩa là giá cả ít thay đổi – và chỉ số này đang tăng lên.

Trong khi đó, thế giới về cơ bản đang thay đổi theo hướng lạm phát: tỷ lệ sinh đã giảm trong nhiều năm, nhưng hiện tại, dân số trong độ tuổi lao động đang giảm rất nhanh. Các quốc gia đang hướng vào bên trong, sử dụng dịch vụ thuê ngoài ở các quốc gia gần nhất và thân thiện nhất, thay vì các quốc gia ít tốn kém nhất.

Áp lực từ nhân khẩu học và phi toàn cầu hóa sẽ đẩy mức lạm phát bình thường mới lên cao hơn, gần 4% thay vì 2%. Điều này sẽ khiến các ngân hàng trung ương khó cắt giảm lãi suất để ứng phó với cuộc suy thoái tiếp theo. Lãi suất cao hơn có nghĩa là các chính phủ dù có thể vay mượn và chi tiêu mạnh tay để kích thích các nền kinh tế trì trệ, nhưng phải đối mặt với nguy cơ bị “trừng phạt” trên thị trường trái phiếu toàn cầu, vốn đã ngày càng ít chấp nhận chi tiêu tự do.

Dù đợt suy thoái tiếp theo có lẽ còn lâu mới xảy ra, nhưng nhiều khả năng nó sẽ xuất hiện trong một hình thức khác lạ, có thể không sâu rộng hơn, nhưng sẽ kéo dài hơn, do lạm phát ở mức cao buộc các ngân hàng trung ương và các nhóm cứu trợ của chính phủ phải đứng ngoài cuộc. Thế giới vẫn chưa sẵn sàng cho cuộc suy thoái kéo dài phía trước./.

Nguồn: Ruchir Sharma, “The world is not ready for the long grind to come,” Financial Times, 29/01/2023

Loading

Views: 0

Nguyên nhân nào khiến Biển Đông lắng dịu hơn vào thời điểm hiện nay?

Trong cuộc trả lời phỏng vấn kênh truyền thông Sóng Đức (Deutsche Welle/DW) nhân tham dự Hội thảo quốc tế về Biển Đông tại Đại học Tổng hợp Hamburg, CHLB Đức ngày 19/5/2017 vừa qua, chuyên gia Anh Bill Hayton cho rằng tình hình Biển Đông hơi lắng dịu vào thời điểm hiện nay phần lớn là do những tính toán từ phía Trung Quốc.
Gần đây, Trung Quốc và ASEAN đã đồng ý về khuôn khổ cho Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC ) nhằm ngăn ngừa các cuộc xung đột ở vùng biển chiến lược này. Nhưng liệu dự thảo khuôn khổ COC có dẫn đến một thỏa thuận ràng buộc pháp lý chấm dứt tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông?
(Chuyên gia Bill Hayton đang trình bày tham luận tại Hội thảo quốc tế về Biển Đông tại Đại học Hamburg, Đức ngày 19/5/2017)
Trả lời phỏng vấn của DW, chuyên gia châu Á Bill Hayton của tổ chức tư vấn Chatham House (Vương quốc Anh) tỏ ý hoài nghi về khả năng hai bên sớm đạt được thỏa thuận COC có thể chấp nhận được. Tuy nhiên, ông Hayton nhấn mạnh rằng quá trình thảo luận COC là một biện pháp xây dựng lòng tin hữu ích. Theo ông, dù sao đi chăng nữa, việc Trung Quốc và ASEAN nói chuyện và tranh cãi với nhau về tranh chấp (Biển Đông) còn tốt hơn nhiều so với không nói gì.
 – DW: Có tin nói tuần trước, Trung Quốc và ASEAN đã đạt được một thỏa thuận về dự thảo khuôn khổ cho bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông(COC). Vậy diễn biến này có ý nghĩa như thế nào?
-Bill Hayton: Tôi không nghĩ rằng khuôn khổ này sớm dẫn đến bất cứ điều gì. Nhưng tôi cho rằng quá trình thảo luận này là một biện pháp xây dựng lòng tin hữu ích. Trên thực tế, việc tất cả các bên ngồi xung quanh bàn tròn, nói chuyện và tranh luận với nhau… là tốt hơn nhiều so với không nói chuyện.
Nhưng có một số lý do khiến tôi không nghĩ sớm đạt được một thỏa thuận (có tính ràng buộc về COC). Thứ nhất, tôi tin rằng Trung Quốc vẫn muốn xây dựng trên bãi cạn Scarborough. Và do đó, Trung Quốc sẽ không ký một thỏa thuận có thể cản trở nước này làm điều đó.
Một lĩnh vực bất đồng khác là Trung Quốc không muốn bị ràng buộc pháp lý bởi một thỏa thuận, nhưng đó lại là những gì mà các quốc gia Đông Nam Á mong muốn. Đối với các nước này (Đông Nam Á), sẽ là vô ích nếu ký kết một bộ luật không có tính ràng buộc pháp lý. Và họ muốn có một loại công cụ để kiểm soát hành vi của Trung Quốc, còn Bắc Kinh lại không muốn hành vi của mình bị kiểm soát.
Một lĩnh vực gây tranh cãi khác nữa là Trung Quốc đang cố gắng hạn chế phạm vi áp dụng của bộ quy tắc ứng xử COC chỉ với quần đảo Trường Sa, trong khi những nước khác như Việt Nam và Philippines lại muốn bao gồm cả quần đảo Hoàng Sa và bãi cạn Scarborough. Có vẻ như cho đến này, chưa có gì hóa giải được những bất đồng này.
– DW: Tình hình Bán đảo Triều Tiên bây giờ dường như thu hút phần lớn sự chú ý của quốc tế và tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông dường như đã biến mất khỏi chương trình nghị sự. Xin cho biết quan điểm của ông về việc này?
– Bill Hayton: Tôi tin rằng có một vài điều xảy ra cùng một lúc. Một là, Trung Quốc đang tiến hành một cuộc “tấn công mềm” ở Đông Nam Á và không làm điều gì gây ác cảm từ phía các nước láng giềng Đông Nam Á.
Mọi thứ dường đã trở nên yên tĩnh hơn trong gần ba năm nay. Kể từ khi căng thẳng giữa Trung Quốc và Việt Nam leo thang sau khi Trung Quốc ngang nhiên hạ đặt một dàn khoan dầu gây tranh cãi trong vùng biển đang tranh chấp (nằm sâu trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam) , Trung Quốc dường như đã hành xử thận trọng hơn. Tôi nghĩ Bắc Kinh nhận ra rằng họ đã mất khá nhiều từ vụ việc nói trên và kể từ đó họ tránh làm bất cứ điều gì như thế một lần nữa.
Đồng thời, Trung Quốc đã xây dựng (trái phép) những hòn đảo (nhân tạo) khổng lồ này trong khu vực (Biển Đông). Có lẽ điều đó đã hấp thụ tất cả năng lượng của Trung Quốc. Khi việc xây dựng các hòn đảo (nhân tạo) nói trên hoàn tất, chúng ta có thể chứng kiến(Trung Quốc) trở lại với hành vi quyết đoán hơn.
Một điều khác cần lưu ý là Trung Quốc cũng đang tranh chấp lãnh thổ với Nhật Bản và tập trung nỗ lực nhiều hơn vào chuỗi đảo Senkaku/ Điếu Ngư. Trong lịch sử, Trung Quốc không bao giờ ráo riết hoạt động cùng một lúc trên cả hai mặt trận. Thông thường, khi mặt trận này bùng phát thì mặt trận kia lắng dịu hơn. Và đó dường như là những gì đang xảy ra vào lúc này.
 Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc sẽ được tổ chức trong năm nay và có lẽ các nhà chức trách ở Bắc Kinh không muốn gây bất ổn khu vực trước sự kiện quan trọng này. Hơn nữa, Trung Quốc đang cố gắng để mọi người ủng hộ sáng kiến “Một vành đai, một con đường” (OBOR) của nước này. Đây là lý do khác tại giải thích vì sao Trung Quốc có thể muốn duy trì tình hình yên tĩnh vào thời điểm hiện tại.
– DW: Một số người cho rằng Trung Quốc đã đạt được những gì mà họ muốn ở Biển Đông và đó là lý do vì sao tình hình bây giờ hơi lắng dịu. Ông nghĩ sao về điều này?
– Bill Hayton: Tôi nghĩ rằng lập luận này cũng có phần đúng. Người Trung Quốc đã chiếm quần đảo Hoàng Sa và họ đang xây dựng căn cứ ở đó.
Họ cũng đang xây dựng các hòn đảo nhân tạo ở Biển Đông, nhưng họ vẫn chưa hoàn tất. Đây sẽ là những căn cứ (quân sự) rất mạnh.
Nhiều chuyên gia cho rằng Trung Quốc cũng muốn xây dựng căn cứ trên bãi cạn Scarborough. Và điều đó sẽ làm cho bãi cạn này trở thành đỉnh thứ ba của “tam giác sắt” (của Trung Quốc) trên Biển Đông./.

Loading

Views: 0