Author Archives: ducchung

Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng thăm CH Áo: Việt Nam là đối tác tiềm năng của Áo tại khu vực châu Á

Triển vọng kinh tế nhiều điểm sáng của Việt Nam

Báo cáo của Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) mới đây dự báo nền kinh tế Việt Nam sẽ tăng trưởng 6,5% trong năm 2023 và 6,8% trong năm 2024 bất chấp tác động từ tình hình suy thoái kinh tế toàn cầu, chính sách tiền tệ thắt chặt tại các thị trường lớn (Mỹ, EU) và ảnh hưởng từ cuộc xung đột Nga – Ukraine (GDP năm 2022 đạt 409 tỷ USD). Việt Nam là một trong những trung tâm sản xuất cạnh tranh hàng đầu khu vực đang hưởng lợi từ sự dịch chuyển trong chuỗi cung ứng sản xuất toàn cầu nhờ chính sách linh hoạt trong điều tiết sản xuất và xuất khẩu. 

Môi trường đầu tư Việt Nam được cải thiện mạnh mẽ, ngày càng hấp dẫn nhờ chú trọng việc tinh gọn các thủ tục hành chính, tiếp tục ưu đãi thuế, phí cho doanh nghiệp sản xuất và thúc đây đầu tư công. Chính phủ Việt Nam đang đẩy nhanh tốc độ đầu tư cơ sở hạ tầng toàn quốc (khoảng 5,7% GDP) với mục tiêu kết nối các cảng biển, sân bay, kho, bãi thành một mạng lưới logistic thống nhất, tạo động lực đưa nước này trở thành một trong những thị trường mới nổi phát triển nhanh nhất ở khu vực châu Á. Trong lĩnh vực năng lượng, Việt Nam đang thực hiện chiến lược song mã nhằm sớm thực hiện thành công các cam kết “chuyển đổi Xanh” tại COP26; một mặt duy trì thủy điện, nhiệt điện nhằm đảm bảo năng lực sản xuất và an ninh năng lượng quốc gia, mặt khác đẩy nhanh việc đầu tư 133 tỷ USD cho cơ sở hạ tầng điện mới vào năm 2030. 

Thị trường lao động Việt Nam – với số lượng tương đối lớn, được đào tạo tốt so với nhiều đối thủ cạnh tranh khác trong khu vực – ngày càng trở nên hấp dẫn các doanh nghiệp FDI. Trong bối cảnh căng thẳng thương mai Mỹ – Trung Quốc, Việt Nam nổi lên là một trong những điểm đến an toàn cho các nhà sản xuất toàn cầu nhờ chính sách thương mại cởi mở với 15 Hiệp định FTA đã có hiệu lực, kết nối gần như toàn bộ các nền kinh tế lớn của thế giới (Mỹ, Trung Quốc, EU, ASEAN, Nhật Bản, Hàn Quốc, Anh, Ấn Độ…); qua đó đa dạng hóa chuỗi cung ứng sản xuất, giảm bớt khả năng bị tốn thương trước sự gián đoạn nguồn cung và các sự kiện địa chính tri. 

Bên cạnh đó, trong bối cảnh xung đột, bạo loạn xây ra ở nhiều nơi trên thé giới, Việt Nam luôn được đánh giá là quốc gia có nền chính trị ổn định dưới sự lãnh đạo thống nhất của Đảng cộng sản. Đây là một trong những yếu tố không thể thiếu, góp phần giúp Việt Nam có thể kiên trì chính sách phát triển kinh tế, tạo được một nền hòa bình và thịnh vượng, cũng là cơ sở giúp các đối tác nước ngoài yên tâm khi đầu tư vào Việt Nam. 

Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam Võ Văn Thưởng

Quan hệ Việt Nam – Áo ngày càng phát triển đi vào thực chất 

Việt Nam – Áo có quan hệ hữu nghị, truyền thống, trao đổi thương mại song phương đứng đầu trong ASEAN va top 10 EU. Trong hơn 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao, quan hệ Việt Nam – Áo đã không ngừng được củng cố và phát triển trên nhiều lĩnh vực. Hai bên đã thường xuyên duy trì tiếp xúc và trao đôi các đoàn cấp cao, hợp tác chặt chẽ và ủng hộ lẫn nhau trên các diễn đàn đa phương vỉ mục tiêu hòa bình, hợp tác và cùng phát triển (tháng 10/2018, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa XHCN Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc đã có chuyển thăm cấp cao đến Áo; tháng 9/2021, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ sang công tác đến Áo nhân dịp tham dự Hội nghị các Chủ tịch Quốc hội thế giới lần thứ 5 (WCSPS) tổ chức tại Vienna, CH Áo; tháng 4/2023, Bộ trưởng Ngoại giao Áo, Alexander Schallenberg cũng đã có chuyến thăm cấp cao đến Việt Nam). Hiện Áo nằm trong nhóm 10 đối tác thương mại lớn nhất của VN trong EU; trong khi đó, VN là đối tác lớn nhất của Áo trong ASEAN, kim ngạch hai chiều tăng trưởng nhanh, đạt 2,8 tỷ USD (2022). Hiện Áo có hơn 40 dự án có hiệu lực tại VN, tập trung vào các lĩnh vực đường sắt, y tế, đào tạo nghề, xử lý nước thải… Doanh nghiệp Áo đã từng bước ghi được dấu ấn với Việt Nam như các công ty Doppelmayr, Gleisbauer của Áo đã tham gia xây dựng tuyến cáp treo sở hữu 02 kỷ lục Guiness tại kỳ quan: thiên nhiên vịnh Hạ Long – Quảng Ninh (Việt Nam). Tuy nhiên, hợp tác kinh tế vẫn chưa tương xứng với tiềm năng và kỳ vọng của lãnh đạo hai nước. 

Vừa qua, Tổng thống Alexander Van der Bellen đã mời Tân Chủ tịch nước Việt Nam Võ Văn Thưởng và đoàn đại biểu cấp cao nước này sang Áo từ 23 – 25/7/2023 nhân dịp 50 năm kỷ niệm hai nước thiết lập quan hệ. Đây là dấu mốc quan trọng, dịp để lãnh đạo hai nước thảo luận làm sâu sắc hơn hợp tác chính trị, kinh tế và thương mại ở cấp độ song phương và đa phương, đồng thời là cơ hội để các doanh nghiệp Áo xúc tiễn thương mại, dẫn đầu sóng đầu tư vào Việt Nam, đưa quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam – Áo đi vào chiều sâu và thực chất. 

Ông Võ Văn Thưởng, sinh năm 1970, được Quốc hội khóa XV bầu giữ chức Chủ tịch nước (02/3/2023), trở thành người trẻ nhất đảm nhận chức vụ này tại Việt Nam. Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng có kinh nghiệm phong phú trên nhiều lĩnh vực từ chính trị tới kinh tế; là người khởi xướng xây dựng cơ chế, chính sách đặc thù để sớm đưa Tp. Hồ Chí Minh trở thành trung tâm kinh tế, tài chính, dịch vụ, văn hóa và đổi mới sáng tạo tại Đông Nam Á và châu Á. 

Loading

Views: 0

Vấn đề chủ quyền trong hiệp định lịch sử về biển cả

Việc thiết lập các vùng bảo vệ biển trong Hiệp định BBNJ được quy định chặt chẽ, không được hiểu là sự công nhận bất kỳ yêu sách chủ quyền nào.

Ngăn việc bị lợi dụng cho các yêu sách chủ quyền

Phần III của BBNJ (Hiệp định bảo tồn và sử dụng bền vững đa dạng sinh học biển tại các vùng nằm ngoài quyền tài phán quốc gia) nói về các biện pháp như Công cụ quản lý theo vùng (Area-based management tool ABMT) bao gồm cả vùng bảo vệ biển, gồm 10 điều (17-26).

Tàu khảo sát Trần Đại Nghĩa

Điều 1 khoản 1 định nghĩa ABMT là công cụ, bao gồm cả vùng bảo vệ biển, cho một khu vực địa lý xác định, thông qua đó một hoặc một số lĩnh vực hoặc hoạt động được quản lý với mục đích đạt được sự bảo tồn đặc biệt và các mục tiêu sử dụng bền vững phù hợp với hiệp định.

Việc thiết lập các ABMT, bao gồm cả vùng bảo vệ biển, không được bao gồm bất kỳ một vùng nào nằm dưới quyền tài phán quốc gia và không được là cơ sở cho việc thừa nhận hay từ chối bất kỳ yêu sách chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán, kể cả các tranh chấp liên quan đến chúng.

Hội nghị các quốc gia thành viên sẽ không xem xét các đề xuất như vậy và trong mọi trường hợp các đề xuất này không được hiểu như sự công nhận hay không công nhận bất kỳ yêu sách chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán nào. Điều 19 quy định cụ thể các tiêu chí để các bên căn cứ đề xuất ABMT.

Phần IV về đánh giá tác động môi trường (ĐTM), gồm 13 điều (27-39).

ĐTM là công cụ quản lý môi trường và là nghĩa vụ mà các bên phải thực hiện để đảm bảo rằng ảnh hưởng tiềm năng tới môi trường của các hoạt động lên kế hoạch dưới quyền tài phán và kiểm soát của họ được tiến hành trong các vùng biển nằm ngoài quyền tài phán quốc gia phải được đánh giá phù hợp với các quy định trong phần này trước khi chúng được cho phép.

Mục tiêu của phần này là xác định quá trình, ngưỡng và các yêu cầu khác để tiến hành và báo cáo đánh giá cho các bên, nhằm bảo đảm các hoạt động được tiến hành phải ngăn ngừa, giảm thiểu và quản lý các tác hại đáng kể nhằm mục đích bảo vệ và bảo tồn môi trường biển. Bên cạnh biện pháp đánh giá tác động môi trường chiến lược, hiệp định lần đầu tiên khuyến khích và ủng hộ việc xem xét đánh giá các tác động tích lũy lên môi trường.

Điều 1 khoản 6 định nghĩa các tác động tích lũy là các tác động kết hợp và tăng dần bắt nguồn từ các hoạt động khác nhau, bao gồm các hoạt động trong quá khứ, hiện tại và có thể được dự tính một cách hợp lý, hoặc do việc lặp lại các hoạt động giống nhau qua thời gian, và hậu quả của biến đổi khí hậu, axít hóa đại dương và các tác động liên quan. Các tiêu chuẩn và hướng dẫn về ĐTM sẽ được ủy ban khoa học kỹ thuật chuẩn bị cho hội nghị các quốc gia thành viên xem xét và thông qua (điều 38).

Hội nghị các quốc gia thành viên sẽ không xem xét các đề xuất như vậy và trong mọi trường hợp các đề xuất này không được hiểu như sự công nhận hay không công nhận bất kỳ yêu sách chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán nào. Điều 19 quy định cụ thể các tiêu chí để các bên căn cứ đề xuất ABMT.

Phần IV về đánh giá tác động môi trường (ĐTM), gồm 13 điều (27-39).

ĐTM là công cụ quản lý môi trường và là nghĩa vụ mà các bên phải thực hiện để đảm bảo rằng ảnh hưởng tiềm năng tới môi trường của các hoạt động lên kế hoạch dưới quyền tài phán và kiểm soát của họ được tiến hành trong các vùng biển nằm ngoài quyền tài phán quốc gia phải được đánh giá phù hợp với các quy định trong phần này trước khi chúng được cho phép.

Mục tiêu của phần này là xác định quá trình, ngưỡng và các yêu cầu khác để tiến hành và báo cáo đánh giá cho các bên, nhằm bảo đảm các hoạt động được tiến hành phải ngăn ngừa, giảm thiểu và quản lý các tác hại đáng kể nhằm mục đích bảo vệ và bảo tồn môi trường biển. Bên cạnh biện pháp đánh giá tác động môi trường chiến lược, hiệp định lần đầu tiên khuyến khích và ủng hộ việc xem xét đánh giá các tác động tích lũy lên môi trường.

Điều 1 khoản 6 định nghĩa các tác động tích lũy là các tác động kết hợp và tăng dần bắt nguồn từ các hoạt động khác nhau, bao gồm các hoạt động trong quá khứ, hiện tại và có thể được dự tính một cách hợp lý, hoặc do việc lặp lại các hoạt động giống nhau qua thời gian, và hậu quả của biến đổi khí hậu, axít hóa đại dương và các tác động liên quan. Các tiêu chuẩn và hướng dẫn về ĐTM sẽ được ủy ban khoa học kỹ thuật chuẩn bị cho hội nghị các quốc gia thành viên xem xét và thông qua (điều 38).

Nó phải xây dựng, khi cần thiết, và không được lặp lại các chương trình đã tồn tại và phải được hướng dẫn (rút kinh nghiệm) bởi các bài học đã qua bao gồm các bài học từ các hoạt động xây dựng năng lực và chuyển giao công nghệ biển theo các văn bản và khuôn khổ pháp lý hiện hành và các tổ chức mang tính toàn cầu, khu vực, tiểu khu vực và lĩnh vực liên quan. Nó phải được tiến hành có tính đến quan điểm đạt được hiệu quả và kết quả cực đại.

Xây dựng năng lực và chuyển giao công nghệ biển cần được xây dựng và cần đáp ứng yêu cầu và ưu tiên của các quốc gia thành viên đang phát triển, có tính đến hoàn cảnh đặc biệt của các quốc đảo nhỏ đang phát triển và các nước chậm phát triển, xác định thông qua đánh giá yêu cầu, trên cơ sở cho từng trường hợp cụ thể, tiểu khu vực và khu vực. Các yêu cầu và ưu tiên này có thể tự đánh giá hoặc thông qua ủy ban xây dựng năng lực và chuyển giao công nghệ biển và cơ chế minh bạch thông tin (clear house information – CHI).

Phần VI dành cho các quy định về tổ chức, gồm 5 điều (47-51). Điều 47 quy định việc thành lập, quy chế làm việc và chức năng của hội nghị các bên, cơ quan điều hành cao nhất của hiệp định. Ngoài hội nghị các bên, hiệp định còn quy định thành lập ủy ban khoa học kỹ thuật, ban thư ký và xác định chế độ minh bạch cũng như cơ chế minh bạch thông tin CHI mà các cơ quan và các bên cần tuân thủ.

Phần VII về các quy định tài chính gồm 1 điều khoản (52). Phần VIII Thực thi và tuân thủ gồm 3 điều (53-55). Phần IX Giải quyết tranh chấp gồm 6 điều (56-61). Các bên có nghĩa vụ giải quyết tranh chấp bằng mọi biện pháp hòa bình quy định trong điều 33 Hiến chương Liên Hiệp Quốc và tuân theo thủ tục giải quyết tranh chấp được quy định trong phần XI của UNCLOS. Các phần còn lại X, XI, XII liên quan đến mối quan hệ với các văn kiện khác, với bên thứ ba và các thủ tục phê chuẩn, có hiệu lực.

Kết luận

Hiệp định BBNJ là một bổ sung cho Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS), nằm trong khuôn khổ UNCLOS và không thay thế những nguyên tắc cơ bản của UNCLOS. 

BBNJ được xây dựng trên nguyên tắc di sản chung của loài người và tự do biển cả, và nhấn mạnh nguyên tắc tính đến các nhu cầu và ưu tiên của các nước đang phát triển tạo ra lợi thế lớn cho Việt Nam và các nước đang phát triển trong việc xây dựng và thực thi một trật tự pháp lý trên biển công bằng, trên cơ sở tôn trọng chủ quyền và các lợi ích quốc gia của tất cả các thành viên của cộng đồng quốc tế.

Hiệp định BBNJ với những định nghĩa mới và cụ thể về nguồn gene biển, về công cụ quản lý vùng, đánh giá tác động môi trường cơ chế thông tin minh bạch, xây dựng năng lực và chuyển giao công nghệ biển đã góp phần thay đổi phương thức quản trị đại dương và biển khắc phục những tồn tại hiện nay.

Việc bảo tồn và sử dụng bền vững biển và đại dương, trong đó có các nguồn đa dạng sinh học biển sẽ góp phần tận diệt đói nghèo, giúp kinh tế tăng trưởng bền vững hơn, bảo đảm an ninh lương thực, tạo thêm sinh kế bền vững và tăng cường khả năng chống chịu và thích ứng của các nước trước tác động của biển đổi khí hậu. /.

GS Nguyễn Hồng Thao

Việc thiết lập các ABMT, bao gồm cả vùng bảo vệ biển, không được bao gồm bất kỳ một vùng nào nằm dưới quyền tài phán quốc gia và không được là cơ sở cho việc thừa nhận hay từ chối bất kỳ yêu sách chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán, kể cả các tranh chấp liên quan đến chúng.

Loading

Views: 0

Việt Nam bày tỏ quan ngại về những diễn biến trên Biển Đông

Đại sứ Đặng Hoàng Giang khẳng định việc tôn trọng chủ quyền của các quốc gia ven biển là điều kiện tiên quyết cho việc duy trì và bảo đảm hòa bình, an ninh và thịnh vượng ở khu vực Biển Đông.

Sau lễ khai mạc ngày 12/6, Hội nghị lần thứ 33 các Quốc gia thành viên Công ước Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982 (UNCLOS) tiếp tục diễn ra trong các ngày từ 12-16/6 tại Trụ sở Liên hợp quốc tại New York, Mỹ.

Hội nghị đã xem xét Báo cáo thường niên của Tổng thư ký Liên hợp quốc mang tên “Các đại dương và Luật biển,” trong đó nhận xét “sức khỏe của đại dương tiếp tục suy giảm do nhiều tác nhân, trong đó có tăng axít hóa đại dương, thừa dưỡng chất trong nước biển, ô nhiễm rác thải nhựa, đe dọa hệ sinh thái lớn nhất hành tinh và ảnh hưởng tới sinh kế của hàng tỷ người.”

Báo cáo kêu gọi “những nỗ lực khẩn cấp” để ứng phó các thách thức đối với các nước đang phát triển, trong đó có việc xây dựng năng lực, phát triển nền kinh tế biển bền vững và giải pháp tài chính đổi mới sáng tạo.

Nhân kỷ niệm 40 năm thông qua UNCLOS, Báo cáo cho rằng cần thổi một luồng gió mới vào nỗ lực của các quốc gia và tổ chức quốc tế để tăng cường thực thi đầy đủ và hiệu quả Công ước và các Hiệp định thực thi văn kiện này.

Đa số phát biểu tại Hội nghị năm nay tiếp tục khẳng định tầm quan trọng của UNCLOS, với tư cách là khuôn khổ pháp lý quốc tế toàn diện điều chỉnh các hoạt động và các vấn đề liên quan đến biển.

Hội nghị nhấn mạnh yêu cầu tuân thủ Công ước, đẩy mạnh hợp tác khu vực và quốc tế trong các lĩnh vực biển và đại dương, ứng phó với các thách thức như ô nhiễm môi trường biển, biến đổi khí hậu, mực nước biển dâng, đóng góp vào thực hiện Mục tiêu phát triển bền vững số 14 liên quan đến bảo tồn và phát triển bền vững biển và đại dương.

Hội nghị ghi nhận dấu ấn lịch sử trong việc đạt được thoả thuận về dự thảo nội dung Hiệp định về bảo tồn và sử dụng bền vững đa dạng sinh học biển ngoài vùng tài phán quốc gia (BBNJ) nhằm hướng tới thông qua văn kiện này vào cuộc họp sắp tới (dự kiến từ ngày 19-20/6/2023 tại Trụ sở Liên hợp quốc).

Phát biểu tại Hội nghị, Đại sứ Đặng Hoàng Giang, Trưởng Phái đoàn thường trực Việt Nam tại Liên hợp quốc, Trưởng đoàn Việt Nam, khẳng định 40 năm qua, UNCLOS, với vai trò “Hiến pháp của đại dương,” là khuôn khổ pháp lý điều chỉnh mọi hoạt động trên biển, Công ước và các Hiệp định thực thi đã đóng vai trò nền tảng cho hợp tác và hành động của quốc gia, khu vực và toàn cầu trên biển.

Đại sứ nêu bật nỗ lực của Việt Nam thực hiện UNCLOS, trong đó có Chiến lược quốc gia về Biến đổi khí hậu giai đoạn đến năm 2050 được ban hành theo Quyết định số 896/QĐ-TTg ngày 26/7/2022 của Thủ tướng Chính phủ.

Là một trong những thành viên sáng lập của Nhóm bạn bè UNCLOS, Việt Nam tiếp tục tái khẳng định cam kết đối với Công ước và gìn giữ sự phổ quát, toàn vẹn và thực thi đầy đủ Công ước.

Đại sứ Đặng Hoàng Giang, Trưởng Phái đoàn đại diện Thường trực Việt Nam tại Liên hơp quốc, phát biểu tại phiên thảo luận của Hội đồng Bảo an về “Biến đổi khí hậu, hòa bình và an ninh.” (Ảnh: TTXVN phát)

Liên quan đến tình hình Biển Đông, Đại sứ Đặng Hoàng Giang nhắc lại quan điểm của Việt Nam về việc giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, phù hợp luật pháp quốc tế, nhất là UNCLOS, bày tỏ quan ngại về các diễn biến gần đây trên Biển Đông có thể ảnh hưởng đến hòa bình, an ninh và phát triển.

Đại sứ khẳng định việc tôn trọng chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của các quốc gia ven biển trên vùng biển được thiết lập theo Công ước là điều kiện tiên quyết cho việc duy trì và bảo đảm hòa bình, an ninh và thịnh vượng ở khu vực Biển Đông.

Trên cơ sở đó, Trưởng đoàn Việt Nam kêu gọi tất cả các quốc gia liên quan kiềm chế và tránh thực hiện các hoạt động gây phức tạp tình hình hoặc leo thang căng thẳng.

[Nhóm bạn bè UNCLOS sẽ tiếp tục thúc đẩy đối thoại và hợp tác đa phương]

Tại phiên thảo luận về báo cáo của Tòa án quốc tế về Luật biển (ITLOS), đoàn Việt Nam phát biểu nhấn mạnh ITLOS đã hoàn thành tốt vai trò cơ quan xét xử được thành lập theo UNCLOS, và ghi nhận những chương trình đào tạo, nâng cao năng lực của Toà cho các nước đang phát triển.

Đồng thời, trong bối cảnh ngày càng có nhiều thách thức và vấn đề mới nổi trên biển, vai trò của ITLOS với tư cách người bảo vệ sự toàn vẹn và toàn diện của Công ước ngày càng trở nên quan trọng hơn.

Trên cơ sở đó, Việt Nam mong muốn ITLOS sẽ xem xét nghiêm túc đề nghị của Uỷ ban các quốc đảo Thái Bình Dương xin ý kiến tư vấn về vấn đề biến đổi khí hậu và luật pháp quốc tế, qua đó làm sáng tỏ nghĩa vụ của các quốc gia về bảo vệ môi trường biển, trên cơ sở cân nhắc quyền và lợi ích chính đáng của các nước đang phát triển.

Đoàn Việt Nam cũng thông báo với Hội nghị ý định đệ trình quan điểm quốc gia lên ITLOS về vấn đề này.

Liên quan đến báo cáo của Uỷ ban Ranh giới ngoài thềm lục địa (CLCS), đoàn Việt Nam nhấn mạnh sự cần thiết cải thiện quá trình CLCS xem xét các đệ trình về ranh giới thềm lục địa ngoài 200 hải lý để thực thi đầy đủ và hiệu quả UNCLOS, đặc biệt trong bối cảnh cần thiết xác định “vùng ngoài quyền tài phán của quốc gia” để tiến tới thực hiện Hiệp định về Bảo tồn và sử dụng bền vững đa dạng sinh học vùng ngoài quyền tài phán quốc gia (BBNJ) sau khi Hiệp định được thông qua và có hiệu lực trong thời gian tới.

Trong dịp này, các quốc gia thành viên UNCLOS đã bầu 7 vị trí thẩm phán ITLOS nhiệm kỳ 2023-2032.

7 ứng viên trúng cử vị trí thẩm phán ITLOS bao gồm: Frida María Armas Pfirter (Argentina), Konrad Jan Marciniak (Ba Lan), Tomas Heidar (Iceland), Zha Hyoung Rhee (Hàn Quốc), Thembile Elphus Joyini (Nam Phi), Horinouchi Hidehisa (Nhật Bản) và Osman Keh Kamara (Sierra Leone)./.

Loading

Views: 0

Tàu Trung Quốc rời khỏi vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam

Tàu nghiên cứu Trung Quốc và các tàu hộ tống, hoạt động gần một tháng trong vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Việt Nam ở Biển Đông, đã rời vùng biển đó vào tối 5/6, ngay sau cuộc đàm phán cấp cao giữa Mỹ và Trung Quốc.

Tàu Hướng Dương Hồng 10 của Trung Quốc bắt đầu đi vào vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam vào ngày 7/5, đôi khi có tới hàng chục tàu hộ tống và thường xuyên đi qua các mỏ dầu khí do các công ty Nga điều hành, theo dữ liệu theo dõi tàu thuyền cho biết.

Hôm 5/6, sau khi các quan chức cấp cao của Hoa Kỳ và Trung Quốc có cuộc hội đàm ở Bắc Kinh mà cả hai bên đều gọi là mang tính xây dựng, tàu Trung Quốc và hơn nửa tá tàu hộ tống bắt đầu hành trình quay trở lại đảo Hải Nam của Trung Quốc, rời vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam vào khoảng nửa đêm.

Khi được hỏi về hoạt động của các con tàu, Bộ Ngoại giao Trung Quốc không bình luận về việc quay trở lại Hải Nam.

Theo luật quốc tế, các tàu được phép đi qua các vùng đặc quyền kinh tế của nước ngoài, nhưng các hoạt động khảo sát trái phép không được phép. Các hoạt động của Trung Quốc ở Biển Đông từ lâu đã trở thành vấn đề đối với các nước trong khu vực, vì Bắc Kinh tuyên bố chủ quyền đối với hầu hết vùng biển giàu năng lượng, bao gồm cả vùng biển thuộc vùng đặc quyền kinh tế các nước khác.

Trong một cuộc phản đối công khai, chính phủ Việt Nam vào ngày 25/5 đã yêu cầu tàu nghiên cứu Trung Quốc và tàu hộ tống rời khỏi vùng đặc quyền kinh tế của nước này, ngày sau chuyến thăm Hà Nội của quan chức cấp cao Nga Dmitry Medvedev.

Ray Powell, người đứng đầu Dự án Myoushu của Đại học Stanford trên Biển Đông, cho biết vào lúc 03:00 GMT ngày 6/6, tàu nghiên cứu của Trung Quốc được nhìn thấy đang tiến đến Hải Nam.

Ông Powell cho biết thêm, các tàu kiểm ngư của Việt Nam đã quay trở lại sau khi tàu Trung Quốc và tàu hộ tống rời vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam vào khoảng nửa đêm theo giờ Việt Nam.

Nhà nghiên cứu tại Việt Nam Van Pham, người đứng đầu tổ chức phi lợi nhuận độc lập Sáng kiến Biên niên sử Biển Đông (SCSCI), xác nhận các tàu đã rời vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam nhưng cảnh báo rằng Hải Nam không phải là cảng nhà của tàu nghiên cứu và sau khi tạm nghỉ ở đó, nó có thể tiếp tục hoạt động ở Biển Đông.

Loading

Views: 0

Nhật Bản và Hàn Quốc có nhiều lợi ích ở một Biển Đông tự do và cởi mở

Tin tức đưa về các cuộc họp của Nhóm G7 vào cuối tuần trước tập trung vào Ukraine, nhưng sự hiện diện toàn cầu ngày càng tăng của Trung Quốc là chủ đề lớn khác trong chương trình nghị sự của G7. Đặc biệt, đối với hai trong số các nền kinh tế lớn nhất Đông Á, tác động của sự trỗi dậy đó là cực kỳ quan trọng.

Trung Quốc muốn trở thành cường quốc quân sự và chính trị ở Đông Á. Không nơi nào thể hiện điều đó rõ ràng hơn trong tuyên bố “đường chín đoạn” của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình, qua đó Bắc Kinh tuyên bố chủ quyền đối với gần như toàn bộ Biển Đông. Trong số các quốc gia có lý do để lo ngại về yêu sách đó, có Nhật Bản và Hàn Quốc.

Hầu hết thế giới đều tập trung vào ý nghĩa tài nguyên và quân sự của các tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc đối với các đảo trong khu vực, cũng như sự phát triển của Bắc Kinh để trở thành lực lượng hải quân lớn nhất thế giới. Đối với Nhật Bản và Hàn Quốc, mối đe dọa đối với chuỗi cung ứng và nhập khẩu năng lượng của họ là một vấn đề thực tế và hiện hữu hơn nhiều.

Đặc biệt, Nhật Bản và Hàn Quốc lo ngại về các tuyên bố của Trung Quốc không chỉ viện dẫn quyền kiểm tra hàng hóa mà còn cả khả năng hạn chế lưu thông. Cả Nhật Bản và Hàn Quốc đều không có bất kỳ lợi ích chính trị nào trong việc sở hữu quần đảo Trường Sa, hoặc trong việc Trung Quốc thay thế Hoa Kỳ trở thành cường quốc hải quân thống trị. Tuy nhiên, họ có lợi ích kinh tế mạnh mẽ trong việc di chuyển nhập khẩu năng lượng và sản xuất linh kiện mà không sợ bị hạn chế. Ngay cả trong tình huống không phải thời chiến, Trung Quốc vẫn cho rằng Biển Đông là một lãnh thổ được kiểm soát chứ không phải là vùng biển quốc tế mở dưới sự giám hộ của Trung Quốc.

Cho đến nay, Trung Quốc chưa có hành động hung hăng đối với hoạt động vận chuyển trên biển, nhưng hành động tiềm tàng rất có thể tạo ra mối đe dọa rõ ràng đối với nền kinh tế của Nhật Bản và Hàn Quốc. Trung Quốc thậm chí sẽ không phải trực tiếp dừng tàu – họ có thể theo dõi điện tử hàng hóa cụ thể, hoặc tiến hành kiểm tra hoặc chuyển hướng. Những hành động như vậy sẽ làm tăng nỗi sợ của sự không thể đoán trước và chi phí tăng đáng kể.

Đối với Nhật Bản và Hàn Quốc, vai trò của Hoa Kỳ trong thời kỳ hậu Thế chiến II ít gây xáo trộn hơn nhiều, không chỉ vì liên minh của họ mà quan trọng hơn vì Hoa Kỳ đóng vai trò là người bảo đảm thương mại tự do và được bảo vệ.

Rất ít người bên ngoài Nhật Bản hoặc Hàn Quốc tập trung vào hoặc hiểu tầm quan trọng của Biển Đông đối với nguồn cung cấp năng lượng khu vực và thậm chí toàn cầu. Đáng chú ý, vùng biển này được ước tính vận chuyển 30% lượng dầu thô của thế giới, cung cấp cho Trung Quốc và cung cấp huyết mạch sống còn cho các nền kinh tế phụ thuộc vào năng lượng của Hàn Quốc và Nhật Bản.

Đối với Nhật Bản, trận động đất Tohoku năm 2011 và sự cố hạt nhân sau đó tại Fukushima chỉ làm trầm trọng thêm sự phụ thuộc đó. Kết quả là việc cắt giảm chương trình hạt nhân của Nhật Bản đã khiến nước này phụ thuộc vào nhập khẩu năng lượng, với tới 98% dầu của Nhật Bản đến từ Trung Đông.

Theo nhiều cách, Hàn Quốc thậm chí còn phụ thuộc nhiều hơn vào nhập khẩu năng lượng so với Nhật Bản, khiến cho việc nhập khẩu dầu và khí đốt tự nhiên trở nên đặc biệt quan trọng.

Biển Đông không chỉ quan trọng về mặt năng lượng. Nó cũng đóng vai trò là lối đi chính cho chuỗi cung ứng toàn cầu của Nhật Bản và Hàn Quốc. Các ước tính cho thấy biển mang từ 20% đến 33% thương mại toàn cầu; đối với Nhật Bản, con số đó lên tới 40%.

Nhật Bản và Hàn Quốc đã dựa vào sự ổn định của Biển Đông như một đường dẫn để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của họ, ngay cả khi tình hình chính trị toàn cầu đã thay đổi trong nhiều thập kỷ. Những thay đổi quan trọng, bao gồm Chiến tranh Việt Nam và Chiến tranh Lạnh kết thúc, đã không ngăn được thương mại trên biển ngày càng trở nên quan trọng hơn.

Khi Hoa Kỳ cân bằng các cam kết ở Châu Âu, Châu Á và các nơi khác, ba nền kinh tế mạnh nhất của Đông Á – bao gồm cả Trung Quốc – tất cả đều có lợi ích nhất định trong việc đảm bảo sự ổn định của thương mại, chuỗi cung ứng và dòng năng lượng.

Đối với Hàn Quốc và Nhật Bản, thương mại vẫn ổn định ở Biển Đông cho đến nay. Nhưng với việc Trung Quốc ngày càng tìm cách khẳng định bản thân và thay đổi hiện trạng theo hướng có lợi cho mình, điều cần thiết là cả hai nước phải tự hỏi: Họ sẵn sàng và có thể nhượng bộ Trung Quốc bao nhiêu trong khu vực trước khi nó trở nên không thể giải quyết được? Và liệu họ đã chuẩn bị sẵn các giải pháp thay thế cho phép họ cạnh tranh về mặt kinh tế chưa?

Biết được câu trả lời cho những câu hỏi đó và chuẩn bị cho một tương lai mà Biển Đông có nguy cơ bị Trung Quốc thống trị hơn là điều quan trọng đối với cả ba nước – ngay cả khi hiện tại vẫn giữ nguyên hiện trạng./.

(Theo CNBC)

Loading

Views: 0

Việt Nam yêu cầu Trung Quốc rút tàu khảo sát khỏi vùng đặc quyền kinh tế

Bộ Ngoại giao yêu cầu Trung Quốc rút tàu khảo sát Hướng Dương Hồng 10 và các tàu hải cảnh, tàu cá ra khỏi vùng biển Việt Nam.

“Bộ Ngoại giao và các cơ quan chức năng Việt Nam đã giao thiệp nhiều lần với phía Trung Quốc, triển khai các biện pháp phù hợp với luật pháp quốc tế, luật pháp Việt Nam để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Việt Nam”, Phó phát ngôn Bộ Ngoại giao Phạm Thu Hằng cho biết hôm nay, khi đề cập thông tin tàu khảo sát Hướng Dương Hồng 10 cùng các tàu hải cảnh, tàu cá Trung Quốc xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Việt Nam.

“Việt Nam yêu cầu các cơ quan liên quan phía Trung Quốc tuân thủ nhận thức chung của lãnh đạo cấp cao hai nước, chấm dứt ngay hoạt động xâm phạm, rút tàu Hướng Dương Hồng 10 và các tàu hải cảnh, tàu cá ra khỏi vùng biển Việt Nam, tôn trọng quyền chủ quyền, quyền tài phán của Việt Nam, thực hiện nghiêm túc Tuyên bố ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC)”, bà Hằng nói thêm.

Theo SCMP, tàu khảo sát Hướng Dương Hồng 10 được hộ tống bởi hai tàu hải cảnh và nhiều tàu cá Trung Quốc đầu tháng này hướng đến khu vực bãi Tư Chính nằm trong EEZ của Việt Nam.

Lần gần nhất Trung Quốc đưa tàu hướng vào khu vực bãi Tư Chính là vào tháng 7/2019. Tàu nghiên cứu Hải dương Địa chất 8 hoạt động trong vùng biển này cùng ít nhất 4 tàu hải cảnh Trung Quốc trong hơn hai tháng.

Bộ Ngoại giao Việt Nam khi đó đã lên án Trung Quốc xâm phạm EEZ và thềm lục địa, vi phạm nghiêm trọng quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam theo Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS) mà Việt Nam, Trung Quốc đều là thành viên. Việt Nam nhiều lần yêu cầu Trung Quốc rút nhóm tàu này và không có hành vi đe dọa an ninh, hòa bình ở khu vực. Nhóm tàu Trung Quốc rút đi vào tháng 10/2019.

Theo UNCLOS, bất kỳ hoạt động nghiên cứu, khảo sát nào trong EEZ đều phải được quốc gia ven biển cho phép.

Loading

Views: 0

Kỳ nguyên mới trong quan hệ Nga-Trung?

Ngày 20/3, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình bắt đầu chuyển thăm cấp nhà nước tới Nga, một chuyến đi mà Bắc Kinh đã ca ngợi là “chuyến thăm vì hòa khi họ tìm cách đóng vai trò trung gian hòa giải trong cuộc chiến của Vladimir Putin ở Ukraine. Chuyển thăm 3 ngày của ông Tập là chuyến thăm đầu tiền của ông tới Nga – một đồng minh lớn của Trung Quốc – trong gần 4 năm, và được Moskva mô tả là mở ra một “kỳ nguyên mới” trong quan hệ hai nước.

Chuyến thăm cũng diễn ra hơn một năm sau cuộc tấn công của Nga vào nước láng giềng châu Âu, cuộc chiến đã cô lập Moskva trên trường quốc tế. Chuyến thăm này sẽ được các nước phương Tây theo dõi chặt chẽ để tìm những dấu hiệu mà Tập Cận Bình có thể thúc đẩy các cuộc đàm phán hòa bình giữa Moskva và Kiev. Theo tờ “The Wall Street Joumal” của Mỹ, ông Tập Cận Bình cũng có thể đang lên kế hoạch cho cuộc điện đàm đầu tiên của mình với Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky kể từ khi chiến tranh bắt đầu.

Cố vấn chính sách đối ngoại hàng đầu của Putin, ông Yuri Ushakov, nói với các hãng thông tấn Nga rằng ông Tập Cận Bình và ông Putin sẽ có cuộc gặp riêng “không chính thức” và dùng bữa tối vào ngày 20/3 trước khi hội đàm vào ngày 21/3. Điện Kremlin cho biết hai nhà lãnh đạo sẽ ký một hiệp định “tăng cường quan hệ đối tác toàn diện và chiến lược (của hai nước) bước vào một kỳ nguyên mới”, cũng như một tuyên bố chung về hợp tác kinh tế Nga-Trung đến năm 2030. Với việc mới đây đã củng cố uy tin của mình với tư cách là một nhà môi giới quyền lực quốc tế bằng cách làm trung gian hòa giải ngoại giao bất ngờ giữa hai đối thủ Trung Đông là Saudi Arabia và Iran, Bắc Kinh rất muốn khẳng định mình là một “nhà kiến tạo hòa bình”.

Nhưng các nhà phân tích cho rằng ông Tập khó có thể sắp xếp một sự nối lại quan hệ tương tự trong cuộc chiến Ukraine do mối quan hệ nồng ẩm của Trung Quốc với nước láng giềng phía Bắc rộng lớn và sự thiếu ảnh hưởng tương đối của nước này đối với Điện Kremlin.

Trung Quốc đã thể hiện mình là một bên trung lập trong cuộc xung đột ở Ukraine, từ chối lên án cuộc xâm lược của Nga trong khi chỉ trích Mỹ và các nước. NATO vì đã hỗ trợ quân sự cho Kiev. Lập trường đó đã vấp phải sự chỉ trích từ các quốc gia phương Tây, vốn coi Bắc Kinh là ngầm ủng hộ hành động gây hẳn củaNga và cung cấp vỏ bọc ngoại giao cho Moskva. Các nước phương Tây lập luận rằng các đề xuất của Trung Quốc về chấm dứt chiến tranh đặt nặng vào các nguyên tắc nhưng lại hầu như không có các giải pháp thực tế.Về phần mình, Putin hôm 19/3 đã hoan nghênh việc Trung Quốc sẵn sàng đóng “vai trò mang tính xây dựng” trong việc chấm dứt xung đột ở Ukraine, đồng thời cho biết ông rất “kỳ vọng” về cuộc hội đàm với ông Tập. Putin nói thêm rằng quan hệ Trung-Nga đang “ở điểm cao nhất” trong lịch sử.

Chủ nghĩa “”đa phương đích thực”

Mỹ cho biết họ sẽ phản đối những lời kêu gọi ngừng bắn của Trung Quốc trong chuyến thăm của ông Tập, nói rằng một động thái như vậy sẽ “đơn giản là có lợi cho Nga” bằng cách cho phép nước này củng cố “cuộc chinh phục” Ukraine và chuẩn bị một cuộc tấn công khác. Bộ Ngoại giao Trung Quốc đã ca ngợi chuyến đi của ông Tập là “chuyến thăm vì hỏa binh” nhằm “thực hành chủ nghĩa đa phương thực sự… cải thiện quản trị toàn cầu và đóng góp cho sự phát triển và tiến bộ của thế giới”. Tuy nhiên, làm sâu sắc thêm sự cỗ lập quốc tế của Nga, Tòa án Hình sự Quốc tế (ICC) hôm 17/3 đã công bố lệnh bắt giữ Putin với cáo buộc tội ác chiến tranh khi trục xuất bất hợp pháp trẻ em Ukraine. Trong một động thái đầy thách thức, Putin được cho là đã đến thăm Mariupol vào ngày 19/3, chuyến đi đầu tiên của ông tới thành phố phía Đông Ukraine kể từ khi thành phố này bị chiếm đóng sau một cuộc bao vây kéo dài của Moskva. Theo Điện Kremlin, ông Putin đã bay tới Mariupol bằng trực thăng hôm 18/3 và tự lái xe ô tô đi khảo sát thành phố này.

“Những người bạn cũ”

Trung Quốc và Nga đã công bố quan hệ đối tác “không giới hạn” vào tháng 2/2022 khi Putin đến thăm Bắc Kinh để khai mạc Thế vận hội mùa Đông, vài ngày trước khi ông phát động cuộc xâm lược Ukraine. Mặc dù Bắc Kinh đã kêu gọi bình tĩnh ngay từ đầu, nhưng điều này phần lớn phản ánh quan điểm của Moskva rằng NATO đe dọa Nga bằng việc mở rộng về phía Đông và các đồng minh phương Tây của Ukraine đã thổi bùng ngọn lửa chiến tranh bằng cách cung cấp xe tăng và tên lửa cho nước này. Tập Cận Bình, người đã phá vỡ tiền lệ lâu nay để bắt đầu nhiệm kỳ thứ ba với tư cách là Chủ tịch nước trong tháng này, đã gọi Putin là một “người bạn cũ”.

Bắc Kinh và Moskva cũng xích lại gần nhau hơn trong những năm gần đây theo quan hệ đối tác “không giới hạn”, vốn đóng vai trò như một bức tưởng thành ngoại

giao chống lại phương Tây. Trung Quốc đã mang lại doanh thu quan trọng cho Moskva với tư cách là khách hàng mua dầu lớn nhất của nước này, với thương mại

song phương tăng vọt trong những tháng gần đây. Các nhà lãnh đạo Mỹ và châu Âu cho biết thông tin tình báo cho thấy Trung Quốc đang cân nhắc gửi vũ khí cho Nga, điều mà Bắc Kinh đã bác bỏ.

Tuần trước, có thông tin cho rằng nhà lãnh đạo Trung Quốc đã đề nghị Bắc Kinh làm nơi trung lập cho các cuộc đàm phán giữa Saudi Arabia và Iran, mở đường cho việc khôi phục quan hệ mang tính bước ngoặt giữa hai đối thủ truyền kiếp này. Abanti Bhattacharya, Phó giáo sư về Nghiên cứu Đông Á tại Đại học Delhi của Ấn Độ, cho biết Trung Quốc đã có quan hệ tốt với Riyadh và Tehran, nhưng việc đàm phán một thỏa thuận ngừng bắn trong cuộc xung đột Ukraine sẽ khó khăn hơn. Bà nói với AFP rằng bất chấp tình hữu nghị với Moskva, Trung Quốc ngược lại “không có quan hệ chặt chẽ với Ukraine và duy trì quan điểm chống NATO mạnh mẽ”…/.

Theo AFP/Reuters

Loading

Views: 0