Một tàu vận tải đổ bộ Type 071 của Trung Quốc đã xuất hiện sau đợt cải tạo với hệ thống vũ khí năng lượng định hướng bằng laser mới.
Hình ảnh cho thấy vị trí triển khai vũ khí laser trên tàu Type 071 Trung Quốc.
Theo The War Zone, Trung Quốc dường như đã lắp đặt vũ khí năng lượng định hướng bằng laser trên một trong những tàu tấn công đổ bộ Type 071 của mình. Các hành động chống máy bay không người lái của Houthi trên biển Đỏ đã thúc đẩy sự quan tâm của Trung Quốc, trong việc triển khai vũ khí năng lượng định hướng lên tàu chiến. Trước đó, Trung Quốc chỉ triển khai sử dụng vũ khí laser trên đất liền.
Một bức ảnh mới xuất hiện trên mạng xã hội cho thấy một vũ khí laser dường như mới được lắp đặt, trên một tàu vận tải đổ bộ Type 071 của Hải quân Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLAN), con tàu này cũng vừa mới được tân trang. Hệ thống này được lắp ngay phía sau khẩu pháo đa năng 76mm ở mũi tàu. Khi không sử dụng, vũ khí được giấu dưới một lớp vỏ giống như mái vòm tương đối lớn.
Hiện tại, vẫn chưa thể xác nhận chính xác con tàu đó là gì, mặc dù có những tuyên bố cho rằng đó là tàu Siming Shan, có số hiệu thân tàu là 986. Dựa trên hình ảnh được đăng tải, thì cũng có thể là tàu Yimeng Shan với số hiệu 988.
Cho đến khi tàu đổ bộ trực thăng Type 075 xuất hiện, thì Type 071 là tàu chiến đổ bộ lớn nhất của PLAN. Type 071 có trọng tải khoảng 25.000 tấn, bao gồm một sàn bay nhỏ ở đuôi tàu và có thể chứa tối đa bốn trực thăng vận tải hạng nặng Z-8. Nó cũng có khả năng chở theo bốn tàu đổ bộ đệm khí, khoảng 60 xe chiến đấu bọc thép và 800 quân. Type 071 có thể so sánh với lớp tàu San Antonio (LPD-17) của Mỹ.
Theo các báo cáo, mẫu tàu Type 071 này đã được chọn làm nền tảng thử nghiệm vũ khí laser, sau đó có thể sẽ được trang bị trên các tàu chiến khác.
Vũ khí laser của Mỹ
Hành động của Trung Quốc có nét tương đồng với các cuộc thử nghiệm vũ khí năng lượng định hướng bằng laser của Hải quân Mỹ trên một tàu đổ bộ lớp San Antonio có tên là USS Portland, lần đầu tiên được phát hiện lắp đặt hệ thống này vào cuối năm 2019. Vũ khí laser trên USS Portland có tên gọi chính thức là Laser Weapon System Demonstrator (LWSD) Mk 2 Mod 0 và được phát triển bởi Northrop Grumman.
Hiện tình trạng và khả năng của hệ thống Trung Quốc vẫn chưa được biết, trong khi đó, hệ thống LWSD Mk 2 Mod 0 của Mỹ có công suất 150 kilowatt, chủ yếu được phát triển để cung cấp cho tàu một tuyến phòng thủ bổ sung chống lại máy bay không người lái và các loại thuyền nhỏ. Ngoài ra, tia laser của Mỹ có thể được sử dụng như một thiết bị gây lóa mắt để làm mù các cảm biến quang học và đầu dò.
Mặc dù có sự tương đồng rõ ràng giữa hệ thống của Trung Quốc và LWSD Mk 2 Mod 0, vì cả hai đều được lắp đặt trên các tàu tấn công đổ bộ để thử nghiệm, nhưng Hải quân Mỹ vẫn còn một số chương trình vũ khí năng lượng định hướng bằng laser khác.
Ví dụ tiêu biểu là tàu khu trục lớp Arleigh Burke, USS Preble hiện được trang bị hệ thống laser năng lượng cao với hệ thống giám sát và gây lóa quang học tích hợp (HELIOS). Đây là vũ khí laser năng lượng định hướng lớp 60 kilowatt và là loại đầu tiên được tích hợp với hệ thống chiến đấu Aegis.
Giống như LWSD Mk 2 Mod 0, HELIOS là một hệ thống đa năng, nó có thể tạo ra đủ năng lượng để gây hư hại hoặc phá hủy các mục tiêu bao gồm cả máy bay không người lái, tàu thuyền nhỏ và cũng có thể được sử dụng như một thiết bị gây lóa mắt để làm mù hoặc làm nhiễu các cảm biến quang học trên tàu chiến và máy bay chiến đấu của đối phương, cũng như các đầu dò quang học trên tên lửa đang bay tới và các loại đạn dược khác.
Tiếp theo là hệ thống vũ khí laser AN/SEQ-3 (LaWS), một hệ thống thử nghiệm được lắp đặt trên “căn cứ hải quân tạm thời” USS Ponce, khi tàu này được triển khai đến Trung Đông từ năm 2014 đến năm 2017. Tuy nhiên, đây là hệ thống yếu hơn đáng kể so với LWSD Mk 2 Mod 0, với công suất đầu ra chỉ khoảng 30 kilowatt.
Ngoài ra, một số tàu khu trục lớp Arleigh Burke khác cũng đã được trang bị hệ thống laser Optical Dazzling Interdictor Navy (ODIN). Không giống như các hệ thống khác đã đề cập, tia laser trên ODIN chỉ có thể được sử dụng như một thiết bị gây lóa mắt, mặc dù toàn bộ hệ thống cũng có khả năng giám sát thứ cấp.
Khả năng của vũ khí laser Trung Quốc
PLAN đã sử dụng ít nhất một số dạng hệ thống gây lóa mắt bằng tia laser công suất thấp, được cho là trong các cuộc đối đầu với máy bay tuần tra trên biển của Australia và Mỹ.
Tùy thuộc vào công suất của tia laser, một số thiết bị gây chói mắt có thể làm phi hành đoàn trên máy bay bị mù tạm thời hoặc gây tổn thương mắt vĩnh viễn, cũng như gây hư hỏng cho các cảm biến quang học.
Có khả năng hệ thống mới trên tàu Type 071 là vũ khí năng lượng định hướng được thiết kế ít nhất một phần hoặc thậm chí hoàn toàn, để sử dụng như một vũ khí gây lóa mắt.
Nhìn chung, những nỗ lực của hải quân Mỹ trong lĩnh vực này được coi là những bước đi quan trọng hướng tới việc triển khai các vũ khí laser có khả năng hơn trong tương lai. Bằng chứng mới nhất từ Trung Quốc cho thấy PLAN thực sự có tham vọng tương tự và sẽ là đối thủ chính của hải quân Mỹ trong tương lai.
Tàu sân bay thứ 3 và là chiếc tiên tiến nhất của hải quân Trung Quốc, CNS Phúc Kiến ngày 3/9 đã hạ thủy lần thứ 4 để thực hiện cuộc thử nghiệm trên biển mới sau khi ra khơi cách đây 2 năm.
Theo Newsweek, con tàu được đặt theo tên tỉnh Phúc Kiến, phía đông nam Trung Quốc. Các bức ảnh lan truyền trên mạng cho thấy, tàu CNS Phúc Kiến đã rời xưởng đóng tàu Giang Nam của Thượng Hải, nơi nó được đóng. Ít nhất hai máy bay trên tàu sân bay và nhiều công-ten-nơ có cửa sổ được đặt trên sàn bay phẳng của con tàu.
Tàu sân bay Phúc Kiến do Trung Quốc thiết kế và chế tạo hoàn toàn, được hạ thủy vào 17/6/2022 tại xưởng đóng tàu Giang Nam. Đây là tàu sân bay đầu tiên của Trung Quốc sử dụng máy phóng để máy bay cất cánh. Các tàu sân bay trước đó của Trung Quốc là CNS Liêu Ninh và CNS Sơn Đông sử dụng đường dốc cất cánh kiểu trượt tuyết.
Tàu chiến chưa được đưa vào biên chế này là tàu sân bay lớn nhất trong ba tàu, với lượng giãn nước hơn 80.000 tấn khi đầy tải, trong khi Liêu Ninh và Sơn Đông là 60.000 đến 70.000 tấn. Các tàu sân bay của hải quân Mỹ, với 11 chiếc đang hoạt động, có trọng tải 100.000 tấn.
Tàu Phúc Kiến có hệ thống máy phóng điện từ tương tự như tàu sân bay lớp Gerald R. Ford của Hải quân Hoa Kỳ. Đây là tàu thứ hai trên thế giới, sau tàu USS Gerald R. Ford, sở hữu công nghệ như vậy. Tuy nhiên, tàu Phúc Kiến có ba đường phóng so với bốn đường phóng của tàu Gerald R. Ford.
Các nhà quan sát cho biết, thời gian thử nghiệm của tàu Phúc Kiến đã tăng lên, cho thấy kết quả tích cực mỗi lần. Hôm qua (3/9), cơ quan quản lý hàng hải của tỉnh ven biển Liêu Ninh đã ban hành cảnh báo hàng hải, thiết lập một khu vực hạn chế dành cho hoạt động quân sự ở phía bắc biển Hoàng Hải. Theo giới quan sát, khu vực này là nơi tàu Phúc Kiến sẽ có chuyến đi thử nghiệm.
Quân đội Trung Quốc không công bố thời điểm bắt đầu thử nghiệm, nhưng một phát ngôn viên của Bộ Quốc phòng cho biết hôm 25/7 rằng, các cuộc thử nghiệm tiếp theo có liên quan của tàu Phúc Kiến “sẽ được thực hiện dựa trên quá trình xây dựng”.
Tàu ngầm Trung Quốc được trang bị vũ khí laser có thể tiêu diệt vệ tinh Starlink của Công ty SpaceX (Mỹ), theo nghiên cứu của các nhà khoa học quân đội Trung Quốc.
Tàu ngầm của Trung Quốc
Trong nghiên cứu nói trên, một tàu ngầm Trung Quốc, với vũ khí laser rắn và có công suất lên tới nhiều megawatt được lắp đặt ở phần giữa của tàu, có thể ở trong tình trạng đang lặn khi nâng một “cột quang điện tử” lên khỏi mặt nước để bắn vào các vệ tinh, trước khi lặn xuống sâu hơn, theo tờ South China Morning Post (SCMP) hôm nay 20.7.
Loại tàu ngầm tấn công bằng laser này có thể được sản xuất hàng loạt trong tương lai và triển khai ở nhiều đại dương khác nhau để chống lại các mối đe dọa quân sự đối với Trung Quốc, theo Giáo sư Vương Đạm thuộc Học viện Tàu ngầm Hải quân (Trung Quốc), dẫn đầu nghiên cứu nói trên. Nghiên cứu mới được đăng trên tạp chí Command Control & Simulator trong tháng trước.
Các nhà khoa học Trung Quốc đánh giá rằng đối với các nhiệm vụ chống vệ tinh, thách thức lớn nhất không phải là bắn trúng vệ tinh mà là che giấu cuộc tấn công.
“Hiện nay, phương tiện chính của các hoạt động chống vệ tinh dựa vào tên lửa đất đối không, nhưng cách tiếp cận này có một số vấn đề nhất định, chủ yếu là về khả năng che giấu”, bà Vương cùng và các đồng nghiệp viết trong nghiên cứu.
Những cuộc phóng tên lửa thường kèm theo vệt khói dài. Tiến hành tấn công từ vị trí trên mặt đất có thể dễ dàng làm lộ vị trí của mình, dẫn đến bị hỏa lực của đối phương tiêu diệt. Điều này “quá rủi ro”, theo nhóm nghiên cứu.
Vệ tinh cũng ngày càng nhỏ hơn. “Lấy các vệ tinh do chương trình Starlink phóng lên làm ví dụ, chúng rất nhiều, dày đặc và có kích thước nhỏ, khiến mạng lưới vệ tinh có khả năng phục hồi cực kỳ cao. Ngay cả khi một số lượng đáng kể các vệ tinh bị phá hủy, vẫn còn có những vệ tinh dư thừa để thay thế chúng. Từ đó cho thấy việc sử dụng tên lửa để tấn công các vệ tinh như thế là rất kém hiệu quả. Vũ khí laser được phóng từ tàu ngầm có thể giải quyết những vấn đề này”, nhóm nghiên cứu nhấn mạnh.
Nghiên cứu mới cũng đưa ra hướng dẫn từng bước về cách tấn công các vệ tinh giống Starlink từ biển.
“Đầu tiên, một hoặc một số tàu ngầm được trang bị vũ khí laser sẽ được triển khai tới vùng biển mà cuộc tấn công sẽ được tiến hành. Tàu ngầm tiến vào vùng biển đó theo hướng dẫn của chỉ huy và chờ đợi các vệ tinh di chuyển vào phạm vi tấn công. Thời gian nâng vũ khí laser được xác định dựa trên thời gian vệ tinh di chuyển đã được thu thập trước đó”, nhóm nghiên cứu viết.
“Khi vệ tinh đi vào phạm vi có thể tấn công, vũ khí laser sẽ được nâng lên. Do hạn chế về thiết bị phát hiện của tàu ngầm, những lực lượng khác buộc phải cung cấp hướng dẫn vị trí vệ tinh để tàu ngầm tấn công vệ tinh. Sau khi tấn công, tàu ngầm có thể lặn xuống chờ nhiệm vụ tiếp theo hoặc quay về cảng nhà”, nhóm nghiên cứu viết.
Dù Trung Quốc hợp tác với tỉ phú Mỹ Elon Musk về xe điện nhưng họ xem Công ty SpaceX của ông là một mối đe dọa, theo SCMP.
SCMP dẫn số liệu chính thức được công bố trong tháng này cho hay Trung Quốc có hơn 900 vệ tinh trên quỹ đạo. Con số đó của Mỹ gấp 7 lần, trong đó có nhiều vệ tinh Starlink.
Trong năm 2021, hai vệ tinh Starlink đã tiếp cận trạm vũ trụ Trung Quốc một cách nguy hiểm, khiến các phi hành gia phải bắt đầu thủ tục sơ tán khẩn cấp. Vụ việc đã thuyết phục Bắc Kinh rằng Mỹ có thể sử dụng những vệ tinh giá rẻ này để tấn công các tài sản không gian đắt tiền của Trung Quốc, theo SCMP.
Không quân Mỹ đang thử nghiệm các tiêm kích F-16 được hỗ trợ bởi trí tuệ nhân tạo (AI) trong các tình huống huấn luyện chiến đấu. Trong một số trường hợp, các chiến đấu cơ AI hoạt động tốt hơn “đồng nghiệp” do phi công điều khiển.
Chiến đấu cơ F-16 của Mỹ trong một lần bay huấn luyện.
Không quân Mỹ đã thực hiện chuyến bay thử nghiệm lịch sử với F-16 được hỗ trợ bởi AI, có tên gọi Vista.
Tờ Business Insider (Mỹ) đưa tin quá trình bay thử được tiến hành trên căn cứ Không quân Edwards, với chính Bộ trưởng Không quân Frank Kendall ngồi trong buồng lái. Theo truyền thông Mỹ, Vista đã thực hiện khoảng 20 chuyến bay kể từ khi thử nghiệm bắt đầu vào tháng 9/2023. Trong một số tình huống, nó còn đạt thành tích tốt hơn phi công.
Trong chuyến bay ngày 3/5, Vista đã “gần như đối đầu” với một chiếc F-16 do con người điều khiển khi chúng di chuyển trong phạm vi 305 m với nhau với tốc độ 885 km/h.
Trong bối cảnh nhiều nhóm nhân đạo bày tỏ quan ngại sâu sắc về việc đặt các quyết định sinh tử vào tay một cỗ máy được hỗ trợ bởi AI, ông Kendall nhấn mạnh AI đang tái cơ cấu các chiến lược chiến tranh toàn cầu, cho dù chúng ta có muốn hay không.
Bộ trưởng Không quân Kendall nói với hãng thông tấn AP (Mỹ) sau khi hạ cánh: “Không có AI sẽ là một rủi ro an ninh. Tại thời điểm này, chúng ta cần sở hữu nó”.
Theo AP, Không quân Mỹ đang đặt cược lớn vào AI, đầu tư một phi đội gồm 1.000 thiết bị bay không người lái để thực hiện các thao tác mạo hiểm hơn so với máy bay có người lái, chiếc đầu tiên sẽ hoạt động vào năm 2028.
Bắc Triều Tiên tuyên bố nước này thử nghiệm thành công động cơ tên lửa siêu vượt âm thế hệ mới.
Triều Tiên tuyên bố thử thành công động cơ tên lửa siêu thanh thế hệ mới.
Theo đó, hôm 19/3, Tổng cục Tên lửa Triều Tiên và Viện Động cơ trực thuộc cơ quan này thử nghiệm thành công phản lực trên mặt đất đối với động cơ sử dụng nhiên liệu rắn nhiều giai đoạn dành cho tên lửa siêu vượt âm tầm trung. Vụ thử nghiệm diễn ra ở bãi phóng vệ tinh Sohae.
Lãnh đạo Kim Jong-un trực tiếp giám sát, chỉ đạo thử nghiệm tại chỗ cùng các quan chức lãnh đạo trong lĩnh vực phát triển tên lửa Triều Tiên.
KCNA dẫn lời ông Kim Jong-un nói, xét từ nhu cầu cũng như bối cảnh đảm bảo an ninh, việc thử nghiệm thành công động cơ tên lửa siêu vượt âm thế hệ mới có “giá trị chiến lược quân sự ngang tầm với tên lửa đạn đạo liên lục địa (ICBM)”.
Không cung cấp thêm thông tin chi tiết, KCNA cho biết Triều Tiên có thể đặt ra thời gian biểu để hoàn thành việc phát triển hệ thống vũ khí tên lửa siêu thanh mới sau thành công của cuộc thử nghiệm động cơ mặt đất mới nhất.
Là một phần trong nỗ lực cải tiến hệ thống vũ khí của mình, Triều Tiên đã tiến hành các cuộc thử nghiệm trên mặt đất đối với động cơ nhiên liệu rắn mới được phát triển cho một loại tên lửa đạn đạo tầm trung (IRBM) mới vào tháng 11 năm ngoái.
Vào ngày 14/1, Triều Tiên bắn thử tên lửa IRBM nhiên liệu rắn có gắn đầu đạn siêu thanh trong vụ phóng tên lửa đạn đạo đầu tiên trong năm nay.
Vụ thử nghiệm mới nhất của Triều Tiên diễn ra chỉ một ngày sau khi Triều Tiên tiến hành tập trận thử nghiệm bệ phóng đa tên lửa siêu lớn. Đây là vụ phóng tên lửa đạn đạo thứ hai trong năm.
Quân đội Hàn Quốc hôm 19/3 cho biết nước này đã phát hiện nhiều vụ bắn tên lửa đạn đạo tầm ngắn từ các khu vực gần Bình Nhưỡng.
Triều Tiên gia tăng các cuộc tập trận quân sự thời gian gần đây. Hồi tháng 1, nhà lãnh đạo Triều Tiên kêu gọi sửa đổi hiến pháp để xác định Hàn Quốc là “kẻ thù chính”.
Ngày 18/3, Triều Tiên cũng phóng thử các tên lửa đạn đạo ra vùng biển phía Đông nước này. Mỹ, Nhật Bản và Hàn Quốc đều lên tiếng bày tỏ quan ngại về vụ việc.
Liên quan tới ngành công nghiệp quốc phòng nội địa, bên cạnh việc chúng ta sản xuất thành công nhiều chủng loại vũ khí, nhưng một trong những điều rất nhiều người trăn trở đó là vấn đề linh kiện cấu thành nên loại vũ khí đó, liệu có bao nhiêu phần chúng ta tự sản xuất được, bao nhiêu phần phải đi nhập khẩu.
Robot trinh sát và chiến đấu RBB-01 được tích hợp súng tiểu liên do Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng chế tạo.
Đây là một điều hết sức quan trọng trong bối cảnh tình hình thế giới hiện nay, các mối quan hệ quốc tế chồng chéo lẫn nhau, pha lẫn lợi ích quốc gia tối cao của bất cứ cường quốc nào. Ví dụ, nếu chúng ta phải nhập khẩu linh kiện đến từ Mỹ chẳng hạn, để cấu thành nên một khẩu pháo hay một chiếc tàu chiến, vào một ngày đẹp trời, nước Mỹ giận dỗi áp lệnh cấm vận, không xuất khẩu linh kiện, thì chuyện gì sẽ xảy ra?
Hay một bài học nhãn tiền là công nghiệp đóng tàu quân sự của nước Nga hiện tại, dưới thời Liên Xô, rất nhiều cơ sở công nghiệp quốc phòng quan trọng nằm tại Ukraina, bao gồm các nhà máy phát triển động cơ tàu biển, động cơ hàng không, động cơ tên lửa. Có ai ngờ đâu, sau khi Liên Xô tan giã Ukraina trong vòng xoáy chính trị,tranh chấp Đông Tây, bắt đầu có những mâu thuẫn nhỏ, rồi tới xung khắc lớn và rồi xung đột đã ảnh hưởng nghiêm trọng tới nền đóng tàu của Nga,khi phần lớn động cơ tua bin khí trên tàu chiến Nga đều do Ukraina sản xuất, lưu ý rằng, toàn bộ các tổ hợp máy tua bin khí trên các tàu chiến Việt Nam mua của Nga hiện nay đều nhập khẩu từ Ukraina.
Thế mới nói, việc công nghiệp quốc phòng Việt Nam phát triển thành công các loại vũ khí trang bị hiện đại là điều tốt, nhưng sẽ tốt hơn nếu chúng ta đạt tỉ lệ nội địa hóa càng cao càng tốt.
Mới đây, đã có một sự xác nhận rõ ràng từ Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng, đơn vị quản lý chung các dự án phát triển vũ khí nội địa hiện nay, trong bài viết “Giải pháp bảo đảm kỹ thuật theo vòng đời sản phẩm vũ khí trang bị” được đăng tải trên Cổng thông tin Tổng Cục vào sáng ngày 13/12, thiếu tướng Dương Văn Yên, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng cho biết: “Hiện nay, Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng đã làm chủ việc nghiên cứu, thiết kế, chế thử, sản xuất loạt lớn vũ khí trang bị kỹ thuật cho sư đoàn bộ binh đủ quân, đáp ứng một phần vũ khí trang bị cho các binh chủng pháo binh tăng thiết giáp.
Bước đầu nghiên cứu, sản xuất được một số vũ khí trang bị kỹ thuật cho không quân, hải quân, đang xây dựng tiềm lực kỹ thuật, công nghệ để hướng tới việc làm chủ nghiên cứu, sản xuất vũ khí trang bị kỹ thuật cho hải quân, không quân. Các nhóm sản phẩm chính bao gồm: súng bộ binh, súng chống tăng, súng cối, đạn bộ binh, đạn cối, đạn chống tăng, đạn pháo cao xạ, đạn pháo mặt đất, tàu quân sự, tàu bổ trợ, khí tài quang điện tử, vật tư kỹ thuật với hàng trăm chủng loại sản phẩm, trong đó tỉ lệ sản phẩm nghiên cứu được ứng dụng vào sản xuất loạt đạt trên 85%, hơn 80% sản phẩm có nguồn gốc từ các đề tài nghiên cứu khoa học, tỷ lệ nội địa hóa về công nghệ cũng như về giá trị của các sản phẩm đều đạt mức cao hơn 80%, nhiều sản phẩm đạt tỉ lệ nội địa hóa lên tới hơn 90%.
Khâu bảo dưỡng, sửa chữa nhỏ và vừa được thực hiện đồng bộ với hệ thống cơ quan kỹ thuật và các trạm sửa chữa trong toàn quân, đối với sửa chữa lớn và cải tiến được thực hiện tại các nhà máy của Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng, Tổng cục Kỹ thuật. Lời của một vị thiếu tướng, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng là chính thức, là đáng tin cậy.
Quân đội một quốc gia không phải là chuyện để đùa. Một quân đội được thế giới công nhận và thế giới mong được thấy Việt Nam là cường quốc kinh tế chứ không phải là cường quốc quân sự thì các bạn phải hiểu như thế nào rồi đấy. Đành rằng câu chuyện tiêu cực tham nhũng là có trong xã hội rất nhiều đại án đã được phanh phui nhưng không có nghĩa là cả đất nước tiêu cực. Nếu thế thì nước mình phải nghèo chứ. Tôi thấy vẫn đang phát triển đây thôi.
Ngày xưa, xế hộp bốn bánh thường chỉ tập trung ở thành phố lớn, giờ về các tỉnh thành xe đi chật đường. Tầm năm năm không về quê, đến lúc về ngỡ ngàng anh em ạ, làng quê nghèo khó năm xưa giờ toàn nhà cao cửa rộng, đi làm trên thành phố bằng ô tô, giàu thật! Cho nên chúng tôi mong những ai còn đang nghi ngờ các thành tựu của quân đội hãy nhìn nhận vấn đề một cách tích cực hơn.
Có bao nhiêu loại vũ khí đạt tỉ lệ nội địa hóa 80 đến 90% tất cả phải không? Hay chỉ là một số?
Dĩ nhiên để trả lời câu hỏi này thực sự là không dễ chút nào. Ít nhất phải tầm cỡ chức vụ như thiếu tướng Dương Văn Yên thì may ra, chứ tầm cỡ anh chúng tôi thì sao mà biết được. Dẫu vậy, trong tầm hiểu biết của mình, chúng tôi cho rằng có thể dự đoán được một số lĩnh vực đạt tỉ lệ nội điệu hóa cao nhất, căn cứ vào nhóm sản phẩm chính mà nền công nghiệp quốc phòng đã và đang phát triển, sản xuất.
Đầu tiên là nhóm vũ khí bộ binh, bao gồm các loại súng trường, súng máy, súng chống tăng. Chúng tôi tin tưởng đây là nhóm vũ khí đạt tỉ lệ nội địa hóa ở mức cao nhất, thậm chí lên tới 100%. Thực ra, nói về lĩnh vực sản xuất súng bộ binh, chúng ta có một bề dày lịch sử rất lớn. Ngay từ thập niên 60, ở miền Bắc đã hình thành các nhà máy sản xuất súng trường AK, CKC, các loại trung liên, đại liên dựa trên dây chuyền của Trung Quốc chuyển giao.
Các dây chuyền này hoạt động liên tục suốt thời kỳ chống Mỹ và kể cả cho tới hiện tại. Ngoài súng trường, các dây chuyền thời đó đã sản xuất các loại súng máy, súng cối và kể cả súng chống tăng kiểu B40, B41 ngay từ lúc đó. Dĩ nhiên, đi kèm với súng là cả các kiểu đạn.
Bước vào thời kỳ hiện đại, từ năm 2014, khi chúng ta quyết định nhập khẩu dây chuyền sản xuất súng trường Galilac 31, 32 của Israel trên nền tảng đã có sẵn, kết hợp với các phương tiện máy móc, công nghệ mới, hoàn toàn có đủ sự tự tin về việc tự nội địa hóa mọi linh kiện cơ khí quan trọng với một khẩu súng. Và bằng chứng là việc không chỉ sản xuất theo mẫu, ta còn cải tiến để phát triển một phiên bản phù hợp với chiến thuật chiến đấu, thói quen, thể hình của người Việt Nam mà đại diện nổi bật là các sản phẩm súng trường STV 215, 380, STV 022 đã và đang được từng bước trang bị cho toàn quân.
Với dòng AK, ta cũng tiến hành hiện đại hóa với các phương án như AKN để tiếp tục trang bị song song. Với các dòng súng máy, được biết chúng ta đã làm chủ khả năng sản xuất trong nước các dòng trung liên, đại liên kiểu PKM 7,62 ly, NSV 12,7ly từ thập niên 90. Đặc biệt, khẩu NSV 12,7ly được phát triển trên cơ sở bản nguyên mẫu được nhập khẩu từ khối Đông Âu sau khi Liên Xô tan rã.
Với súng cối, hiện nay nhiều đơn vị hỏa lực đã được trang bị súng cối 60Ly, 100Ly, một sản phẩm của ngành công nghiệp quốc phòng Việt Nam trên cơ sở tham khảo các kinh nghiệm về hỏa lực địch trong cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc. Được biết, khẩu súng cối 100Ly là một cỡ súng cối mà Liên Xô chưa từng phát triển được ta học hỏi và cải tiến trên cơ sở thiết kế khẩu súng cối 100ly K71 do Trung Quốc phát triển.
Với súng chống tăng, bên cạnh việc tiếp tục cải tiến súng chống tăng B41, ta cũng học hỏi và sản xuất thành công các phương án chống tăng kiểu RPG2 cũng như là loại RPG-30 hiện đại hơn, hoàn toàn bằng công nghệ trong nước. Ngoài súng cối, súng chống tăng, một loại hỏa lực mang vai trò quan trọng nữa là súng không giật cũng được ta sản xuất thành công. Điển hình là khẩu SCCT-73 trên cơ sở khẩu SPG-9 của Liên Xô cũ. Thứ hai, đi kèm với tất cả các loại hỏa lực trên, chúng ta đã sản xuất được hầu hết các loại đạn: súng máy, đạn súng chống tăng, đạn súng không giật, đạn súng cối, bao gồm cả những loại đạn có yêu cầu cao về độ phức tạp, uy lực mạnh. Nổi bật là công nghệ đạn chống tăng liều đúc, trang bị cho súng chống tăng kiểu B-41, RPG-29, RPG-30. Cùng với đó, ta cũng đã công khai trước dư luận về việc ta đã sản xuất và đưa vào trang bị cho các quân binh chủng các loại đạn pháo cho binh chủng tăng thiết giáp, binh chủng pháo binh, binh chủng pháo phòng không, cho tàu chiến của hải quân, thậm chí là cho các máy bay tiêm kích có trong biên chế. Riêng lĩnh vực này, đạn cho máy bay tiêm kích chưa được công bố, nên chúng tôi chỉ coi là một sự suy đoán. Tuy nhiên, với các thành tựu về hỏa dược hiện nay, việc phát triển đạn pháo không quân cũng không phải là điều làm khó chúng ta.
Đây là hai nhóm vũ khí trang bị kỹ thuật mà chúng tôi tin rằng ta đạt được tỉ lệ nội địa hóa ở mức cao nhất. Với các nhóm còn lại, đặc biệt là tập trung ở các lĩnh vực kỹ thuật công nghệ cao, ví dụ như tàu quân sự, tàu bổ trợ, khí tài quang điện tử, hệ thống radar, hệ thống UAV, hệ thống tên lửa, mức độ nội địa hóa không được công bố, nhưng chúng tôi ước đoán rằng mức độ có thể đạt ở mức trên dưới 50%. Bởi phải thừa nhận một cách thẳng thắn rằng các ngành công nghiệp phụ trợ của Việt Nam còn yếu và thiếu. Cứ cho Viettel rất giỏi, nhưng không phải tất cả họ có thể làm được. Thực tế, chỉ có thể làm được một phần, phần còn lại phải có sự phối hợp từ các nhà máy quốc phòng hoặc các công ty dân sự.
Ví dụ nổi bật là hệ thống tên lửa hành trình VCM-1, phần vỏ đã từng xuất hiện ở một nhà máy đóng tàu, phần khung gầm bệ phóng từng xuất hiện ở một nhà máy chuyên về xe máy quốc phòng như thế thì chúng ta thấy Viettel là đơn vị đứng mũi chịu sào, nhưng phải có sự liên kết với nhiều đơn vị khác, chứ không phải mình anh có thể phát triển hoàn chỉnh tất cả mọi thứ.
Hay là các tổ hợp radar, có thể sơ lược các thành phần lớn của một tổ hợp radar phòng không di động sẽ bao gồm: khung cơ gầm tự hành, cụm vỏ khí tài, hệ thống anten, hệ thống điện tử, hệ thống hiện sóng, hệ thống nguồn điện và phần mềm điều hành. Nhưng trong mỗi hệ thống lớn sẽ còn các hệ thống nhỏ hơn nữa. Ví dụ, trong cụm máy tính sẽ bao gồm các con chip, RAM, vi mạch điện tử, hệ thống làm mát. Nó cũng như một chiếc máy tính mà các bạn đang sử dụng, tùy theo HP, Lenovo hay là Apple là đơn vị sản xuất máy tính, nhưng linh kiện thì được cấu thành từ nhiều nhà cung ứng. Tương tự, hầu hết các sản phẩm công nghệ điện tử hiện nay không hẳn là các nhà sản xuất đạt tỉ lệ 100% nội địa, mà thường có sự vay mượn nhất định, vũ khí cũng vậy thôi. Đôi khi chúng ta chỉ được nghe cái bề nổi, còn bề chìm hầu như không ai nói, chứ thực ra riêng động cơ hàng không để tạo ra nó là sự liên kết của nhiều nhà thầu, thậm chí từ nhiều quốc gia, chứ không phải bảo nội địa 100% là làm được ngay.
Dĩ nhiên, điểm yếu này quân đội ta thừa nhận, chứ không chối bỏ. Đó là một tín hiệu vui, sự thẳng thắn thừa nhận cái yếu, cái thiếu là điều kiện cốt lõi để tiến bộ. Cụ thể, thiếu tướng Dương Văn Yên cho biết hiện nay khả năng nghiên cứu, thiết kế, sản xuất vũ khí trang bị hiện đại, tích hợp hệ thống công nghệ cao của Tổng cục vẫn còn hạn chế. Việc đề xuất ý tưởng nghiên cứu sản phẩm mới chưa theo kịp nhu cầu phát triển hiện đại hóa quân đội. Mặt khác, quá trình nghiên cứu, thiết kế, cải tiến, chế thử sản phẩm còn dài, chưa đáp ứng được đòi hỏi cấp bách về thời gian đưa sản phẩm vào trang bị. Tổng cục cũng chưa làm chủ được một số nguyên vật liệu, vật tư đặc trưng đầu vào cho sản xuất vũ khí, trang bị kỹ thuật, số lượng chủng loại vũ khí công nghiệp quốc phòng sản xuất còn ít so với số lượng chủng loại vũ khí, trang bị trong toàn quân. Do đó, phạm vi, quy mô, mức độ ảnh hưởng của hoạt động đảm bảo kỹ thuật đối với toàn quân còn hạn chế.
Nguyên nhân của những hạn chế nêu trên là do quản lý sản phẩm theo vòng đời là xu hướng mới, hiện đại, đang được áp dụng ở nhiều quốc gia, các tập đoàn có nền sản xuất lớn, thị trường rộng, sản phẩm đa dạng. Trong khi quy mô sản xuất của Việt Nam còn nhỏ, thị trường hẹp, sản phẩm chưa đa dạng, chưa có hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, chính sách, quy định hoạt động quản lý theo vòng đời sản phẩm.
Bên cạnh đó, nguồn nhân lực, ngân sách, cơ sở vật chất, kỹ thuật cho nghiên cứu, thiết kế, cải tiến vũ khí công nghệ cao còn thiếu, khả năng đáp ứng, hỗ trợ của nền công nghiệp quốc gia cho công nghiệp quốc phòng còn hạn chế, đặc biệt là công nghiệp phụ trợ. Đồng thời, hệ thống bảo đảm kỹ thuật chưa hoạt động theo tính chất vòng đời sản phẩm, thiếu các công cụ quản lý, thiếu nhân lực có kỹ năng trong nghiên cứu nhu cầu, đánh giá hiệu quả sử dụng, tham mưu ra quyết định về tối ưu hóa vòng đời sản phẩm.
Do đó, công nghiệp quốc phòng Việt Nam cần có bước đi, lộ trình phù hợp trong xây dựng năng lực quản lý sản phẩm theo vòng đời nhằm nâng cao năng lực nghiên cứu, chế tạo, sản xuất, sửa chữa vũ khí, trang bị hiện đại, góp phần nâng cao sức mạnh tổng hợp và khả năng sẵn sàng chiến đấu của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Theo báo cáo do Viện Nghiên cứu Hòa bình Quốc tế Stockholm (SIPRI) công bố, doanh số bán vũ khí và dịch vụ quân sự của 100 nhà sản xuất hàng đầu đạt tổng trị giá 597 tỷ USD.
Theo một báo cáo do Viện Nghiên cứu Hòa bình Quốc tế Stockholm (SIPRI) công bố, năm 2022, doanh số bán vũ khí và dịch vụ quân sự của 100 nhà sản xuất vũ khí hàng đầu thế giới đạt tổng trị giá 597 tỷ USD. Theo cơ quan giám sát này, các công ty Mỹ tiếp tục thống trị thị trường mặc dù tổng doanh thu giảm.
Doanh số tổng hợp 100 công ty vũ khí hàng đầu mức giảm 3,5% so với cùng kỳ năm trước, nhưng vẫn cao hơn 14% so với số được ghi nhận trong năm 2015. Các công ty Mỹ chứng kiến mức giảm tổng cộng 7,9% xuống còn 302 tỷ USD, nhưng vẫn chiếm 51% tổng doanh thu vũ khí năm 2022. 42 công ty Mỹ nằm trong top 100 công ty vũ khí hàng đầu thế giới. Doanh thu của 26 nhà sản xuất vũ khí châu Âu, trong khi đó sụt giảm tăng nhẹ 0,9%, còn 121 tỷ USD.
Theo SIPRI, sự sụt giảm toàn cầu doanh số bán vũ khí chủ yếu là do doanh thu của các nhà sản xuất vũ khí lớn ở Mỹ giảm, nơi lĩnh vực này phải vật lộn với “các vấn đề về chuỗi cung ứng và tình trạng thiếu lao động” liên quan đến đại dịch COVID-19.
SIPRI nhấn mạnh rằng lượng sản xuất vũ khí toàn cầu đã tụt lại khi nhu cầu tăng mạnh vào năm 2022 do xung đột Ukraine và căng thẳng địa chính trị toàn cầu.
Hơn nữa, nhiều quốc gia đã đặt hàng vũ khí và dịch vụ quân sự vào cuối năm 2022, doanh thu giai đoạn đó sẽ thể hiện trong các báo cáo công ty vào 2 đến 3 năm tới.
Theo SIPRI, các nhà sản xuất vũ khí ở châu Á và Trung Đông chứng kiến doanh thu tăng đáng kể trong năm ngoái, đồng thời cho biết điều này chứng tỏ “khả năng đáp ứng nhu cầu gia tăng trong khung thời gian ngắn hơn”.
Công ty nhà nước Nga Rostec và United Shipbuilding Corporation là hai công ty Nga duy nhất lọt vào top 100 của SIPRI. Tổng thu nhập của họ là 20,8 tỷ USD, giảm 12% so với cùng kỳ năm ngoái.
Các cuộc xung đột gần đây cho thấy máy bay không người lái (UAV) đã làm thay đổi phương thức giao tranh như thế nào, thậm chí nó còn mở rộng thành một cuộc chạy đua vũ trang ra ngoài không gian.
UAV dân sự của DJI được sửa đổi để mang theo lựu đạn khá phổ biến trong xung đột Ukraine. (Ảnh: AP)
Kể từ chiến tranh Syria (2011) cho đến nay, máy bay không người lái (UAV) đã trở thành thứ vũ khí không thể thiếu đối với bất kỳ đội quân nào. Phương tiện bay này đảm nhận mọi vai trò trên chiến trường từ do thám, trinh sát, tấn công cho đến hỗ trợ hậu cần.
Xung đột Nga – Ukraine (2022) là cuộc chiến UAV toàn diện đầu tiên trên thế giới, nó không khác gì một cuộc đối đầu trên không kéo dài không có hồi kết giữa hai bên. UAV hoạt động 24h mỗi ngày và truyền mọi thông tin chiến trường về sở chỉ huy cách đó hàng chục km, Nga – Ukraine sử dụng UAV trong giao tranh còn nhiều hơn cả bộ binh.
Tuy nhiên ở từng cấp độ xung đột, các bên tham chiến sử dụng những loại UAV khác nhau từ drone giá rẻ chỉ từ 200 USD cho đến các phương tiện chiến đấu đắt đỏ lên đến hàng triệu USD. Chưa dừng ở đó quân đội Mỹ còn muốn mở rộng cuộc đua UAV ra ngoài không gian với chương trình X-37, các cường quốc khác như Nga và Trung Quốc cũng không kém cạnh khi phát triển các phương tiện lượn siêu thanh không người lái vừa có thể tấn công vừa có thể trinh sát.
Cuộc chiến UAV
Khác với đầu những năm 2000, máy bay không người lái hiện tại là một vũ khí giá rẻ và hiệu quả đã xuất hiện trong nhiều cuộc chiến tranh và xung đột vũ trang. Nó có thể không dẫn đến chiến thắng cuối cùng nhưng thừa khả năng trở thành vũ khí răn đe.
Trước đây người ta thường gắn liền UAV với cuộc chiến của Mỹ chống khủng bố ở khu vực Trung Đông. Lực lượng quân sự của siêu cường này có thể ngồi ở một nơi an toàn cách xa mục tiêu hàng ngàn km, điều khiển UAV tiêu diệt mục tiêu với rủi ro tối thiểu cho họ. Lúc đó ít có quốc gia nào có được khả năng này.
Nhưng hiện nay bức tranh đã thay đổi. Mỹ và các cường quốc khác không độc tôn sở hữu lợi thế áp đảo về công nghệ UAV.
Các UAV nhỏ, bao gồm phiên bản thương mại, có thể dễ dàng chuyển đổi để phục vụ mục đích quân sự. Các UAV kiểu này giúp các nước nhỏ hơn và các nhóm nổi dậy “san phẳng sân chơi” theo hướng bình đẳng hơn.
UAV đã đóng vai trò quan trọng trên chiến trường trong các cuộc xung đột gần đây giữa chính phủ Ethiopia và quân nổi dậy Tigrayan, giữa Armenia và Azerbaijan, nội chiến ở Libya, giữa liên quân Ả Rập và phiến quân Houthi, giữa Nga và Ukraine hay mới nhất là Israel và Hamas.
Điển hình như cuộc xung đột Israel – Hamas (2023), cả hai bên đều sử dụng UAV trong mục đích trinh sát và tấn công. Israel là bên có ưu thế hơn với phi đội máy bay không người lái hiện đại có thể thực hiện nhiều nhiệm vụ khác nhau, phong trào Hamas cũng không hề kém cạnh khi sử dụng các drone hoặc UAV cỡ nhỏ để tập kích các vị trí quân sự của đối phương.
Từ cuộc xung đột Nga – Ukraine, các tay súng Hamas có thể đã rút ra được bài học lớn trong tác chiến phi đối xứng bằng UAV, kể cả họ chỉ thể mua các phương tiện bay không người lái dân sự. Bằng chứng rõ nhất là Hamas sử dụng UAV ném lựu đạn phá hủy xe tăng và các chòi canh biên giới của Israel ngay trong ngày đầu tiên của chiến dịch bão táp Al-Aqsa. Sau đòn tấn công bất ngờ, lực lượng phòng vệ Israel nhanh chóng có động thái đáp trả, UAV cũng được sử dụng để theo dõi cũng như vô hiệu hóa các mũi tiến công của Hamas dọc theo biên giới Dải Gaza.
Quay lại những ngày đầu của cuộc chiến Nga-Ukraine, UAV tấn công Bayraktar TB2 do Thổ Nhĩ Kỳ chế tạo đã thu hút sự chú ý của dư luận quốc tế. Giai đoạn đó, UAV này khá làm mưa làm gió trên chiến trường, bắn phá các mục tiêu là xe tăng, xe thiết giáp của quân đội Nga.
Những gì mà UAV Bayraktar TB2 thể hiện đã đóng vai trò như màn quảng cáo cho sản phẩm này. Quân đội nhiều nước sau đó đổ xô đặt hàng loại UAV này của hãng Baykar.
Dù vậy UAV Bayraktar TB2 chỉ tỏ ra hiệu quả chủ yếu trong vài tuần đầu của cuộc xung đột. Khi Nga tổ chức lại hoạt động hệ thống phòng không của mình thì Bayraktar TB2 gần như biến mất hoàn toàn trên chiến trường.
Dẫu vậy, UAV vẫn đóng vai trò lớn trong xung đột Nga Ukraine khi chúng xuất hiện dưới một hình thức khác là UAV “cảm tử”. Quân đội Nga đã thành công trong việc sử dụng UAV “cảm tử” Geran-2 giáng một đòn mạnh vào cơ sở hạ tầng quan trọng của Ukraine.
Bên cạnh đó UAV “cảm tử” Lancet của Nga cũng là cơn ác mộng đối với bộ binh và tăng thiết giáp Ukraine khi nó có thể phá hủy mọi thứ mà không thể bị đánh chặn.
Quân đội Ukraine cũng không chịu ngồi yên khi sử dụng UAV cỡ nhỏ với số lượng lớn để tấn công lực lượng Nga và cũng tạo ra thiệt hại đáng kể cho đối phương.
UAV giá rẻ đến từ đâu?
Theo tờ Foreign Policy, bất cứ khi nào bạn nghe thấy tiếng vo ve của máy bay không người lái ở bất cứ nơi nào trên thế giới, bạn có thể đang nghe thấy âm thanh từ một sản phẩm được sản xuất ở Trung Quốc.
Cách đây gần 20 năm, từ một ký túc xá, ông chủ của công ty công nghệ Trung Quốc DJI đã tạo ra chiếc máy bay không người lái giá rẻ đầu tiên mà ngay cả những người nghiệp dư cũng có thể sử dụng để quay những video tuyệt đẹp và tạo bản đồ chất lượng cao.
Ngày nay, DJI trở thành công ty dẫn đầu thị trường trong ngành công nghiệp máy bay không người lái thương mại, cung cấp nhiều loại cho hơn 70% người dùng trên toàn thế giới. Và không có gì ngạc nhiên khi UAV của DJI được cả hai bên trong xung đột Ukraine sử dụng với số lượng lớn.
Thế nhưng thị phần của DJI chỉ là một câu chuyện điển hình bởi Trung Quốc có hàng trăm công ty khác chuyên chế tạo hoặc cung ứng linh kiện chế tạo UAV và drone. Nói cách khác chỉ cần có bản thiết kế, bạn có thể mua mọi thứ cần thiết để tạo nên một phương tiện bay không người lái của riêng mình từ các nhà sản xuất Trung Quốc.
Ví dụ rõ nhất là UAV “cảm tử” Geran-2 của Nga khi nó sử dụng hệ thống động cơ cánh quạt do một công ty Trung Quốc chế tạo.
Về phía Ukraine từ lâu đã sử dụng các UAV dân sự giá thành thấp do Trung Quốc sản xuất để gia tăng năng lực tấn công. Ukraine đã cải tiến các UAV có mục đích thương mại nhằm biến chứng thành vũ khí tập kích mục tiêu Nga.
Trong những công xưởng, những kỹ sư Ukraine vẫn nỗ lực chỉnh sửa các UAV dân sự để biến chúng thành UAV tấn công giá rẻ. Ví dụ, họ gắn pin mới đã được cải tiến vào UAV để nó có thể bay xa hơn.
Các phi công cũng sẽ gắn một quả đạn pháo tự chế xuống phần dưới UAV để cho vũ khí nói trên làm nhiệm vụ lao vào chiến hào và xe tăng Nga, nhằm biến chứng thành tên lửa do con người điều khiển.
Tuy nhiên, cả Nga và Ukraine đang đứng trước một nguy cơ thiếu hụt UAV khi Trung Quốc bắt đầu siết chặt việc xuất khẩu UAV và drone dân sự do lo ngại chúng có thể biến thành công cụ phục vụ chiến tranh.
Theo đó, các nhà xuất khẩu phải được chính phủ cấp phép khi xuất khẩu UAV. Biện pháp kiểm soát này cũng ảnh hưởng đến một số loại UAV tiêu dùng, và không loại UAV dân sự nào có thể được xuất khẩu cho mục đích quân sự.
UAV không gian
Ngoài các mẫu UAV thông thường một số siêu cường quân sự như Mỹ, Nga và Trung Quốc bắt đầu phát triển phương tiện bay không người lái có thể hoạt động ngoài không gian. Đi đầu và có thể được xem thành công nhất trong lĩnh vực này là Mỹ với chương trình tàu vũ trụ không người lái (UAV) X-37B.
X-37B ban đầu được hãng Boeing thiết kế cho NASA. Nhưng sau đó nó đã được điều chỉnh để quân đội Mỹ sử dụng. Phương tiện này về cơ bản là một sự kết hợp giữa máy bay và tàu vũ trụ. Có thể nói nó là một tàu con thoi thu nhỏ.
X-37B được coi là một trong những dự án bí ẩn nhất của không quân Mỹ trong việc triển khai UAV để thực hiện các nhiệm vụ tối mật ngoài không gian.
Theo IDG News Service – cơ quan ngôn luận của Tập đoàn Dữ liệu quốc tế (International Data Group – IDG) của Mỹ – đã có 3 chiếc X-37B bay ra khỏi trái đất nhằm kiểm tra hoạt động của UAV trong môi trường không trọng lực và tăng cường năng lực giám sát của các cơ quan tình báo Mỹ.
Trong một nhiệm vụ gần đây nhất X-37B của Mỹ cũng lập kỷ lục 908 ngày thực hiện nhiệm vụ ngoài không gian và trở về Trái Đất an toàn vào tháng 11/2022
Lực lượng không gian Mỹ cho hay sứ mệnh OTV-6 của X-37B cũng đánh dấu mốc lần đầu tiên một chiếc UAV bay vào vũ trụ có gắn modul dịch vụ, tăng số lượng các cuộc thử nghiệm có thể được tiến hành trong không gian.
Ở một chiều hướng khác, Trung Quốc cũng không hề kém cạnh khi phát triển mẫu UAV siêu thanh WZ-8 – phương tiện bay không người lái tầm cao và có tốc độ siêu thanh thực hiện các nhiệm vụ trinh sát. Theo Thời báo Hoàn Cầu, UAV này có thể thu thập các bức ảnh với độ phân giải cao, đồng thời cung cấp thông tin tình báo theo thời gian thực. Theo một tài liệu của Lầu Năm Góc bị rò rỉ vào tháng 8 năm ngoái, WZ-8 được thiết kế để triển khai từ máy bay ném bom tầm xa H-6M và có nhiệm vụ thu thập dữ liệu thời gian thực về hành động của đối thủ tiềm năng ở eo biển Đài Loan hoặc trong khu vực Bán đảo Triều Tiên.
Chuyến bay của chiếc WZ-8 được thực hiện ở độ cao 30.000 m với tốc độ lên tới Mach 3, cộng với việc áp dụng công nghệ tàng hình, cho nên phương tiện này rất khó bị các hệ thống phòng không đánh chặn.
Một quốc gia khác phát triển phương tiện không người lái siêu thanh là Nga với Đề án 4202 Avangard – nó có khả năng bay với vận tốc Mach 27 (32.000km/h) ngay cả trong điều kiện thời tiết không thuận lợi, có thể thay đổi đường bay và độ cao, cũng như xuyên thủng bất kỳ hệ thống phòng thủ tên lửa nào. Avangard được Tổng thống Nga Vladimir Putin đề cập đến lần đầu tiên vào tháng 3/2018.
Các quan chức Nga cho biết nó có thể được lắp đặt trên ICBM RS-28 Sarmat của nước này với tầm bắn lên tới hơn 17.700km.
Các đầu đạn ICBM thông thường có đường đi dễ toán nên dễ bị đánh chặn nhưng Avangard có thể thay đổi hướng đi. TASS dẫn lời các quan chức Nga cho biết, nó “không thể bị tấn công trước bất kỳ hệ thống phòng thủ tên lửa nào”.
Theo Dự án Phòng thủ Tên lửa của Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế, Avangard nặng khoảng 2 tấn, có tầm bắn hơn 6.000km và có thể mang đầu đạn hạt nhân hoặc đầu đạn thông thường.
Còn Bộ Quốc phòng Nga cho biết, hệ thống tên lửa Avangard đầu tiên đã đi vào hoạt động vào cuối năm 2019.
Lầu Năm Góc cho biết, quân đội Mỹ có kế hoạch mua sắm hàng nghìn UAV mới nhằm sẵn sàng cho một cuộc đối đầu quân sự tiềm tàng trong tương lai.
Phát biểu tại hội nghị của Hiệp hội Công nghiệp Quốc phòng (NDIA) tại Washington DC ngày 29/8, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ Kathleen Hicksc cho biết, quân đội nước này đã triển khai một chương trình phát triển công nghệ “UAV bầy đàn” mới, đồng thời đề cập đến các mối đe dọa an ninh từ Trung Quốc.
Theo Thứ trưởng Hicksc, chương trình máy bay không người lái (UAV) trên có tên là Replicator (tạm dịch: Máy nhân bản) và nó được thiết kế để có thể kiểm soát đồng thời hàng nghìn UAV trên đất liền, trên biển và trên không.
Quan chức này cho biết, mặc dù quân đội Mỹ vẫn vận hành hiệu quả các hệ thống UAV tầm xa và tầm trung tiên tiến nhưng việc áp dụng các nền tảng UAV cỡ nhỏ hoặc drone lại dễ sản xuất hơn, bên cạnh đó chúng cũng thông minh. Cũng theo bà Hicksc, quân đội Trung Quốc sở hữu số lượng trang thiết bị quân sự vượt xa so với Mỹ, nhiều tàu chiến hơn, nhiều tên lửa, nhiều binh sĩ và giờ đây là nhiều UAV. Do đó quân đội Mỹ cần đến các hệ thống vũ khí tiên tiến để san bằng khoảng cách này.
“Nước Mỹ vẫn có thể đối phó với sự áp đảo về trang bị từ phía Trung Quốc bằng lực lượng hiện có, nhưng quân đội Mỹ sẽ gặp khó khăn trong tác chiến và đánh bại kẻ thù”, bà Hicksc nhấn mạnh
Để lấy lại những lợi thế đó, bà Hicks cho biết chương trình Replicator sẽ hoạt động để triển khai “hàng nghìn” UAV trên nhiều lĩnh vực và Lầu Năm Góc hy vọng sẽ hoàn thành dự án này trong vòng hai năm.
Còn theo Đô đốc John Aquilino, người đứng đầu Bộ Tư lệnh Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương của quân đội Mỹ (INDOPACOM), máy bay không người lái sẽ hữu ích trong cuộc xung đột tiềm tàng với Trung Quốc trong tương lai, các hệ thống vũ khí này có thể tấn công một số lượng lớn các mục tiêu trải rộng trên một khu vực rộng lớn.
“Đối với tôi, việc tấn công 1.000 mục tiêu trong 24 giờ là có thể làm được”, Đô đốc Aquilino nói và cho biết thêm rằng ông đã làm việc với Cơ quan các dự án nghiên cứu quốc phòng tiên tiến (DARPA) thuộc Lầu Năm Góc để tạo ra các hệ thống có thể thu thập và tích hợp dữ liệu mới cho UAV.
Đầu năm 2023, quân đội Mỹ, Anh và Australia đã tổ chức một “cuộc thử nghiệm năng lực chung” để trình diễn các hệ thống máy bay không người lái mới được hỗ trợ bởi trí tuệ nhân tạo (AI), được triển khai như một “bầy đàn UAV để phát hiện và theo dõi các mục tiêu quân sự”
Mặc dù chưa rõ chính xác trí tuệ nhân tạo sẽ tham gia chương trình Replicator như thế nào, cả ba quốc gia trên đã ngày càng tập trung vào việc kiểm soát sự trỗi dậy của Trung Quốc ở Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, cam kết phát triển và triển khai các năng lực quân sự mới trong khu vực để đối phó Bắc Kinh.
Ngày 10.7 vừa qua, một tin vui liên quan tới trang bị tàu chiến dành cho Hải quân Nhân dân Việt Nam.
Tàu hộ tống tên lửa INS Kirpan do Ấn Độ chế tạo
Như vậy, sau hơn 10 ngày rời cảng Visakhapatnam (Ấn Độ), chiều ngày 9/7, báo chí Ấn Độ và Việt Nam đồng loạt xác nhận thông tin: Tàu hộ tống tên lửa INS Kipan – món quà của người bạn Ấn Độ trao tặng cho Hải quân Việt Nam – đã cập cảng quốc tế Cam Ranh, chuẩn bị công tác bàn giao chính thức cho Việt Nam. Tàu Kipan đã cập cảng vào hôm 8/7, sau 11 ngày hành trình từ cảng Visakhapatnam tới Cam Ranh. Chỉ mất hơn 20 ngày kể từ ngày công bố quyết định của Bộ Quốc phòng Ấn Độ về việc chuyển giao tàu Kipan cho Hải quân Việt Nam, hôm 19/6, con tàu đã nhanh chóng khởi hành tới Việt Nam. Có thể nói, tốc độ bàn giao tàu Kipan nhanh chưa từng thấy, nhanh nhất trong số các tàu chiến do quốc tế viện trợ cho Hải quân Việt Nam trong khoảng 10 năm trở lại đây.
Các cơ quan báo chí chính thống cho biết, tới cuối tháng 7, con tàu sẽ trải qua công tác kiểm tra và huấn luyện thủy thủ Việt Nam trước khi chính thức tích hợp tàu hộ tống cho các lữ đoàn tàu chiến của Hải quân Việt Nam. Hiện chưa rõ tàu Kipan sẽ được tích hợp cho đơn vị nào của Việt Nam. Tuy nhiên, việc tàu về Cam Ranh nhiều khả năng con tàu sẽ được bàn giao cho Lữ đoàn Tàu chiến 162 trực thuộc Vùng 4 Hải quân. Đây là lữ đoàn tàu chiến hiện đại và mạnh mẽ nhất Việt Nam, chịu trách nhiệm phòng thủ quần đảo Trường Sa, đảo Phú Quý và vùng biển phía Nam miền Trung từ Phú Yên tới Bắc Bình Thuận. Lữ đoàn được thành lập vào ngày 9/1/2002, được trang bị nhiều chủng loại tàu hiện đại nhất toàn quân, bao gồm 4 tàu hộ vệ Gepard-3.9, các tàu tên lửa nhỏ đề án 1241RE (BPS-500), các tàu pháo đề án 10412. Tất nhiên, cũng không loại trừ khả năng có sự thay đổi của phút chót hoặc chính xác hơn, Cam Ranh chỉ là điểm dừng chân huấn luyện tạm thời.
Đáng chú ý, các hình ảnh của tàu INS Kipan vừa tới Cam Ranh từ phía Ấn Độ công bố cho thấy trong khi giữ nguyên cấu hình vũ khí bao gồm hai cụm bệ phóng KT-167 với 4 tên lửa hành trình, người ta đã tháo bớt trang thiết bị điện tử của con tàu không hoàn toàn nguyên vẹn như chúng ta vẫn nghĩ. Xác minh bước đầu bằng hình ảnh thực địa con tàu trên mặt nước vịnh Cam Ranh so với tàu Kipan khi còn trong biên chế Hải quân Ấn Độ có thể thấy, con tàu đã bị tháo mất hệ thống radar điều khiển hỏa lực tên lửa Gapun-B, trong khi giữ nguyên đài trinh sát đa năng Portsip-Air và đài điều khiển hỏa lực pháo MR-123. Thay thế cho hệ thống Gapun-B là một loại radar hàng hải thông thường, radar chỉ thị mục tiêu 3TS-25E Garpun-B được thiết kế để cung cấp khả năng giám sát mặt nước bằng cách sử dụng kênh thụ động và chủ động trong việc chỉ thị mục tiêu cho tên lửa hành trình, radar được thiết kế cho các nhiệm vụ bao gồm: thu thập, theo dõi tự động, xác định tọa độ mục tiêu mặt nước bằng các kênh chủ động; phát hiện, phân loại, xác định tọa độ mục tiêu dựa trên phát xạ radar của chúng bằng các kênh thụ động; nhận dạng lý lịch mục tiêu và kết hợp với hệ thống phân biệt địch ta; tạo và chuyển dữ liệu chỉ định mục tiêu đến đài điều khiển hỏa lực tên lửa và hệ thống quản lý tác chiến tổng hợp; tương tác với các nguồn dữ liệu bên ngoài; khả năng phát hiện mục tiêu với tiết diện phản xạ vô tuyến 1000m2, tùy khu vực bao phủ trong khả năng hiển thị radar bình thường là 35-45km; trong khả năng hiển thị radar cao lên tới 90 km; siêu khúc xạ lên tới 250 km.
Việc tháo mất đài điều khiển tên lửa Gapun-B thực sự là một tình huống oái oăm của Ấn Độ. Với vai trò là đài điều khiển tên lửa hành trình, việc thiếu vắng Gapun-B sẽ khiến năng lực của tàu Kipan bị giảm sút. Hiện nay, các tàu tên lửa đề án 1241RE và 12418 đều sử dụng tổ hợp Gapun-B để chỉ thị mục tiêu cho tên lửa hành trình P-21 22 và Kh-35 Urane. Tất nhiên, tôi dùng từ “giảm sút” chứ không phải là “mất đi” là có lý do của nó, bởi Hải quân Việt Nam hiện cũng có loại tàu tên lửa không sử dụng Gapun-B, đó là tàu hộ vệ 500 tấn – dự án BPS-500, loại tàu tên lửa đầu tiên được đóng trong nước tại Việt Nam. BPS-500 cũng không có đài radar Gapun-B, thay vào đó có thể sử dụng chung tổ hợp trinh sát chỉ thị mục tiêu đường không – đường biển MR352 Foxitit, thứ vẫn còn giữ lại trên tàu Kipan được chuyển giao cho Việt Nam, đài Foritit được thiết kế với vai trò trinh sát, phát hiện, theo dõi mục tiêu đường không và đường biển.
Ngoài vai trò chính này, chúng có khả năng nhận diện địch ta, xác định tọa độ mục tiêu, thông số chuyển động, ưu tiên mục tiêu có khả năng đe dọa cao nhất, phân phối mục tiêu tự động, nhắm mục tiêu, cấp nguồn dữ liệu cho hệ thống vũ khí. Phạm vi bao quát mục tiêu lên tới 150km, độ cao nhỏ hơn hoặc bằng 30km, góc phượng vĩ 360 độ. Nói một cách đơn giản Đài MR352 Foritit trên tổng hộ tống Kipan có thể thay thế cho đài Garpun-B làm nhiệm vụ chỉ thị mục tiêu cho tên lửa hành trình. Dĩ nhiên là một đài kiêm nhiệm, chức năng của nó không so được với đài chuyên dụng như Gapun-B. Hiện không rõ ý tứ của Ấn Độ là gì sau hành động gỡ bớt đài radar nhưng giữ nguyên vũ khí, thường thì người ta làm ngược lại: sẽ tháo bớt vũ khí hoặc tháo cả hai.
Ở đây có mấy khả năng:
Một là động thái thể hiện rõ chính sách của Ấn Độ trong việc cung cấp tàu chiến cho Việt Nam vì mục đích an ninh quốc phòng nói chung, không vì mục tiêu chống lại bất cứ ai. Bộ Quốc phòng Ấn Độ cho biết việc chuyển giao tàu hộ tống tên lửa INS Kipan phản ánh cam kết của Ấn Độ trong việc hỗ trợ các đối tác cùng chí hướng nâng cao năng lực và tiềm lực quốc phòng trên cơ sở sáng kiến an ninh và tăng trưởng cho tất cả trong khu vực. Phía Ấn Độ cũng nhấn mạnh Lực Lượng Hải quân Ấn Độ và Việt Nam đã hợp tác sâu rộng thông qua các hoạt động tương tác thường xuyên, đối thoại định kỳ và các cơ chế chia sẻ thông tin. Sự hợp tác giữa hải quân hai nước bao gồm một loạt các sáng kiến nhằm xây dựng và nâng cao năng lực, bao gồm cung cấp phụ tùng thay thế, sửa chữa tàu, cử người hướng dẫn và các chuyến thăm thường xuyên của các tàu và phái đoàn hải quân.
Lý do thứ hai có thể đã có sự thỏa thuận ngầm giữa hai bên về việc bỏ rút đài Gapun-B, về chúng ta lắp đài radar quan sát khác cũng được. Hoặc cao hơn nữa: gỡ luôn bệ phóng KT 167 để trang bị thử nghiệm tổ hợp tên lửa hành trình chống hạm như kiểu VC-M01 với đài điều khiển riêng của ta. Để biết chính xác điều đó, có lẽ phải chờ thêm một thời gian nữa, ít nhất là sau khi tàu Kipan chính thức biên chế cho Hải quân Việt Nam với số hiệu thuần Việt.
Nhắc lại, con tàu có lượng giãn nước 1.350 tấn, dài 91,1m, rộng 10,5m, mướn nước 4,5m, trang bị hai máy Diesel do Ấn Độ sản xuất theo công nghệ của Pháp, tốc độ 25 hải lý/h, dự trữ hành trình 7.400 km. Thủy thủ đoàn nguyên bản ở Ấn Độ là 110 người nhưng theo nguồn tin mới nhất khi sang Việt Nam (không hiểu là có nâng cấp gì không) mà thủy thủ đoàn rút gọn còn 79 người. Ngoài việc tháo bớt trang bị điện tử, tàu vẫn giữ nguyên vũ khí bao gồm 4 tên lửa hành trình, hai bệ phóng tên lửa phòng không vác vai, một pháo hạm AK-176 và hai pháo phòng không AK 630. Trang bị này là quá tốt trong số các tàu chiến được quốc tế chuyển giao cho Hải quân Việt Nam trong những năm qua.
Một công ty sản xuất máy bay không người lái (UAV) của Trung Quốc cho biết đang phát triển loại UAV tự sát tầm xa mới với nhiều tính năng vượt trội.
Theo thông tin từ Global Times, công ty Aerospace CH UAV hiện đang phát triển UAV tự sát dựa trên công nghệ từ tên lửa đất đối không AR.
Những máy bay không người lái như vậy sẽ được thiết kế cho các cuộc tấn công tầm xa với một số chức năng mới. UAV sẽ có bốn biến thể với trọng lượng khác nhau: 20 kg, 45 kg, 80 kg và 100 kg. Theo các nhà phân tích quân sự, UAV mới của Trung Quốc sẽ được trang bị động cơ phản lực và có nhiều nét tương đồng với Shahed-136 của Iran. Phương tiện được thiết kế để thực hiện nhiều loại nhiệm vụ bao gồm chuyển tiếp thông tin liên lạc trên chiến trường, làm nhiễu và triệt tiêu radar, tấn công chính xác vào các mục tiêu nhạy cảm cũng như đánh giá thiệt hại trong trận chiến.
Được đặc trưng bởi độ bền lâu, tầm bắn mở rộng, sát thương cao, độ tin cậy cao và chi phí thấp, UAV này có thể thực hiện các nhiệm vụ độc lập hoặc phối hợp với các vũ khí và hệ thống khác trong một hệ thống tích hợp.
Đây không phải lần đầu Trung Quốc thông báo chế tạo máy bay không người lái chạy bằng động cơ phản lực. Trước đó, vào tháng 10/2022, có thông tin cho biết Bắc Kinh đang phát triển UAV mồi nhử LJ-1, mang đầu đạn 40 kg và được phóng từ máy bay ném bom hạng nặng H-6.
Máy bay không người lái ngày càng được đánh giá cao và chúng đã chứng tỏ được hiệu quả của mình trong chiến trường hiện đại, đặc biệt là trong cuộc xung đột Nga-Ukraine. Do đó, việc phát triển các UAV mới là một điều tất yếu mà các quốc gia hướng đến, trong đó có Trung Quốc.
Việc công bố phát triển một loại UAV tầm xa mới không chỉ đánh dấu bước phát triển của Trung Quốc trong lĩnh vực công nghiệp quốc phòng, mà còn nâng cao hơn nữa khả năng phòng thủ của quốc gia trước các mối đe dọa tiềm tàng.
Gần đây, Nga bắt đầu ném loại bom lượn UPAB-1500B dẫn đường bằng vệ tinh ở thành phố Avdiivka gây xôn xao dư luận. Liệu có phải là lần đầu tiên loại bom nặng 1,5 tấn có sức công phá khủng này được Nga sử dụng?
Bom lượn UPAB-1500B dẫn đường bằng vệ tinh của Nga đã được ném xuống thành phố Avdiivka của Ukraine.
Bài viết của bình luận viên quân sự trên trang tin Trung Quốc Guancha (Nhà quan sát) ngày 6/3 cho rằng, thực ra đây không phải lần đầu tiên loại bom này được Nga sử dụng, mà chỉ là số lượng sử dụng trước đây quá ít, sau đó số lượng số lần sử dụng gần đây đã tăng lên tương đối nhiều, số lượng mảnh vỡ để lại để phân tích cũng tăng lên, cuối cùng người ta xác định rằng nó đã được quân Nga sử dụng rộng rãi.
Trên thực tế, bom UPAB-1500B đã được đưa vào biên chế chiến đấu của Nga gần như cùng lúc với chiến đấu cơ Su-35 cách đây vài năm. Loại bom này về cơ bản chính là bom KAB-1500, được loại bỏ đầu dẫn đường laser hoặc hồng ngoại và thay thế bằng thiết bị thu tín hiệu của hệ thống dẫn đường vệ tinh Glonass, sau đó cải tạo phần cánh bom thành bộ cánh có thể gập lại.
Theo dữ liệu chính thức của hãng tin Sputnik vào thời điểm đó, bom UPAB-1500B được thả từ độ cao 15.000 mét, tầm bắn tối đa có thể đạt tới 50 km.
Không có nhiều điều để nói về loại bom này. Nó là thứ mà các nước lớn hiện nay đều có. Giá thành của bom lượn dẫn đường bằng vệ tinh thuộc loại rẻ nhất. Hiện nay, hệ thống dẫn đường vũ khí bằng vệ tinh là rẻ nhất. Chỉ cần có bộ thu tín hiệu vệ tinh là chế tạo được. Trong khi đó, bom dẫn đường bằng laser phải có các linh kiện quang học. Trong hệ thống công nghiệp hiện đại, giá thành của các linh kiện quang học bị xem là một thứ “nút cổ chai” và rất khó để tiếp tục giảm. Nếu muốn tăng độ phức tạp thì thêm đầu dẫn hồng ngoại ảnh nhiệt sẽ càng đắt hơn.
Nhưng so với dẫn đường bằng laser và hồng ngoại, dẫn đường vệ tinh là rẻ nhất, đương nhiên cũng có nhược điểm là khó đánh trúng mục tiêu di động.
Sau khi cất cánh, máy bay sử dụng hệ thống điều khiển hỏa lực để xác định tọa độ mục tiêu, nhập vào bom dẫn đường, sau đó sử dụng tín hiệu vệ tinh để xác định vị trí và phóng bom theo nguyên lý “phóng và quên” để quả bom bay lượn tới tọa độ đã xác định là xong.
Vì vậy, ở góc độ sử dụng, bom dẫn đường bằng vệ tinh cũng là đơn giản nhất, máy bay không cần ngắm mục tiêu, chỉ cần giữ máy bay ở trong tầm bắn là bom có thể tự điều chỉnh bay đến mục tiêu. Đối với bom lượn, phạm vi này rất lớn, gần như góc 60 độ hình quạt ở phía trước là ổn.
Tất nhiên, nếu mục tiêu cách xa máy bay, hệ thống quang điện và radar của máy bay không thể nhìn thấy mục tiêu, cũng có thể sử dụng người quan sát ở tiền duyên đo tọa độ GPS chính xác của mục tiêu; điều này không yêu cầu rắc rối như việc chiếu xạ laser.
Thậm chí có thể dùng bom tấn công trực tiếp các mục tiêu mà vệ tinh nhìn thấy – tất nhiên, điều này cần có sự phối hợp của các biện pháp khác, chẳng hạn như bản đồ kỹ thuật số chính xác của khu vực mục tiêu, nếu không thì ảnh vệ tinh không thể cung cấp độ cao chính xác của mục tiêu.
Đương nhiên loại bom này có thể bị đánh chặn, bởi vì nó không có động cơ, tốc độ bay tương đối thấp, pháo phòng không hiện đại thậm chí tên lửa đất đối không vác vai đều có thể đánh chặn nó.
Nhưng dù sao thì loại bom này rẻ tiền, đối với việc đánh chặn, nếu không có radar tiên tiến hoặc phương tiện quan sát hồng ngoại đối không, vấn đề lớn nhất trong đánh chặn là khả năng cảnh báo sớm không tốt, không biết bom sẽ bay từ đâu tới.
Trên thực tế, loại bom cũ KAB-1500 của Nga, cũng đã được Trung Quốc mua, khi tháo rời ra, thấy về cơ bản nó không sử dụng chip bán dẫn, chỉ sử dụng các mạch tích hợp (IC) được sản xuất tại Nga, kém xa các chip hiện đại.
Tuy nhiên, vì bom UPAB-1500B cần được dẫn đường bằng vệ tinh, nó không thể tiếp tục sử dụng các mạch IC kiểu cũ, cần phải có một số con chip tương đối tiên tiến, hiện đã có ảnh chụp mảnh xác loại bom này, tới đây các chuyên gia sẽ sớm phân tích nó. Người Mỹ chắc chắn sẽ phải phân tích nó để tìm hiểu xem những con chip tạo ra thứ này được mua từ nước lớn nào.
Ngoài khả năng tấn công từ bên ngoài khu vực phòng thủ, loại bom như UPAB-1500B có điều kiện ném khá rộng rãi, trên thực tế, điều quan trọng nhất là cho phép máy bay mang nó thực hiện các cuộc tấn công chính xác từ vùng trời an toàn hơn 5.000 mét, độ cao loại tên lửa NASAMS mà Ukraine sở hữu không bắn tới được, cho dù loại 9K37 Buk bắn được cao hơn, cũng cần có nhiều thời gian hơn để phản ứng và đối phó, hơn nữa với phạm vi phóng tới 50 km, về cơ bản có thể cho phép máy bay Nga thả bom trong tình thế an toàn.
Hiện tại, nguyên nhân chính khiến quân đội Nga chủ yếu sử dụng bom UPAB-1500B thay vì loại UPAB-500 nhẹ hơn trên chiến trường có lẽ là do… số lượng chip tương đối hạn chế, nên họ cần thiết phải sử dụng loại bom lớn nhất có thể để phát huy tối đa tác dụng?
Một điểm nữa, mặc dù UPAB-1500B có vẻ nặng 1.500 kg nhưng thực tế đầu nổ của nó nặng 1.000 kg, uy lực cũng đủ mạnh.
Trung Quốc cũng đã đưa vào trang bị một số lượng lớn bom dòng KAB-1500 mua cùng với máy bay Su-30 và Su-35, còn UPAB-1500B có hay không thì không rõ, nhưng được biết cũng có loại tương tự được sản xuất trong nước.
Trước đây, chúng ta từng phải suy đoán có khả năng Viettel đang phát triển UAV cảm tử, nhưng hiện tại đã có xác nhận rõ ràng về việc này, trong bài viết về hành trình phát triển UAV ở Việt Nam đăng trên tạp chí Viettel đã xác nhận về việc Viettel đang phát triển các loài UAV cảm tử cất hạ cánh thẳng đứng đa nhiệm. Hồi triển lãm Việt Nam Defence cuối năm ngoái chúng tôi cũng mong Viettel mang loại UAV cỡ lớn mang vũ khí cũng như UAV cảm tử và tên lửa VCM01.
Mẫu UAV trong triển lãm Quốc phòng quốc tế 2022.
Tuy nhiên, xem ra mặt hàng đặc biệt này chưa được phép công khai chính thức trước bàn dân thiên hạ vào lúc này, chúng vẫn chỉ được phép tồn tại một cách bán chính thức qua sách báo quân đội có đăng ảnh nhưng chẳng bao giờ nhắc tới. Tuy nhiên, dù nó là gì đi nữa cơ bản sản phẩm đó vẫn sẽ tuân theo một khái niệm cơ bản nguyên lý hoạt động chung của UAV cảm tử. UAV cảm tử hay còn gọi là UAV Kamikaze hay đạn thuần kích được xếp vào nhóm vũ khí hàng không. Dù gọi là gì, chúng đều dùng để chỉ một loại vũ khí có thể bay xung quanh mục tiêu chờ đợi và tấn công khi xác định được mục tiêu. Đạn tuần kích cung cấp khả năng phản ứng nhanh hơn trước các mục tiêu được che giấu hoặc ẩn nấp trong thời gian ngắn mà không cần đọc các nền tảng có giá trị cao như pháo binh xe tăng gần khu vực mục tiêu đồng thời cho phép nhóm mục tiêu một cách có chọn lọc hơn vì cuộc tấn công có thể hủy bỏ. Có thể nói, đạn tuần kích phù hợp với vị trí nằm giữa phân khúc tên lửa hành trình và máy bay chiến đấu không người lái UCAV khi nó chia sẻ đặc điểm của cả hai, chúng khác với tên lửa hành trình ở chỗ được thiết kế để lảng vảng trong một thời gian tương đối dài xung quanh vùng mục tiêu.
Cần biết rằng; tên lửa hành trình chẳng hạn như Tomahawk và Kalibr có tầm bay siêu xa, có một số tính năng điều khiển từ xa nhưng nhiệm vụ của chúng là tấn công chứ không phải là thu thập mục tiêu, tên lửa hành trình như tên gọi của chúng được tối ưu hóa cho chuyến bay tầm xa tốc độ trung bình không đổi. Chúng không thể lảng vảng ở tốc độ tiết kiệm nhiên liệu, còn nếu so với UCAV mặc dù UCAV cũng là một chiếc UAV nhưng mục đích chính của nó là dành cho hoạt động bay có thể thu hồi và tái sử dụng. Mặc dù nhiều UAV được thiết kế rõ ràng cho nhiệm vụ tuần tra chính xác nhưng chúng không được tối ưu cho nhiệm vụ tiến công thiếu camera nhìn phía trước và nhất là không phù hợp với đơn giá của việc sử dụng một lần.
Phải rõ ràng là UAV cảm tử sẽ cần có một cái giá rẻ hơn nhiều để chỉ cần sử dụng một lần một lần đánh đổi và thu lời, nếu như dùng các UAV trinh sát thông thường có giá từ vài trăm nghìn tới cả triệu đô la thật sự không khác nào ném tiền qua cửa sổ. Thật vậy, ví dụ điển hình là việc Nga sử dụng đạn tuần kích Shahed-136 của Iran tiến hành các chiến dịch tập kích thủ đô Kyiv của Ukraina thời gian qua trong sự bất lực của các hệ thống phòng không tiên tiến mà Nato chuyển giao. Uớc tính chi phí một quả đạn tên lửa Iris T mà Đức cung cấp có giá hơn 400.000 đô, trong khi một chiếc Shahed-136 có giá đâu đó khoảng 10 đến 20 ngàn đô. Hiện nay, các kênh của Ukraina tin rằng Nga chủ yếu dùng đạn tuần kích để không kích IS và các thành phố lớn chứ không phải là dùng số lượng lớn tên lửa hành trình vốn rất đắt tiền hay nói cách khác Nga đã thay đổi chiến thuật sử dụng sử dụng đạn tuần kích tiêu hao hệ thống phòng không của Ukraina trước khi phóng tên lửa hành trình tấn công các mục tiêu có giá trị cao, điều này đảm bảo hiệu quả của một cuộc tấn công tiết kiệm tên lửa hành trình đắt tiền trong khi làm tiêu hao rút cạn ví tiền đồng minh Nato của Ukraina.
Trường hợp của Việt Nam giải pháp mua đạn tuần kích không thiếu, nếu muốn Việt Nam có thể mua được ngay, chi phí không phải là lên tới hàng triệu đô một chiếc. Đạn tuần kích hiện có giá không đắt nếu so với tên lửa hành trình và cũng không thiếu quốc gia sẵn sàng bán cho Việt Nam, ví dụ nổi bật là bạn hàng Israel họ là một trong những bên đi đầu về công nghệ đạn tuần kích hiện nay với hàng loạt mẫu mã mà tại triển lãm Việt Nam Defence cuối năm ngoái họ giới thiệu đạn tuần kích Spyke Firefly nặng 3 cân có thể bay với tốc độ 60 km/h thời gian hoạt động 30 phút phù hợp để tác chiến đô thị, tấn công xe bọc thép, bộ binh trú ẩn trong công sự nhà cao tầng bằng đầu đạn nhỏ, hai mẫu đạn nổi tiếng nhất của họ là Harros dài 2,5m, tầm bay lên tới 1.000km, thời gian bay 9 tiếng, mang đầu đạn nặng 23 kg đã từng được ứng dụng thành công tại chiến trường Trung Á và Trung Đông.
Giải pháp từ Nga hiện nay đang sử dụng tương đối thành công đạn tuần kích laser đã có hình ảnh kèm video ghi lại việc laser được sử dụng để tiêu diệt các bệ phóng S-300, Bug-11, xe tăng T-64 địu pháo M777, pháo tự hành M109 … cũng như tàu hải quân Ukraie. Tuy nhiên, mua thì vẫn phải tốn chi phí đó là điều đương nhiên và dĩ nhiên, rẻ nhưng không có nghĩa có cái giá chỉ vài ngàn đô trở lại con số có thể lên tới cả trăm ngàn đô một bộ khí tài. Điều quan trọng trong tình huống chiến sự có sự can thiệp từ quốc tế việc Việt Nam thiếu hụt nguồn cung là điều phải được tính tới. Do đó, nền công nghiệp quốc phòng có khả năng tự chủ thì cần phải khuyến khích tốt nhất là nên như vậy đối với mặt hàng dân sự thì không nói, nhưng với quân sự, tự chủ vẫn là điều mà nhiều quốc gia hướng tới vì nó đem lại sự an tâm lớn trong tình huống bị bao vây cấm vận.
Đạn tuần kích hay UAV Cảm Tử chỉ là một trong những tham vọng to lớn của Viettel, cũng theo tạp chí nội bộ của Tổng công ty mục tiêu tới năm 2025 Viettel sẽ nghiên cứu các dòng UAV cỡ lớn mang vũ khí và tiến dần tới phát triển các dòng UAV thế hệ 4 sở hữu các công nghệ hiện đại nhất thế giới.
Đây là điều mà rất nhiều người trong chúng ta mong mỏi vào lúc này, chắc chắn là như vậy, ai mà chẳng mong ta sản xuất được các mẫu UAV tương đương các loại UAV tấn công nổi tiếng như Bayraktar TB2 của Thổ Nhĩ Kỳ, MQ-1 của Mỹ hay là cầu vồng CH4 của Trung Quốc. Thực ra, hồi năm ngoái Viettel đã và đang thực hiện ít nhất một dự án UAV cỡ lớn có khả năng triển khai vũ khí, mẫu UAV hai thân một động cơ cánh quạt đặt ở đuôi đã từng có video bay thử doanh nghiệp cũng như mang theo đạn tên lửa nhưng cho tới nay nó vẫn là bí ẩn về tên gọi cũng như tính năng, nhưng ở đây tôi đã thấy hứng thú với UAV thế hệ 4 mà Viettel hướng tới cũng như máy bay chiến đấu, xe tăng, tên lửa UAV cũng được phân ra làm nhiều thế hệ tới này có hơn 4 thế hệ đã ra đời.
Có thể tóm gọn như thế này thế hệ 1 là các loài UAV trong chiến tranh thế giới thứ hai và trong giai đoạn chiến tranh lạnh điều khiển từ xa bằng sóng vô tuyến. Thế hệ 2 từ năm 1986 trở đi là các loài UAV điều khiển tự động theo hệ thống định vị toàn cầu GPS. Thế hệ 3 từ năm 2010 trở lại đây là những loại UAV có thể hoạt động mà không có GPS và bị tác chiến điện tử mạnh cùng với đó là nhỏ hóa các vật tư linh kiện thiết bị đa nhiệm hơn.
Thế hệ 4 là thế UAV bầy đàn được trang bị các công nghệ trí tuệ nhân tạo mới xuất hiện từ năm 2015 trở lại đây số ít các nước đang phát triển nghiên cứu dòng sản phẩm này, trên thế hệ 4 là loại UAV tự vận hành tự trị hoàn toàn như dòng X47b của Mỹ. Tuy nhiên hiện tại phần lớn UAV trên thế giới trên mặt công nghệ đang ở thế hệ 2 hoặc 3, về xu hướng UAV bầy đàn đây là hướng phát triển có nhiều triển vọng tương lai hiện nay hướng này vẫn còn đang nghiên cứu thêm nhưng tự trung lại chúng sẽ phù hợp với các đòn tấn công bất ngờ và các vị trí mà đối phương không kịp phòng bị, chiến thuật này sẽ càng hiệu quả hơn nữa với công nghệ trí thông minh nhân tạo AL trong khi các đơn vị UAV trong bầy đàn sẽ tự biết phân công nhiệm vụ và chọn được mục tiêu có giá trị chiến thuật cao nhất.
Dĩ nhiên càng thông minh thì sẽ càng phức tạp đòi hỏi các nghiên cứu chuyên sâu về phần mềm điều khiển, đó sẽ là bài toán học búa nhưng đáng để thử thách với các kỹ sư trẻ đầy tài năng và nhiệt huyết của Viettel hãy chờ xem Viettel sẽ hoàn thành mục tiêu của mình như thế nào.
Ngày 9.9, Quốc hội CHDCND Triều Tiên thông qua luật cho phép tấn công phủ đầu bằng vũ khí hạt nhân, đồng thời tuyên bố nước này là “quốc gia hạt nhân”, theo Đài KCNA.
Tuyên bố trên diễn ra trong bối cảnh quan hệ liên Triều đang ảm đạm, với Bình Nhưỡng đổ lỗi cho Seoul vì gây bùng dịch Covid-19 ở miền Bắc và Triều Tiên thực hiện một loạt các vụ thử tên lửa từ đầu năm đến nay.
Luật mới cho phép Triều Tiên mặc nhiên có thể triển khai một vụ tấn công phủ đầu bằng vũ khí hạt nhân trước mối đe dọa tức thời từ nước ngoài.
Chủ Tịch Kim Jong-un của Triều Tiên khẳng định luật mới đã thiết lập vị thế của Triều Tiên là một quốc gia sở hữu vũ khí hạt nhân và điều này không thể đảo ngược.
Trước đó, vào tháng 7, nhà lãnh đạo tuyên bố sẵn sàng triển khai năng lực hạt nhân trong bất kỳ cuộc chiến nào với Mỹ và Hàn Quốc.
Ông một lần nữa nhấn mạnh Bình Nhưỡng sẽ không bao giờ từ bỏ vũ khí hạt nhân cần thiết để đối phó sự thù địch từ Washington.
“Hoàn toàn không có chuyện từ bỏ vũ khí hạt nhân, không có chuyện phi hạt nhân hóa và không có đàm phán về vấn đề này”, Chủ tịch Kim Jong-un phát biểu trước Quốc hội hôm 8.9.
Đầu tháng 8, Hãng Reuters trích đoạn báo cáo mật của Liên Hiệp Quốc cho rằng Triều Tiên trong 6 tháng đầu của năm 2022 đã chuẩn bị cho các vụ thử hạt nhân kế tiếp.
“Các hoạt động tại bãi thử hạt nhân Punggye-ri mở đường cho các vụ thử hạt nhân nhằm mục đích phát triển dòng vũ khí hủy diệt”, các giám sát viên độc lập trình bày trong báo cáo cho Ủy ban Cấm vận Triều Tiên thuộc Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc.
“Triều Tiên cũng tiếp tục phát triển năng lực sản xuất vật liệu phân hạch tại cơ sở hạt nhân Yongbyon”, báo cáo ghi nhận. Yongbyon là cơ sở hạt nhân chính của Triều Tiên, vận hành các lò phản ứng hạt nhân đầu tiên của nước này.
Từ lâu, Mỹ cảnh báo Triều Tiên đang sẵn sàng triển khai vụ thử hạt nhân thứ 7 và Washington sẽ vận động tăng cường các biện pháp cấm vận của Liên Hiệp Quốc nếu điều đó diễn ra.
Mặc dù giới truyền thông đã phóng đại rằng ĐCSTQ đang phát triển vũ khí chống hạm, nhắm vào hàng không mẫu hạm Hoa Kỳ. Nhưng các chỉ huy hàng không mẫu hạm của Mỹ tự tin rằng hàng không mẫu hạm của Mỹ không chỉ khó tìm mà còn được bảo vệ tốt và ít bị tấn công hơn.
Quân đội Hoa Kỳ hiện đang có 11 hàng không mẫu hạm, bao gồm 10 hàng không mẫu hạm chạy bằng năng lượng hạt nhân lớp Nimitz và một hàng không mẫu hạm chạy bằng năng lượng hạt nhân lớp Ford.
Quân đội Trung Quốc cũng đang phát triển vũ khí chống hạm để nhắm vào các hàng không mẫu hạm của Mỹ, làm dấy lên lo ngại. Chỉ huy trưởng Paul Campagna, chỉ huy tàu USS Dwight David Eisenhower, cho biết tại một cuộc hội thảo hàng không và đường biển ở National Harbour, Maryland vào ngày 5/4, “Tôi nghĩ rằng hàng không mẫu hạm đã chứng tỏ mình rất bền bỉ. Đối với bất kỳ ai lo ngại rằng có những mối đe dọa hiện hữu ngoài kia, tôi chỉ nói rằng hàng không mẫu hạm không có trong danh sách”.
“Nó (hàng không mẫu hạm) được khai triển với các liên đội không quân, nó được khai triển với các nhóm tấn công. Nó được khai triển với các lớp phòng thủ từ đại dương đến không gian, và bất cứ ai nghĩ rằng chúng tôi dễ bị tấn công là rất sai lầm”, ông Campagna nói thêm.
Trung Quốc nghiên cứu và phát triển vũ khí chống hạm gây mất ổn định khu vực ở Biển Đông và Biển Hoa Đông
Tên lửa chống hạm của Trung Quốc là mối quan tâm lớn, đặc biệt là tên lửa đạn đạo Dongfeng-21D (DF-21D) và Dongfeng-26B (DF-26B), được thiết kế cho các mục tiêu hải quân và đôi khi được gọi là “sát thủ hàng không mẫu hạm”. Một số người coi tên lửa là mối đe dọa đối với các tàu và căn cứ của Hoa Kỳ.
Vào tháng 8 năm 2020, ĐCSTQ gây lo ngại khi phóng tên lửa chống hạm Dongfeng-26B và Dongfeng-21D vào Biển Đông. Trong một cuộc phỏng vấn vào tháng 12 năm đó, ông Adm. Philip Davidson, khi đó là Tư lệnh Bộ Chỉ huy Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương của Hoa Kỳ, xác nhận rằng các tên lửa đã được bắn vào “các mục tiêu di động” và cho biết các quan chức Hoa Kỳ “đã biết trong nhiều năm” rằng Trung Quốc đang tìm kiếm khả năng tấn công này.
Trung tướng Jeffrey Trussler, Giám đốc Tình báo Hải quân, cho biết vào tháng 2 năm 2021 rằng Trung Quốc đang “đầu tư mạnh mẽ để có khả năng tên lửa chống hạm ngoài khơi Biển Đông”, ông nói thêm: “Đây là một nỗ lực nhằm gây mất ổn định ở Biển Đông, Biển Hoa Đông – tất cả những khu vực đó”.
Các phương tiện truyền thông, cơ quan ngôn luận của ĐCSTQ thường gọi tên lửa Dongfeng là “sát thủ hàng không mẫu hạm”. Nhưng các cựu chuyên gia quân sự của Ngũ Giác Đài cho rằng, tên lửa Dongfeng thực tế khó xuyên thủng hệ thống phòng thủ nhiều lớp hiện đại của hàng không mẫu hạm Mỹ.
Một ngày sau vụ thử tên lửa của ĐCSTQ, tàu khu trục mang tên lửa dẫn đường USS Mustin đã đi vào vùng biển Tây Sa của Biển Đông để thực hiện “sứ mệnh tự do hàng hải”. Các nhà phân tích cho rằng điều này có nghĩa là vệ tinh, máy bay trinh sát và hệ thống chiến đấu Aegis của quân đội Hoa Kỳ từ lâu đã nắm được toàn bộ quy trình tên lửa của ĐCSTQ từ khi phóng đến khi rơi xuống và đã tiến hành khai triển tương ứng.
Dưới đây là ba lợi thế của hàng không mẫu hạm Mỹ giúp chúng ít bị vũ khí chống hạm của ĐCSTQ tấn công hơn
Hàng không mẫu hạm Mỹ có khả năng phục hồi vượt trội và có tính sát thương đối với kẻ thù
Các quan chức hiện tại và trước đây của Hải quân Hoa Kỳ thừa nhận rằng hàng không mẫu hạm không phải là bất khả xâm phạm, nhưng họ nhấn mạnh rằng hàng không mẫu hạm được bảo vệ tốt và có khả năng phục hồi, và nó có một số rủi ro khi hoạt động.
Ông Campagna nói rằng, nhờ việc chia khoang trong hàng không mẫu hạm, chúng tôi có khả năng sửa chữa các khoang trên toàn bộ con tàu, tương đương với việc có một trạm cứu hỏa bên trong tàu; “Cũng như chúng tôi niêm phong nó (hàng không mẫu hạm) bằng 1.000 feet thép để có khả năng hấp thụ bất kỳ loại chấn động nào, nó (hàng không mẫu hạm) có khả năng chịu đựng được”.
“Chúng tôi đã chuẩn bị sẵn sàng. Chúng tôi có thể gây chết người (đối với kẻ thù)”, ông nói.
Hải quân Hoa Kỳ đã tiến hành một cuộc “thử nghiệm xung kích” đối với hàng không mẫu hạm mới nhất, USS Gerald R. Ford, vào mùa hè năm 2021, cho nổ 40.000 pound chất nổ trong vùng nước xung quanh hàng không mẫu hạm.
USS Ford là hàng không mẫu hạm đầu tiên vượt qua cuộc thử nghiệm va đập kể từ năm 1987. Các cuộc thử nghiệm không mô phỏng một tác động trực tiếp, nhưng các quan chức Hải quân cho biết là hàng không mẫu hạm cuối cùng đã vượt qua các cuộc thử nghiệm đó, con tàu chỉ cần sửa chữa một phần nhỏ sau khi hứng chịu một vụ nổ bom.
Một nhà bình luận Trung Quốc cho biết vào tháng 8 năm đó rằng, các cuộc thử nghiệm đã chứng minh “khả năng siêu phục hồi” của hàng không mẫu hạm Ford đối với các loại vũ khí chống hạm thông thường.
Ông Campagna cho biết hàng không mẫu hạm của Mỹ “được chế tạo rất tốt, như quý vị đã thấy trong các cuộc thử nghiệm va đập của Ford”, “vì vậy tôi rất tin tưởng vào các hàng không mẫu hạm, rất tự tin đưa nó ra khơi trong bất kỳ môi trường nào”.
Hàng không mẫu hạm Hoa Kỳ có khả năng phòng thủ nhiều lớp
Các lớp phòng thủ mà ông Campagna đề cập bao gồm hệ thống chống tên lửa đạn đạo trên các tàu của nhóm tấn công hàng không mẫu hạm. Cơ quan Phòng thủ Tên lửa Hoa Kỳ cũng đang tìm kiếm khả năng phòng thủ hàng hải trước mối đe dọa từ tên lửa siêu thanh.
Bản thân hàng không mẫu hạm có các cảm biến và hệ thống phòng thủ, bao gồm tên lửa đất đối không, pháo dẫn đường bằng radar và các biện pháp “tiêu diệt mềm” như mồi nhử và gây nhiễu điện tử. Quân đội Hoa Kỳ cũng đang ngày càng chú ý đến tàu ngầm của Trung Quốc và Nga, và hải quân Hoa Kỳ và các đồng minh đã một lần nữa nhấn mạnh đến chiến tranh chống tàu ngầm.
Những rủi ro do tên lửa tầm xa gây ra đang khiến các nhà hoạch định chính sách của Mỹ phải xem xét lại các hoạt động ngăn chặn hàng không mẫu hạm và các tàu chiến khác ngoài tầm bắn của những tên lửa này cho đến khi máy bay ném bom, tàu ngầm và tên lửa tầm xa của Mỹ có thể bắn hạ tên lửa của đối phương. Hải quân Hoa Kỳ cũng đang tìm kiếm các loại máy bay và vũ khí tầm xa hơn để tiếp tục hoạt động trong tình huống này. Máy bay không người lái tiếp nhiên liệu MQ-25, sẽ mở rộng phạm vi hoạt động của máy bay trên tàu, gần đây đã được thử nghiệm lần đầu tiên trên một hàng không mẫu hạm.
Ông Kris Osborn, cựu chuyên gia cấp cao của Văn phòng trợ lý Bộ trưởng Lục quân về Tiếp thu, Công nghệ và Hậu cần của Ngũ Giác Đài, đã viết trên tờ The National Interest sau khi Trung Quốc phóng tên lửa Dongfeng vào Biển Đông rằng Hải quân Hoa Kỳ đang nhanh chóng xây dựng một thế hệ phòng thủ tàu công nghệ cao mới hơn. Các hệ thống này bao gồm vũ khí laser năng lượng cao được dẫn đường chính xác theo dõi quang học các mục tiêu ở xa và sau đó thiêu hủy chúng.
Ông viết: “Mạng lưới giữa các vũ khí phòng thủ phân lớp ngày càng chặt chẽ, dùng chung hệ thống chỉ huy và điều khiển để nhanh chóng chia sẻ thông tin mục tiêu, phối hợp tấn công và phân loại mục tiêu theo thời gian thực”. Hệ thống mới cũng cho phép phát hiện sớm hơn các mối đe dọa, cho phép chỉ huy phản ứng ngay lập tức.
Tốc độ và khả năng cơ động của hàng không mẫu hạm Mỹ khiến kẻ thù khó theo dõi
Mặt khác, quân đội Trung Quốc nếu muốn tấn công hàng không mẫu hạm Mỹ thì trước hết phải có khả năng tìm và theo dõi hàng không mẫu hạm Mỹ, nhưng rất khó làm được điều này.
Hàng không mẫu hạm có thể di chuyển trong khi tên lửa đang bay, nghĩa là tên lửa cần có khả năng xác định vị trí hàng không mẫu hạm hoặc nhận các tín hiệu dẫn đường cập nhật. Tên lửa di chuyển với tốc độ hàng nghìn dặm/giờ cũng tạo ra ma sát, ảnh hưởng đến độ chính xác của việc dẫn đường cho tên lửa và dễ bị radar phát hiện hơn.
Ông Andrew Erickson, giáo sư tại Học viện Hàng hải Trung Quốc thuộc Trường Đại học Hải quân Hoa Kỳ, cho biết trong một cuộc phỏng vấn vào tháng 11 năm 2020 rằng hệ thống dẫn đường tên lửa đã có từ nhiều thập niên và Trung Quốc có thể khắc phục những thiếu sót của hệ thống dẫn đường bằng cách phóng thêm tên lửa vào các khu vực cụ thể. Nhưng các hàng không mẫu hạm của Mỹ sẽ không đợi những tên lửa đó đến.
Ông nói: “(Hàng không mẫu hạm) di chuyển với tốc độ 30 hải lý/giờ và có thể điều hướng trong nhiều không gian đại dương, khiến việc theo dõi nó trở nên rất khó khăn”.
Chỉ huy trưởng Paul Lanzilotta, chỉ huy tàu USS Ford, cho biết tốc độ và khả năng cơ động của hàng không mẫu hạm có nghĩa là “tìm ra hàng không mẫu hạm thực sự đang ở đâu không phải là một chuyện nhỏ”.
“Chúng tôi nhanh chóng và cơ động, và chúng tôi sẽ sử dụng tất cả những khả năng đó để làm lợi thế của mình”, ông Lanzilotta nói. “Nếu bạn không hiểu đại dương rộng lớn như thế nào trong thực tế (tác chiến), thì bạn không hiểu vấn đề nằm ở đâu”.
Cuộc xâm lược Ukraine của Nga được cho là sẽ tạo ra những tác động sâu rộng đối với Đông Nam Á. Trong lĩnh vực an ninh, một trong những tác động chính sẽ là khả năng doanh số bán vũ khí của Nga cho khu vực sẽ giảm do các lệnh trừng phạt sâu rộng của phương Tây. Việt Nam, với tư cách là nhà nhập khẩu vũ khí lớn thứ năm của Nga trên toàn cầu và là nhà nhập khẩu lớn nhất ở Đông Nam Á, sẽ bị ảnh hưởng nặng nhất, khiến Việt Nam phải đẩy nhanh việc đa dạng hóa nguồn cung vũ khí ra khỏi Nga.
Sự phụ thuộc của Việt Nam vào vũ khí Nga bắt nguồn từ mối quan hệ truyền thống của Việt Nam với Liên Xô cũ. Trong Chiến tranh Việt Nam, mặc dù Hà Nội nhận được viện trợ vũ khí từ một số nước trong khối xã hội chủ nghĩa, nhưng Liên Xô và Trung Quốc vẫn là những nhà tài trợ chính. Tuy nhiên, xét về các vũ khí hạng nặng quan trọng, Moscow là nhà cung cấp quan trọng nhất của Hà Nội. Theo thống kê chính thức của Việt Nam, từ năm 1955 đến 1975, Liên Xô đã cung cấp cho Việt Nam 1.357 hệ thống phóng tên lửa, hơn 18.300 tên lửa các loại, 316 máy bay chiến đấu, 52 tàu chiến, 21 tàu vận tải, 687 xe tăng, 601 xe bọc thép, 1.332 xe kéo pháo, bên cạnh các loại vũ khí và thiết bị quân sự khác.
Sau khi chiến tranh kết thúc năm 1975, viện trợ của Liên Xô dành cho Việt Nam chủ yếu tập trung vào hỗ trợ kinh tế, nhưng các thiết bị quân sự còn sót lại từ thời chiến tranh đã tạo ra sự phụ thuộc cho Việt Nam, khuyến khích Hà Nội tìm kiếm vũ khí nhập khẩu từ Nga sau khi Liên Xô sụp đổ. Sự phụ thuộc của Việt Nam vào vũ khí Nga càng trở nên nặng nề hơn do Việt Nam không thể tìm được các nguồn nhập khẩu thay thế khả dĩ và đáng tin cậy. Vũ khí từ các nước phương Tây nhìn chung có giá đắt hơn vũ khí Nga. Ngay cả khi Việt Nam có đủ khả năng mua, Việt Nam cũng không thể mua được một số mặt hàng do các lệnh trừng phạt và kiểm soát xuất khẩu. Ví dụ, Hoa Kỳ đã không dỡ bỏ lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam mãi cho đến năm 2016. Trong khi đó, Việt Nam không quan tâm đến việc mua vũ khí của Trung Quốc do tình trạng thiếu tin cậy lẫn nhau giữa hai nước và tình hình tranh chấp Biển Đông kéo dài.
Kể từ khi Việt Nam bắt đầu chương trình hiện đại hóa quân đội vào cuối những năm 1990, hầu hết các loại vũ khí chính mà Việt Nam mua đều có nguồn gốc từ Nga, bao gồm 6 tàu ngầm lớp Kilo, 36 máy bay đa nhiệm Sukhoi Su-30MK2, 4 tàu hộ vệ lớp Gepard 3.9 và 2 hệ thống tên lửa phòng thủ bờ biển Bastion. Dữ liệu từ Viện Nghiên cứu Hòa bình Quốc tế Stockholm (SIPRI) cho thấy từ năm 1995 đến năm 2021, tổng kim ngạch nhập khẩu vũ khí của Việt Nam là khoảng 9,07 tỷ USD, trong đó Nga chiếm 7,4 tỷ USD (81,6%).
Việt Nam bắt đầu đối mặt với những khó khăn ngày càng tăng trong việc mua vũ khí từ Nga sau khi Nga sáp nhập Crimea vào năm 2014. Một trường hợp điển hình là việc Việt Nam mua các tàu hộ vệ lớp Gepard thứ ba và thứ tư từ Nga. Khi đó, Nga đang đóng các tàu này cho Việt Nam nhưng được cho là đã gặp khó khăn trong việc mua động cơ từ Ukraine. Do đó, Việt Nam phải tiến hành đàm phán song song với Nga để duy trì dự án, và với Ukraine để có thể mua được động cơ. Cuối cùng, sau một thời gian trì hoãn, hai con tàu này đã được đưa vào biên chế năm 2017, nhưng những thách thức kể trên đã khiến Việt Nam từ bỏ kế hoạch mua thêm hai tàu chiến tương tự từ Nga.
Những khó khăn gia tăng trong việc mua vũ khí từ Nga có thể cũng đã giải thích cho việc tại sao, cũng theo số liệu của SIPRI, Nga chiếm tới 90% lượng vũ khí nhập khẩu của Việt Nam trong giai đoạn 1995-2014 nhưng chỉ chiếm 68,4% trong giai đoạn 2015-2021. Trong giai đoạn sau, Việt Nam dường như đã cố gắng đa dạng hóa các nguồn cung cấp vũ khí của mình ra khỏi Nga. Một số nhà cung cấp vũ khí mới nổi cho Việt Nam trong giai đoạn 2015-2021 bao gồm Israel (13,7%), Belarus (5,7%), Hàn Quốc (3,3%), Hoa Kỳ (3%) và Hà Lan (2,4%).
Các biện pháp trừng phạt mới của phương Tây đối với Nga sau khi Nga xâm lược Ukraine sẽ khiến Việt Nam ngày càng khó tiếp tục nhập khẩu vũ khí từ Nga hơn. Thứ nhất, sẽ có những trở ngại về mặt kỹ thuật và tài chính vì Nga sẽ không tiếp cận được với một số bộ phận và linh kiện nhập khẩu cần thiết cho việc sản xuất vũ khí của mình, trong khi các ngân hàng lớn của Nga đã bị loại khỏi mạng lưới thanh toán toàn cầu SWIFT, khiến hai bên khó giải quyết các khoản thanh toán. Thứ hai, tiếp tục mua vũ khí từ Nga sẽ dẫn đến rủi ro về uy tín, khiến Việt Nam có thể phải chịu các lệnh trừng phạt tiềm tàng, chẳng hạn như Đạo luật Ứng phó với các đối thủ thông qua trừng phạt (CAATSA) năm 2017 của Washington. Do đó, trong tương lai, Việt Nam nhiều khả năng sẽ đẩy mạnh nỗ lực giảm phụ thuộc vào vũ khí Nga.
Mặc dù vậy, sẽ không dễ để Việt Nam có thể mua được vũ khí và thiết bị quân sự mới từ các nước khác. Quá trình hiện đại hóa quân đội của Việt Nam đã bị chậm lại kể từ năm 2016, và ngân sách dành cho mua sắm các mặt hàng quân sự mới có vẻ eo hẹp, khiến vũ khí từ các nước phương Tây trở nên ít hấp dẫn hơn đối với Việt Nam về mặt giá cả. Khả năng tương thích giữa các nền tảng vũ khí của Liên Xô/Nga và các nền tảng mới hơn không phải của Nga cũng sẽ là một thách thức. Quan trọng hơn, vì nhiều quan chức cấp cao trong quân đội Việt Nam đã được đào tạo ở Liên Xô hay Nga, và đã quen làm ăn với các đối tác Nga, nên họ có thể gặp khó khăn khi giao dịch với các nhà cung cấp mới có văn hóa kinh doanh khác biệt, bao gồm cả các thông lệ kinh doanh minh bạch hơn, điều mà các quan chức Việt Nam có thể cảm thấy không thoải mái.
Tuy nhiên, nếu chỉ dựa vào một nguồn vũ khí duy nhất sẽ khiến Việt Nam gặp nhiều rủi ro nghiêm trọng. Ngoài các vấn đề nêu trên, quan hệ ngày càng chặt chẽ của Moscow với Bắc Kinh là một nguồn rủi ro khác mà Hà Nội cần lưu tâm, nếu xét tình hình tranh chấp Biển Đông ngày càng phức tạp. Việc đưa ra các kế hoạch nhằm giảm phụ thuộc vào vũ khí Nga vì vậy sẽ ngày càng trở nên quan trọng hơn đối với Việt Nam. Vấn đề tương thích có nghĩa là điều này cần phải được thực hiện theo từng giai đoạn, đồng bộ việc loại biên các nền tảng cũ của Nga với việc mua sắm các nền tảng mới từ các nhà cung cấp khác. Trong quá trình này, ngoài việc nâng cao năng lực sản xuất vũ khí trong nước, việc tăng cường hơn nữa quan hệ chiến lược với các nhà cung cấp thay thế tiềm năng cũng sẽ giúp Hà Nội quản lý tốt hơn các nỗ lực đa dạng hóa nguồn nhập vũ khí của mình.
Trang bị vũ khí mạnh mẽ, thiết bị điện tử hiện đại và khả năng đi biển được cải thiện: Nga tiết lộ những chi tiết về quá trình hiện đại hóa tàu chống ngầm cỡ lớn Đô đốc Chabanenko.
Sau khi được nâng cấp, chiến hạm có tuổi đời cao thuộc biên chế Hạm đội Phương Bắc sẽ trở thành một “chiến sĩ vạn năng” có khả năng tiêu diệt mọi mục tiêu trên bộ và trên biển. Các tàu chiến khác cùng loại cũng sẽ được hiện đại hóa.
Đô đốc Chabanenko là đại diện duy nhất của dự án cải tiến 1155.1. Các “anh trai” của nó – các chiến hạm săn ngầm cỡ lớn thuộc dự án 1155 – là những tàu hạng nhất đã được đóng ở Liên Xô nhiều nhất. Hóa ra, dự án này cực kỳ thành công: hiệu suất lái xuất sắc, vũ khí chống tàu ngầm, hai trực thăng Ka-27PL trên boong tàu. Trong số các thiếu sót: không có vũ khí chống hạm và hệ thống phòng không yếu. Bây giờ Hạm đội của Nga có bảy chiến hạm săn ngầm như vậy, đây là những con tàu chủ lực ở vùng biển xa.
Điểm khác biệt của khu trục hạm chống ngầm Đô đốc Chabanenko so với những người tiền nhiệm: trọng lượng rẽ nước lớn hơn, các thiết bị thủy lực tốt hơn, có tên lửa chống hạm Moskit, hệ thống phòng thủ chống ngư lôi RBU-12000 Udav, hệ thống pháo – tên lửa phòng không Kortik, tên lửa chống tàu ngầm Vodopad-NK. Năm 1999, khi chiến hạm gia nhập hạm đội Nga, đây là một con tàu mạnh mẽ không chỉ có khả năng săn tàu ngầm đối phương mà còn có thể tấn công các mục tiêu trên mặt nước.
Tuy nhiên, vào năm 2014, tàu đã được đưa vào xưởng nâng cấp, sau đó các chuyên gia đã thông qua quyết định bắt đầu quá trình hiện đại hóa sâu.
Theo nguồn tin trong ngành công nghiệp quốc phòng, ở đây nói chủ yếu về vũ khí. Ví dụ, Đô đốc Chabanenko sẽ được trang bị bốn dàn phóng tên lửa Uran và một bệ phóng đa năng ZS14 có thể phóng 16 tên lửa hành trình Kalibr, Onyx hoặc Zircon, loại tên lửa đầy hứa hẹn có tầm hoạt động xa hơn và độ chính xác cao hơn so với Moskit.
Tổng cộng, khinh hạm Đô đốc Chabanenko được nâng cấp có khả năng mang theo 32 tên lửa hành trình. Tất nhiên, đây là ít hơn so với các tàu khu trục Mỹ lớp Arleigh Burke, tương tự như Đô Đốc Chabanenko về lượng rẽ nước, nhưng, nhiều hơn đáng kể so với các tàu khu trục khác trong biên chế của Hạm đội Phương Bắc.
Nói về hệ thống phòng không, nguồn tin cho biết, thay vì các hệ thống phòng không Kortik lỗi thời, con tàu sẽ được trang bị hệ thống tên lửa và pháo phòng không trên biển Pantsir-M, hệ thống phòng không Shtil (48 tên lửa), cũng như hệ thống tên lửa chống ngầm mới nhất Otvet có tầm bắn lên tới 50 km.
Chiến hạm Đô đốc Chabanenko sẽ được trang bị trạm định vị radar, thiết bị điện tử, thông tin liên lạc và điều khiển chiến đấu thế hệ mới nhất. Vỏ tàu cũng sẽ được sửa chữa. Những thay đổi lớn đến mức chiếc tàu chống ngầm cỡ lớn (BOD) sẽ được phân loại lại thành tàu khu trục hạng 1. Dự kiến Đô đốc Chabanenko sẽ quay trở lại Hạm đội Phương Bắc vào cuối năm 2022 – đầu năm 2023.
Bổ sung những tính năng mới
Chương trình hiện đại hóa không chỉ bao gồm chiến hạm Đô đốc Chabanenko mà còn có các tàu khác thuộc dự án 1155. Ví dụ, vào tháng 4 năm 2021, khinh hạm Nguyên soái Shaposhnikov đã được đưa vào biên chế Hạm đội Thái Bình Dương sau 5 năm sửa chữa. Trong quá trình nâng cấp, hơn 40% kết cấu thân tàu đã được tháo dỡ và sản xuất lại theo bản vẽ của nhà thiết kế, đồng thời 80% các tuyến cáp chính được thay thế. Con tàu được trang bị trạm radar hiện đại MP-760 Fregat-MA và hệ thống xử lý thông tin 5P-30N2 Fregat-N2, cũng như hệ thống liên lạc R-779-28 và hệ thống radar điều khiển và kiểm soát hỏa lực pháo MR-123-02 Bagira.
Các chuyên gia đã thông qua quyết định không loại bỏ bốn khẩu pháo phòng không AK-630M, hai bệ phóng ngư lôi bốn ống và hai bệ phóng tên lửa RBU-6000. Các bệ phóng của hệ thống phòng không Kinzhal cũng vẫn ở trong mũi tàu. Phía sau, thay vì khẩu AK-100 đã lỗi thời, họ đặt một pháo hạm A-190-01 cỡ nòng 100mm. Còn có các bệ phóng có thể phóng 16 tên lửa hành trình Kalibr, Onyx hoặc Zircon. Và ở hai bên của cấu trúc thượng tầng, nơi trước đây đặt tổ hợp Rastrub-B, có hai tổ hợp chống hạm 3S24 với bốn tên lửa Uran.
Các loại vũ khí sẽ được trang bị cho tàu khu trục chống ngầm cỡ lớn Đô đốc Vinogradov thuộc biên chế của Hạm đội Thái Bình Dương sẽ còn ấn tượng hơn nữa. Thông tin về việc nâng cấp và trang bị nhiều vũ khí mới cho chiếc tàu này đã được công bố vào cuối năm ngoái. Theo Công ty Cổ phần Trung tâm Sửa chữa Tàu Dalzavod, họ sẽ thay thế hầu hết các hệ thống chiến đấu, ngoại trừ pháo tự động AK-630. Tàu khu trục sẽ được trang bị hệ thống tên lửa Kalibr-NK và hệ thống tên lửa chống ngầm Paket-NK. Thân tàu và các tuyến cáp sẽ được sửa chữa.
Trên tàu sẽ có không phải là hai mà là bốn bệ phóng thẳng đứng, mỗi bệ tám ô, không kể bốn tên lửa chống hạm Uran. Nhờ đó, Đô đốc Vinogradov sẽ trở thành nhà vô địch của hạm đội Nga về số lượng tên lửa hành trình – lên đến 48 chiếc. Giống như tàu Đô đốc Chabanenko, nó sẽ nhận được hệ thống phòng không mạnh hơn dựa trên hệ thống phòng không Shtil. Theo kế hoạch, tàu khu trục sẽ hoạt động trở lại vào năm 2024.
Hai chiến hạm khác thuộc dự án 1155 cũng đang được hiện đại hóa – Đô đốc Tributs (được biên chế vào năm 1985) và Đô đốc Panteleev (được biên chế vào năm 1991). Như vậy, trong tương lai gần, các chiến hạm này sẽ củng cố thêm sức mạnh của Hải quân Nga.
Trang bị các loại vũ khí mạnh nhất
Các tàu săn ngầm thuộc dự án 1155 và 1155.1 không phải là những con tàu duy nhất do Liên Xô đóng sẽ được nâng cấp lên cấp độ hiện đại. Ví dụ, kể từ năm 2013, Nhà máy đóng tàu Sevmash sửa chữa và nâng cấp tuần dương hạm mang tên lửa chạy bằng năng lượng hạt nhân Đô đốc Nakhimov thuộc dự án 1144.2M Orlan. Tàu tuần dương hạng nặng này sẽ trở thành tàu chiến được trang bị mạnh nhất của Hải quân Nga nhờ các bệ phóng thẳng đứng Kalibr, Onyx và Zircon với 80 ô. Và hệ thống phòng không sẽ được bổ sung tổ hợp tên lửa phòng không S-400 với 96 tên lửa.
Hệ thống phòng không tầm ngắn Kortik sẽ được thay thế bằng Pantsir-M, pháo phòng không Osa-M bằng Redut mới, và tổ hợp Paket-NK sẽ bảo vệ tàu tuần dương khỏi ngư lôi và tàu ngầm ở cự ly gần.
Tất nhiên, chiến hạm sẽ được trang bị các thiết bị điện tử tiên tiến nhất, điều này sẽ giúp tăng khả năng nhận biết tình huống của thủy thủ đoàn và sẽ mở rộng đáng kể khả năng sử dụng vũ khí trên tàu.
Đô đốc Nakhimov sẽ được trang bị các hệ thống thông tin liên lạc và định vị tiên tiến, hệ thống tác chiến điện tử, cũng như một nhóm không quân gồm ba trực thăng săn ngầm Ka-27M. Các công việc tại nhà máy sẽ được hoàn thành vào năm 2022-2023.
Hai đồng minh Mỹ và Nhật Bản tuyên bố hợp tác để tìm cách thức vô hiệu tên lửa siêu vượt âm, trong bối cảnh Nga, Trung Quốc và Triều Tiên đã và đang phát triển loại khí tài này.
Ngoại trưởng Mỹ Antony Blinken ngày 6/1 tuyên bố, nước này và Nhật Bản sẽ cùng đưa các nhà khoa học và kỹ sư hợp tác trong lĩnh vực công nghệ quốc phòng, bao gồm nghiên cứu về cách thức chống lại tên lửa siêu vượt âm.
Ông Blinken và Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Lloyd Austin đã tham gia vào cuộc đối thoại trực tuyến 2+2 với những người đồng cấp của Nhật Bản là Ngoại trưởng Yoshimasa Hayashi và Bộ trưởng Quốc phòng Nobuo Kishi.
“Khi các nhà nghiên cứu Nhật Bản và Mỹ phát huy được những điểm mạnh bổ sung của họ, chúng ta có thể vượt lên và đổi mới bất cứ điều gì”, ông Blinken nói, nhấn mạnh việc hợp tác sẽ bao gồm cả năng lực vũ trụ của 2 bên.
Ông Austin cho biết các cuộc thảo luận nhằm “phát triển vai trò và sứ mệnh của chúng tôi trước năng lực ngày càng tăng của Nhật Bản trong việc đóng góp vào hòa bình và ổn định khu vực”. Ông cũng cho biết hai bên sẽ “tối ưu hóa năng lực của lực lượng liên minh để tăng cường khả năng răn đe”.
Cuộc trao đổi diễn ra trong bối cảnh, quân đội Trung Quốc đang đẩy mạnh hiện đại hóa và phát triển vũ khí mới, trong đó có tên lửa siêu vượt âm khiến Mỹ lo ngại. Thêm vào đó, Triều Tiên gần đây cũng đã tham gia vào cuộc đua vũ khí siêu vượt âm bằng việc thực hiện 2 vụ thử loại tên lửa này.
Trong khi đó, Nga đã đưa vào biên chế một số tên lửa siêu vượt âm và đang tiếp tục thử nghiệm loại khác. Với tốc độ nhanh gấp 5 lần tốc độ âm thanh và quỹ đạo di chuyển khó đoán, tên lửa siêu vượt âm được xem là vũ khí của tác chiến tương lai.
Công nghiệp quốc phòng nước ta đã tiến bộ vượt bậc, sản xuất được nhiều loại vũ khí “Made in Vietnam”, có chất lượng cao, cạnh tranh được với các sản phẩm nước ngoài.
Các hệ thống vũ khí – khí tài hiện đại do ngành công nghiệp quốc phòng Việt Nam tự sản xuất, cải tiến, trưng bày trong khuôn khổ Hội nghị quân chính toàn quân năm 2019.
Việt Nam tổ chức triển lãm quốc phòng giữa mùa dịch
Từ ngày 14-17/12/2021, Bộ Quốc phòng đã chủ trì, phối hợp với các bộ ngành liên quan để tổ chức Hội chợ – triển lãm quốc phòng VIDEX 2021 với chủ đề “Kinh tế-quốc phòng trong kỷ nguyên công nghệ số”.
Tham gia VIDEX 2021 có hơn 100 doanh nghiệp trong nước và quốc tế, trưng bày nhiều thành tựu tiêu biểu về khoa học công nghệ quân sự, kinh tế kết hợp với quốc phòng của nhiều đơn vị kinh tế trong quân đội.
Ngoài ra, VIDEX 2021 còn là nơi diễn ra các cuộc hội thảo, hoạt động giao thương, kết nối cung-cầu, trình diễn các sản phẩm công nghệ.
Đáng chú ý, VIDEX 2021 là lần đầu tiên một triển lãm quốc phòng Việt Nam được tổ chức trên không gian mạng do tình hình bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp.
Vũ khí “Made in Vietnam”: Tỏa đi khắp thế giới
Trong những năm gần đây, Việt Nam rất tích cực tổ chức các triển lãm quốc phòng với sự tham gia của nhiều đơn vị trong nước, cũng như các nhà thầu quân sự nước ngoài.
Dù gặp muôn vàn khó khăn do đại dịch Covid-19, song Bộ Quốc phòng đã nỗ lực cao nhất để thực hiện triển lãm quốc phòng.
Trước triển lãm online VIDEX 2021, Việt Nam đã chớp thời cơ dịp đăng cai tổ chức hai nội dung của Army Games 2021 trong khuôn khổ Hội thao quân sự quốc tế, để giới thiệu hơn 200 loại vũ khí “Made in Vietnam” hiện đại tới các đoàn quan chức, vận động viên và bạn bè quốc tế ngay tại Hà Nội.
Một phần đáng kể trong số đó là sản phẩm mới của công nghiệp quốc phòng Việt Nam.
Những triển lãm quốc phòng được tổ chức trong thời gian vừa qua chính là minh chứng rõ ràng nhất cho sự phát triển của ngành công nghiệp quốc phòng nước ta. Nhờ những triển lãm quốc phòng, Việt Nam có được “lợi đơn, lợi kép”, cụ thể:
Thứ nhất, công nghiệp quốc phòng Việt Nam trong những năm qua đã tiến bộ vượt bậc, sản xuất được nhiều loại vũ khí, khí tài hiện đại, có chất lượng cao, cạnh tranh được với các sản phẩm nước ngoài.
Song song với việc trang bị cho lực lượng vũ trang nước nhà, chúng ta cần đẩy mạnh việc xuất khẩu các sản phẩm vũ khí, khí tài “Made in Vietnam”, tiêu biểu là các loại súng bộ binh, pháo cỡ nhỏ, thiết bị vô tuyến điện tử, radar phòng không, tàu xuồng tuần tra…
Việt Nam đã gặt hái những thành công bước đầu khi ký được một số hợp đồng xuất khẩu vũ khí, đóng tàu quân sự,… cho các bạn hàng quốc tế.
Việc mạnh dạn tổ chức và tham gia các triển lãm quốc phòng trong và ngoài nước là hết sức cần thiết.
Đó là những cơ hội quan trọng để giao lưu, kết nối với khách hàng nước ngoài, giới thiệu năng lực sản xuất vũ khí của Việt Nam, đặt tiền đề cho những hợp đồng xuất khẩu hoặc hợp tác nghiên cứu chế tạo, chuyển giao công nghệ trong tương lai.
Thứ hai, bên cạnh việc thu ngoại tệ từ xuất khẩu vũ khí, một lợi ích quan trọng từ các hợp đồng với nước ngoài, chính là việc duy trì sản xuất và sức sống cho các nhà máy quốc phòng trong nước.
“Muốn có hòa bình, phải chuẩn bị chiến tranh” (Si vis pacem, para bellum – ngạn ngữ Latin). Dù đang được hưởng hòa bình, Việt Nam vẫn cần dự trữ khả năng sản xuất vũ khí với qui mô lớn để chuẩn bị cho mọi tình huống xảy ra.
Vì vậy, trong thời bình, nước ta vẫn cần duy trì các dây chuyền sản xuất vũ khí ở mức độ nhất định, vẫn cần tổ chức các nhà máy, cơ sở công nghiệp quốc phòng với đội ngũ kĩ sư, công nhân có tay nghề cao.
Để tạo “công ăn việc làm” cho các nhà máy quốc phòng, bên cạnh việc sản xuất vũ khí trang bị cho quân đội, cần chú trọng kết hợp sản xuất lưỡng dụng quân sự – dân sự, cũng như đẩy mạnh xuất khẩu vũ khí ra nước ngoài.
Thứ ba, các triển lãm cũng giúp tăng cường danh tiếng, uy tín của ngành công nghiệp quốc phòng Việt Nam nói riêng và sức mạnh của Quân đội nhân dân Việt Nam trên toàn thế giới.
Trong hoạt động đối ngoại, có nhiều hình thức để phô diễn năng lực quân sự của quốc gia, như diễu binh, duyệt binh, tập trận (có và không có bắn đạn thật), triển lãm quốc phòng … Mỗi hình thức kể trên đều có những ưu điểm và hạn chế nhất định, cần vận dụng tùy theo hoàn cảnh.
Đối với điều kiện của Việt Nam hiện nay, việc tổ chức các triển lãm quốc phòng chính là một cách phù hợp để “khoe” năng lực và sự tiến bộ vượt bậc của ngành công nghiệp quốc phòng, nhấn mạnh khả năng tự lực sản xuất vũ khí để bảo vệ Tổ quốc.
Các triển lãm quốc phòng cũng chứng tỏ năng lực của Việt Nam, đủ khả năng trở thành một đối tác quan trọng về quân sự – quốc phòng của bạn bè quốc tế.
Thứ tư, ở chiều ngược lại, các triển lãm quốc phòng cũng là cơ hội để các bạn hàng nước ngoài đến với Việt Nam, giới thiệu những tinh hoa của công nghiệp quốc phòng thế giới nhằm giúp chúng ta có thể lựa chọn được loại vũ khí, khí tài ưng ý, phù hợp với nghệ thuật tác chiến để mua sắm hoặc nhận chuyển giao công nghệ sản xuất ngay trong nước.