Giới chuyên gia cảnh báo Trung Quốc có thể “quân sự hóa” một số dự án thuộc sáng kiến “Vành đai con đường” của nước này xây dựng tại các quốc gia nước ngoài.
Cảng Hambantota ở Sri Lanka, một dự án thuộc sáng kiến “Vành đai con đường” của Trung Quốc
SCMP ngày 12/9 đưa tin, trong báo cáo công bố hồi tuần này, Viện Chính sách Xã hội châu Á (ASPI) có trụ sở ở Mỹ cảnh báo về viễn cảnh Trung Quốc có thể “vũ khí hóa” các dự án thuộc “Vành đai con đường”. ASPI giải thích rằng một số công trình nằm trong sáng kiến trên có khả năng vừa được sử dụng cho mục đích quân sự và cả mục đích dân sự.
Theo ASPI, Trung Quốc được cho đã tạo ra một mô hình xây dựng các dự án cơ sở hạ tầng đa chức năng mà Bắc Kinh gọi là “các điểm mạnh chiến lược” tại các quốc gia như Sri Lanka, Pakistan, Myanmar và Campuchia.
ASPI đặt ra giả thuyết rằng Trung Quốc dường như có mục tiêu tạo ra “một hệ sinh thái kết hợp giữa thương mại, công nghệ, tài chính và các điểm mạnh chiến lược” nhằm phục vụ lợi ích của Bắc Kinh. Ngoài ra, bản báo cáo cảnh báo tham vọng trên có thể mở đường cho việc Trung Quốc sử dụng các dự án quân sự nhằm làm suy yếu “tầm ảnh hưởng và vai trò của Mỹ” tại Ấn Độ – Thái Bình Dương.
ASPI lấy ví dụ về việc Trung Quốc xây dựng các cảng thương mại đạt tiêu chuẩn để phục vụ các hoạt động quốc phòng và xuất khẩu hệ thống định vị nội địa BeiDou do Bắc Kinh phát triển, cũng như đẩy mạnh các hoạt động diễn tập quân sự và buôn bán vũ khí với các quốc gia thuộc sáng kiến “Vành đai con đường”.
ASPI liệt kê một số cảng như Gwadar của Pakistan, Koh Kong của Campuchia, Hambantota của Sri Lanka và Kyaukphyu của Myanmar. Bản báo cáo đặt nghi vấn đây là các địa điểm Trung Quốc có thể sử dụng để phục vụ nhu cầu của quân đội Bắc Kinh.
ASPI cho rằng các cảng nói trên được thiết kế như một điểm hỗ trợ hậu cần quân sự và thương mại hỗn hợp và có thể được sử dụng làm điểm tiếp tế nhằm hỗ trợ các lực lượng trên biển.
Tổ chức Mỹ cảnh báo một số dự án “Vành đai con đường” không chỉ làm gia tăng sự phụ thuộc kinh tế của quốc gia chủ nhà vào Trung Quốc, mà còn khiến họ thêm phụ thuộc vào công nghệ của Bắc Kinh.
Dự thảo luật mới của chính phủ Australia, nếu được Quốc hội thông qua, có thể đặt dấu chấm hết cho thỏa thuận Sáng kiến Vành đai và Con đường mà chính quyền bang Victoria dự kiến ký với Trung Quốc.
Thủ tướng Australia Scott Morisson liên tục lên tiếng chỉ trích thỏa thuận Sáng kiến Vành đai và Con đường mà bang Victoria dự kiến ký kết với Trung Quốc. (Nguồn: AP)
Trong bài phân tích đăng tải trên trang The Conversation, Giáo sư Michelle Grattan của Đại học Canberra cho biết Chính phủ Australia dự kiến sẽ sớm trình Quốc hội một dự thảo luật mới nhằm tạo điều kiện giám sát và quản lý, cũng như cho phép hủy bỏ các thỏa thuận do chính quyền cấp bang, vùng lãnh thổ, hội đồng địa phương và trường đại học công lập của Australia ký kết với các chính phủ nước ngoài.
Mối quan hệ trên đà ‘rạn nứt’
Dự thảo luật này, nếu được thông qua, có thể dẫn đến việc thỏa thuận Sáng kiến Vành đai và Con đường (BRI) mà chính quyền bang Victoria dự kiến ký với Trung Quốc sẽ bị hủy bỏ, cũng như một số thỏa thuận khác giữa các trường đại học Australia và Trung Quốc.
Trong nhiều tháng qua, Thủ tướng Scott Morrison đã liên tục lên tiếng chỉ trích thỏa thuận này của bang Victoria. Ông Morrison cho rằng BRI không phải là một chương trình mà chính phủ liên bang đã ký kết và các tiểu bang không nên hành động một cách “thiếu nhất quán” với chính sách của Canberra.
Động thái mạnh mẽ mà chính phủ Australia đưa ra lần này phản ánh mối quan tâm ngày càng tăng về ảnh hưởng và sự can thiệp của Trung Quốc, mặc dù luật mới sẽ áp dụng với mọi thỏa thuận được ký kết với bất kỳ chính phủ nước ngoài nào.
Theo dự thảo luật, Ngoại trưởng Australia sẽ được trao quyền dừng các thỏa thuận được đề xuất và hủy bỏ bất kỳ thỏa thuận nào hiện có với các chính phủ nước ngoài, nếu xét thấy chúng đi trái lại với lợi ích quốc gia.
Dự thảo cũng cho phép thiết lập một sổ đăng ký công khai để minh bạch các thỏa thuận. Phạm vi điều chỉnh của dự thảo là khá đa dạng, trong đó bao gồm các thỏa thuận hợp tác về các vấn đề văn hóa, giáo dục, sức khỏe, khu vực công, khoa học, du lịch, quản lý môi trường, thương mại và kinh tế. Ngoài ra còn có các mối quan hệ kết nghĩa giữa những thành phố và tiểu bang.
Tác giả đánh giá động thái của Canberra sẽ càng làm sâu sắc thêm căng thẳng giữa Australia và Trung Quốc. Mới đây nhất, trong bài phát biểu tại Câu lạc bộ báo chí quốc gia Australia, Phó Đại sứ Trung Quốc tại Canberra Vương Tích Ninh đã cáo buộc Australia gây tổn thương tới tình cảm của người dân Trung Quốc khi thúc đẩy một cuộc điều tra về nguồn gốc đại dịch Covi.d-19.
Hiện tại, mối quan hệ Australia-Trung Quốc đã trở nên sa sút nghiêm trọng sau nhiều năm “rạn nứt”. Mới đây nhất, Bắc Kinh đã ban hành một số lệnh hạn chế thương mại nhằm vào các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Australia, như lúa mạch, thịt bò, rượu vang…, cũng như cảnh báo sinh viên và khách du lịch không nên đến Australia. Động thái này được xem là “màn trả đũa” chính thức đối với lời kêu gọi một cuộc điều tra độc lập về nguồn gốc đại dịch Covid-19 mà Canberra đã khởi xướng.
Đảm bảo lợi ích quốc gia
Trong tuyên bố về dự thảo luật nói trên, ông Morrison và Ngoại trưởng Marise Payne khẳng định “chính phủ liên bang có trách nhiệm bao trùm trong việc tiến hành các hoạt động đối ngoại của Australia”. Tuy nhiên, các chính quyền tiểu bang, vùng lãnh thổ và các tổ chức trực thuộc cấp địa phương hiện cũng tham gia vào việc ký kết thỏa thuận với các chính phủ nước ngoài trong nhiều lĩnh vực – từ hợp tác thương mại và kinh tế đến hợp tác văn hóa và quan hệ đối tác nghiên cứu đại học – mà không không báo cho chính phủ Liên bang.
“Luật mới sẽ hỗ trợ các chính phủ tiểu bang và vùng lãnh thổ để đảm bảo rằng họ đang hành động nhằm phục vụ lợi ích quốc gia của Australia, phù hợp với giá trị và mục tiêu chính sách đối ngoại của chúng ta”, tuyên bố nêu rõ.
Dự thảo luật sẽ được trình Quốc hội vào tuần tới và Canberra hy vọng rằng sẽ sớm được thông qua trong năm nay. Dự thảo cũng sẽ bao gồm cả các thỏa thuận nước ngoài bằng văn bản, có ràng buộc pháp lý theo luật pháp Australia, ràng buộc pháp lý theo luật nước ngoài hoặc không ràng buộc pháp lý (chẳng hạn như biên bản ghi nhớ). Tuy nhiên, dự thảo không áp dụng cho quan hệ thương mại giữa các tập đoàn và công ty nhà nước, cũng như không áp dụng đối với các trường đại học nước ngoài, trừ phi chúng trực thuộc chính phủ nước ngoài, chẳng hạn như đại học quân sự của chính phủ.
Trong vòng 6 tháng kể từ khi luật chính thức có hiệu lực, các tiểu bang, vùng lãnh thổ, hội đồng và trường đại học sẽ phải thông báo cho chính phủ liên bang về các thỏa thuận của họ với chính phủ nước ngoài.
Bộ Ngoại giao Australia sẽ chịu trách nhiệm xem xét các thỏa thuận hiện có và các thỏa thuận đề xuất, sau đó tư vấn cho Ngoại trưởng về các tác động của những thỏa thuận này đối với chính sách đối ngoại và quan hệ đối ngoại. Nếu thỏa thuận không đáp ứng được với yêu cầu về lợi ích quốc gia, Ngoại trưởng Australia sẽ có quyền dừng các bên đàm phán, tham gia vào, tiếp tục hay gây ảnh hưởng tới thỏa thuận.
Theo quy định của luật mới, Ngoại trưởng Australia cũng có thể chấm dứt các hợp đồng tư nhân liên quan tới thỏa thuận chính – ví dụ như một liên kết xây dựng cơ sở hạ tầng hình thành từ thỏa thuận BRI mà bang Victoria dự định ký kết. Thậm chí, nếu cần, Canberra có thể xin lệnh Tòa án Liên bang hoặc Tòa án cấp cao để thực thi quyết định của Ngoại trưởng.
Bà Payne nhấn mạnh: “Điều quan trọng đối với sự thịnh vượng, an ninh và chủ quyền của Australia là chính sách đối ngoại phải được thúc đẩy bởi lợi ích quốc gia … Những thay đổi này sẽ mang lại cho các cấp chính quyền, các tổ chức và người dân Australia sự tin tưởng rằng các thỏa thuận quốc tế được xem xét kỹ lưỡng để đảm bảo phù hợp với lợi ích quốc gia và các giá trị của Australia”.
Quan hệ Australia – Trung Quốc trở nên sa sút nghiêm trọng sau nhiều năm “rạn nứt”.
Tháng 6/2020, tờ Sydney Morning Herald đưa tin bang Victoria đang “rậm rịch” triển khai ký kết một số thỏa thuận với Trung Quốc liên quan tới BRI, sau khi đạt được Biên bản ghi nhớ vào cuối năm 2018. Ngay lập tức, Thủ tướng Australia đã một lần nữa công khai lên tiếng chỉ trích Thống đốc bang Victoria Daniel Andrews và bày tỏ lo ngại rằng ông Andrews đang cố tình gây ảnh hưởng tới chính sách đối ngoại chung của Australia.
BRI được Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình khởi xướng nhằm cung cấp tài chính cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng toàn cầu. Sáng kiến này đã bị một số nước chỉ trích, gọi đây là một chính sách “bẫy nợ”, khiến các nước đang phát triển phải chịu gánh nặng nợ nần không thể trả được.
Thỏa thuận dự kiến ký kết giữa bang Victoria và Trung Quốc sẽ cho phép Bắc Kinh đầu tư vào bang Victoria và ngược lại các công ty của địa phương này được tham gia những dự án của chính phủ Trung Quốc ở nước ngoài.
Thủ tướng Morrison nhấn mạnh ông Andrews nên hủy bỏ dự định ký kết với Trung Quốc. Trong khi đó, ông Michael O’Brien, lãnh đạo đảng đối lập ở bang Victoria cũng đã bày tỏ phản đối. và nói rằng, nếu trúng cử Thống đốc bang, ông nhất định sẽ rút khỏi sáng kiến đầy tham vọng này của Trung Quốc.
Vành đai, Con đường (BRI) là chiến lược đầu tư quốc tế khổng lồ do chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình khởi xướng, được cho là nhằm giúp Trung Quốc mở rộng ảnh hưởng quyền lực mềm.
Nhiều đối tác chùn bước trước Vành đai, Con đường
Hiện nay, các dự án trong khuôn khổ BRI của Trung Quốc đã thu hút hơn 130 nước tham gia, và mức đầu tư dành cho các quốc gia này cũng khác nhau – dao động từ hàng trăm đến hàng nghìn tỉ USD. Phần lớn trong số đó là dưới hình thức các dự án hạ tầng quy mô lớn và khoản vay dành cho các chính phủ những nước mà sau đó phải vật lộn với khó khăn để hoàn vốn.
Tuy nhiên, hiện nay Trung Quốc đang phải đối mặt với một làn sóng phản đối BRI ở cả trong và ngoài nước.
Trên bình diện quốc tế, sự phản kháng này phần nào đó có yếu tố địa chính trị, khi các nước ngày một quan ngại về sự gia tăng ảnh hưởng của Trung Quốc.
Làm sao các khoản đầu tư quyền lực mềm của Trung Quốc lại thất bại tại chính những nước mà lẽ ra sẽ giúp quảng bá quyền lực mềm đó cho Bắc Kinh? Các nước giờ đã tỉnh táo hơn đối với các điều khoản tài chính liên quan đến BRI, đó là một lý do. Trong giai đoạn đầu triển khai chiến lược, nhiều nước xem vốn của Trung Quốc là nguồn tiền miễn phí hoặc ít nhất là chi phí thấp.
Bên cạnh đó, cách tiếp cận không ràng buộc đối với chính phủ sở tại. Khác với những nước phương Tây, Trung Quốc không yêu cầu đối tác phải đáp ứng các điều kiện ngặt nghèo liên quan đến tham nhũng hay ổn định tài chính.
Cách tiếp cận như vậy khiến tham nhũng có cơ hội gia tăng, đồng thời khiến các chính phủ dồn gánh nặng lên chính đất nước mình với những khoản nợ khó có khả năng chi trả.
Năm 2017, Sri Lanka đã buộc phải giao cho Trung Quốc quyền quản lý trong 99 năm đối với cảng Hambantota để tránh bị vỡ nợ từ khoản vay BRI. Kể từ đó, nhiều nước lo sợ việc lặp lại tình cảnh không đủ sức trả nợ cho Trung Quốc và buộc phải đánh đổi.
Ở khu vực Đông Nam Á, cuộc bầu cử ở Malaysia vào tháng 5/2018 đã phản ánh rõ sự e ngại dưới nhiều hình thức đối với quyền lực Trung Quốc được tạo dựng ở những nước đón nhận BRI.
Kể từ sau khi nhậm chức, Thủ tướng Mahathir Mohamad đã đình chỉ hai dự án lớn nhất của Trung Quốc đầu tư vào Malaysia: một dự án xây dựng đường sắt trị giá 20 tỷ USD và một dự án tuyến đường ống khí đốt trị giá 2,3 tỷ USD. Lý do đưa ra là Malaysia không có đủ khả năng chi trả.
Những nước này cũng tức giận với việc các hợp đồng có quan điểm áp đặt một chiều của Trung Quốc, thường ép buộc nước sở tại phải chọn nhà thầu, đối tác là công ty Trung Quốc, cùng với đó điều khoản bảo đảm có xu hướng đẩy nguy cơ vào tay các nước bản địa, tránh rủi ro cho các công ty Trung Quốc.
Việc Trung Quốc từ chối các yêu cầu phòng vệ hợp lý đối với các dự án BRI bị cho là mang đến nguy cơ nuôi dưỡng tham nhũng, nợ nần và chạy theo lợi ích kinh tế thiếu bền vững. Khi bằng chứng về tham nhũng trong các dự án đầu tư lớn ngày một rõ ràng, công dân các nước có dự án BRI đã nhận ra thực tế Trung Quốc vừa là nước hưởng lợi, vừa là nước thúc đẩy nạn tham nhũng.
Thiếu chiến lược dài hơi, Vành đai, Con đường lộ nhiều hạn chế
Trong nội bộ Trung Quốc, nhiều người Trung Quốc phàn nàn đây là chiến lược chi tiêu hoang phí. Ngày càng có nhiều chỉ trích về những khoản đầu tư lớn hào nhoáng ở các nước tiếp nhận BRI. Trước việc Bắc Kinh đổ hàng tỷ USD ra nước ngoài, nhiều người Trung Quốc đang tự hỏi tại sao không dùng khoản tiền đó để xử lý những vấn đề trong nước như y tế, nhà cửa, giáo dục.
Số liệu thống kê cho thấy nguồn tiền các ngân hàng Trung Quốc đang đầu tư ở nước ngoài chủ yếu là tiền USD vay mượn từ quốc tế, chứ không phải là tiền lấy từ kho dự trữ ngoại hối chính thức.
Giáo sư Xu Xangrun thuộc Đại học Thanh Hoa cũng đã nêu những quan ngại về cách Bắc Kinh đang thúc đẩy tham vọng viện trợ nước ngoài mà hệ quả kèm theo là chi tiêu nội địa bị ảnh hưởng. Hè năm 2018, ông Xu viết một bài luận đặt ra nghi vấn đối với việc Bắc Kinh “vung tiền” cho BRI trong khi nền kinh tế nước này còn vướng phải nhiều vấn đề nội tại.
Giáo sư Zheng Yongnian, giám đốc Viện Đông Á thuộc Đại học quốc gia Singapore, cảnh báo việc chính phủ trung ương Trung Quốc dành quá nhiều tham vọng đối với khuôn khổ của BRI là một “sai sót chí mạng”. Với việc Bắc Kinh kết nối BRI với quá nhiều khu vực và dự án, các nước phương Tây sẽ ngày càng gia tăng ngờ vực về ý đồ thực sự của Trung Quốc. Theo ông, trừ khi BRI trở nên ít chuyển tải ý thức hệ Trung Quốc trong khuôn khổ của nó, sáng kiến này khó tránh khỏi khiến Bắc Kinh bị cáo buộc là theo đuổi bá quyền toàn cầu.
Giáo sư Cheng Chengping và nhà nghiên cứu Wu Fang, từ Đại học Vũ Hán (Trung Quốc), nhận thấy rủi ro lớn trong vận hành BRI tại nhiều khu vực riêng rẽ, mà mỗi vùng lại tiềm ẩn những rủi ro khác nhau về địa chính trị và tài chính.
Cheng và Wu phân tích, BRI cần phải tiếp cận sâu hơn với nhu cầu và điều kiện của bản địa nhằm tạo ra được chiến lược bền vững. Để tránh những rủi ro rõ ràng, Trung Quốc phải hợp tác với tất cả các nước gia nhập BRI và phát triển đồng thời nhiều cơ chế phối hợp khác nhau, đặc biệt trong vấn đề năng lực tài chính và công nghiệp.
Nhiều chuyên gia về Trung Quốc cũng chỉ trích việc thiếu vắng các tiêu chuẩn bản địa của BRI, từ ổn định tài chính tới tác động môi trường.
Li Ziguo, phó giám đốc Bộ phận nghiên cứu Tổ chức hợp tác Thượng Hải (SCO), thuộc Viện nghiên cứu quốc tế (CIIS), Trung Quốc, đánh giá thách thức của BRI nằm trong vấn đề kế hoạch chiến lược dài hạn. Không có tầm nhìn xa, rủi ro là khá rõ ràng: Các doanh nghiệp Trung Quốc thiếu nhận thức về tiêu chuẩn pháp lý tại các nước đối tác, phớt lờ nguy cơ môi trường, và đưa ra những quyết định đầu tư thiếu sáng suốt do hiểu biết hạn chế về các điều kiện kinh doanh ở bản địa.
Trong giai đoạn khởi động BRI, Bắc Kinh có thiên hướng xem chỉ trích nhằm vào mình là việc các nước phương Tây từ chối công nhận sự trỗi dậy của Trung Quốc. Dẫu vậy, hiện nay mối quan hệ ngại đó không phải đến từ phương Tây mà là từ các nước khắp các châu lục trên toàn cầu.
Ở đó, chính quyền nước sở tại đang cố tìm cách thoát khỏi vấn nạn nợ nần bùng nổ cùng với đó là sự tức giận của người dân.
BRI, một chiến lược có chủ đích thúc đẩy quyền lực mềm của Trung Quốc, giờ đây lại đang thúc đẩy mối quan ngại trong nước và quốc tế ở mức chưa từng thấy.
Tác giả Hannah Feldshuh nêu trong bài phân tích trên The Diplomat tháng 9/2018, chính phủ Trung Quốc dường như nhạy cảm với những chỉ trích và nghi ngờ cả trong và ngoài nước liên quan đến BRI. Đối với những phê bình từ bên ngoài, chính phủ Trung Quốc phải tìm cách điều chỉnh kỳ vọng của các đối tác và giới quan sát, nhưng hiệu quả không lớn. Và khi nghị luận về BRI gia tăng trong giới tinh hoa Trung Quốc, chính phủ cũng buộc phải làm dịu những kỳ vọng lớn từ trong nước.