Tag Archives: Quân sự – Quốc phòng

Châu Âu tiến tới nâng cấp quân đội trên toàn châu lục

Trước động thái mới của Mỹ, một số thành viên của Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) đã lên kế hoạch đầu tư vào năng lực quân sự, trong đó Đức đặt mục tiêu biến quân đội thành lực lượng quy ước mạnh nhất châu Âu.

Tân ngoại trưởng Đức Johann Wadephul trong tuần qua cho biết chính quyền Berlin đồng ý với yêu cầu của Tổng thống Mỹ Donald Trump đối với các thành viên NATO là đầu tư 5% GDP vào quân sự, theo DW. Một ngày trước đó, tân Thủ tướng Đức Friedrich Merz công bố ý định cải tổ quân đội Đức (Bundeswehr) thành lực lượng quy ước mạnh nhất châu Âu.
Đức lên kế hoạch nâng cấp an ninh lịch sử

Nếu Đức gia tăng ngân sách quân sự lên mức 5% GDP, đó sẽ là sự xoay chiều lịch sử trong chính sách an ninh. Kể từ cuối Chiến tranh lạnh, nước này chủ yếu dựa vào hợp tác quốc tế, ngoại giao và văn hóa để kiềm chế quân sự chiến lược. Tuy nhiên, phát biểu của cựu Thủ tướng Olaf Scholz vào ngày 27.2.2022, ba ngày sau khi Nga phát động chiến dịch quân sự ở Ukraine, đã đánh dấu thời điểm bước ngoặt cho nước này.

Sau đó, chính quyền Berlin thiết lập quỹ đặc biệt trị giá 100 tỉ euro cho Bundeswehr. Năm 2024, chi tiêu quân sự thường trực tăng lên mức 90 tỉ euro, khoảng 2,1% GDP. Mức gia tăng 5% tương đương hơn 160 tỉ euro/năm.

Bundeswehr hiện có lực lượng thường trực khoảng 182.000 quân nhân. Bộ Quốc phòng muốn tăng lên ít nhất 203.000 quân vào năm 2031, với một số chuyên gia thậm chí còn đưa ra con số 240.000 người.

Pháp – nước EU duy nhất sở hữu năng lực răn đe hạt nhân

Pháp, thế lực hạt nhân duy nhất của EU, đã theo đuổi chiến lược hiện diện toàn cầu và tự chủ quân sự. Lực lượng nước này gồm khoảng 203.000 quân, theo DW. Lực lượng Hiến binh và các đơn vị bán quân sự khác góp thêm 175.000 thành viên, chưa kể ít nhất 26.000 quân dự bị.

Nhờ vào tàu sân bay hạt nhân Charles de Gaulle và lực lượng tàu ngầm chiến lược, hải quân Pháp còn đóng vai trò quan trọng cho chiến lược răn đe hạt nhân của nước này.

Các tiêm kích Rafale của Pháp, với một số trang bị vũ khí hạt nhân, được triển khai nhằm đảm bảo năng lực kiểm soát trên không.

Kể từ khi ông Emmanuel Macron làm tổng thống năm 2017, ngân sách quốc phòng Pháp gia tăng đáng kể. Trong bài phát biểu hồi đầu tháng 3, Tổng thống Macron đề cập các nước đang phải đối mặt “mối đe dọa Nga” và nhấn mạnh sự cần thiết tăng gần gấp đôi ngân sách quốc phòng của nước này.

Ba Lan đóng vai trò ‘tường thành’ ở cánh đông NATO

Suốt nhiều năm, Ba Lan chi mạnh vào nỗ lực đầu tư quân đội, với mục tiêu phát triển lực lượng bộ binh mạnh nhất châu Âu. Năm 2024, nước này chi 4,12% GDP cho ngân sách quốc phòng. Quốc gia với lãnh thổ rộng nhất ở cánh đông NATO đặc biệt muốn ứng phó trước nguy cơ từ Nga.

Bộ binh Ba Lan hiện có khoảng 150.000 người. Thủ tướng Ba Lan Donald Tusk gần đây thông tin chính quyền Warsaw đang triển khai kế hoạch mở rộng quy mô lực lượng lên nửa triệu quân, bao gồm quân dự bị.

Cùng lúc đó, bộ binh và không quân được tăng cường vũ khí, khí tài hiện đại, bao gồm hơn 600 xe tăng (đặt hàng từ Hàn Quốc, Mỹ và những nước khác), cũng như Hệ thống tên lửa pháo binh cơ động cao (HIMARS), máy bay không người lái (UAV) và tiêm kích F-35.

Anh tập trung vào công nghệ cao

Anh cũng lên kế hoạch tăng chi tiêu quân sự, hiện dưới 2,4% GDP. Tập trung của nỗ lực này sẽ là công nghệ cao: UAV, trí thông minh nhân tạo (AI) và các hệ thống laser, The Guardian đưa tin.

Hải quân Hoàng gia Anh, hiện có 2 tàu sân bay, và Không quân Hoàng gia Anh đã thuộc hàng ngũ rất hiện đại. Chính quyền London còn lên kế hoạch mua thêm hàng chục tiêm kích F-35 từ Mỹ.

Với lực lượng quân đội thường trực khoảng 140.000, quân đội có quy mô khá nhỏ. Hiện Anh vẫn chưa có kế hoạch tăng mạnh quân số, đi ngược lại với nhiều quốc gia châu Âu khác.

Khí tài quân sự Anh, đặc biệt vũ khí hạt nhân trang bị trên tàu ngầm, phụ thuộc vào công nghệ Mỹ nhiều hơn các nước châu Âu khác.

Ý có không quân uy lực, nhưng lục quân cần cải tổ

Theo NATO, Ý chi 1,49% GDP cho ngân sách quốc phòng năm 2024, tức dưới ngưỡng 2%. Tuy nhiên, nước này vẫn nằm trong những quân đội “nặng ký” nhất châu Âu, với lực lượng thường trực 165.000 quân, hai tàu sân bay và không quân đầy uy lực.

Tuy nhiên, lục quân Ý lại khá lỗi thời và cần được cải cách. Điều này sẽ sớm thay đổi, với Thủ tướng Ý Giorgia Meloni đặt mục tiêu trở thành lực lượng thiết giáp mạnh nhất châu lục, theo Reuters.

Ý đã đặt hàng hơn 1.000 xe tăng chiến đấu, đa nhiệm từ công ty Đức Rheinmetall.

Về khía cạnh chiến lược, Ý phần lớn tập trung vào vùng Địa Trung Hải và đảm bảo an ninh các tuyến hàng hải toàn cầu.

BDN

Loading

Views: 8

Lực lượng lục quân Việt Nam sẽ có sự thay đổi lớn và con đường hiện đại hóa bộ binh

Được xem là lực lượng quan trọng nhất, chủ chốt nhất trong lịch sử chiến tranh kéo dài gần 5000 năm của nhân loại, là thành phần mà máy móc AI không thể thay thế được, đó chính là Lục quân, nơi lòng can đảm và sự dũng cảm của con người được thử thách qua từng giây, từng phút. Thuận theo dòng lịch sử chiến tranh, các đơn vị lục quân ngày nay cũng ngày càng được hiện đại hóa mà như người ta vẫn nói đó là “trang bị tới tận răng”. Vậy, Việt Nam đã đi tới đâu trên con đường này?

Con người chính là yếu tố quan trọng nhất trong một cuộc chiến. Nhờ có yếu tố này mà chiến tranh đã trở thành một môn nghệ thuật với đầy biến số có thể xảy ra. Binh pháp từ Đông sang Tây, tự cổ chí kim, mỗi khi nhắc tới xây dựng quân đội nói chung hay lục quân nói riêng đều không hẹn mà gặp đúc kết lại thành một câu nói, “Binh cốt tinh, không cốt đông”. Điều này chính xác với cả những quân đội hiện đại ngày nay.

Việt Nam lúc cao điểm nhất vào những năm 1980, khi chiến sự vẫn đang nổ ra trên hai đầu đất nước, từng có lúc quân số lên tới 1,6 triệu quân thường trực, chia thành 9 quân đoàn và 13 quân khu, chủ yếu là Lục quân. Điều này đã tạo ra những gánh nặng khổng lồ về kinh tế và lực lượng lao động. Chính vì vậy, ngay sau khi chiến sự hai đầu ổn định, Bộ Quốc phòng đã phải cắt giảm quân đội liên tục xuống như mức hiện này là 450.000 quân, chia thành 4 quân đoàn chủ lực, 7 Quân khu và 1 Bộ Tư lệnh Thủ đô, trong đó lục quân chiếm đến 80% nhân lực. Điều này cũng dễ hiểu, bởi Việt Nam phía Tây và phía Bắc đều là đất liền, đặc biệt mối họa phương Bắc luôn thường trực trong suốt hàng ngàn năm lịch sử. Vậy nhưng, như đã từng nói, “Binh cốt tinh, không cốt đông”. Chính vì vậy, việc tinh gọn biên chế lực lượng Bộ Binh vẫn là chủ trương hiện nay của Việt Nam, ít nhất là đến năm 2030.

Quân đội nhân dân Việt Nam dự kiến lấy cấp sư đoàn làm đơn vị cơ bản để xây dựng và chính thức thành lập Quân chủng Lục quân, để có thể xây dựng theo các mô hình sư đoàn mạnh, tăng thêm về tăng thiết giáp, pháo binh, phòng không, có thể biên chế trung đoàn bộ binh cơ giới, sư đoàn nhẹ, tổ chức như sư đoàn hiện nay, biên chế ở cấp quân khu, nhất là những quân khu ở địa hình rừng núi, tổ chức Bộ Tư lệnh Lục quân chỉ huy lực lượng cơ động chiến lược, gồm các sư đoàn mạnh và các lữ đoàn binh chủng hiện đại. Ở thời điểm hiện tại Việt Nam đang tiến hành sáp nhập các quân đoàn chủ lực. Cụ thể, có quân đoàn 1, Binh đoàn Quyết Thắng hợp nhất với Quân đoàn 2, Binh đoàn Hương Giang, sáp nhập lại thành Quân đoàn 12 trong năm 2023. Sau đó sẽ là Quân đoàn 3 và Quân đoàn 4 cũng sẽ được sáp nhập trong thời gian tới.

Một câu hỏi được đặt ra đó là: sáp nhập như vậy có nghĩa là sẽ giảm quân số, liệu có ảnh hưởng gì tới đất nước khi có chiến tranh hay không? Như chúng ta đã biết, quân đoàn là những nắm đấm chủ lực dùng để phản công lại kẻ thù khi có chiến tranh. Việc số lượng ít hơn có ảnh hưởng gì tới sức mạnh tổng thể hay không?

Sau khi tìm hiểu sâu, chúng tôi nhận thấy rằng đây cũng là xu hướng chung của toàn thế giới và Việt Nam đã có sự học tập và tham khảo kinh nghiệm của rất nhiều cường quốc, đặc biệt là từ quân đội Mỹ. Tất nhiên là có sự điều chỉnh cho phù hợp với tình hình của Việt Nam vì chúng ta không có ngân sách quốc phòng và nguồn nhân lực khổng lồ cũng như những mục đích giống họ. Theo đó, Hoa Kỳ đã lấy các đơn vị sư đoàn làm đơn vị cơ bản. Thế nhưng, một sư đoàn của họ được trang bị đầy đủ từ xe tăng, pháo tự hành, pháo phóng loạt…. Thậm chí, chính Hoa Kỳ cũng đang chuyển dần từ việc lấy sư đoàn làm cơ bản thành lữ đoàn làm đơn vị cơ bản. Trở lại với nội dung chính, Việt Nam chủ trương xây dựng quân đội tinh, gọn và mạnh. Làm sao để đạt được mục tiêu đó?

Thực ra, đây là ba nội dung có vấn đề khác nhau, nhưng có một mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Vậy nên, trong quá trình điều chỉnh tổ chức quân đội, không được xem nhẹ bất cứ một nội dung nào.

Tinh có nghĩa là Tinh nhuệ, muốn nói tới chất lượng con người và vũ khí trang bị. Gọn có nghĩa là các đầu mối tổ chức cơ quan, đơn vị phải được xây dựng cân đối, đồng bộ, hợp lý, khoa học giữa các thành phần lực lượng, không được để chồng chéo chức năng, nhiệm vụ. Mạnh nghĩa là sức mạnh quân đội phải hội tụ được ba yếu tố đó là tổ chức con người, vũ khí trang bị và nghệ thuật quân sự Việt Nam, tạo thành một sức mạnh tổng hợp vượt trội.

Vì vậy quân đội mạnh không nhất thiết là phải đông đảo. Với việc sáp nhập hai quân đoàn, Việt Nam có thể từng bước cắt giảm tới hàng vạn bộ đội, tạo ra dư địa ngân sách cho hiện đại hóa quân đội. Suy cho cùng, mục tiêu của Việt Nam vẫn là tiến tới cơ giới hóa 100% quân đội.

Thay vì có một trung đoàn xe tăng T-54 cũ, chỉ cần một tiểu đoàn T-90 mới đã đạt được sức mạnh vượt trội, mà quân số lại ít hơn nhiều. Nếu nhìn rộng ra, một quân đoàn với trang bị mạnh mẽ, hiện đại, sức chiến đấu cao còn hơn hai quân đoàn cũ. Mặt khác, việc tinh gọn lực lượng đồng nghĩa là sẽ có thêm ngân sách quốc phòng để hiện đại hóa từ trang bị cá nhân đến cơ giới hóa quân đội.

Nếu các bạn theo dõi Thời sự Quốc phòng vào năm 2022, kỷ niệm 55 năm thành lập Sư đoàn 10, đã cho thấy bộ mặt của các sư đoàn tương lai của Việt Nam. Sư đoàn 10 là đơn vị được cải tổ biên chế để trở thành sư đoàn bộ binh đủ quân thời bình, chỉ ở cấp sư đoàn thôi mà đã có biên chế cả xe tăng, pháo cao xạ tầm thấp, pháo tự hành 122 mm và cả pháo phản lực nữa.

Ở các phân đội bộ binh, cũng được tăng cường hỏa lực, có cả tên lửa chống tăng B-72, súng phóng lựu liên thanh AGS-17, súng chống tăng RPG-29. Thay thế súng AK-47 kiểu cũ bằng súng tiểu liên STV, biên chế cấp sư đoàn đã như vậy, thì hỏi biên chế cấp quân đoàn kiểu mới còn mạnh mẽ như thế nào? Chắc là chúng ta cũng có thể hình dung ra được.

Thứ hai, trong điều kiện hiện nay, chiến tranh không phải sẽ xảy ra lập tức theo kiểu nay tuyên chiến, mai đánh luôn. Kẻ thù cũng cần điều kiện chính trị, tìm thời cơ hội thích hợp để đẩy nước ta vào hoàn cảnh rối loạn, rồi mới có thể ra tay. Vì vậy, từ khi tình hình căng thẳng đến khi chiến sự, nhiều khi kéo dài hàng tháng, thậm chí là cả năm trời. Chừng đó thời gian là đủ để Việt Nam huy động các lực lượng dự bị động viên hay các đơn vị biên chế, thiếu đơn vị khung thường trực thì sẽ được bổ sung thêm trang bị, sắp xếp thành các đơn vị đủ quân, đủ hỏa lực, không loại trừ khả năng khi có chiến tranh sẽ quay về như cũ vì lực lượng dự bị của Việt Nam lên đến 5 triệu quân, chưa kể chúng ta mới chỉ nói tới các quân đoàn, còn chưa nói tới các quân khu, các lực lượng địa phương, các đơn vị bán vũ trang.

Thứ ba, mang tiếng là có một quân đoàn bao gồm 3 sư đoàn bộ binh và nhiều lữ đoàn binh chủng hợp thành, nhưng thực ra trong thời bình, mỗi quân đoàn cũng chỉ có một sư đoàn bộ binh đủ quân mà thôi. Còn lại là biên chế thiếu, biên chế không thường trực. Mỗi quân khu cũng chỉ có một sư đoàn bộ binh đủ quân. Tức là như hiện nay, cả nước sẽ có 11 sư đoàn bộ binh đủ quân. Đây chính là lực lượng sẵn sàng chiến đấu cao nhất để đáp trả các đòn tấn công bất ngờ của kẻ thù xâm lược.

Vậy, khi sáp nhập 4 quân đoàn xuống thành 2 quân đoàn, trước đây mỗi quân đoàn sẽ có một sư đoàn đủ quân, bây giờ mỗi quân đoàn mới duy trì từ hai hoặc ba sư đoàn bộ binh đủ quân. Như vậy, số sư đoàn đủ quân không giảm đi mà còn tăng thêm. Điểm mấu chốt chính là số quân đoàn giảm đi, nhưng số sư đoàn đủ quân vẫn giữ nguyên. Quân đoàn mới được tăng cường về vũ khí trang bị, thiên về cơ động, sẵn sàng chiến đấu, giảm bớt các đơn vị biên chế thiếu, chuyển các chức năng như quản lý dự bị động viên về cho các quân khu. Đây chính là cách tổ chức quân đội chuyên nghiệp hóa theo kinh nghiệm từ các nước tiên tiến. Nếu ta để ý, thì việc sáp nhập quân đoàn đã gần như gạo nấu thành công rồi mới công bố cho toàn dân biết. Năm 2022, đã xuất hiện những thông tin về việc này, thế nhưng chỉ dưới dạng tin đồn, đến tháng 10/2023, Bộ Quốc phòng mới có tuyên bố chính thức thì Quân đoàn 1 và 2 đã được sáp nhập. Như vậy, ngay trong thời điểm này, có khi Quân đoàn 3 và 4 cũng đang sáp nhập sắp xong rồi cũng nên, ai mà biết được chứ.

Một vấn đề khác, khi nói tới Lục quân nói chung và bộ binh nói riêng, đó là trang bị cá nhân của người lính. Việt Nam, từ trước tới nay, có hai vấn đề được quan tâm nhất, đó là trang bị đại trà áo giáp chống đạn cho người lính và thay thế vũ khí bộ binh kiểu cũ. Trong nhiều năm, mỗi khi nhắc tới trang bị áo giáp chống đạn, chúng ta chỉ thường được thấy chúng trang bị cho những đơn vị đặc biệt như Trinh sát Đặc công, Đặc nhiệm Biên phòng, Đặc công chống khủng bố… Nhưng, đến năm 2023, đã xuất hiện những hình ảnh cho thấy việc tiến hành trang bị đại trà áo giáp chống đạn đang được triển khai.

Ngày 16/9/2023, trong cuộc diễn tập tác chiến phòng thủ Quân khu 3, Đại tướng Phan Văn Giang, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, đã tham gia chỉ đạo thực binh bắn đã thật tại Trường bắn Quốc gia khu vực 1. Kết thúc diễn tập tác chiến phòng thủ Quân khu 3, điều đặc biệt ở đây đó là theo hình ảnh được quay trực tiếp ta có thể thấy rằng, các chiến sĩ Quân khu 3 đều được trang bị áo chống đạn hạng trung, mặc dù mũ thì vẫn là mũ A2 chỉ có tác dụng chống mảnh văng thế nhưng đem lại một cái nhìn khác biệt hoàn toàn.

Theo những hình ảnh được công bố, các chiến sĩ Quân khu 3 được trang bị áo giáp bộ binh hạng trung lắp tấm da cường chống đạn, đây là một kiểu tấm kính được bọc thép hoặc sản xuất bằng vật liệu tổng hợp gốm hợp chất, được lắp vào vật mang hoặc áo chống đạn có thể được sử dụng độc lập hoặc kết hợp với các loại áo giáp khác.

Từ trước tới nay, việc nghiên cứu và sản xuất áo giáp chống đạn được giao cho Nhà máy Z117, vấn đề nan giải trong việc trang bị áo giáp đại trà cho quân đội không phải là công nghệ hạn chế mà là chưa chốt được phương án cuối cùng cho quân đội. Trong 20 năm qua, Nhà máy Z117 đã nghiên cứu, thiết kế, để chế tạo, sản xuất số lượng lớn áo giáp chống đạn cho quân đội. Thế nhưng, vấn đề là chưa chốt được thiết kế cuối cùng, đến tận năm 2023, Viện Công nghệ Quốc phòng mới chốt được phương án tối ưu, phát triển vật liệu gốm và vật liệu composite cấp độ chống đạn đạt tiêu chuẩn của Mỹ, tấm da cường chống đạn được chế tạo từ 100% composite dama, có thể chống được đạn súng tiểu liên AK47 cỡ 7,62 ly x39 theo tiêu chuẩn ở cự ly 15 m. Sau khi được định hình, các miếng gốm này sẽ được nung trong nhiệt độ thích hợp để miếng gốm kết khối đúng theo tiêu chuẩn. Đây là sản phẩm của đề tài khoa học cấp Nhà nước Nghiên cứu chế tạo do Tiến sĩ Tạ Văn Khoa cán bộ phòng vật liệu Viện Công nghệ, làm chủ nhiệm đề tài. Áo giáp chống đạn được chế tạo từ 100% composite denama có trọng lượng nhẹ phù hợp để trang bị cho bộ đội Việt Nam. Từ đây, các nhà khoa học của Viện Công nghệ đã mở ra khả năng tự chủ cho việc sản xuất hàng loạt với giá thành rẻ hơn nhập ngoại. Điều đáng nói ở đây, là việc làm chủ công nghệ chế tạo từ A – Z trong nước đã được hoàn thành từ tận năm 2012 và đã có nhiều mẫu thiết kế mới ra mắt thế nhưng phải mất tới 10 năm mới chốt được phương án.

Tháng 9 vừa qua, lần đầu tiên, đơn vị bộ binh của cả một quân khu được trang bị áo giáp chống đạn. Điều này cho thấy rằng việc trang bị đại trà cũng đang được triển khai trên từng quân khu một.

Tại sao chưa trang bị cho các quân đoàn đầu mà là các quân khu đảm bảo công tác quốc phòng địa phương vì từ đó sẽ được đúc kết kinh nghiệm cho việc trang bị mới và tổ chức ở cấp quân đoàn chủ lực. Hơn nữa, việc xây dựng lực lượng quân khu mạnh cũng là mạnh từ gốc. Tuy nhiên, đây thì cũng chỉ là bước đầu mà thôi. Trang bị của người lính đâu chỉ có áo chống đạn, còn cả mũ, ba lô, vũ khí, nhìn đêm, đủ thứ. Đặc biệt là mũ, khi mà các đơn vị bộ binh vẫn sử dụng mũ A2 không chống được đạn, còn rất nhiều phụ kiện nữa.

Vấn đề đến vũ khí cá nhân, như đã nói phần trên, đây là một trong những chủ trương xây dựng quân đội tinh, gọn và mạnh. Với sư đoàn 10 Quân khu 3 là tiêu chuẩn khi Việt Nam thay thế súng trường AK-47 kiểu cũ bằng loại STV, dựa trên thiết kế Galil ACE của Israel. Nói chung, sư đoàn 10 chính là sư đoàn kiểu mẫu cho các đơn vị về sau, còn việc trong tương lai có trang bị thêm hay cái tiến gì không thì thời gian mới trả lời được. Cùng với đó loại bỏ dần các loại vũ khí phóng lựu và chống tăng kiểu cũ, thay thế bằng các loại hiện đại được nội địa hóa trong nước. Vậy nhưng, đây mới chỉ là những bước đầu tiên mà thôi.

Do thời thế thay đổi, Việt Nam phải ưu tiên các đơn vị hải quân, không quân, tác chiến điện tử… được tiến thẳng lên hiện đại trước. Còn Lục quân sẽ là từng bước tiến lên hiện đại. Vậy nên, có một bức tranh toàn cảnh thì ta mới có thể thấy đầu tư trang bị của Việt Nam cho lục quân vẫn là khá thấp và khá chậm chạp so với các đơn vị khác.

BDN

Loading

Views: 0

Ấn Độ đóng tàu sân bay 4,8 tỷ USD đối phó TQ

Ấn Độ có thể sắp công bố dự án đóng tàu sân bay nội địa trị giá 4,8 tỷ USD trong nỗ lực đối phó với sự gia tăng hiện diện của Trung Quốc ở Ấn Độ Dương.

Bloomberg dẫn nguồn thạo tin cho biết, Ấn Độ có thể sắp đóng thêm tàu sân bay mới trị giá gần 400 tỷ rúp (4,8 tỷ USD). Theo nguồn tin, Hội đồng Mua sắm Quốc phòng Ấn Độ – cơ quan do Bộ trưởng Quốc phòng Rajnath Singh đứng đầu – dự kiến sẽ thông qua việc mua tàu sân bay nội địa thứ 2 vào cuối tuần này.

Tàu sân bay mới có thể mang theo 28 tiêm kích và trực thăng với lượng giãn nước 45.000 tấn. Nó sẽ được trang bị phi đội tiêm kích Rafale do Pháp sản xuất. Trước đó Ấn Độ có 2 tàu sân bay, một chiếc do Liên Xô sản xuất và một chiếc thứ 2 mới biên chế năm ngoái là do công ty Cochin Shipyard đóng.

Theo Bloomberg, lực lượng hải quân với 3 tàu sân bay sẽ giúp Ấn Độ gia tăng sức mạnh tại Ấn Độ Dương vào thời điểm Trung Quốc – nước có lực lượng hải quân lớn nhất thế giới với 370 tàu chiến và tàu ngầm – ngày càng nâng cao hiện diện ở khu vực.

Lực lượng hải quân mở rộng cũng cho phép Ấn Độ mở rộng tầm ảnh hưởng trên các đại dương khi có thể xuất hiện ở nhiều khu vực xa xôi.
Theo các nguồn tin, Ấn Độ có kế hoạch sở hữu 160 tàu chiến vào năm 2030 và 175 tàu vào năm 2035 với chi phí ước tính là 2.000 tỷ rupee. Hơn 60 tàu của Hải quân Ấn Độ đang ở các giai đoạn sản xuất khác nhau.

Ấn Độ đang gia tăng các cuộc tuần tra bằng tàu chiến trong bối cảnh ngày càng có nhiều lo ngại về sức mạnh hải quân gia tăng của Trung Quốc.

Ấn Độ cũng đã nâng cấp đường băng tại Quần đảo Andaman và Nicobar cho phép máy bay hạ cánh vào ban đêm. Đó là nỗ lực nhằm giám sát chặt chẽ hơn các eo biển hẹp Malacca, Sunda và Lombok ở phía nam Ấn Độ Dương. Chuỗi đảo này được Ấn Độ và các đối tác sử dụng để thực hiện hoạt động giám sát hàng hải.

BDN

Loading

Views: 0

Việt Nam tìm cách đa dạng hóa nguồn cung quốc phòng với triển lãm quốc phòng

Tuần qua, Quân đội nhân dân Việt Nam (VPA) lần đầu tiên tổ chức triển lãm quốc phòng quốc tế nhằm thúc đẩy hợp tác quốc tế trong lĩnh vực quốc phòng, xây dựng niềm tin giữa Việt Nam và các nước khác đồng thời giới thiệu ngành công nghiệp quốc phòng mới lập của mình với thế giới.

Nhưng điều quan trọng hơn là, VPA muốn đa dạng hóa nguồn khí tài và thiết bị quốc phòng, bắt kịp với xu thế công nghệ quốc phòng gần đây của thế giới, và tìm kiếm cơ hội nhằm xuất khẩu các sản phẩm quốc phòng được sản xuất trong nước. Triển lãm phản ánh quyết tâm của lực lượng vũ trang Việt Nam giảm sự phụ thuộc nặng nề vào vũ khí Nga. Tuy nhiên, nhu cầu cấp thiết hiện đại hóa quân đội trong bối cảnh tranh chấp Biển Đông, nền kinh tế đang phát triển với nền tảng công nghệ và công nghiệp đang phát triển, tham vọng phát triển ngành công nghiệp quốc phòng trong nước cũng là những yếu tố khuyến khích quân đội Việt Nam tìm cách thay đổi chiến lược mua sắm của mình. Đối với Việt Nam Vũ khí Nga hấp dẫn hơn so với các nước khác vì lý di về lịch sử, chính trị, và thể chế. Việc Việt Nam phụ thuộc vào vũ khí Nga đã định hình các thể chế quốc phòng Việt Nam và quyết định nhiều đến bản chất của các thể chế này. Toàn bộ cơ sở quốc phòng Việt Nam đã được thiết lập để phù hợp với công nghệ quân sự kiểu Xô Viết, về mặt đào tạo, bảo trì và vận hành. Đã có nhiều nỗ lực nhằm đa dạng hóa dần dần khỏi sự phụ thuộc quá nhiều vào các hệ thống quân sự của Nga và có nhiều kết quả khác nhau. Ví dụ sớm nhất là nỗ lực mua máy bay chiến đấu phản lực Mirage-2000 từ Pháp vào những năm 1990 của Việt Nam đã thất bại do lệnh cấm vận vũ khí của Mỹ được áp dụng vào thời điểm đó. Thất bại trong việc mua Mirage-2000 cũng đáng chú ý vì Trung Quốc bắt đầu hiện đại hóa lực lượng không quân bằng cách mua lô máy bay phản lực Su-27 đầu tiên từ Nga vào năm 1992. VPA biết rằng việc mua cùng loại vũ khí với kẻ thù tiềm tàng từ cùng một nhà cung cấp sẽ đem đến rất nhiều rủi ro về mặt tác chiến. Sự kiện thứ hai diễn ra vào đầu những năm 2010 khi Việt Nam quyết định mua một số khinh hạm lớp Gegard của Nga. Động cơ của các con tàu đáng lẽ phải do Ukraine cung cấp. Phần thỏa thuận đã phá sản khi Nga sáp nhập Crimea vào năm 2014, do đó buộc Việt Nam phải đàm phán với chính Ukraine để có được những phần quan trọng. Quân đội Việt Nam hiện đang áp dụng chiến lược mua sắm ba hướng để đáp ứng nhu cầu hiện đại hóa. Thứ nhất, Việt Nam đang cố gắng đa dạng hóa nguồn cung cấp các nền tảng quân sự tiên tiến. Israel đã và đang đóng một vai trò thiết yếu trong nỗ lực này vì hai nước có mối quan hệ quốc phòng bền chặt từ những năm 1990. Cũng có vị trí cao trong danh sách là Ấn Độ (có thể mua tên lửa Brahmos) và một số quốc gia Đông Âu như Czechia (với việc mua L-39NG vào năm 2021) và Bulgaria (vũ khí hạng nhẹ và vũ khí nhỏ). Thứ hai, quân đội đang cố gắng kéo dài tuổi thọ của các vũ khí cũ thông qua các dự án hiện đại hóa khác nhau. Đáng chú ý nhất trong số này là nỗ lực nâng cấp xe tăng chiến đấu chủ lực T-54/55 của Việt Nam với sự giúp đỡ không nhỏ của Israel. Thứ ba, với kế hoạch đầy tham vọng nhằm phát triển một tổ hợp công nghiệp-quân sự tiên tiến, quân đội đã cố gắng chế tạo vũ khí của riêng mình, từ vũ khí nhỏ đến vũ khí mà họ coi là vũ khí công nghệ cao. Ngành công nghiệp quốc phòng non trẻ của đất nước đã sản xuất được các phương tiện vũ trang và vũ khí hạng nhẹ như tên lửa chống tăng, súng phóng lựu và súng máy.

chuyển động quốc phòng

Loading

Views: 0

3 Trung Đoàn SU 30 của Việt Nam mạnh cỡ nào?

Vào giữa những năm 1990 của thế kỷ 20, Việt Nam đứng trước những thách thức to lớn, khi các máy bay chiến đấu chủ lực trong lực lượng không quân của Việt Nam thời điểm bấy giờ như MIG-21, MIG-19 đều đã lỗi thời, lạc hậu sau gần 30 năm biên chế. Trong khi đó SU-22, loại máy bay giữa vai trò nhiệm vụ xương sống của lực lượng không quân Việt Nam lại không đáp ứng được các yêu cầu phức tạp, trong nhiệm vụ tác chiến đối hải và đối đất trên Biển Đông.

Nhằm đáp ứng những yêu cầu bảo vệ đất nước trong tình hình mới.Từ đầu những năm 1995, Việt Nam đã đặt mua 12 tiêm kích SU-27SK/UBK của Nga. SU-27SK/UBK được xem là loại chiến đấu cơ xuất khẩu mạnh nhất của Nga thời điểm bấy giờ, nó được trang bị loại radar hàng không có khả năng phát hiện mục tiêu ở cự ly 350 đến 400 km với các vật thể bay cỡ lớn, theo dõi ở cự ly 200 km, phát hiện được các máy bay như F16 ở 140 đến 160 km, radar này thì có thể giám sát 15 mục tiêu trên không và dẫn đường cho tên lửa tấn công đồng thời 4 mục tiêu cùng lúc. Mặc dù được đánh giá rất cao so với các dòng máy bay trong cùng thế hệ thứ tư của Mỹ như F14, F15, F16 và FA18, tuy nhiên SU-27 lại chỉ được thiết kế để chiếm ưu thế trên không và không đáp ứng được các ưu tiên đối hải và đối đất cho tình hình mới của Việt Nam. Mà lúc này Việt Nam cần một chiến đấu cơ vừa không chiến đấu được, vừa tấn công mặt đất và đối hải:

Tới những thập niên đầu tiên của thế kỷ 21, ứng cử viên sáng giá của Việt Nam đã lộ diện đó là SU-30 một phiên bản nâng cấp toàn diện của SU-27. Loại máy bay chiến đấu đa chức năng thế hệ thứ 4+ này đã kế thừa toàn bộ ưu việt của SU-27, nó có thể tác chiến đối không, đối hải và cả đối đất một cách vượt trội, ngay cả khi có hai chỗ ngồi, SU-30 cũng ngang ngửa với SU-27 một chỗ ngồi về hiệu suất. Năm 2003, hợp đồng 4 chiếc SU-30MK đầu tiên đã được ký kết giữa Việt Nam và Liên bang Nga, biến Việt Nam thành một trong những quốc gia đầu tiên sở hữu dòng chiến đấu cơ đa năng hạng nặng thế hệ thứ 4+ này.

Vậy ngoài những lý do kể trên thì còn những nguyên do nào khiến cho Việt Nam quyết định dốc túi để đem về SU-30.

SU-30 của Việt Nam có gì đặc biệt, số lượng biên chế bây giờ là bao nhiêu và với số lượng biên chế đó có đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Hoàng Sa và Trường Sa hay không?

Sau khi đưa vào biên chế 12 chiến đấu cơ SU-27 trong giai đoạn từ năm 1995 cho đến năm 1998, vào năm 2003 Việt Nam tiếp tục mua 4 máy bay chiến đấu SU-30MK2 theo hợp đồng trị giá khoảng 120 triệu đô la Mỹ, việc giao hàng hoàn tất trong năm 2004. Đến năm 2009, Việt Nam tiếp tục ký hợp đồng mua 8 chiếc chiến đấu cơ SU-30MK2 với tổng giá trị khoảng 500 triệu đô la Mỹ, các máy bay này chuyển giao cho giai đoạn từ năm 2010 cho đến 2011.

Song song với thương vụ cung cấp SU-30MK2 thứ 2, là hợp đồng 1 tỷ đô la mỹ đặt mua 12 chiếc nữa ký vào năm 2010, Nga đã bàn giao đủ số lượng cho phía Việt Nam vào năm 2012. Những chiếc SU-30MK2 này mặc dù mang màu sơn mới xanh rằn ri lá cây nhưng cấu hình được cho là không thay đổi so với 12 chiếc ban đầu. Sau khi đưa vào biên chế đủ 24 chiếc đấu cơ SU-30MK2, có ý kiến cho rằng Việt Nam sẽ lựa chọn một dòng tiêm kích hạng nặng tiên tiến hơn như SU-35S hoặc là SU-30SM, nhưng rồi có cung cấp 12 chiến đấu cơ SU-30MK2 nữa đã được ký kết vào năm 2013 và Việt Nam nhận đủ số lượng vào cuối 2015. Như vậy, tính đến cuối 2015 không quân Nhân dân Việt Nam đã có trong biên chế tổng cộng 47 chiếc tiêm kích thế hệ thứ 4 và thế hệ thứ 4+ hiện đại, một chiếc SU-27SK bị rơi xuống biển trong một cuộc huấn luyện bay ở Trường sa vào ngày mùng 1 tháng 7 năm 1997.

Từ năm 2013 cho đến nay, Việt Nam không ký kết hợp đồng mua máy bay quân sự mới. Ngày 14 tháng 6 năm 2016, một chiếc SU-30MK2 bị rơi khi thực tập huấn luyện bay, khiến một trong hai phi công tử nạn. Như vậy cho đến nay Việt Nam chỉ còn khoảng 46 chiếc SU-27/30 đang hoạt động, bao gồm 11 Chiếc SU-27 và 35 chiếc SU-30, 35 chiếc SU-30 được biên chế thành 3 Trung đoàn, bố trí tại những vị trí trọng yếu ở ba miền Bắc Trung và Nam để bảo vệ vùng trời và biển đảo của Tổ quốc.

SU-30MK2 là máy bay tiêm kích tầm xa hai động cơ hai chỗ ngồi, có thể hoạt động trên biển trong mọi điều kiện thời tiết và thường được so sánh với loại máy bay F-15E do Mỹ sản xuất, với đơn giá vào khoảng 37,5 triệu đô la Mỹ/chiếc vào năm 2012, chưa bao gồm vũ khí chỉ bằng khoảng 40% so với giá một chiếc F15 của Mỹ. Nó được nâng cấp hệ thống điện tử cho phép hỗ trợ các loại tên lửa chống tàu kiểu mới, loại máy bay này đã được đưa vào sử dụng trong chiến tranh Syria và Ukraina. SU-30 của Việt Nam là SU-30MK2V phiên bản SU-30MK2 xuất khẩu dành riêng cho Việt Nam với những cải tiến phụ và hệ thống điện tử cho phù hợp với nhu cầu tác chiến trên biển nhiệt đới.

SU-30MK2V dài 21,5 m, sải cánh 14 m, chiều cao 6,1 m, tầm bay 3.000km, khi được tiếp nhiên liệu trên không nó có thể bay xa 8.000 km, đạt vận tốc tối đa là Mach 2, tức 2.120km/h, SU-30MK2V có thể cất và hạ cánh trên một đường băng cực ngắn, nó có thể cất cánh trên đường bằng dài 550 m và hạ cánh trên đường băng dài 750 m ở tải trọng vũ khí thông thường, với tải trọng giảm khoảng cách cất cách có thể giảm xuống còn 450 m và hạ cách trên đường bằng dài 650 m. Nói một cách đơn giản thì SU-30 có thể hoàn toàn hạ cánh trên sân bay duy nhất của Việt Nam tại đảo Trường Sa Lớn.

Về thiết kế, SU-30MK2V của Việt Nam vẫn giữ lại hầu hết những đặc điểm thiết kế khí động học của SU-30. Tuy nhiên, thì trọng lượng vũ khí mang theo được nâng lên 12 tấn. Ngoài ra, vật liệu hợp kim nhôm mới cũng được thay thế cho loại hợp kim cũ, sử dụng cho SU-30 để giảm trọng lượng cất cánh, hai đôi lái chính được làm bằng nhiều vật liệu composite sợi carbon hơn với SU-30.

SU-30MK2V dễ dàng chiếm ưu thế trên không và tấn công nhanh mọi mục tiêu trên đất liên và trên biển. Việc được trang bị radar N011 còn giúp SU-30 đảm đương được chức năng của một máy bay cảnh báo sớm. Điều đặc biệt lưu ý là SU-30MK2 mới đã được trang bị động cơ AL-31FP là phiên bản tiên tiến nhất của dòng AL-31F, có lực đẩy lên đến 14.500 kg/, ngang với lực đẩy của 117S AL-41F1S trên SU-35, độ linh hoạt không hề thua kém. Trong không chiến tầm gần, không gian hẹp kết cấu cánh mũi cùng động cơ AL-31FP có điều khiển vectơ định hướng hai chiều, giúp cho SU-30MK2 có vận tốc rất cao khả năng cơ động cực kỳ linh hoạt, đủ khả năng đối phó với những tiêm kích tiên tiến nhất hiện nay trên thế giới kể cả SU-35.

SU-30MK2V có 12 giá treo vũ khí với tải trọng chiến đấu là 10 tấn vũ khí, trong khi tải trọng vũ khí tối đa là 12 tấn, tải trọng chiến đấu là lượng vũ khí tối đa mà máy bay có thể mang theo mà vẫn có thể tác chiến hiệu quả, còn tải trọng tối đa là lượng vũ khí lớn nhất mà máy bay có thể mang theo trong khi cất cánh, nhưng không thể tác chiến hiệu quả do tầm bay bị rút xuống quá ngắn, vũ khí trang bị của SU-30MK2V gồm có:

Thứ nhất là pháo: gồm hai khẩu GSH-30 cỡ nòng 30mm với 150 viên đạn.

Về tên lửa thì gồm rất nhiều loại tên lửa từ không đối không, không đối hải và không đối đất, các tên lửa không đối đất như CAH31 dài 4,7 đến 5,2 m, đường kính 0,36 m, nặng từ 600 đến 610 kg, đầu đạn 100 kg tốc độ đạt Mach: 2,5, tầm bắn từ 200 đến 110 km, loại tên lửa này có đơn giá vào khoảng từ 300.000 đến 500.000 đô la Mỹ/quả tức là từ 7 đến 12 tỷ đồng cho 1 lần bắn; tên lửa dẫn đường đối đất và đối hải như Kh-29, Kh-59ME, loại tên lửa này dài 3,9 đến 5,7 m, đường kính 0,38m, nặng 680 đến 930 kg, đầu đạn 320 kg. tốc độ đạt Mach: 0.8 đến 1,2, tầm bắn từ 10 đến 200 km, tên lửa Kh-29 hay được sử dụng để tấn công các mục tiêu trên chiến trường và cơ sở hạ tầng lớn như các nhà chứa máy bay kiên cố, đường băng bê tông và cầu cảng. Ngoài ra, nó cũng có thể được sử dụng để tấn công các tàu có trọng tải lên đến 10.000 tấn.

Tên lửa Kh-59ME có giá vào khoảng 18 triệu USD/quả tức khoảng 442 tỷ Việt Nam đồng. Các tên lửa không đối không như tên lửa tầm ngắn dẫn đường bằng hồng ngoại Vympel R-73, tên lửa tầm trung dẫn đường bằng radar bán chủ động và hồng ngoại Vympel R-27, tên lửa dẫn đường bằng radar chủ động R-77E, có tầm bắn từ 40 đến 170 km, trọng lượng đầu nổ từ 7,4 đến 39 kg, tốc độ đạt được từ Mach: 2,5 đến 4,5, tức là từ 3.000 đến 5.500 km/h, tên lửa R-77e có giá từ 500 đến 800.000 USD/quả tùy phiên bản.

Cuối cùng là bom. SU-30MK2V còn được trang bị các loại bom dẫn đường bằng laser như KAB-500L và KAB-1500l, KAB-500L có chiều dài khoảng 3,05 m, đường kính 0,35m, sải cánh 0,75 m, trọng lượng 525 kg với đầu đạn nặng khoảng 450 kg, bom có thể được thả từ độ cao 500 đến 5.000m, đầu dò có thể bắt mục tiêu ở cự ly tối đa 17 km với sai số chỉ 7m. Trong khi KAB-1.500L dài 4,28m, đường kính 0,82 m, nặng 1.500 kg là loại bom chuyên phá hầm ngầm và bê tông có thể xuyên sâu 20m đất hoặc 3m bê tông sau đó mới phát nổ, loại bom này khi nổ sẽ tạo ra một cái hố đường kính 20m. Viện nghiên cứu Hòa Bình Quốc tế StockHome cho biết vào năm 2009, Việt Nam đã nhận được 200 quả bom có điều khiển loại KAB-500/1500 để trang bị cho SU-30MK2.

SU-30MK2V là phiên bản đặc biệt được thiết kế dành riêng cho Việt Nam để tác chiến trên biển, với tầm bay trên 3.000 km bao trùm toàn bộ biển Đông, sở hữu những tính năng vượt trội, nó hoàn toàn có thể đáp ứng được nhiệm vụ bảo vệ Trường Sa. Tuy nhiên với số lượng biên chế chỉ khoảng 35 chiếc lại chia làm 3 Trung đoàn tương đương với khoảng 12 chiếc cho mỗi Trung đoàn, nếu gộp cả SU-27 vào thì Việt Nam trung bình có khoảng 16 chiếc SU30/27 trực chiến, số lượng như vậy là tương đối mỏng trong trường hợp có giao tranh xảy ra trên Biển Đông.

Kể từ năm 2015 cho đến nay, đã có rất nhiều đồn đoán về việc Việt Nam mua các máy bay SU-30SM hay là SU-35. Tuy nhiên, chưa có hợp đồng nào được ký kết trong giai đoạn này, mọi đồn đoán bị đánh tan vào năm 2019 với hợp đồng trị giá khoảng 350 triệu USD về việc cung cấp 12 máy bay huấn luyện Yak-130 cho Không quân Việt Nam, tức là đủ một phi đội, 6 chiếc đầu tiên được Nga bàn giao cho Việt Nam vào ngày 13 tháng 11 năm 2021, đây là loại máy bay huấn luyện hiện đại 2 chỗ ngồi. Ngoài ra, nó cũng có thể tác chiến dưới vai trò là tiêm kích đa năng hạng nhẹ, loại máy bay này sẽ giúp huấn luyện các phi công làm quen với các loại máy bay hiện đại thế hệ thứ 5 như Sukhoi T-50, hay gần đây nhất là SU-75 Checkmate của Nga, thậm chí là cả F22 hay F35.

Rất rõ ràng mục tiêu của Việt Nam không chỉ dừng lại ở các dòng máy bay thế hệ thứ 4+ hay 4++ như SU-35, rất có thể trong thời gian tới Không quân Việt Nam sẽ đưa vào biên chế những dòng máy bay chiến đấu cơ thế hệ thứ 5.

BDN

Loading

Views: 0

Việt Nam – Ấn Độ cam kết nâng cao hợp tác quân sự – quốc phòng

Tại cuộc họp, hai bên cam kết nâng cao hơn nữa hợp tác giữa các lực lượng vũ trang Việt Nam và Ấn Độ trong khuôn khổ mối quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện.

Đối thoại An ninh Quốc phòng Việt Nam – Ấn Độ lần thứ 13 theo hình thức trực tuyến tại đầu cầu Ấn Độ

Ngày 12/01, Đối thoại An ninh Quốc phòng Việt Nam – Ấn Độ lần thứ 13 đã được tổ chức theo hình thức trực tuyến dưới sự chủ trì của Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh, Thứ trưởng Quốc phòng Việt Nam và Thứ trưởng Quốc phòng Ấn Độ Ajay Kumar.

Tại cuộc họp, hai bên bày tỏ sự hài lòng trước mối quan hệ về quốc phòng ngày càng phát triển giữa hai nước, bày tỏ cam kết nâng cao hơn nữa hợp tác giữa các lực lượng vũ trang Việt Nam và Ấn Độ trong khuôn khổ mối quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện. Hai nước cũng nhất trí tìm kiếm các cơ hội hợp tác về công nghiệp và công nghệ quốc phòng. Trong những năm qua, hợp tác hàng hải giữa Hải quân Việt Nam – Ấn Độ cũng là một khía cạnh quan trọng của hợp tác quốc phòng. Vào tháng 12/2020, Ấn Độ đã cử một tàu hải quân chuyên chở một số hàng viện trợ cho nhân dân Việt Nam; đồng thời tổ chức một cuộc diễn tập hành tiến với Hải quân Việt Nam trên Biển Đông.

Trước đó, ngày 21/12/2020, Thủ tướng hai nước cũng đã tham dự cuộc hội đàm trực tuyến cấp cao song phương. Tại đây, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi cùng chia sẻ ‘Tầm nhìn chung Việt Nam – Ấn Độ vì Hòa bình, Thịnh vượng và Con người’. Tầm nhìn này bao gồm các biện pháp để đẩy mạnh các chương trình trao đổi quân sự, đào tạo và nâng cao năng lực cho các lực lượng quốc phòng và cảnh sát biển.

Trong tuyên bố Tầm nhìn chung, hai thủ tướng cũng nhấn mạnh mối liên hệ giữa thịnh vượng và an ninh, tái khẳng định tầm quan trọng của việc duy trì hòa bình, ổn định, an ninh và tự do hàng hải và hàng không ở Biển Đông; đồng thời theo đuổi giải pháp hòa bình cho các tranh chấp, phù hợp với luật quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS).

Quan hệ song phương Việt Nam – Ấn Độ tiếp tục xu hướng đi lên trong thập kỷ qua. Năm 2016, Thủ tướng Narendra Modi có chuyến thăm Việt Nam và cùng tuyên bố đưa quan hệ hai nước lên tầm Đối tác Chiến lược Toàn diện. Tiếp đó, chuyến thăm của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đến Ấn Độ vào tháng 1/2018 với tư cách khách mời nhân Ngày Cộng hòa của Ấn Độ và dự Hội nghị cấp cao Kỷ niệm 25 năm thiết lập quan hệ Đối tác đối thoại ASEAN – Ấn Độ đánh dấu đà phát triển của mối quan hệ song phương.

BDN

Loading

Views: 0