Tag Archives: Năng lượng sạch

Dự báo nguồn cung năng lượng, tính linh hoạt và lưu trữ điện toàn cầu vào năm 2050

Đến năm 2050, tỷ lệ năng lượng sơ cấp của nhiên liệu hóa thạch sẽ giảm xuống dưới 50% so với 80% thị phần hiện tại. Điều này đạt được là do quá trình điện khí hóa nhanh chóng, khử cacbon, tăng hiệu quả sử dụng năng lượng và các dự án điện gió, mặt trời phát triển mạnh mẽ với chi phí giảm đáng kể.

Nhiên liệu hóa thạch giảm mạnh:

Nhiên liệu hóa thạch trong cung cấp năng lượng sơ cấp của thế giới sẽ giảm đáng kể từ 80% hiện nay xuống chỉ dưới 50% vào năm 2050.

Than tiêu thụ đạt đỉnh 8 Gt (tỷ tấn) mỗi năm vào năm 2014. Kể từ đó, tổng nhu cầu về than đã và sẽ giảm. Trong đại dịch Covid-19 nhu cầu than giảm 7% vào năm 2020. Nhu cầu sự phục hồi sẽ không đạt đến đỉnh trước đó, thay vào đó là việc sử dụng than sẽ giảm gần 2/3 so với mức hiện tại vào năm 2050.

Nhu cầu dầu mỏ năm 2020 là 75 triệu thùng mỗi ngày (Mb/d [1]) không bao gồm khí tự nhiên hóa lỏng và nhiên liệu sinh học. Dự đoán mức tiêu thụ dầu mỏ cao nhất vào năm 2025 với 86 Mb/ngày, cao hơn 15% so với hiện nay, trước khi đi vào mức suy giảm ổn định trong dài hạn.

Nhu cầu dầu mỏ sẽ giảm chậm từ năm 2025 đến năm 2035, sau đó sự suy giảm trở nên tương đối mạnh, trung bình giảm 2,4% mỗi năm trong giai đoạn 2035 – 2050.

Năm 2050, nhu cầu dầu toàn cầu dự kiến ​​là 56 Mb/d (115 EJ). Như vậy, sẽ là giảm 32% so với hiện nay. Sự sụt giảm này phần lớn liên quan đến giảm nhu cầu trong lĩnh vực vận tải, giảm 45% trong 28 năm tới. Sản xuất sẽ tập trung mạnh hơn bao giờ hết ở Trung Đông và Bắc Phi.

Cung cấp khí tự nhiên sẽ đạt đỉnh vào năm 2036 và giảm dần đến thấp hơn 10% so với mức hiện nay. Tiêu thụ khí đốt sẽ vượt qua dầu và trở thành nguồn năng lượng sơ cấp lớn nhất vào cuối những năm 2040.

Khí đốt có sức mạnh duy trì nhờ sự đa dạng của việc sử dụng nó: Một nửa trong số nhu cầu về khí đốt là năng lượng cuối cùng trong sản xuất, vận tải, các tòa nhà và nửa còn lại thông qua chuyển đổi cho các mục đích sử dụng cuối cùng khác (như điện, hóa dầu, sản xuất hydro).

Nhu cầu khí đốt sẽ thay đổi đáng kể giữa các khu vực: Giảm trong các quốc gia OECD; đang phát triển ở Trung Quốc đại lục với đỉnh ở đó vào đầu những năm 2030 và tăng gấp ba lần ở Tiểu lục địa Ấn Độ vào năm 2050.

Vào giữa thế kỷ này, chỉ 12% khí đốt sẽ không có carbon, trong số đó hydro sẽ chiếm khoảng một phần tư, với sự cân bằng được tạo nên thông qua công nghệ thu giữ và lưu trữ carbon (CCS) trong điện lực và công nghiệp, và bằng khí metan sinh học (biomethane).

Trong mô hình hóa nhu cầu khí đốt vẫn giả định rằng, giá khí đốt cao ngày nay vẫn tồn tại đến năm 2024 trước khi dần trở lại mức năm 2021. Chương trình kiểm tra chạy với giá khí đốt cao kéo dài trong 6 và 12 năm cho thấy điều đó sẽ làm suy triển vọng khí đốt như thế nào trên toàn cầu và đặc biệt ở châu Âu – nơi mà việc sử dụng nó sẽ giảm một nửa trong vòng một thập kỷ.

Tăng năng lượng tái tạo:

Than và khí đốt lần lượt giảm tương ứng 4% và 8% trong sản xuất điện vào năm 2050, khi chúng hầu như chỉ giới hạn ở cung cấp tính linh hoạt, dự phòng trong hệ thống điện với 70% phụ thuộc vào các nguồn năng lượng tái tạo biến đổi (Variable Renewable Energy Sources – VRES [2]).

Từ nay đến năm 2050, công suất năng lượng mặt trời tăng gấp 22 lần, công suất gió tăng gấp 9 lần, trong đó gió trên bờ gấp 7 lần và gió ngoài khơi gấp 56 lần.

Điều này được thúc đẩy là do cả chi phí giảm và sự gia tăng của VRES với sự cung cấp một lộ trình rẻ nhất và nhanh nhất cho cả quá trình khử cacbon và an ninh năng lượng. Chi phí năng lượng quy đổi bình quân toàn cầu (LCOE) cho điện mặt trời hiện nay ở mức khoảng 5 UScent/MWh và 12 UScent/MWh cho năng lượng mặt trời + bộ lưu trữ. Điều này sẽ làm giảm khoảng 3 UScent/MWh đối với pin mặt trời vào giữa thế kỷ này.

Chi phí năng lượng mặt trời + lưu trữ hiện nay cao gấp đôi pin năng lượng mặt trời không có lưu trữ. Giá pin mặt trời giảm sẽ thu hẹp khoảng cách này xuống còn khoảng 50% vào giữa thế kỷ này. Trong vòng một thập kỷ, khoảng 1/5 tổng số pin mặt trời sẽ được lắp đặt bộ lưu trữ chuyên dụng và đến giữa thế kỷ này, số pin mặt trời được lắp đặt bộ lưu trữ sẽ tăng lên một nửa. Việc lắp đặt hệ thống năng lượng mặt trời trên toàn cầu mỗi năm sẽ đạt 550 GW cho đến năm 2040.

LCOE cho gió cố định và nổi ngoài khơi giảm 39% và 84% tương ứng trong giai đoạn đến 2050. Thậm chí các dự án gió trên bờ do đã được phát triển thuần thục, có thể làm giảm chi phí đến 52%. Những phát triển này thúc đẩy sự gia tăng của điện gió phát vào lưới điện từ 1.600 TWh/năm vào năm 2020 lên 19.000 TWh/năm vào năm 2050. Bởi năm 2050, gió sẽ cung cấp gần 50% lượng điện lưới ở châu Âu và 40% ở Bắc Mỹ và châu Mỹ Latinh.

Trong một thế giới chứng kiến ​​sản lượng điện tăng gấp đôi vào năm 2050, với sản lượng thủy điện vẫn sẽ đảm bảo 13% tổng cung cấp điện, mặc dù đã giảm từ 16% vào năm 2020, trong khi về giá trị tuyệt đối vẫn tăng trưởng và tỷ lệ mất đi này sẽ được chuyển sang năng lượng gió, mặt trời.

Quản lý chất thải, chi phí và thời gian xây dựng cao lâu nay vẫn là thực tế còn tồn tại đối với điện hạt nhân. Tuy nhiên, những lo ngại về an ninh năng lượng hiện nay đã dẫn đến sự quan tâm mới đến nguồn điện này và nó được dự báo với mức tăng khiêm tốn là 13% đến năm 2050 so với mức ngày nay.

1/ Điện gió:

Điện lưới từ gió tăng từ 1,6 PWh/năm [3] vào năm 2020 đến 19 PWh/năm vào năm 2050 với Trung Quốc đại lục, châu Âu và Bắc Mỹ dẫn đầu về sản lượng, các nước OECD và Mỹ La Tinh tăng trưởng mạnh từ năm 2030. Châu Âu và OECD Thái Bình Dương sẽ có tỷ trọng gió ngoài khơi cao nhất.

Các loại tua bin mới và tua bin công suất lớn hơn, các cánh quạt và tháp gió sẽ nâng cao hệ số công suất cho điện gió trên bờ (từ 26% hiện nay lên 34%), và điện gió ngoài khơi từ 38% hiện nay lên 43% vào năm 2050. Điều này, cùng với các tua bin rẻ hơn, là động lực chính của việc giảm 52% chi phí cho gió trên bờ trong giai đoạn 2020 – 2050, với các dự án gió ngoài khơi lắp móng cố định và móng nổi, chi phí lần lượt giảm 39% và 84%. Trong số 6 TW [3] công suất gió lắp đặt vào năm 2050, thì 1,8 TW sẽ là gió móng cố định và 289 GW gió móng nổi ngoài khơi.

2/ Điện năng lượng mặt trời:

Sự tăng trưởng của điện mặt trời rất đáng chú ý: 1 GW mỗi năm được lắp đặt lần đầu tiên vào năm 2004, 10 GW được thêm vào năm 2010 và 100 GW vào năm 2019.

Vào năm 2021, 150 GW đã được thêm vào bất chấp sự gián đoạn chuỗi cung ứng do COVID-19. Từ năm 2030 trở đi, dự kiến ​​hàng năm sẽ được bổ sung từ 300 đến 500 GW.

Vào giữa thế kỷ, tổng công suất lắp đặt sẽ là 9,5 TW cho điện mặt trời và 5 TW cho năng lượng mặt trời + lưu trữ. Kết quả là vào năm 2050 thế giới sẽ có 14,5 TW công suất năng lượng mặt trời, gấp 24 lần năm 2020.

LCOE [4] trung bình của điện mặt trời được kỳ vọng sẽ giảm ở mức ít nhất 40% vào năm 2050, với các dự án riêng lẻ giảm bằng 60% so với chi phí trung bình ngày nay. Điện mặt trời sẽ là nguồn điện mới rẻ nhất trên toàn cầu bởi một mức lợi nhuận đáng kể, mặc dù công suất thấp hơn so với các nguồn VRES khác. Đến năm 2050, 23 PWh/năm của điện mặt trời sẽ được tạo ra trên toàn thế giới.

3/ Lưới điện:

Tổng đầu tư vào lưới trung bình là USD 450 tỷ/năm trong thập kỷ qua. Sự mở rộng của năng lượng tái tạo dẫn đến sự gia tăng đều đặn các khoản đầu tư vào lưới điện, đạt mức 500 tỷ USD/năm vào những năm 2030 và tăng lên 1,1 nghìn tỷ USD/năm vào năm 2050. Tổng số được đo bằng số km – mạch của đường dây truyền tải và phân phối sẽ tăng gần gấp ba lần trong khoảng thời gian từ nay đến 2050.

Tính linh hoạt và lưu trữ điện:

1/ Tính linh hoạt:

Với sự gia tăng công suất VRES toàn cầu gấp 16 lần vào năm 2050, nhu cầu về tính linh hoạt của nguồn điện sẽ tăng lên từ hai đến bốn lần giữa các khu vực.

Không phải tất cả các nguồn nhiệt điện đều cung cấp tính linh hoạt như nhau cho hệ thống điện, nếu tính từ điện hạt nhân, nơi sự linh hoạt là thách thức nhưng không phải là không thể, tiếp theo là các nhà máy nhiệt điện than, dầu, khí đốt ngày càng nhiều thì tính linh hoạt càng tăng, nhưng rất tốn kém. Điều quan trọng không kém là khả năng hoạt động kinh tế của các nhà máy nhiệt điện khi chúng chủ yếu tại các hệ số phụ tải thấp.

Sự thích ứng cho tính linh hoạt đòi hỏi sự thay đổi cả về thể chất lẫn đầu tư vào tự động hóa và các phân tích để dự đoán tốt hơn các mức sản xuất điện tái tạo. Các thiết kế thị trường mới sẽ là cần thiết để khuyến khích sự hoạt động linh hoạt của các nhà máy nhiệt điện.

Tính linh hoạt từ phía nhu cầu – tức là chuyển việc sử dụng điện từ thời gian cao điểm sang thời gian có nhu cầu thấp hơn và phản ứng với sự dư thừa của năng lượng tái tạo cũng sẽ đóng vai trò then chốt. Việc triển khai các tính năng lưới điện thông minh sẽ cho phép quản lý tốt hơn các dòng năng lượng.

Các loại công nghệ và các cơ chế thị trường mới cũng sẽ cho phép những người tiêu dùng tích cực hơn bao giờ hết cung cấp sự linh hoạt dưới các hình thức phản hồi nhu cầu, phương tiện nối lưới và lưu trữ sau công-tơ. Việc chuyển đổi VRES và ở một mức độ nào đó, các nguồn nhiệt điện như hạt nhân, đến các chất mang năng lượng khác (chẳng hạn như hydro) là một tùy chọn khác sẽ cung cấp tính linh hoạt.

2/ Lưu trữ điện:

Ngày nay, thủy điện tích năng cung cấp hầu hết các bộ lưu trữ cho hệ thống điện, nhưng chúng sẽ chỉ đóng góp một chút trong tương lai. Các bộ pin sẽ cung cấp hầu hết nhu cầu lưu trữ khổng lồ trong tương lai, độc lập, hoặc trong các cấu hình năng lượng mặt trời + lưu trữ, hoặc phương tiện nối lưới.

Từ năm 2020 đến năm 2050, quy mô lớn độc lập bộ lưu trữ sẽ tăng từ 2,7 TWh lên 8,8 TWh. Trong số này, dung lượng lưu trữ pin Li-ion sẽ chứng kiến ​​mức tăng trưởng lớn nhất, từ gần như không có gì lên 4,4 TWh vào giữa thế kỷ.

Vào cuối thập kỷ này, pin trạng thái rắn dường như sẽ cung cấp tiềm năng tốt nhất cho một làn sóng tiếp theo về cải tiến hiệu suất và chi phí. Các hóa chất thay thế cũng sẽ phát triển để đáp ứng ngày càng tăng nhu cầu lưu trữ với thời lượng dài hơn (5 giờ trở lên). Về lâu dài, chi phí cho pin sẽ tiếp tục được đẩy lên phù hợp với xu thế chi phí là 19% và giảm hơn 80% chi phí từ nay đến năm 2050.

TS. Nguyễn Mạnh Hiến – Chuyên gia tạp chí Năng lượng Việt Nam


Ghi chú:

[1] Mb/d – Million Barrels per day – Triệu thùng ngày.

[2] VRES: Variable Renewable Energy Sources.

[3] PWh – Petra-watt-hours = 1012 KWh; TW = 106 MW.

[4] LCOE – Levelized Cost of Electricity (Chi phí điện năng quy dẫn).

Loading

Views: 0

Tham nhũng và chính sách năng lượng tái tạo

Việc giám sát lỏng lẻo trong trợ giá cho lĩnh vực năng lượng tái tạo và ý muốn phát triển nhanh trong lĩnh vực này của Chính phủ Trung Quốc đã kết hợp cả căn bệnh thành tích với căn bệnh tham nhũng. Kết quả là tiền của chính phủ đã bị thất thoát lớn vào tay những công ty trục lợi và những cán bộ tham nhũng. Một vài câu chuyện tương tự cũng được phần nào phản ánh qua những báo cáo của các tổ chức tư vấn quốc tế về chuyện làm năng lượng mặt trời tại Ai Cập… Liệu Việt Nam có kịp học bài học từ các nước khác hay sẽ lại đi vào vết xe đổ của họ?

TS. HỒ QUỐC TUẤN – GIẢNG VIÊN ĐẠI HỌC BRISTOL (VƯƠNG QUỐC ANH)

Rủi ro tham nhũng tiềm ẩn rất cao ở các dự án năng lượng tái tạo

Ngày 22-2-2018, Tổ chức Minh bạch Quốc tế (Transparency International) công bố Chỉ số cảm nhận tham nhũng (CPI) 2017, Việt Nam đạt 35/100 điểm, xếp hạng 107/180 toàn cầu.

Theo xếp hạng này thì Việt Nam đứng trên Myanmar, Lào và Campuchia, chỉ nhỉnh hơn Philippines một chút và xếp sau Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia và Malaysia. So với nhóm đứng đầu châu Á như Nhật Bản, Singapore và Hồng Kông, điểm số của Việt Nam còn kém rất xa.

Trước báo cáo này, cách đây mấy tháng, Tổ chức Minh bạch Quốc tế còn có một báo cáo chuyên đề về Việt Nam, cảnh báo đặc biệt về tham nhũng trong lĩnh vực năng lượng ở Việt Nam.

Theo các tác giả của báo cáo chuyên đề này, lĩnh vực năng lượng của Việt Nam bị ảnh hưởng xấu bởi “năng lực quản trị kém do thiếu minh bạch, thiếu kiểm tra giám sát và cân bằng quyền lực, tệ quan liêu và những mối liên hệ chặt chẽ giữa Chính phủ và doanh nghiệp”. Đây được xem là “rủi ro tham nhũng” cho các nhà đầu tư và nhà tài trợ vốn quốc tế muốn tham gia vào thị trường năng lượng và giúp Việt Nam xây dựng cơ sở hạ tầng năng lượng.

Báo cáo cũng khuyến cáo rằng, rủi ro tham nhũng tiềm ẩn rất cao ở các dự án năng lượng tái tạo trong tương lai ở Việt Nam.

Những nhận định này không những đặt ra một thách thức không nhỏ cho Việt Nam vì hình ảnh trong mắt giới đầu tư và tài trợ vốn hạ tầng cho năng lượng tái tạo sẽ xấu đi, mà nó còn cảnh báo trước nguy cơ một dạng tham nhũng trong đầu tư hạ tầng mới: tham nhũng trong đầu tư hạ tầng năng lượng tái tạo.

Bài học kinh nghiệm từ Trung Quốc

Những kinh nghiệm gần đây ở Trung Quốc và Ai Cập cho thấy Việt Nam không nên xem thường rủi ro này.

Năm 2016, các nhà nghiên cứu thuộc Trường Kinh tế và Chính trị London (LSE) đã công bố nghiên cứu về tham nhũng trong đầu tư năng lượng gió ở Trung Quốc và kết luận rằng, tỷ lệ tội phạm tham nhũng tăng cao ở những vùng áp dụng chính sách khuyến khích đặc biệt rộng rãi đối với năng lượng gió và cho rằng những giải pháp mang tính phi thị trường (như các chính sách ưu đãi, khuyến khích) có thể tạo ra những kết quả xấu ngoài mong đợi nếu như thể chế thiếu minh bạch và giám sát kém. Điển hình là có nhiều công ty câu kết với cán bộ chính quyền địa phương để lấy vốn tài trợ và hưởng ưu đãi nhưng chẳng hề thực hiện dự án gì cả.

Quốc gia

Điểm CPI* Xếp hạng

Singapore

84 6

Hồng Kông

77 13

Nhật Bản

73

20

Đài Loan

63

29

Brunei

62

32

Hàn Quốc

54

51

Malaysia

47

62

Trung Quốc

41

77

Indonesia

37

96

Thái Lan

37

96

Việt Nam

35

107

Philippines

34

111

Myanmar

30

130

Lào

29

135

Campuchia

21

161

Nguồn: Transparency International.

Với nỗ lực đi đầu trong lĩnh vực năng lượng tái tạo, Trung Quốc đã chi rất nhiều tiền trợ giá cho nhiều loại năng lượng tái tạo, sản xuất xe chạy bằng điện… và kết quả là số án tham nhũng trong lĩnh vực này tăng cao. Trung Quốc đã phát hiện có ít nhất năm công ty rút ruột hàng triệu đô la Mỹ dưới dạng tiền tài trợ của chính phủ để làm xe buýt chạy bằng điện và khi tiến hành thanh tra thì họ chẳng có sản xuất gì cả. Chính phủ Trung Quốc nghi ngờ có nhiều nhà sản xuất khác cũng tận dụng các chính sách như bù giá của chính phủ khi sản xuất xe chạy bằng điện để kê khống sản lượng (họ được bù giá 76.000 đô la Mỹ cho một chiếc xe buýt và 7.500 đô la Mỹ cho một chiếc xe hơi).

Trợ giá là một yếu tố hết sức quan trọng trong “cuộc chơi” năng lượng tái tạo toàn cầu hiện tại và những báo cáo cho rằng, giá năng lượng tái tạo thấp hơn giá năng lượng truyền thống thường là được thổi phồng vì giá cả năng lượng tái tạo và chi phí trữ năng lượng (giả sử là nếu có thể làm hiệu quả) bị bóp méo bởi nhiều loại chính sách trợ giá khác nhau. Khi có trợ giá và cơ chế lựa chọn công ty nào được trợ giá, tất yếu nảy sinh môi trường cho tham nhũng.

Việc giám sát lỏng lẻo trong trợ giá cho lĩnh vực năng lượng tái tạo và ý muốn phát triển nhanh trong lĩnh vực này của Chính phủ Trung Quốc đã kết hợp cả căn bệnh thành tích với căn bệnh tham nhũng. Kết quả là tiền của chính phủ đã bị thất thoát lớn vào tay những công ty trục lợi và những cán bộ tham nhũng.

Một vài câu chuyện tương tự cũng được phần nào phản ánh qua những báo cáo của các tổ chức tư vấn quốc tế về chuyện làm năng lượng mặt trời tại Ai Cập.

Vấn đề là hiện tại phát triển năng lượng tái tạo được đặt ra như một giải pháp giúp các nước đang phát triển giải quyết bài toán năng lượng ngày càng cấp bách (chẳng hạn với những nước tăng trưởng nhanh như Việt Nam, Trung Quốc – bài toán này là hết sức quan trọng vì nó ảnh hưởng tới chi phí đầu vào và an ninh năng lượng).

Xét ở xu thế toàn cầu, đầu tư năng lượng tái tạo là xu thế không thể cưỡng lại vì nó có nhiều đặc tính dễ được truyền thông và giới cấp tiến, ủng hộ bảo vệ môi trường tung hô.

Những khẩu hiệu như “nhiệt điện than không còn rẻ, năng lượng tái tạo không còn đắt” được nhiều tổ chức xúc tiến đầu tư năng lượng tái tạo đưa ra trên các phương tiện truyền thông, mặc dù vẫn còn nhiều tranh cãi chưa ngã ngũ trong giới chuyên môn và câu chuyện chi phí phụ thuộc nhiều vào đặc thù từng nước và biến động của thị trường tài chính hỗ trợ năng lượng tái tạo – thị trường mà có người cho rằng nó là một quả “bong bóng” hay cái “động không đáy” đốt tiền trợ giá.

Bất kể năng lượng tái tạo có được thổi phồng quá mức hay không, xu thế chính trị toàn cầu xem ra luôn hướng về ủng hộ khái niệm “xanh” và “sạch”, do đó các chính phủ rồi sẽ tiếp tục bỏ tiền vào lĩnh vực này và kéo giới đầu tư tư nhân theo.

Vì vậy, xu thế đầu tư vào hạ tầng năng lượng tái tạo là những “mỏ vàng” mới đối với các nhà đầu tư và sản xuất năng lượng ở các nước đang phát triển và có lẽ Việt Nam sẽ khó cưỡng lại xu thế này (nhất là khi các nước láng giềng xung quanh như Trung Quốc đang toàn lực chạy đua trong lĩnh vực này).

Khi đó, rủi ro tham nhũng trong cấp vốn xây dựng hạ tầng cho năng lượng tái tạo và trợ giá sản xuất sản phẩm sử dụng năng lượng tái tạo cũng trở nên gần với hiện thực hơn bao giờ hết.

TẠP CHÍ NĂNG LƯỢNG VIỆT NAM

*PCI là chỉ số cảm nhận tham nhũng

Loading

Views: 0