Tag Archives: Kinh tế

Những thay đổi về nhân khẩu học và tình trạng phi toàn cầu hóa sẽ khiến lạm phát cao hơn mức mà các nhà hoạch định chính sách đã quen thuộc trước đại dịch.

Trong nửa thế kỷ qua, khi các chính phủ và ngân hàng trung ương hợp tác chặt chẽ với nhau hơn bao giờ hết để quản lý tăng trưởng kinh tế, các cuộc suy thoái đã ngày càng ít xảy ra. Thông thường, chúng ngắn hơn và ít nghiêm trọng hơn so với giai đoạn trước. Sau nhiều lần suy thoái nhẹ, hầu hết chúng ta không thể hình dung một chu kỳ suy thoái kéo dài một cách đau đớn. Nhưng nền kinh tế toàn cầu đang bước vào một thời kỳ mà chúng ta chưa từng chứng kiến suốt hàng chục năm.

Niềm tin rằng chính phủ là vị cứu tinh trong thời kỳ suy thoái đã ăn sâu vào tâm trí mọi người trong phần lớn cuộc đời họ. Từ năm 1980 đến nay, nền kinh tế Mỹ chỉ có 10% thời gian rơi vào suy thoái, so với gần 20% từ khi kết thúc Thế chiến II (năm 1945) đến năm 1980, và hơn 40% từ năm 1870 đến năm 1945. Một lý do ngày càng quan trọng là các biện pháp giải cứu của chính phủ. Tại Mỹ, EU, Nhật và Anh, những gói kích thích tổng hợp gồm chi tiêu chính phủ và thu mua tài sản của ngân hàng trung ương đã tăng từ 1% tổng sản phẩm quốc nội trong các cuộc suy thoái năm 1980 và 1990 lên 3% vào năm 2001, 12% vào năm 2008, và đến mức đáng kinh ngạc là 35% vào năm 2020.

Dù suy thoái năm 2020 diễn ra khá gay gắt, nó lại là cuộc suy thoái ngắn nhất trong lịch sử các cuộc suy thoái, chỉ kéo dài hai tháng. Các gói cứu trợ trong đại dịch của chính phủ đã đến quá nhanh và quá lớn đến mức nhiều người, đặc biệt là những nhân viên văn phòng làm việc tại nhà, cảm thấy như thể suy thoái kinh tế chưa từng xảy ra. Thu nhập và điểm tín dụng của họ tăng cao. Tài sản của họ tăng gấp bội nhờ sự tăng trưởng của thị trường chứng khoán và trái phiếu. Giờ đây, suy nghĩ rằng suy thoái kinh tế không phải là sự kiện đáng quan tâm dường như đã ăn sâu vào tâm trí nhiều người.

Một số bình luận viên bắt đầu nói rằng nền kinh tế thế giới có thể rơi vào tình trạng “hạ cánh mềm” (soft landing), chứ không phải suy thoái hoàn toàn. Trong các cuộc khảo sát mới nhất, các nhà kinh tế không hoàn toàn lạc quan như vậy. Nhưng họ cũng dự đoán về một cuộc suy thoái nhẹ nhất kể từ Thế chiến II, sẽ sớm xảy ra và kéo dài chưa đầy sáu tháng, khi Cục Dự trữ Liên bang một lần nữa ra tay giải cứu.

Quan điểm đồng thuận này có lẽ đã sai ở các khía cạnh chính, bất kể cuộc suy thoái tiếp theo sẽ bắt đầu lúc nào, kéo dài trong bao lâu, hay nỗ lực giải cứu lớn đến đâu.

Năm 2020, các chính phủ đã bơm quá nhiều tiền vào nền kinh tế đến nỗi hai năm sau người tiêu dùng vẫn đang “ngồi” trên phần lớn số tiền đó – tận 1,5 nghìn tỷ đô la chỉ tính riêng ở Mỹ. Đầu tư của các doanh nghiệp Mỹ và châu Âu hầu như không có đột phá. Chính phủ vẫn tiếp tục chi tiêu. Do đó, đợt suy thoái tiếp theo có thể đến muộn hơn dự kiến, quan điểm này được củng cố bởi dữ liệu GDP mới nhất của Mỹ, cho thấy một nền kinh tế có khả năng phục hồi.

Khi các biện pháp hỗ trợ đại dịch cuối cùng cũng hết tác dụng vào cuối năm, thì đợt suy thoái tiếp theo, một khi nó xảy ra, có thể sẽ không trôi qua nhanh chóng. Điểm mấu chốt là lạm phát. Lạm phát hiện đang giảm nhanh như khi nó tăng vào năm ngoái – khi mà việc bình thường hóa chuỗi cung ứng và thói quen “chi tiêu phục thù”, được giải phóng khi phong tỏa kết thúc và được thúc đẩy bởi các biện pháp kích thích, dần lắng xuống. Nhưng lạm phát không có khả năng quay trở lại mức trước đại dịch là dưới 2%.

Di sản lâu dài nhất của Covid có thể là tác động của nó đối với việc làm và lạm phát tiền lương. Cứ tám người thì có một người nói rằng họ “không có kế hoạch quay lại” các hoạt động trước đại dịch, bao gồm cả công việc. Số giờ mà các cá nhân thuộc mọi lứa tuổi sẵn sàng dành cho công việc đã giảm xuống, và thái độ của họ cũng thay đổi. Các mạng xã hội tôn vinh “bỏ việc trong yên lặng” và “làm việc tương xứng với mức lương” – nghĩa là chỉ làm đúng những việc bạn được trả lương, chứ không làm thêm việc gì khác.

Trong các cuộc trò chuyện, tôi nghe các giám đốc điều hành nói rằng, lần đầu tiên sau nhiều thập niên, họ nắm trong tay “sức mạnh định giá”. Lạm phát đối với hàng hóa như xe hơi đang chậm lại nhanh chóng, nhưng lạm phát đối với dịch vụ còn chậm hơn. Fed theo dõi một chỉ số đặc biệt cho “các dịch vụ có giá cả ít linh hoạt” (sticky services) như bất động sản và giải trí – nghĩa là giá cả ít thay đổi – và chỉ số này đang tăng lên.

Trong khi đó, thế giới về cơ bản đang thay đổi theo hướng lạm phát: tỷ lệ sinh đã giảm trong nhiều năm, nhưng hiện tại, dân số trong độ tuổi lao động đang giảm rất nhanh. Các quốc gia đang hướng vào bên trong, sử dụng dịch vụ thuê ngoài ở các quốc gia gần nhất và thân thiện nhất, thay vì các quốc gia ít tốn kém nhất.

Áp lực từ nhân khẩu học và phi toàn cầu hóa sẽ đẩy mức lạm phát bình thường mới lên cao hơn, gần 4% thay vì 2%. Điều này sẽ khiến các ngân hàng trung ương khó cắt giảm lãi suất để ứng phó với cuộc suy thoái tiếp theo. Lãi suất cao hơn có nghĩa là các chính phủ dù có thể vay mượn và chi tiêu mạnh tay để kích thích các nền kinh tế trì trệ, nhưng phải đối mặt với nguy cơ bị “trừng phạt” trên thị trường trái phiếu toàn cầu, vốn đã ngày càng ít chấp nhận chi tiêu tự do.

Dù đợt suy thoái tiếp theo có lẽ còn lâu mới xảy ra, nhưng nhiều khả năng nó sẽ xuất hiện trong một hình thức khác lạ, có thể không sâu rộng hơn, nhưng sẽ kéo dài hơn, do lạm phát ở mức cao buộc các ngân hàng trung ương và các nhóm cứu trợ của chính phủ phải đứng ngoài cuộc. Thế giới vẫn chưa sẵn sàng cho cuộc suy thoái kéo dài phía trước./.

Nguồn: Ruchir Sharma, “The world is not ready for the long grind to come,” Financial Times, 29/01/2023

Loading

Views: 0

Nhà đầu tư nước ngoài đang đổ vốn vào ngành nghề nào ở Việt Nam?

Trong 3 tháng đầu năm, nhà đầu tư nước ngoài đã đầu tư Việt Nam vào 17 ngành-lĩnh vực khác nhau.

Dòng vốn FDI vào Việt Nam thời gian qua đang hướng đến các dự án công nghệ cao,
thân thiện với môi trường, tạo giá trị gia tăng cao.

Theo Cục Đầu tư nước ngoài, tổng vốn FDI đăng ký cấp mới, tăng vốn, góp vốn mua cổ phần tính đến ngày 20/3 đạt 10,31 tỷ USD, tăng 18,5% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong khi vốn thực hiện của dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài ước đạt 4,1 tỷ USD, tăng 6,5%.

Thống kê của Cục Đầu tư nước ngoài ghi nhận trong 3 tháng qua, có 234 dự án mới được cấp giấy chứng nhận đầu tư, giảm 69,1% so với cùng kỳ; tổng vốn đăng ký đạt 7,2 tỷ USD, tăng 30,6% so với cùng kỳ 2020.

Nhà đầu tư nước ngoài đã đầu tư vào 17 ngành-lĩnh vực, trong đó lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo dẫn đầu với tổng vốn đầu tư đạt gần 5 tỷ USD, chiếm 49,6% tổng vốn đầu tư đăng ký.

Lĩnh vực sản xuất, phân phối điện đứng thứ 2 với tổng vốn đầu tư 3,9 tỷ USD, chiếm 38,9% tổng vốn đầu tư đăng ký.

Tiếp theo lần lượt là các lĩnh vực kinh doanh bất động sản, hoạt động chuyên môn khoa học công nghệ với tổng vốn đăng ký đạt 600 triệu USD và trên 167 triệu USD. Còn lại là các lĩnh vực khác.

Trong quý I, Việt Nam đã cấp chứng nhận đầu tư mới và điều chỉnh vốn cho khá nhiều dự án quy mô lớn. Trong đó, dự án lớn nhất là Nhà máy điện LNG Long An I và II (Singapore), với tổng vốn đăng ký trên 3,1 tỷ USD. Tiếp đến là dự án Nhà máy nhiệt điện Ô Môn II (Nhật Bản) với tổng vốn đăng ký trên 1,31 tỷ USD tại Cần Thơ.

Ngoài ra còn các dự án như LG Display Hải Phòng (Hàn Quốc) điều chỉnh tăng vốn đầu tư thêm 750 triệu USD, chế tạo lốp xe Radian (Trung Quốc) tại Tây Ninh điều chỉnh tăng vốn đầu tư thêm hơn 312 triệu USD.

Số liệu của Cục Đầu tư nước ngoài cho thấy trong 3 tháng đầu năm, Singapore là nước đổ nhiều vốn FDI nhất vào Việt Nam với gần 4,6 tỷ USD, thứ hai là Nhật Bản với gần 2,1 tỷ USD, Hàn Quốc đứng thứ 3 với 1,2 tỷ USD.

Kim ngạch xuất khẩu của khu vực FDI kể cả dầu thô ước đạt 58,59 tỷ USD, tăng 27,5% so với cùng kỳ, chiếm 76,4% kim ngạch xuất khẩu.

Trong khi nhập khẩu của khu vực này ước đạt 49,8 tỷ USD, tăng 30,3% so cùng kỳ và chiếm 66,8% kim ngạch nhập khẩu cả nước.

Tính chung trong 3 tháng đầu năm 2021, khu vực FDI xuất siêu gần 8,8 tỷ USD kể cả dầu thô.

BDN

Loading

Views: 0

Những dự án FDI khủng vào VN đầu năm 2021

Năm 2021, mặc dù nhiều quốc gia trên thế giới đang phải đối mặt với ảnh hưởng nghiêm trọng từ đại dịch Covid-19, Việt Nam vẫn xuất hiện một số tín hiệu tích cực từ đầu từ nước ngoài khi vốn thực hiện các dự án FDI đạt 1,51 tỷ USD, tăng 4,1% so với cùng kỳ năm 2020.

Đầu năm 2021, tổng vốn đăng ký cấp mới, điều chỉnh và góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài (FDI) đạt gần 2,02 tỷ USD, bằng 37,8% so với cùng kỳ năm trước.

Lĩnh vực đầu tư phân hóa không đồng đều khi 76,4% vốn – chiếm 1,54 tỷ USD tập trung vào công nghệ chế biến, chế tạo. Lĩnh vực kinh doanh bất động sản đứng thứ hai với tổng vốn đầu tư gần 179 triệu USD, chỉ chiếm 8,9% tổng vốn đã đăng ký.

Tiếp đà năm 2020, Singapore vẫn là quốc gia đầu tư FDI lớn nhất vào Việt Nam trong tháng 1/2021 với tổng vốn đầu tư 680,7 triệu USD, chiếm 33,8%. Theo sau đó là Trung Quốc với 618 triệu USD (tương đương 30,6%) và Hồng Kông (Trung Quốc) với 221,3 triệu USD (tương đương 11%).

Một số dự án FDI lớn trong tháng 1/2021

Dự án chế tạo lốp xe Radian Jinyu (Trung Quốc) tại Tây Ninh, điều chỉnh tăng vốn đầu tư thêm hơn 312 triệu USD. Dự án này đã được đầu tư 300 triệu USD trước đó vào năm 2020 bởi Iinyu Tire với mục tiêu sản xuất lốp xe toàn thép TBR.

Jinyu Tire là tập đoàn sản xuất lốp xe Trung Quốc. Sản phẩm của Jinyu Tire được phân phối rộng khắp Trung Quốc và hơn 100 quốc gia khác trên thế giới. Ngày 18/11/2019 tại KCN Phước Đông, tỉnh Tây Ninh đã diễn ra lễ khánh thành Nhà máy ACTR với công suất dự kiến là 2.000.000 sản phẩm/năm.

Dự án Nhà máy Fukang Technology (Singapore), vốn đầu tư đăng ký 270 triệu USD. Được đầu tư bởi Foxconn Singapore PTE Ltd, Nhà máy Fukang Technology khi hoàn thành sẽ sản xuất, gia công máy tính bảng và máy tính xách tay, quy mô công suất khoảng 8 triệu sản phẩm một năm.

Foxconn là công ty sản xuất linh kiện điện tử, máy tính lớn nhất thế giới với hơn 800 công ty và chi nhánh tại Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Malaysia,… Foxconn là đối tác lớn sản xuất iPhone, iPad, Macbook cho Apple. Tại Bắc Giang, tập đoàn này sẽ sản xuất iPad và Macbook.

Dự án công nghệ tế bào quang điện JA Solar PV Việt Nam với vốn đầu tư 210 triệu USD tại KCN Quang Châu, Bắc Giang. Dự án của nhà đầu tư Ja Solar Investment Limited (trụ sở chính tại Hồng Kông, Trung Quốc) có mục tiêu sản xuất tấm tế bào quang điện, quy mô công suất 3,5 triệu GW/năm.

Dự án Công ty TNHH Công nghệ Everwin (Hồng Kông) với tổng vốn đầu tư 200 triệu USD. Tổng diện tích dự án là 43 ha, được xây dựng tại Khu công nghiệp VSIP Nghệ An.

Công suất thiết kế của dự án là 270.000.000 sản phẩm/năm (100% sản phẩm xuất khẩu). Các sản phẩm chính của Everwin Precision Việt Nam gồm: vỏ, linh kiện và bộ phận bằng kim loại, lắp ráp dây cáp, các bộ phận từ nhựa ứng dụng cho thiết bị thông minh và ô tô năng lượng mới.

Dự án Nhà máy vật liệu bán dẫn United States Enterprises (Hoa Kỳ), tổng vốn đầu tư 110 triệu USD. Dự án được đăng ký thực hiện bởi 2 nhà đầu tư là ông Ha Vinh Ly và bà Nhe Thi Le (quốc tịch Mỹ), hiện là chủ sở hữu của Công ty Hayward Quartz Technology INC tại thung lũng Silicon (Mỹ).

Nhà máy sản xuất vật liệu bán dẫn United States Enterprises dự kiến khởi công xây dựng vào quý II năm nay và hoạt động chính thức vào quý II/2023 với mục cụm chi tiết bằng silic, gốm, thạch anh, đá saphia, thủy tinh và bằng các vật liệu bán dẫn khác cho các loại máy móc thiết bị sản xuất trong ngành công nghiệp bán dẫn, điện tử.

BDN

Loading

Views: 0

Tận dụng cơ hội quan hệ châu Âu – Việt Nam để phục hồi kinh tế sau đại dịch Covid-19

Đại dịch Covid-19 cùng với sức tàn phá khủng khiếp của nó đã làm cho chúng ta ngộ ra nhiều điều: (1) Thế giới biến đổi không ngừng và đầy rẫy những rủi ro, thiên tai, dịch bệnh. (2) Các hoạt động kinh tế xã hội luôn và mãi gắn liền với môi trường sống quanh ta, (3) Cần có cách nhìn và tiếp cận mới với xu thế toàn cầu hóa bởi những rủi ro và hậu quả mà nó đem lại. (4) Càng sớm điều chỉnh chuỗi cung ứng và chuỗi tạo giá trị thì càng bớt lệ thuộc vào một thị trường nhất định. (5) Sàng lọc và tìm kiếm cơ hội một cách thông minh, đặc biệt từ những thị trường đã có.

Cơ hội cho hàng nông sản Việt Nam xuất khẩu sang thị trường EU

Trong bài viết này, chúng tôi xin góp một góc nhìn mới về một châu Âu trước, trong và sau đại dịch Covid-19, về những thiệt hại mà châu lục này đang phải gánh chịu và cũng xin đưa ra một số gợi ý về cơ hội thúc đẩy hơn nữa mối quan hệ kinh tế giữa hai bên : Việt Nam và Châu âu…

1. Châu Âu là một trong những châu lục bị tàn phá nặng nề bởi đại dịch Covid-19. Sau hơn 2 tháng áp dụng các biện pháp cách ly, giãn cách xã hội (tuy hơi muộn màng) cũng như các quy định về kiểm tra y tế, dịch bệnh đối phó với COVID-19, các nước châu Âu đang bắt đầu dỡ bỏ các biện pháp phong tỏa và hạn chế đi lại. Giám đốc Trung tâm Phòng ngừa và Kiểm soát dịch bệnh châu Âu Andrea Ammon cho rằng, số ca mắc Covid-19 ở châu Âu giảm từ ngày 2/5 và dường như làn sóng lây nhiễm đầu tiên ở châu Âu đã qua đỉnh điểm. Các biện pháp phong tỏa ngặt nghèo đã giúp hạ thấp hệ số lây nhiễm cơ bản (R0) virus SARS- CoV-2 ở các nước châu Âu từ mức trên 3 khi bắt đầu bùng phát dịch xuống dưới 1. Đây chính là một trong những tiền đề để lãnh đạo các nước châu Âu xem xét gỡ bỏ dần các biện pháp phong tỏa và chuyển qua giai đoạn tiếp theo, tìm cách mở cửa thận trọng các khu vực dịch vụ, thương mại khi “cái giá” của những biện pháp hạn chế khẩn cấp bắt đầu bộc lộ rõ rệt…

Trong quan hệ quốc tế, châu Âu được đánh giá cao bởi các yếu tố “ quyền lực mềm” như các mô hình dân chủ của Anh, văn hóa Pháp, hệ thống trợ cấp xã hội và chăm sóc y tế toàn diện ở khu vực Bắc Âu… Thêm vào đó là hình mẫu quản lý nhà nước tốt, trong sạch của nhiều quốc gia có nền kinh tế phát triển. Tuy nhiên, qua đại dịch Covid-19 đã bộc lộ rất rõ sự khác biệt trong nhận thức, cách ứng phó, tính linh hoạt và mức độ quản lý nhà nước trước dịch bệnh của nhiều quốc gia Tây Âu. Một số nước như Đức, Thụy Điển, Hà Lan đã thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng này tương đối hiệu quả và có phần xuôn sẻ hơn nhiều nước châu Âu khác. Các quốc gia này được nhìn nhận và đánh giá cao trong việc quản lý dịch bệnh, tính linh hoạt, công khai và hiệu quả của hệ thống y tế. Tuy nhiên, rất đáng tiếc là đa số các quốc gia Tây Âu lại cho thấy sự chủ quan, tự tin thái quá… ở vào thời điểm khi đại dịch Covid-19 mới xuất hiện. Hậu quả là, khi đại dịch bùng phát, đa số  các quốc gia Tây Âu đã đối phó và xử lý hết sức lúng túng. Con số tử vong ở mức cao gần nhất thế giới. Các quốc gia phải chiến đấu đơn độc, đóng cửa biên giới và không có sự điều hành chung của Liên minh châu Âu. Sự trợ giúp đến với từng quốc gia đều phụ thuộc và đến từ kênh quan hệ song phương chứ không phải từ liên minh. Một châu Âu văn minh, dân chủ, có nền khoa học và công nghệ phát triển, với hệ thống y tế hiện đại đã phần nào bị làm lu mờ bởi Covid 19. Nhiều nhà nghiên cứu về châu Âu đã cho rằng, hiện chưa biết cuộc chiến chống Covid sẽ ra sao tại khu vực này, nhưng có một điều gần như chắc chắn đó là sau đại dịch Covid-19, dù thành công hay thất bại thì những “quyền lực mềm” mà phương tây vốn rất tự hào… có lẽ sẽ không còn giữ nguyên vẻ “rạng rỡ” như nó vốn có.

2. Đại dịch Covid-19 đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế mới bắt đầu phục hồi sau năm 2019 do chịu ảnh hưởng của các cuộc tranh chấp thương mại và Brexit. Vào tháng 2/2020, khi dịch bệnh mới xuất hiện, châu Âu vẫn đang trong tâm thế tương đối tự tin, Ủy ban châu Âu (EC) đã dự báo GDP của EU sẽ tăng 1,4% trong năm 2020. Tuy nhiên, các con số biết nói đã cho thấy nếu so với cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008, thiệt hại thậm chí còn nghiêm trọng hơn. Theo Báo cáo Kinh tế Xuân 2020 vừa được EC công bố, các nền kinh tế thuộc Liên minh châu Âu (EU) và khu vực đồng tiền chung châu Âu sẽ suy giảm lần lượt ở mức 7,5% và 7,75%, do hậu quả từ đại dịch Covid-19. Chưa biết liệu trong năm 2021, châu Âu có thể khắc phục được những thiết hại này hay không? Ủy viên phụ trách kinh tế của EU Paolo Gentiloni đã phải thừa nhận “Châu Âu đang trải qua cú sốc kinh tế chưa từng có tiền lệ kể từ cuộc đại suy thoái”, ông cũng đánh giá đây chính là “mức sụt giảm kinh tế tồi tệ nhất đối với khu vực đồng tiền chung châu Âu”.

Dự kiến quý 2/2020, Đức có thể sụt giảm gần 10% (theo (Ifo, DIW và RWI). Sau khi tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Pháp giảm 0,1% trong quý 4/2019, mức giảm 5,8% trong quý 1/2020 đã cho thấy kinh tế Pháp chính thức rơi vào suy thoái. Tại Italy, quốc gia phương Tây đầu tiên áp đặt lệnh phong tỏa ngăn chặn Covoid-19 với những biện pháp nghiêm ngặt và kéo dài nhất, EC ước tính trong năm nay, nợ công của nước này sẽ tăng lên gần 160% GDP, thâm hụt ngân sách cũng sẽ tăng lên mức 11,1% GDP và được dự báo là mức cao nhất trong EU (với thâm hụt ngân sách trung bình là 8,5% GDP). Khảo sát mới nhất của tổ chức IHS Markit cho thấy chỉ số PMI (chỉ số quản lý thu mua) trong khu vực đồng Euro trong tháng 4/2020 đã giảm từ 44,5 của tháng trước xuống 33,4, mức thấp nhất kể từ năm 1997.

Đánh giá về mức độ và khả năng phục hồi của các nền kinh tế châu âu, Phó Chủ tịch phụ trách kinh tế của EC Valdis Dombrovskis tỏ ra rất dè dặt khi ông nhận xét “Quy mô thiệt hại mà Covid-19 gây ra cho nền kinh tế phụ thuộc vào diễn biến của đại dịch, và khả năng của chúng tôi trong việc tái khởi động các hoạt động kinh tế một cách an toàn và phục hồi sau đó”. Nhiều nhận xét đều cho rằng sự phục hồi này cũng sẽ diễn ra không đồng đều tại các nền kinh tế trong khu vực, nhất là khi thời điểm dỡ bỏ các biện pháp ngăn chặn virus ở các nước là khác nhau và đây chính là mối đe dọa đối với từng nền kinh tế riêng biệt và với cả khu vực đồng tiền chung châu Âu. Điều châu Âu cần nhất hiện nay là chính phủ từng nước phải có các quyết định đúng đắn, quyết liệt để vừa ngăn chặn, dâp tắt dịch bệnh và khởi động lại các nền kinh tế bị tổn thương.

Tháng tư vừa qua, Chủ tịch Ủy ban châu Âu đã tuyên bố rằng “để ra khỏi khủng hoảng, chúng ta cần có đầu tư lớn ồ ạt dưới hình thức như Kế hoạch Marshall cho Châu âu”! Tuy không nêu một con số cụ thể nhưng hình dung ra là cần phải có hàng trăm tỷ Euro của ngân sách châu Âu chi cho người lao động, khối tư nhân và các doanh nghiệp. Bà Chủ tịch Von der Leyen suy nghĩ và đề cập đến một chiến lược dài hạn. Ủy ban mong muốn tranh thủ cuộc khủng hoảng này để tăng cường sự tập trung hóa của Liên minh: tăng ngân sách, tiến hành việc hiện đại hóa bộ máy và khởi động lại nền kinh tế cộng đồng, nền kinh tế đang càng ngày càng ít mang tính cạnh tranh. Chủ tịch Ủy ban châu Âu muốn chia đều gánh nặng của sự trợ giúp cho các nước thành viên. Bà ta loại bỏ đề nghị Coronabonds (trái phiếu Corona) của các nước Nam Âu và Pháp. Tuy nhiên, câu hỏi lớn đặt ra là ai sẽ  trả tiền cho kế hoạch đầy tham vọng này bởi sau chiến tranh thế giới thứ 2 tiền đến từ Mỹ. Mỹ đã làm giàu trên sự mất mát của châu Âu cũng như những cải cách kinh tế của châu Âu… Hiện nay, Mỹ không hề có ý định đầu tư vào châu Âu. Châu Âu cũng chẳng hào hứng và mặn mà gì nếu nhận sự trợ giúp của Trung Quốc, bởi không muốn “ tránh vỏ dưa” để “gặp phải vỏ dừa”. Covid-19 có lẽ cũng là một cơ hội để châu Âu tăng cường và tìm lại sự độc lập của mình.

Trước những tác động tiêu cực của đại dịch Covid-19 đối với nền kinh tế, nhiều nước đã tung các gói kích cầu quy mô lớn. Lãnh đạo các nước EU đã đồng ý thành lập một quỹ phục hồi kinh tế sau đại dịch dự kiến trị giá hơn 1.000 tỷ euro (1.076 tỷ USD). Chính phủ Đức cũng đã thông qua gói giải cứu trị giá 1.100 tỷ euro (1.200 tỷ USD). Thụy Sĩ đang xem xét gói ngân sách 40 triệu USD phục hồi  ngành du lịch. Một gói  cứu trợ khác trị giá hơn 42 tỷ USD sẽ dành để phục hồi kinh tế… Những gói kích thích kinh tế này đang tạo ra niềm hưng phấn cho các doanh nghiệp và người dân châu Âu và thúc đẩy lộ trình mở cửa của các nền kinh tế.

Bài  học của Đại dịch Covid-19 cùng những ảnh hưởng nghiêm trọng của nó trong tất cả các lĩnh vực: các hoạt động chi tiêu của người dân, sản xuất, đầu tư, thương mại, luân chuyển dòng vốn và chuỗi cung ứng của khu vực này đã buộc nhiều quốc gia trong khối đang phải điều chỉnh. Xu hướng mới sẽ có thể là tập trung nhiều hơn vào các mối quan hệ song phương mà họ cho là sẽ có hiệu quả hơn bên cạnh việc tiếp tục các mối quan hệ kinh tế, thương mại theo kênh của Liên minh châu Âu. Nhiều nước Tây Âu bắt đầu năng động hơn trong việc đa dạng hóa thị trường, tìm kiếm các cơ hội mới, chuỗi cung ứng mới, sàng lọc các thị trường, cơ hội với những nền kinh tế ngoài châu Âu.

3. EU cần rất nhiều giải pháp để khởi động lại kinh tế, trong đó có việc tìm kiếm thị trường mới, chuỗi cung ứng mới và như vậy Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Liên minh Châu âu (EVFTA) cũng chính là một trong những giải pháp không thể bỏ qua. Trong cuộc chiến chống Covid-19, Việt Nam nổi lên như một điểm sáng, chứng tỏ khả năng khống chế rủi ro và cao hơn cả là sự ổn định chính trị của Việt Nam. Hơn nữa Việt Nam còn là một thị trường không nhỏ với gần 100 triệu dân, sẽ là một lựa chọn ưu tiên của các doanh nghiệp châu Âu khi tìm kiếm nguồn cung ứng về lao động, nguyên vật liệu và đặt công xưởng sản xuất. Theo cam kết của EVFTA, có đến 70% mặt hàng được giảm thuế và theo lộ trình, EU sẽ xóa bỏ thuế nhập khẩu đối với 99,7% số dòng thuế cũng giúp Việt Nam có cơ hội tiếp cận thị trường EU với thuế suất ưu đãi hơn các đối thủ cạnh tranh.

Với Việt Nam, EU là một trong số các thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch xuất khẩu năm ngoái đạt 41,48 tỷ USD và nhập khẩu đạt 14,91 tỷ USD, EVFTA sẽ tạo lợi thế lớn cho xuất khẩu của Việt Nam sang EU, đặc biệt là với các mặt hàng nông – thủy sản và những mặt hàng Việt Nam có nhiều lợi thế cạnh tranh. An ninh kinh tế của Việt Nam được đảm bảo hơn khi có thể đa dạng hóa thị trường, giảm sự phụ thuộc quá nhiều vào một thị trường nhất định.

Việc sớm phê chuẩn EVFTA cùng với các biện pháp hỗ trợ là rất cần thiết để giúp các doanh nghiệp Việt Nam vượt qua khủng hoảng sau dịch bệnh, phục hồi nhanh chóng hơn. Điều may mắn là các doanh nghiệp EU đang có xu thế chuyển hướng đầu tư và có những đánh giá rất tốt về thị trường Việt Nam. Đây là cơ hội  mà  chúng ta không thể bỏ qua.

Về phía EU, ngày 30/3 vừa qua, Hội đồng châu Âu cũng đã phê duyệt Hiệp định, hoàn tất thủ tục pháp lý cuối cùng. Như vậy, chỉ cần chờ Quốc hội Việt Nam phê chuẩn và hai bên hoàn tất thủ tục thông báo theo quy định, thì EVFTA sẽ chính thức có hiệu lực đối với cả EU và Việt Nam.

Xét về tổng thể, EVFTA sẽ góp phần đa dạng hóa thị trường, giảm sự phụ thuộc quá nhiều vào một thị trường nhất định, từ đó bảo đảm an ninh kinh tế của Việt Nam. Thay cho lời kết, chúng tôi xin trích dẫn phát biểu của chuyên gia kinh tế Võ Trí Thành: “Ở góc nhìn thời hậu dịch và nhất là trung và dài hạn, EVFTA chắc chắn là cơ hội lớn với kinh tế Việt Nam mà chúng ta không thể bỏ qua. Vì vậy, bên cạnh công đoạn chuẩn bị và ưu tiên hành lang pháp lý để EVFTA có thể được thực thi ngay khi có hiệu lực, các doanh nghiệp Việt Nam cũng cần tính đến khả năng sản xuất và dự trữ hàng hóa để khi có điều kiện thuận lợi, nhất là dịch bệnh qua đi sẽ có sẵn hàng hóa để đáp ứng các đơn hàng từ EU. Mặt khác, cách thức tiến hành hoạt động xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp EU cũng có thể có những điều chỉnh đáng kể, đòi hỏi các nhà xuất khẩu Việt Nam phải lưu ý theo dõi nắm bắt thông tin để thích ứng phù hợp với tình hình mới”. Mọi sự khởi động đều cần bắt đầu từ rất sớm để chúng ta có thể vững vàng khởi động sau dịch bệnh.

BDN

Loading

Views: 0