Category Archives: Einführung

Đánh giá kinh tế Việt Nam năm 2022

Đài Sputnik dẫn ý kiến phân tích từ Giáo sư-Tiến sĩ kinh tế Vladimir Mazyrin, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu Việt Nam và ASEAN thuộc Viện nghiên cứu Trung Quốc và châu Á hiện đại, đánh giá về kinh tế Việt Nam năm 2022 như sau:

Tăng trưởng GDP là thành công rõ ràng của Việt Nam
Ông Vladimir Mazyrin cho rằng tăng trưởng tổng sản phẩm nội địa (GDP) là thành công rõ ràng của Việt Nam: “Tất nhiên, chưa có số liệu cuối cùng và trong các báo cáo thống kê 11 tháng đầu năm cũng chưa có chỉ tiêu này. Mới có số liệu về tăng trưởng GDP 6 tháng đầu năm là khoảng 3%. Các tổ chức xếp hạng và ngân hàng thế giới dự đoán tăng trưởng GDP của Việt Nam trong năm nay và những năm tới ở mức 6,5-7%, nhưng theo tôi, con số này chỉ ở mức 4-5%. Tuy nhiên, đây cũng đã là thành công lớn đối với kinh tế Việt Nam trong bối cảnh đại dịch và hậu COVID-19 khiến chỉ số này của nhiều quốc gia về âm”.
Theo ông Mazyrin, ở khía cạnh này, thu nhập bình quân đầu người rất đáng lưu ý. Các cơ quan xếp hạng đang ca ngợi thành công của Việt Nam và báo cáo rằng mức thu nhập bình quân đầu người đã tăng lên 3.700-4.000 USD, có nghĩa là tăng 26% trong một thời gian ngắn. Theo định nghĩa, điều này là không thể: “Tôi đã tìm được lời giải thích cho hiện tượng này: Cơ quan thống kê Việt Nam đã thay đổi phương pháp tính toán và đưa vào đó các nguồn bổ sung: kinh tế ngầm, hộ gia đình – được cho là chưa được tính đến trước đây. Việt Nam không phải là quốc gia duy nhất sử dụng các kỹ xảo như vậy. Nói chung, đây là một trò chơi thống kê. Những thành công được phóng đại một cách có chủ ý để cho thấy sức hấp dẫn đầu tư của đất nước”.


Công nghiệp là đầu tàu của nền kinh tế Việt Nam
Khi phân tích số liệu sản xuất công nghiệp 11 tháng, Giáo sư Mazyrin lưu ý tình hình đang khả quan: “Tăng trưởng sản xuất ngành công nghiệp là khoảng 9%, trong đó sản xuất điện tăng trưởng 7,7%, cho thấy công nghiệp vẫn là ngành chủ đạo của nền kinh tế Việt Nam. Và với sự hỗ trợ đầy đủ của phương Tây, Việt Nam đang chuyển đổi thành công thành ‘xưởng sản xuất thế giới’, thay thế một phần vai trò này của Trung Quốc”.


Vốn đầu tư nước ngoài không nằm chết

Theo kết quả 11 tháng, vốn đầu tư nước ngoài trực tiếp vào Việt Nam đạt 25 tỷ USD, mức này thấp hơn 5% so với cùng kỳ năm ngoái. Tuy nhiên, Giáo sư Mazyrin cho rằng, nhìn chung, con số hiện tại là khá tốt: “Hơn nữa, có hai tỷ lệ vốn khác nhau: vốn được đăng ký và vốn đã sử dụng. Cần lưu ý rằng tỷ lệ hấp thụ vốn tại Việt Nam đã được cải thiện rõ rệt. Trong 11 tháng, chỉ số này đã tăng 15% và đạt gần 20 tỷ USD. Ngoài ra, như chúng ta thấy sự chênh lệch giữa vốn đăng ký và vốn đã sử dụng là rất nhỏ, điều này cho thấy hiệu quả của nền kinh tế Việt Nam”.
Tuy nhiên, Giáo sư Mazyrin lưu ý rằng một phần lớn trong dòng vốn chảy vào là do các doanh nghiệp nước ngoài – chủ yếu là các tập đoàn xuyên quốc gia Mỹ và châu Âu, đang tích cực chuyển sản xuất từ Trung Quốc sang Việt Nam và đã góp phần lớn trong gia tăng sản xuất: “Mức tăng trưởng này lớn đến mức khiến chúng ta phải suy nghĩ lại về những lý do giải thích cho mức tăng trưởng GDP kỷ lục của nước này do các cơ quan xếp hạng thế giới dự đoán. Có lẽ họ đang thống kê cho Việt Nam khối lượng sản xuất tại các nhà máy trước đây đặt tại Trung Quốc nhưng hiện đã chuyển sang Việt Nam”.
Khối lượng ngoại thương đang tiến gần đến một nghìn tỷ USD
Giáo sư Mazyrin cho rằng ngoại thương là một ví dụ về thành công nổi bật nhất của nền kinh tế Việt Nam. Trong suốt thời kỳ đại dịch, cũng như trong năm 2022, quan hệ ngoại thương của Việt Nam tiếp tục tăng trưởng ổn định, trong khi ở nhiều nước, chỉ số ngoại thương là âm. Ở Việt Nam, cả xuất khẩu lẫn nhập khẩu đều tăng trưởng, trong đó xuất khẩu có phần tăng nhanh hơn: “Tôi tin rằng đến cuối năm, cả xuất khẩu lẫn nhập khẩu sẽ đạt khoảng 400 tỷ USD và kim ngạch thương mại của Việt Nam sẽ đạt 800 tỷ USD. Các cơ quan xếp hạng có cơ sở báo cáo rằng chỉ số ngoại thương của Việt Nam sẽ đạt mốc nghìn tỷ USD trong thời gian tới”.
Tuy nhiên, theo ông Mazyrin, ở đây cần tính đến bối cảnh chiến tranh thương mại Mỹ-Trung. Trung Quốc vì không có lợi khi cung cấp trực tiếp nhiều mặt hàng cho Mỹ nên thực hiện điều này thông qua Việt Nam bằng cách chuyển các sản phẩm gần như đã hoàn thành đến Việt Nam: “Khối lượng của những sản phẩm như vậy được đo bằng những con số khổng lồ, vì xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ vào cuối năm rõ ràng sẽ vượt quá 120-150 tỷ USD”./.

BND

Loading

Views: 0

Chuyên gia Đức: UNCLOS có vai trò hết sức quan trọng

Giáo sư, Tiến sỹ Thomas Engelbert, chuyên gia nghiên cứu về biển tại Đại học Hamburg (Đức)

Nhân kỷ niệm 40 năm Công ước Liên hợp quốc về Luật biển (UNCLOS) ra đời (10/12/1982-10/12/2022), phóng viên đã có buổi phỏng vấn Giáo sư, Tiến sỹ Thomas Engelbert, chuyên gia nghiên cứu về biển tại Đại học Hamburg (Đức) về công ước này.

PV: Thưa Giáo sư Thomas Engelbert, ông đánh giá như thế nào về ý nghĩa và tầm quan trọng của của UNCLOS 1982 đối với an ninh hàng hải khu vực Thái Bình Dương – Ấn Độ Dương?

Công ước LHQ về luật biển được kí vào năm 1982 có ý nghĩa rất lớn đối với an ninh hàng hải, không chỉ ở Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương mà trên cả thế giới. Đây là lần đầu tiên những qui định rõ ràng về các hành xử trên biển được đặt ra. Ví dụ công ước quy định rõ những thực thể nào được gọi là đảo, thực thể nào không phải là đảo; phân biệt đảo đá là gì và tính pháp lí của chúng khác đảo thường như thế nào; định nghĩa các vùng khai thác kinh tế trên biển của quốc gia là gì… Đây là lần đầu tiên các khái niệm này được định nghĩa rõ ràng. Văn bản này cũng quy định các cơ chế pháp lý giải quyết các tranh chấp biên giới trên biển giữa các quốc gia mà không sử dụng bạo lực. Sự ra đời của UNCLOS là một cột mốc quan trọng trong luật quốc tế liên quan đến biển. Trên cơ sở UNCLOS, một số tổ chức quan trọng được thành lập như Tòa án quốc tế về Luật Biển (tại thành phố Hamburg – Đức) hay Tòa Trọng tài thường trực PCA (tại thành phố La hay – Hà Lan). Đây là cơ sở để các quốc gia có biển giải quyết các tranh chấp lãnh thổ một cách hoàn bình.

PV: Được coi là khuôn khổ toàn diện điều chỉnh tất cả các hoạt động trên biển và đại dương, góp phần vào việc bảo đảm an ninh, tự do hàng hải, duy trì hoà bình, ổn định và thực hiện Chương trình nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vững của Liên hợp quốc, theo Giáo sư, UNCLOS đã được áp dụng như thế trong giải quyết các tranh chấp về biển trên thế giới nói chung và tranh chấp ở Biển Đông nói riêng?

Từ khi UNCLOS ra đời, công ước này đã được áp dụng để giải quyết thành công nhiều vụ tranh chấp phức tạp về biển trên thế giới, ví dụ vụ tranh chấp giữa Anh và Mauritius trong việc thành lập khu bảo tồn biển tại khu vực quần đảo Chagos ở Ấn Độ Dương; vụ Nicaragua kiện Colombia ra Tòa án Công lý Quốc tế về phân định chủ quyền các đảo và vùng biển liên quan tại biển Caribe; vụ Timor Leste kiện Australia liên quan đến phân định biên giới biển giữa hai nước…

Giáo sư, Tiến sỹ Thomas Engelbert trả lời phỏng vấn phóng viên

Đối với tranh chấp trên Biển Đông, tháng 1/2013, Philippines đã chính thức kiện Trung Quốc theo Phụ lục VII của UNCLOS. Như vậy, một lần nữa UNCLOS đã được vận dụng để giải quyết tranh chấp về biển giữa các quốc gia. Tháng 7/2016, Tòa trọng tài thường trực PCA đã ra phán quyết cuối cùng về vụ kiện này, bác bỏ hoàn toàn yêu sách “đường chín đoạn” của Trung Quốc tại Biển Đông. Quyết định này có ảnh hưởng lâu dài về mặt pháp lí. Theo phán quyết, thứ nhất, yêu sách “đường chín đoạn” của Trung Quốc không phù hợp với luật quốc tế, không dựa trên bất cứ nền tảng luật pháp nào. Thứ hai, các cấu trúc địa lý trên Biển Đông không phải là các đảo, vì thế chúng không có vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lí như đảo thông thường. Thứ ba, việc xây dựng căn cứ trên biển, trên cáo đảo đá hay các đảo nhân tạo mà Trung Quốc đã và đang tiến hành gây tổn hại tới môi trường biển và vi phạm UNCLOS. Phán quyết này của Tòa trọng tài thường trực là cơ sở pháp lý vững chắc để giải quyết xung đột trên biển Đông. Tất nhiên việc thực hiện phán quyết phụ thuộc vào các quốc gia liên quan vì không có cơ chế cưỡng chế hiệu quả nào buộc thi hành phán quyết. Trung Quốc vẫn luôn bác bỏ phán quyết và tuyên bố sẽ không chấp nhận bất kỳ hành động nào dựa trên phán quyết này. Tuy nhiên, trong các cuộc đàm phán sau này như đàm phán về bộ quy tắc ứng xử trên Biển Đông (COC), phán quyết của Tòa trọng tài PCA vẫn có những ảnh hưởng nhất định. Các nước ASEAN không còn chấp nhận những đòi hỏi chủ quyền vô lý từ Trung Quốc nữa.

PV: Thưa Giáo sư, năm 2022 cũng là năm kỷ niệm 20 năm ký kết Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC). Ông đánh giá thế nào về ý nghĩa, vai trò của DOC trong việc duy trì môi trường hòa bình, ổn định ở Biển Đông?

Trong bối cảnh Bộ quy tắc ứng xử trên Biển Đông COC chưa ra đời, tôi cho rằng DOC có ý nghĩa lớn, là cơ sở pháp lý quan trọng ràng buộc nhất giữa ASEAN và Trung Quốc trong việc giải quyết tranh chấp trên Biển Đông, duy trì môi trường hòa bình, ổn định trong khu vực này. Các bên tham gia ký kết DOC nhất trí tuân theo các tiêu chuẩn quốc tế về cách hành xử trên Biển Đông, tôn trọng tự do hàng hải, không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực đối với các quốc gia khác, không leo thang căng thẳng làm phức tạp tình hình, sẵn sàng đối thoại để xây dựng Bộ quy tắc ứng xử chung COC. Hiện tại, COC vẫn trong quá trình đàm phán vì các bên vẫn chưa đạt được quan điểm thống nhất về bộ quy tắc này. Nhưng ý nghĩa nằm ở chỗ đàm phán còn tồn tại, tức là Trung Quốc buộc phải ngồi lại cùng các quốc gia ASEAN để xây dựng một cơ chế chung tránh xung đột.  

Mặc dù vậy, thời gian qua Trung Quốc vẫn tiếp tục có các hành động leo thang ở Biển Đông khiến tình hình thêm phức tạp. Vì thế, vấn đề đặt ra là liệu có thể tạo ra áp lực đủ lớn với Trung Quốc trong cuộc đàm phán này hay không? Nếu các quốc gia ASEAN đoàn kết trước những quan điểm và bước đi đơn phương của Trung Quốc, điều này là có thể. Trung Quốc luôn muốn đàm phán với từng quốc gia riêng lẻ về biên giới lãnh thổ, vì các quốc gia Đông Nam Á luôn ở vị thế yếu so với sức mạnh của Trung Quốc. Khi buộc được Trung Quốc phải tham gia vào quá trình đàm phán đa phương thì đó là một thành công của ASEAN, với vai trò một “mỏ neo” giữ vững sự ổn định trong khu vực Đông Nam Á.

PV: Thưa Giáo sư, nhóm Bạn bè của UNCLOS (UNCLOS Friends Group) được thành lập theo sáng kiến của Đức và Việt Nam, tới nay đã có sự tham gia của 115 nước. Ông đánh giá như thế nào về vai trò của nhóm này trong thực thi UNCLOS, DOC cũng như thúc đẩy đàm phán về Bộ quy tắc về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (COC)?

Theo tôi, những sáng kiến và cơ chế hợp tác như nhóm Bạn bè của UNCLOS rất có ý nghĩa và cần thiết trong việc thực thi UNCLOS. Con số 115 quốc gia tham gia nhóm cho tới nay cho thấy điều này. Rõ ràng, các quốc gia đánh giá cao sáng kiến và sẵn sàng tham gia vào nhóm. Về phía Đức, chính phủ Đức luôn nhấn mạnh vai trò của UNCLOS và luật pháp quốc tế nói chung trong giải quyết hòa bình các tranh chấp quốc tế. Tất cả các quốc gia khác ven biển Đông cũng đều chủ trương giải quyết hòa bình các tranh chấp trên biển. Những điều này góp phần gây áp lực nhất định với Trung Quốc, khiến họ phải đàm phán, ví dụ như trong khuôn khổ COC, vì họ luôn coi mình là một cường quốc thiện chí muốn tránh các xung đột quân sự, giải quyết hòa bình tranh chấp với các quốc gia khác.

Xin trân trọng cảm ơn Giáo sư./.

BND

Loading

Views: 0

Vấn đề Biển Đông tiếp tục thu hút sự quan tâm của quốc tế

Giáo sư, Tiến sĩ Eve Wilden – Viện trưởng Viện Á-Phi, Đại học Hamburg, phát biểu tại Hội thảo

Ngày 18/11, Viện Á-Phi thuộc Đại học Hamburg (Đức) đã tổ chức hội thảo quốc tế về các chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương và vấn đề Biển Đông. Hội thảo cho thấy, những tranh chấp trên Biển Đông tiếp tục thu hút được sự quan tâm lớn của giới chuyên gia và dư luận quốc tế.

Với chủ đề “Các chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương và Biển Đông – Quan điểm từ các khu vực”, hội thảo đã thu hút được sự tham gia của nhiều chuyên gia, nhà nghiên cứu từ nhiều quốc gia trên thế giới như Đức, Pháp, Australia, Nhật Bản. Các chuyên gia đã phân tích và đưa ra nhiều nhận định, đánh giá về tình hình chính trị, an ninh khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, trong đó trọng tâm là khu vực Biển Đông; đồng thời đề xuất nhiều giải pháp giải quyết xung đột trong khu vực. Giáo sư, Tiến sỹ Thomas Engelbert – chuyên gia nghiên cứu về Biển Đông tại Đại học Hamburg và Tiến sỹ Gerhard Will, nguyên chuyên gia nghiên cứu về Biển Đông tại Viện Khoa học và Chính trị Đức (SWP), đồng chủ trì hội thảo.

Phát biểu khai mạc hội thảo, Giáo sư, Tiến sĩ Eve Wilden – Viện trưởng Viện Á-Phi, Đại học Hamburg, đánh giá khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương chiếm hơn một nửa dân số thế giới, có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú và nhiều tuyến đường biển quan trọng, có ý nghĩa hết sức to lớn đối với nền thương mại toàn cầu và ngày càng trở thành khu vực quan trọng trong việc định hình trật tự thế giới thế kỷ XXI. Nhận thức được tầm quan trọng của khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, những năm qua nhiều cường quốc trên thế giới, trong đó có Liên minh châu Âu và nước Đức, đã ban hành các chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương của riêng mình, đồng thời tăng cường hợp tác và hiện diện trong khu vực. Tuy nhiên những xung đột và tranh chấp dai dẳng, đặc biệt là tranh chấp trên Biển Đông, tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây bất ổn và không dễ giải quyết. Với sự tham gia của các chuyên gia nghiên cứu hàng đầu thế giới, hội thảo sẽ thảo luận và đề xuất các biện pháp góp phần giải quyết xung đột, bảo vệ an ninh, hòa bình và ổn định trong khu vực.

Giáo sư, Tiến sỹ Thomas Engelbert – Viện Á – Phi, Đại học Hamburg, phát biểu tại hội thảo

Trong bài phát biểu của mình, Giáo sư, Tiến sỹ Thomas Engelbert nhận định các chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương đều cho thấy quan điểm, tầm nhìn và các chính sách lớn của các quốc gia đối với khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương – một khu vực phát triển rất năng động những cũng chứa đựng không ít mâu thuẫn, tranh chấp. Riêng tại khu vực Biển Đông, thời gian qua tình hình tiếp tục có nhiều phức tạp. Những hành vi vi phạm luật pháp quốc tế của Trung Quốc vẫn tiếp diễn, quá trình quân sự hóa Biển Đông được đẩy nhanh hơn, nguy cơ đụng độ quân sự trực tiếp trên biển luôn tiềm ẩn. Trong khi đó, quá trình đàm phán Bộ quy tắc ứng xử trên Biển Đông (COC) giữa Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và Trung Quốc tiếp tục kéo dài và chưa có đột phá, quan điểm của các bên tham gia đàm phán COC còn khác xa nhau, lòng tin chiến lược giữa các bên chưa được thúc đẩy.

Trong bối cảnh thế giới đang phải đối mặt với những thách thức chính trị, an ninh gay gắt như hiện nay, Giáo sư, Tiến sỹ Thomas Engelbert cho rằng các quốc gia trong khu vực Biển Đông cần kiềm chế các hành động của mình, tôn trọng luật pháp quốc tế, nỗ lực cùng nhau giải quyết xung đột thông qua các biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS), đẩy nhanh quá trình đàm phán COC.    

Các chuyên gia tham dự hội thảo đều khẳng định UNCLOS và phán quyết năm 2016 của Tòa trọng tài PCA là những cơ sở pháp lý vững chắc nhất và quan trọng nhất cho việc giải quyết tranh chấp trên Biển Đông. Các hành vi đơn phương vi phạm luật pháp quốc tế, gây hấn, sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực với các quốc gia khác là không thể chấp nhận được. Chỉ có tích cực đàm phán trên cơ sở luật pháp quốc tế và sự tôn trọng lẫn nhau, tính đến lợi ích hài hòa giữa các bên, đồng thời thúc đẩy niềm tin và tăng cường hợp tác hướng tới tương lai lâu dài, mới là biện pháp tối ưu nhất trong giải quyết xung đột, bảo vệ hòa bình, an ninh và ổn định trong khu vực cũng như trên thế giới.

Tiến sỹ Gerhard Will – nguyên chuyên gia nghiên cứu về Biển Đông tại Viện Khoa học và Chính trị Đức, phát biểu tại hội thảo

Phát biểu kết luận hội thảo, Tiến sỹ Gerhard Will đánh giá những diễn biến thời gian qua cho thấy các cấu trúc quốc tế, đặc biệt là trong lĩnh vực chính trị và an ninh, đang thay đổi nhanh chóng. Các cấu trúc cũ đang mất đi ý nghĩa và vai trò trước đây của chúng, trong khi các cấu trúc mới đang dần hình thành. Khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương ngày càng thể hiện tầm quan trọng và được cả thế giới quan tâm nhiều hơn, một loạt các chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương lần lượt được ban hành trong những năm gần đây cho thấy rõ điều đó. Trong khu vực này, một trong những xung đột trọng tâm là tranh chấp trên Biển Đông. Việc tôn trọng luật pháp quốc tế, nỗ lực giải quyết hòa bình các tranh chấp này không chỉ có ý nghĩa đối với khu vực mà còn với cả thế giới./.

BND

Loading

Views: 0

Việt Nam mua vũ khí tấn công mặt đất đáng sợ nhất của Israel

Tên lửa hành trình Delilah của Israel

Việt Nam đang xem xét khả năng đặt mua các hệ thống vũ khí tiên tiến do Israel sản xuất, trong đó không quân để mắt tới phiên bản nâng cấp của tên lửa hành trình đối đất Delilah.
Thông tin trên vừa được trang FlightGlobal đăng tải, theo đó, hệ thống vũ khí tối tân này đã được mang ra thảo luận trong chuyến thăm Việt Nam mới đây của Chủ tịch Tập đoàn IMI Systems — ông Yitzhak Aharonovitch.

https://www.youtube.com/watch?v=-trO71ugxkk

Chính thức ra mắt từ năm 1995, nhưng phải đến năm 2006, tên lửa hành trình tấn công mặt đất Delilah mới lần đầu tiên được Không quân Israel sử dụng trên chiến đấu cơ Lockheed Martin F-16 trong chiến dịch quân sự tại Libanon. Theo một vài nguồn tin, ngoài Israel, Delilah còn có trong trang bị của Không quân Morocco.

Delilah là loại tên lửa do thám/ tấn công cực kỳ lợi hại và rất độc đáo, khi có thể “lượn lờ” trên khu vực bị oanh kích như một chiếc UAV để tìm kiếm những mục tiêu có giá trị cao, được ngụy trang kỹ càng nhất trong một thời gian khá dài.

Nhờ vào khối lượng nhẹ (trọng lượng phóng chỉ 187 kg với đầu đạn đa chủng loại nặng 30 kg), thiết kế module nhỏ gọn (chiều dài 2,71 m; sải cánh 1,15 m; đường kính thân 0,33 m), Delilah triển khai được từ trực thăng vũ trang UH-60A, SH-60B, tiêm kích F-16, hay thậm chí phóng đi từ mặt đất.

Trước khi lao vào mục tiêu ở tốc độ cận âm (Mach 0,85), toạ độ oanh kích được cài đặt trong bộ nhớ chương trình điều khiển bay của Delilah, tên lửa sẽ liên tục kết nối với hệ thống định vị GPS để hiệu chỉnh đường bay, sai số của nó chỉ vào khoảng 1 m trong khi tầm bắn tối đa lên tới 250 km, “ngoài vùng phủ sóng” của hầu hết các hệ thống phòng không tầm xa hiện đại.

Trước khi lao vào mục tiêu ở tốc độ cận âm (Mach 0,85), toạ độ oanh kích được cài đặt trong bộ nhớ chương trình điều khiển bay của Delilah, tên lửa sẽ liên tục kết nối với hệ thống định vị GPS để hiệu chỉnh đường bay, sai số của nó chỉ vào khoảng 1 m trong khi tầm bắn tối đa lên tới 250 km, “ngoài vùng phủ sóng” của hầu hết các hệ thống phòng không tầm xa hiện đại.

Bên cạnh phiên bản không đối đất, Delilah còn có biến thể đất đối đất khi triển khai từ bệ phóng di động đặt trên xe tải việt dã, nó có thể kết hợp cùng các loại đạn phản lực dẫn đường như EXTRA hay AccuLAR (đã có trong biên chế Quân đội Nhân dân Việt Nam) để tạo nên một hệ thống tấn công nhiều lớp.

Thời gian gần đây, Israel đã vươn lên trở thành một đối tác đặc biệt quan trọng của Việt Nam trong lĩnh vực quốc phòng, do vậy triển vọng mua sắm thêm các loại vũ khí tiên tiến có nguồn gốc từ Quốc gia Do Thái là khá sáng sủa.

 

Theo: Thời Đại

 

Loading

Views: 0