Trung Quốc huy động gần 100 phi công tham gia đợt diễn tập phóng hàng chục tên lửa đối không gần đảo Hải Nam hồi đầu tuần.
Đài truyền hình trung ương Trung Quốc (CCTV) cho biết đợt diễn tập bắn đạn thật được lực lượng không quân hải quân thuộc Bộ tư lệnh Chiến khu miền Nam Trung Quốc tổ chức ở vùng biển phía tây đảo Hải Nam trong hai ngày 20-21/10, nhưng không tiết lộ vị trí cụ thể.
Video do CCTV công bố cho thấy các cường kích JH-7 và tiêm kích J-11 được lắp tên lửa trước khi cất cánh. “Nhiều phi công mới đã lần đầu được khai hỏa tên lửa. Đợt diễn tập nhằm kiểm tra khả năng sử dụng vũ khí của phi công trong điều kiện chiến đấu thực tế”, thông báo của CCTV có đoạn viết.
Quân đội Trung Quốc gần đây gia tăng diễn tập quân sự tại các vùng biển trong khu vực cũng như trên bầu trời gần đảo Đài Loan, trong bối cảnh quan hệ Mỹ – Trung giảm xuống mức thấp nhất trong nhiều thập kỷ. Một máy bay Đài Loan bị từ chối vào không phận Hong Kong trên đường đến quần đảo Đông Sa hôm 15/10 do Trung Quốc diễn tập tên lửa ở Biển Đông.
Quân đội Mỹ cũng đẩy mạnh hoạt động tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương trong những tháng qua, triển khai hàng chục chuyến bay của các loại trinh sát cơ gần đảo Đài Loan và bờ biển Trung Quốc đại lục.
Lo lắng về những hành động leo thang gần đây của Trung Quốc, cử tri nhiều tỉnh kiến nghị Quốc hội cần có nghị quyết về Biển Đông; Đảng và Nhà nước kịp thời thông tin đến nhân dân về tình hình biển đảo.
Việc bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Việt Nam được đánh giá là gặp nhiều thách thức mới nặng nề hơn
Bảo vệ chủ quyền biển đảo gặp nhiều thách thức mới nặng nề hơn
Theo tập hợp kiến nghị cử tri của Ban Dân nguyện (thuộc Uỷ ban Thường vụ Quốc hội), cử tri Bình Dương, Thái Bình, TP.HCM đề xuất Chính phủ nghiên cứu trình Quốc hội cần có nghị quyết về Biển Đông; đề nghị Đảng và Nhà nước tiếp tục kiên quyết, kiên trì thực hiện các biện pháp phù hợp trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển đảo, kịp thời thông tin đến nhân dân, tăng cường năng lực quốc phòng nhằm đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc.
Trả lời kiến nghị này, Chính phủ cho biết, công tác bảo vệ chủ quyền biển, đảo, lợi ích quốc gia trên biển luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm, coi đây là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong xây dựng chính sách đối ngoại.
Lập trường, quan điểm nhất quán, xuyên suốt của Việt Nam trong vấn đề Biển Đông là kiên quyết, kiên trì bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán và lợi ích hợp pháp, chính đáng trên biển của Tổ quốc phù hợp với luật pháp quốc tế, Công ước Liên Hiệp Quốc về luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982); giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định phát triển đất nước và thúc đẩy hợp tác quốc tế về biển; giải quyết các tranh chấp trên biển bằng các biện pháp hòa bình phù hợp với luật pháp quốc tế, nhất là UNCLOS 1982.
Thời gian qua, tình hình Biển Đông có nhiều diễn biến phức tạp, khó lường, công tác đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo và lợi ích quốc gia trên biển gặp nhiều khó khăn, thách thức mới nặng nề hơn.
Tuy nhiên, bám sát chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước trong vấn đề Biển Đông, Việt Nam kiên quyết, kiên trì triển khai đồng bộ các biện pháp trên các mặt chính trị – ngoại giao, quốc phòng – an ninh, pháp lý, tuyên truyền ở các cấp, các kênh, các diễn đàn khác nhau để bảo vệ vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia trên các vùng biển của Việt Nam, giữ vững môi trường ổn định phát triển đất nước, góp phần giữ gìn hòa bình và ổn định ở khu vực và quốc tế.
Thời gian qua, các cơ quan chức năng đã xử lý, giải quyết kịp thời, thỏa đáng, phù hợp với luật pháp quốc tế các vụ việc trên biển, không để ảnh hưởng đến chủ quyền, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của ta cũng như môi trường hoà bình, ổn định và quan hệ hợp tác hữu nghị với các nước.
Việt Nam đã tăng cường thúc đẩy quan hệ hợp tác láng giềng hữu nghị với các nước có liên quan, tích cực tham gia các diễn đàn khu vực, quốc tế nhằm tạo dựng môi trường thuận lợi cho việc xử lý, giải quyết các vấn đề còn tồn đọng trên biển.
Thúc đẩy đàm phán phân định biển với các nước láng giềng nhằm tạo cơ sở pháp lý quốc tế vững chắc cho việc thực thi và bảo vệ các quyền lợi biển hợp pháp; mở rộng hợp tác quốc tế về biển nhằm tạo điều kiện cho ngư dân ta có thể đánh bắt cá hợp pháp tại vùng biển của các nước phù hợp với luật pháp quốc tế và sở tại.
Kiên quyết bảo vệ chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, cũng như chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán và các lợi ích quốc gia ở Biển Đông.
Sau đây là nội dung của thông cáo báo chí chung của Bộ Ngoại giao Mỹ và Cơ quan Hành động Đối ngoại Châu Âu.
Ngày 23/10, Ngoại trưởng Mỹ Pompeo và ông Josep Borrell – Đại diện cấp cao của EU về Chính sách Đối ngoại và An ninh đã có cuộc họp điện đàm để thảo luận hàng loạt các vấn đề cùng quan tâm trong bối cảnh Đối tác xuyên Đại Tây Dương.
Trong cuộc họp, Mỹ và EU đã nhất trí khởi động Đối thoại song phương mới giữa Cơ quan hành động Đối ngoại châu Âu và Bộ Ngoại giao Mỹ về Trung Quốc. Đại diện cấp cao EU và Ngoại trưởng Mỹ hoan nghênh việc bắt đầu Đối thoại này như một diễn đàn dành riêng cho các chuyên gia của EU và Mỹ để thảo luận về toàn bộ các vấn đề liên quan đến Trung Quốc.
Đại diện cấp cao Borrell và Ngoại trưởng Pompeo nhất trí tiếp tục các cuộc họp ở các cấp quan chức cấp cao và cấp chuyên gia về các chủ đề gồm nhân quyền, an ninh và chủ nghĩa đa phương. Cuộc họp cấp cao tiếp theo giữa Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ và Tổng thư ký Cơ quan hành động đối ngoại EU sẽ được tổ chức vào giữa tháng 11/2020.
Cũng tại cuộc họp, Ngoại trưởng Mỹ và Đại diện cấp cao EU đã lên tiếng kêu gọi các nhà chức tránh Belarus tham gia vào một cuộc đối thoại có ý nghĩa với các đại diện thực sự của xã hội dân sự, đặc biệt là với Hội đồng Điều phối do Ứng viên tổng thống đối lập Sviatlana Tsikhanouskaya thành lập. EU và Mỹ nhắc lại ủng hộ mạnh mẽ về độc lập và chủ quyền của Belarus.
Đại diện cấp cao hai bên cũng đánh giá tình hình tại khu vực xung đột Nagorno Karabakh và kêu gọi chấm dứt ngay các hành động thù địch và tôn trọng quyền ngừng bắn đã thỏa thuận; kêu gọi các bên tái tham gia ngay vào các cuộc đàm phán có ý nghĩa dưới sự bảo trợ của các đồng Chủ tịch Nhóm OSCE Minsk; kêu gọi tất cả các bên kiềm chế hành động có thể làm tăng rủi ro cho khu vực.
Sáng 24/10 (giờ Mỹ), Tổng thống Mỹ Donald Trump đã đi bỏ phiếu sớm tại bang Florida, một trong số bang chiến địa mà ông chủ Nhà Trắng cần phải giành đủ số phiếu đại cử tri để có thể đánh bại đối thủ Joe Biden.
Tổng thống Donald Trump rời khỏi điểm bỏ phiếu tại Thư viện công hạt Palm Beach sau khi thực hiện quyền công dân của mình, sáng 24/10 tại bang Floria. (Nguồn: Getty)
Theo hãng tin AFP (Pháp), Tổng thống Trump đã thực hiện quyền công dân của mình tại điểm bỏ phiếu ở thư viện thuộc bang này. Nơi cư trú chính thức của ông Trump, khi ông không ở Nhà Trắng, là bang Florida, nơi gia đình ông sở hữu hai khu nghỉ dưỡng lớn.
Ông tuyên bố: “Tôi bỏ phiếu cho người tên là Trump”.
Tính đến thời điểm hiện tại, khoảng 55 triệu cử tri Mỹ đã đi bỏ phiếu sớm, thực hiện quyền công dân của mình và cuộc bầu cử tổng thống Mỹ năm 2020 có thể chứng kiến tỷ lệ tham gia bỏ phiếu cao nhất trong hơn một thế kỷ.
Việc đông đảo cử tri Mỹ đi bỏ phiếu sớm cho thấy cử tri ngày càng quan tâm đến cuộc cạnh tranh giữa đương kim Tổng thống Trump của đảng Cộng hòa và ứng cử viên Joe Biden của đảng Dân chủ.
Nhiều tiểu bang ở Mỹ đã mở rộng áp dụng hình thức bỏ phiếu sớm, cả trực tiếp và bỏ phiếu qua bưu điện, trước ngày bầu cử 3/11, để đảm bảo cử tri có thể tham gia bỏ phiếu một cách an toàn trong bối cảnh đại dịch viêm đường hô hấp cấp Covid-19 vẫn đang hoành hành.
Trung Quốc đã đưa ra bản dự thảo sửa đổi Luật Quốc phòng nhằm tăng cường an ninh trong những lĩnh vực chủ chốt như mạng không gian, cải thiện thông tin liên lạc giữa chính phủ và quân đội, theo tin từ SCMP.
Bộ trưởng QP Trung Quốc Nguỵ Phương Hoà
Bản dự thảo đã được cân nhắc trong gần hai năm và mới đây được Ban thường vụ Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc công bố hôm thứ Tư (21/10). Dự thảo này sẽ để ngỏ cho công chúng đóng góp tới ngày 19/11.
Trong bản dự thảo, một “cơ chế phối hợp” để thảo luận những vấn đề quốc phòng quan trọng sẽ được thiết lập giữa Quốc vụ viện và Uỷ ban Quân sự Trung ương đảng Cộng sản.
Những lĩnh vực quan tâm chủ yếu là an ninh mạng, không gian và công nghệ liên quan tới điện từ học.
Tài liệu cũng cho biết rằng Trung Quốc sẽ “tham gia vào quản trị an ninh toàn cầu và hỗ trợ các nỗ lực toàn cầu để kiểm soát vũ khí quốc tế.” Nó cũng nêu bật sự cần thiết việc nghiên cứu sâu hơn các công nghệ quốc phòng; đồng thời khuyến khích các công ty và tổ chức bên ngoài đầu tư vào lĩnh vực quân sự.
Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Wei Fenghe (Nguỵ Phụng Hoà) cho biết những thay đổi được đưa vào trong dự thảo “vô cùng cấp bách” vì tình trạng cạnh tranh chiến lược trên thế giới đã tăng cao.
“Luật cần được sửa đổi để bảo vệ chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và các lợi ích phát triển của đất nước và bảo vệ các lợi ích ở nước ngoài,” truyền thông nhà nước trích dẫn lời ông Wei.
Ông nói Trung Quốc “đang đối diện với những đe dọa và thách thức an ninh phức tạp ngày càng gia tăng” và “những điều chỉnh trong chính sách quốc phòng” là cần thiết để giải quyết chúng.
Song Zhongping, một nhà bình luận quân sự tại Hồng Kông, nhận định việc sửa đổi dựa trên cơ sở điều chỉnh của Bắc Kinh trước tình hình an ninh bên ngoài.
Trung Quốc đang đối mặt với “áp lực chiến lược khổng lồ” từ Mỹ trên nhiều vấn đề như Đài Loan và biển Đông, ông nói.
Việc công bố bản dự thảo được đưa ra sau khi Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Mark Esper tuần trước đã kêu gọi Mỹ dành nhiều hơn cho chi tiêu quốc phòng để chống lại “những thách thức mà chúng ta đang phải đương đầu, đặc biệt từ Trung Quốc.”
John Mearsheimer, một học giả về quan hệ quốc tế tại Đại học Chicago, nói tuần trước rằng Mỹ sẽ không chấp nhận việc Trung Quốc trở thành một “đối thủ ngang tầm” và nói “có khả năng thật sự sẽ xảy ra chiến tranh giữa hai nước.”
Nhằm chấm dứt tình trạng hai ứng viên tổng thống ngắt lời nhau trong cuộc tranh biện cuối cùng ngày 22/10 sắp tới, Ủy ban tranh biện Tổng thống (CPD) đã quyết định sẽ thiết lập một số quy tắc mới cho cuộc tranh biện lần này.
Một số qui định cơ bản trong cuộc tranh biện cuối cùng này.
1. Bắt đầu lúc 3 giờ đêm (giờ Đức) thứ Năm sang thứ Sáu (22.10. – 23.10.2020), cuộc tranh biện sẽ diễn ra tại Đại học Belmont ở Nashville bang Tennessee.
2. Chủ đề chính của cuộc tranh biện gồm có các vấn đề liên quan đến cuộc chiến với dịch bệnh COVID-19, gia đình Mỹ, vấn đề chủng tộc tại Mỹ, an ninh quốc gia, biến đổi khí hậu và năng lực lãnh đạo. Người lựa chọn các chủ đề này là nhà báo Kristen Welker của NBC News.
Chiến dịch tranh cử của TT Trump trước đó đã chỉ trích việc CPD lựa chọn chủ đề và nói họ được thông báo trước đó rằng cuộc tranh biện sẽ tập trung vào chính sách đối ngoại. Theo New York Times, thông lệ trong nhiều cuộc tranh cử tổng thống Mỹ cũng cho thấy, cuộc tranh luận thứ ba giữa hai ứng cử viên tổng thống thường tập trung vào chủ đề chính sách đối ngoại.
3. Khán giả được có mặt trực tiếp theo dõi cuộc tranh biện sẽ ít hơn nhiều so với những năm trước và họ được yêu cầu đeo khẩu trang khi tham gia sự kiện. Dù vậy, theo các quy tắc mới ban hành, khán giả sẽ không bị mời ra ngoài cho dù họ không đeo khẩu trang.
4. Người điều hành cuộc tranh biện cuối cùng là phóng viên thường trú của NBC News tại Tòa Bạch Ốc, sẽ đặt câu hỏi mở đầu cho mỗi phân đoạn chủ đề kéo dài 15 phút. Mỗi ứng viên sẽ có 2 phút trình bày luận điểm của mình và sau đó là quá trình tranh biện. Trong quá trình 2 phút trình bày của TT Trump, micro của ông Biden sẽ bị ngắt để tránh gây gián đoạn, và ngược lại, micro của TT Trump cũng sẽ bị ngắt khi tới lượt ông Biden nói.
Micro của hai ứng viên sẽ được mở bình thường trở lại trong phần tranh luận.
Hai năm trước, Đông Âu vẫn giữ sự nhiệt tình rất lớn với Trung Quốc, khi đó đang trong thời kỳ kiến thiết kinh tế nhanh chóng, nhưng chẳng được bao lâu, các nước Đông Âu bắt đầu chuyển sang thấy vọng với sự chờ đợi vào Bắc Kinh, dẫn đến thời kỳ trăng mật cũng nhanh chóng kết thúc. Có phân tích cho rằng, nguyên nhân chủ yếu của điều này là phía Trung Quốc không thực hiện cam kết về hợp tác kinh tế, hơn nữa còn can thiệp vào nội bộ và an ninh của các nước, dẫn đến sự thất vọng của các nước đối với Bắc Kinh.
Ngày 4/9, ngày cuối cùng của chuyến thăm Đài Loan, Chủ tịch Thượng viện Séc Milos Vystrcil đã tham dự Diễn đàn “Tái cấu trúc chuỗi cung ứng: Thúc đẩy khả năng phục hồi của các đối tác có lý niệm tương tự” tại Đài Bắc và có bài phát biểu. (Ảnh: Thông tấn xã Trung ương, CNA).
Quan hệ giữa Tây Âu và Trung Quốc có sự thay đổi
Mối quan hệ giữa châu Âu và Trung Quốc đã có sự thay đổi trong vài năm gần đây, và năm nay đặc biệt rõ ràng. Trong đó có các nước Tây Âu như Đức, Anh, Pháp, đã chuyển thái độ lạnh nhạt rõ ràng với Bắc Kinh do các vấn đề như Trung Quốc xây dựng các đảo nhân tạo ở Biển Đông, xâm phạm nền tự trị của Hồng Kông, đàn áp người Duy Ngô Nhĩ ở Tân Cương.
Cuối tháng 8 đến đầu tháng 9, Ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị và Ủy viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc Dương Khiết Trì đã có chuyến thăm châu Âu, nhưng do thái độ cứng rắn và nói năng lỗ mãng nên cũng chịu nhiều phê bình.
Sau đó, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã có cuộc họp cấp cao qua truyền hình với lãnh đạo châu Âu, đã phải đối mặt với những lời phê bình nhất trí từ lãnh đạo châu Âu về vấn đề Bắc Kinh xâm phạm nhân quyền. Hơn nữa, ông Tập còn phản ứng mạnh mẽ, thậm chí còn nói “Trung Quốc không tiếp nhận giáo sư nhân quyền”. Đây vốn là những từ ngữ mà Trung Quốc thường xuyên dùng để ứng phó với Mỹ, hiện nay lại chuyển sang dùng cho EU, điều này cho thấy lập trường của ông Tập Cận Bình đối với châu Âu có xu hướng cứng rắn hơn.
Trước đó Đông Âu giữ quan điểm hòa giải với Bắc Kinh, và có quan hệ mật thiết với kinh tế Trung Quốc, nhưng hiện nay tình cảm thất vọng đối với Bắc Kinh cũng đang lan ra Đông Âu. Hai bên vốn dựa vào mối quan hệ kinh tế để duy trì thời kỳ trăng mật tốt đẹp, dường như cũng sắp kết thúc.
Các nước Đông Âu xuất hiện làn sóng thoát ly Trung Quốc
Cách đây 8 năm, sự nhiệt tình của Đông Âu đối với Trung Quốc đã bắt đầu dâng cao, thậm chí 16 quốc gia khu vực Đông Âu còn cùng Bắc Kinh tổ hợp thành diễn đàn hợp tác kinh tế “16+1”. Hơn nữa, năm 2019, Hy Lạp cũng tham gia vào và trở thành “17+1”. Dự án hợp tác phát triển này từng có thời điểm khiến cho Đức và Pháp có cảm giác khủng hoảng, lo lắng Bắc Kinh lôi kéo Đông Âu từ đó đạt được sự phân hóa châu Âu.
Tuy nhiên, hành động “thoát ly” Trung Quốc lại được dẫn đầu bởi Cộng hòa Séc, hiện tại đang lan truyền ra khắp Đông Âu. Chủ tịch Quốc hội Cộng hòa Séc Milos Vystrcil từng thăm Đài Loan trong vài ngày hồi cuối tháng 8, sự kiện này khiến cho Bắc Kinh tức giận. Vào tháng 1 năm nay, Praha – Thủ đô Cộng hòa Séc đã cắt đứt mối quan hệ thành phố chị em với thành phố Bắc Kinh, và sau đó chính thức kết nối thành phố chị em với Đài Bắc.
Một phương diện khác, từ năm ngoái tới nay, các nước như Séc, Ba Lan, Romania, Estonia, lần lượt đồng ý hợp tác với Mỹ về phương diện bảo vệ an toàn mạng 5G. Có thể thấy họ đang đi theo bước chân của Mỹ, đồng thời còn tiến hành hạn chế đối với thiết bị viễn thông của Huawei Trung Quốc. Hồi tháng 6/2020, Romania đã hủy bỏ thỏa thuận nhà máy điện hạt nhân trị giá 6 tỷ Euro đã được ký kết với Tập đoàn điện hạt nhân Trung Quốc.
Trung Quốc không thực hiện cam kết kinh tế, khiến Đông Âu thất vọng
Theo các nhà ngoại giao Đông Âu, sự phát triển này là có thể thấy được từ một phương diện khác. Đầu tiên là các quốc gia Đông Âu cảm thấy thất vọng sâu sắc đối với sự hợp tác kinh tế của Trung Quốc. Bởi vì Trung Quốc dựa vào sáng kiến “Vành đai và Con đường”, đề xuất kế hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng quy mô lớn ở khu vực Đông Âu, nhưng sự thúc đẩy của phát triển bởi các dự án này không như dự kiến.
Justyna Szczudlik, người phụ trách dự án Châu Á Thái Bình Dương thuộc Viện nghiên cứu Vấn đề Quốc tế Ba Lan (PISM) nói với Đài truyền hình Al Jazeera, do Bắc Kinh không thực hiện cam kết về kinh tế, từ đó làm các nước Đông Âu và các nước Trung Âu từng tràn đầy hy vọng với Trung Quốc hiện nay cảm thấy thất vọng.
Rudolf Furst, người phụ trách của Trung tâm Quan hệ EU – châu Á (Centre for EU-Asia Relations) thuộc cơ quan Quan hệ quốc tế Prague (The Institute of International Relations Prague), nói với tờ Nikkei Asian Review rằng, từ năm 2012 đến nay, Trung Quốc tiến hành kế hoạch đầu tư ở Trung Âu và Đông Âu, chủ yếu là trong lĩnh vực vận tải và xây dựng cơ sở hạ tầng. Nhưng ngoài Balkan ra, đa số các kế hoạch vẫn chưa được được thực hiện. Cho nên, sự mong đợi hợp tác kinh tế của các nước Trung Âu và Đông Âu đối với Trung Quốc đang tiếp tục giảm.
Từ năm 2000 đến 2019, trong các khoản đầu tư trực tiếp của Trung Quốc vào EU, số tiền đầu tư vào Đông Âu vẫn chưa đến 1/10. Ngay cả Bộ trưởng Kinh tế Séc Milos Zeman tự xưng thân ĐCSTQ, cũng biểu thị bất mãn với Trung Quốc vào hồi tháng 1.
Trung Quốc thâm nhập vào nội chính và an ninh khiến các nước bất mãn
Sau khi có mối quan hệ mật thiết hơn, các nước Đông Âu đã ngày càng quan tâm đến việc Trung Quốc có khả năng thâm nhập vào các sự việc nội bộ và an ninh của các nước. Tháng 1/2019, Tổng giám đốc bán hàng Vương Vĩ Tinh (Weijing W) Huawei trú tại Thủ đô Warszawa (Ba Lan) đã bị bắt, ông bị cáo buộc với tội danh hoạt động gián điệp cho Bắc Kinh.
Cơ quan tình báo Cộng hòa Séc đã chú ý đến việc Trung Quốc đang mở rộng mạng lưới gián điệp của mình tại Séc, và nói rằng Bắc Kinh đã trở thành một mối đe dọa, cũng giống như Nga.
Ngoài Cộng hòa Séc, tình hình ở Hungary cũng tương tự. Mặc dù Thủ tướng Hungary Viktor Orban tiếp tục mở rộng địa vị độc tài của mình, nhưng một chuyên gia Hungary cho biết mô hình độc tài của Bắc Kinh khó được Hungary chấp nhận, vì ít nhất Hungary còn tổ chức bầu cử. Mặc dù Hungary và Trung Quốc đã kéo quan hệ gần gũi hơn nhưng không thúc đẩy hợp tác kinh tế thì điều này là vô nghĩa.
Ivana Karaskova, một chuyên gia về Trung và Đông Âu thuộc Hiệp hội Vấn đề Quốc tế (AMO) của Séc, đã nói nói với Đài truyền hình Al Jazeera rằng, trọng tâm của các quốc gia Trung và Đông Âu này đối với cam kết hợp tác kinh tế của Trung Quốc đã bắt đầu chuyển dịch. Họ đang ý thức được sự rủi ro chính trị và an ninh do hợp tác với Bắc Kinh.
Các nước Mỹ Latin và Nhật Bản thường được coi là chỉ kết nối lỏng lẻo, thông qua sự chắp vá của các hiệp định thương mại tự do và quan hệ giao lưu nhân dân.
Nhưng vào mùa hè này, Chile đã hoàn tất một thỏa thuận cho thấy sự hội tụ đáng kể của các lợi ích địa chiến lược giữa Nhật Bản và châu Mỹ. Sau nhiều cân nhắc, Chile đã chọn một tuyến đường dưới biển phục vụ tuyến cáp quang trực tiếp đầu tiên giữa Nam Mỹ và Châu Á – Thái Bình Dương với sự hỗ trợ của Nhật Bản.
Nhật Bản đề xuất làm tuyến cáp dài 13.000 km từ Chile qua Thái Bình Dương cuối cùng kết nối với hệ thống cáp dưới biển hiện có giữa Nhật Bản và châu Đại Dương. Tuyến đường xuyên Thái Bình Dương mới sẽ sử dụng mối liên kết giữa Nhật Bản và Australia vừa đi vào hoạt động vào tháng 7, sau đó mở rộng về phía đông đến New Zealand và sau đó qua Thái Bình Dương đến Nam Mỹ.
Khi chọn con đường do Nhật Bản hậu thuẫn, Chile đã từ chối lời đề nghị cạnh tranh từ gã khổng lồ viễn thông Trung Quốc Huawei, hãng đã chỉ định Thượng Hải là trạm cuối.
Tập đoàn NEC của Nhật Bản thắng gói đấu thầu đầu tiên của dự án trị giá hàng tỷ đô la và Chile sẽ chấp nhận các gói thầu bổ sung từ các công ty đa quốc gia vào năm tới. Các ứng cử viên có nhiều khả năng đến từ các nhà thầu hàng đầu trong lĩnh vực cáp dưới biển. Alcatel của Pháp và Subcom ở Mỹ là những đối thủ tiềm năng.
Cáp dưới biển chứa khoảng 95% dữ liệu và thông tin liên lạc quốc tế và được nhiều người coi là cơ sở hạ tầng quan trọng cho mục đích an ninh quốc gia. Do đó, sau khi hoàn thành, tuyến cáp mới sẽ trở thành một liên kết chiến lược quan trọng không chỉ giữa Nhật Bản và Chile, mà giữa châu Á – Thái Bình Dương và châu Mỹ Latin.
Các khía cạnh địa chính trị trong quyết định của Chile cho thấy cách tiếp cận đang phát triển của Nhật Bản đối với Vành đai Thái Bình Dương. Dưới thời cựu Thủ tướng Abe Shinzo, Tokyo đã phát triển một tầm nhìn cho cái mà họ gọi là “Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương tự do và rộng mở”, được thiết kế để duy trì một trật tự dựa trên luật lệ trong khu vực và một phần là để chống lại sự quyết đoán ngày càng tăng của Trung Quốc.
Nền tảng của chiến lược là xây dựng các kết nối đáng tin cậy, cởi mở và minh bạch giữa Nhật Bản và các đối tác ngoại giao, bao gồm cả ở Mỹ Latin.
Quyết định từ chối Trung Quốc không thể dễ dàng đối với Chile. Họ đã tiến hành các nghiên cứu tiền khả thi với Huawei để lựa chọn tuyến đường từ năm 2017, tất cả đều kết thúc ở Thượng Hải. Dự án đã chịu áp lực ngoại giao lớn từ Bắc Kinh.
Tuy nhiên, theo Business Insider, Chile cũng nhận thấy những lo ngại cạnh tranh từ Mỹ và các nước khác – bao gồm cả chuyến thăm của Ngoại trưởng Mike Pompeo vào năm ngoái – rằng việc chấp nhận đề xuất của Huawei sẽ gây ra những hậu quả nghiêm trọng về an ninh quốc gia.
Quyết định của Chile lựa chọn thầu Nhật Bản cũng đến vào thời điểm chính quyền Trump đang gây áp lực buộc các đối tác và đồng minh của họ không sử dụng các sản phẩm hoặc công nghệ của Huawei. Tháng trước, Bộ Thương mại Mỹ tiếp tục các biện pháp hạn chế quyền truy cập của Huawei vào công nghệ Mỹ và đưa các chi nhánh của công ty này vào danh sách đen ở các quốc gia ngoài Mỹ, bao gồm Huawei Cloud Chile.
Dự án cáp là minh chứng cho một xu hướng rộng lớn hơn đang diễn ra khi Nhật Bản và các đối tác an ninh tăng cường hợp tác và hiện diện trong khu vực. Và trong khi tầm nhìn Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương của Nhật Bản là rộng rãi – và dễ hiểu – được coi là tập trung vào Đông Á, thì cách tiếp cận của Tokyo lại toàn diện hơn nhiều.
Khái niệm Indo-Pacific đã trở nên phổ biến trong những năm gần đây; Mỹ đã triển khai nhiều lần chiến lược “Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương Tự do và Mở” của riêng mình dưới thời chính quyền Trump, và một loạt các quốc gia và tổ chức đã công bố các cách tiếp cận tương tự, bao gồm Ấn Độ, Úc, Anh, Đức, Pháp và ASEAN.
Chính phủ Nhật Bản quyết định hỗ trợ 5 tấn hàng hóa trước tình hình thiên tai và thiệt hại về người và của tại các tỉnh miền Trung nước ta đang lên mức đáng báo động.
Do ảnh hưởng trực tiếp của mưa lũ, các tỉnh miền Trung nước ta đặc biệt là tỉnh Thừa Thiên Huế, Quảng Trị đã có mưa to đến rất to gây ra tình trạng ngập lụt nghiêm trọng tại địa phương. Theo bộ trưởng bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Nguyễn Xuân Cường cho biết thì “trong 11 ngày có 3 đợt lũ chồng lũ. Chỉ thời gian ngắn như vậy mà trên địa bàn 5 tỉnh miền Trung, ở vùng biển và đồng bằng tất cả đầy ắp nước”. Đặc biệt tại địa bàn tỉnh Quảng Trị bị ngập sâu đến mức “toàn tuyến không có chỗ nào không ngập”, cả 101 xã đều ngập sâu nhiều nơi bị cô lập.
Tình hình lũ lụt tại miền Trung đặc biệt nghiêm trọng
Trong khuôn khổ hợp tác giữa hai Chính phủ Việt Nam và Nhật Bản, Chính phủ Nhật Bản thông qua Cơ quan hợp tác quốc tế (JICA) dự kiến sẽ xuất hàng cứu trợ khẩn cấp để hỗ trợ người dân bị thiệt hại nặng nề thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế. Hàng hóa hiện đang ở tại Singapore và sẽ về tới Việt Nam theo 2 chuyến, chuyến đầu tiên được vận chuyển từ Singapore đến Thành phố Hồ Chí Minh trên chuyến bay số hiệu: VN5654, và từ TP. Hồ Chí Minh đến Đà Nẵng trên chuyến bay số hiệu: VN0136; số vận đơn: NES 6113 0440; tổng trọng lượng: 5.233kg; tổng giá trị khoảng 83.899,50 đô la Singapore; dự kiến đến sân bay quốc tế Đà Nẵng vào ngày 18/10/2020.
Chính phủ Nhật Bản gửi hàng cứu trợ thông qua tổ chức Jica
Trước tình hình gấp rút vận chuyển hàng hóa cho kịp đến tay người dân ở rốn lũ miền Trung nên cần sự chung tay phối của nhiều ban ngành tại Việt Nam và cả từ phía đoàn Nhật Bản. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã có công văn đề nghị các Bộ: Tài chính, Kế hoạch và Đầu tư, Công thương, Y tế, Giao thông Vận tải, Khoa học và Công nghệ chỉ đạo các đơn vị liên quan trực thuộc tạo điều kiện hỗ trợ để nhanh chóng hoàn thành các thủ tục, kịp thời nhận hàng hóa từ tổ chức JICA.
Đơn vị hải quan tại sân bay Đà Nẵng cũng cần vào cuộc để hàng hóa có thể thông quan nhanh nhất có thể. UBND tỉnh Thừa Thiên Huế là tuyến quan trọng cuối cùng, cần cử ra đầu mối tiếp nhận và vận chuyển hàng hóa cứu trợ; phối hợp chặt chẽ với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và các Bộ, ngành liên quan để hoàn thiện các thủ tục tiếp nhận hàng hóa hỗ trợ.
Khó khăn chồng chất ập lên người dân miền Trung và các đơn vị bộ đội, cơ quan chức năng
Bên cạnh 5 tấn hàng hóa trên thì JICA còn vận chuyển thêm một số mặt hàng hỗ trợ khẩn cấp thêm 2 đợt như 50 máy lọc nước (Tốc độ lọc 4lít/ phút, công suất lọc tối đa 100.000 lít) và 250 tấm trải nhựa (Kích cỡ 50x4m, dày 200-230 micron, nặng 200g/m2).
Phát triển thủy điện là mối quan tâm chung. Cần rà soát, đánh giá thận trọng nhằm bảo đảm lợi ích kinh tế nhưng cũng phải an toàn cho hạ du.
Mối lo từ thủy điện vừa và nhỏ.
26km, 4 thủy điện
Sự cố sạt lở tại Thủy điện Rào Trăng 3, Trạm bảo vệ rừng 67 (ở xã Phong Xuân, huyện Phong Điền, Thừa Thiên Huế) khiến nhiều người thiệt mạng và mất tích; người dân lâm cảnh khốn cùng, miền Trung tan hoang, thiệt hại nặng nề không kể hết. Trong số hàng loạt những nguyên nhân được chỉ ra như mưa lũ kéo dài, địa hình phức tạp thì thủy điện cũng được cho là một trong nhiều nguyên nhân.
Theo thống kê, tại Thừa Thiên Huế hiện có hơn chục dự án thủy điện nhỏ được cấp phép đầu tư xây dựng theo thiết kế bậc thang.
Riêng sông Rào Trăng có chiều dài khoảng 26 km nhưng đã có tới 4 dự án thủy điện với 4 bậc, tổng công suất lắp máy là 89MW đang xây dựng, sắp hoàn thành và đã đi vào hoạt động gồm: thủy điện A Lin B1 (42MW); A lin B2 (20MW); Rào Trăng 3 (13MW) và Rào Trăng 4 (14MW).
Thủy điện Rào Trăng 3 được UBND Thừa Thiên Huế cấp phép giao cho Công ty TNHH Tư vấn xây dựng Trường Sơn thực hiện vào tháng 11/2008 với công suất lắp máy 11 MW, tổng nguồn vốn đầu tư 290 tỉ đồng.
Diện tích đất dự kiến sử dụng là 11,1 ha; trong đó diện tích khu vực lòng hồ là 8,8 ha, còn lại là khu vực nhà máy, tuyến áp lực, tuyến năng lượng và công trình phụ trợ.
Dự án sau đó được điều chỉnh quy hoạch tăng công suất nhà máy lên 13MW và điện lượng trung bình hàng năm là 44,343 triệu kWh. Dự án cũng được thay đổi nhà đầu tư từ Công ty TNHH tư vấn xây dựng Trường Sơn sang Công ty CP Thủy điện Rào Trăng 3.
Tại thời điểm đó, việc phát triển đồng loạt nhiều dự án thủy điện nhỏ, siêu nhỏ nhưng lại có quy mô diện tích sử dụng đất lớn đã đặt ra không ít băn khoăn. Ngoài diện tích làm thủy điện, thiết kế các công trình đập lớn với hồ chứa có dung tích chứa nước từ hàng chục triệu đến hàng trăm triệu m3 khiến các dự án phải chiếm dụng diện tích đất đai rất lớn, đồng thời cũng gây ra nhiều nguy cơ tiềm ẩn đối với quá trình vận hành, khai thác thủy điện cũng như tác động tới tài nguyên và môi trường trong lưu vực sông. Đặc biệt thực tế xả lũ gây thiệt hại nặng nề cho người dân những vùng hạ du năm nào cũng xảy ra nhưng tới nay những bất cập xoay quanh cái được gọi là “vận hành đúng quy trình” vẫn lặp lại và không thấy ai phải chịu trách nhiệm.
ĐBQH Nguyễn Ngọc Phương (Quảng Bình) nhắc lại, vấn đề phá rừng làm thủy điện, thủy điện công suất siêu nhỏ đã được ông cũng như nhiều ĐBQH các khóa lên tiếng yêu cầu xem xét, đánh giá thận trọng về tính hiệu quả cũng như những lợi ích từ thủy điện mang lại so với những thiệt hại và nguy cơ có thể xảy ra để cân nhắc, quyết định đầu tư.
Thậm chí, nhiều đại biểu nói thẳng, thủy điện là gắn với chặt phá rừng và nguy cơ gây lũ lụt, nhất là khi có thêm mưa, lũ kéo dài. Sự việc sạt lở ở Huế và các tỉnh miền Trung những ngày qua chính là một minh chứng.
Vì điều này, ngay tại kỳ họp Quốc hội khóa XIII, Bộ Công thương đã bị yêu cầu rà soát, Chính phủ phải cắt giảm, loại bỏ hàng trăm công trình, dự án thủy điện nhỏ, siêu nhỏ, không bảo đảm an toàn ra khỏi quy hoạch.
“Phát triển thủy điện vẫn là mối quan tâm chung của nhiều ĐBQH, do đó, tùy vào hiện trạng, phản ánh của từng địa phương các đại biểu sẽ lên tiếng.
Việc rà soát, đánh giá, xem xét vẫn cần phải tiếp tục làm vừa nhằm bảo đảm tối ưu về lợi ích kinh tế nhưng cũng đồng thời phải đáp ứng yêu cầu về an toàn cho người dân vùng hạ du.
Vấn đề này vẫn sẽ được các ĐBQH quan tâm, phản ánh tại kỳ họp tới”, vị đại biểu đoàn Quảng Bình nói.
Lợi ích không tương xứng…
Ông Lê Việt Trường – nguyên ĐBQH Khóa XIII nói thêm, chuyện miền Trung lũ chồng lũ được cho là do thủy điện xả nước không đúng quy định đã được nhắc tới từ năm 2013.
Mặc dù, thời điểm đó, Bộ Công thương đã tiếp thu, lắng nghe, chấp nhận loại khỏi quy hoạch gần 500 thủy điện nhỏ nhưng bài toán về hiệu quả kinh tế từ việc phát triển quá nhiều thủy điện cũng như những nguy cơ tiềm ẩn, trách nhiệm quản lý, vận hành… vẫn chưa được đánh giá một cách toàn diện, kỹ lưỡng.
Theo ông Trường, nhiều chuyên gia kinh tế và cả ĐBQH cũng nói thẳng, nếu tính toán kỹ lưỡng thì nguồn lợi từ thủy điện mang lại chưa chắc đã tương xứng với những gì phải bỏ ra.
Trước hết về hiệu quả kinh tế, ông cho biết, nếu dự án được quy hoạch, thiết kế ở những vị trí thuận lợi, có nguồn nước dồi dào như thủy điện Hòa Bình hay thủy điện Sơn La thì giá thành điện mới rẻ, hiệu quả kinh tế cao, nhà đầu tư mới có lợi.
Ngược lại với những thủy điện vừa và nhỏ có vị trí địa lý không thuận lợi nếu tính tổng chi phí đầu tư xây dựng thủy điện cho tới khi hoàn thành đưa vào sản xuất và tạo ra thành phẩm thì không hề rẻ, thậm chí không có lãi.
Chưa kể, để làm thủy điện nguồn lợi thiên nhiên phải đánh đổi là quá lớn, cụ thể như diện tích rừng bị phá, diện tích đất đai bị chiếm dụng vốn là nguồn sống chính của đồng bào dân tộc, cho tới những giá trị vật chất không thể nhìn thấy như các công trình văn hóa, tâm linh… thì cái lợi từ thủy điện nhỏ và vừa mang lại không đáng kể gì.
“Nếu đứng từ vai của nhà đầu tư, làm thủy điện nhỏ và vừa để phục vụ cho mục đích kinh doanh chắc chắn không ai muốn làm, nguồn lợi lớn hơn mà nhà đầu tư nào cũng muốn nhòm ngó chính vì khối lượng gỗ khổng lồ bị phá nát để lấy đất làm thủy điện. Chỉ riêng việc kiếm lợi từ nguồn gỗ này cũng đủ bù đắp cho khoản đầu tư bỏ ra”, ông Trường nói.
Từ thực trạng trên, ông Lê Việt Trường cho rằng, cùng với xu hướng phát triển thủy điện cũng là những cảnh báo về lũ lụt tại miền Trung ngày càng trầm trọng hơn, do đó, đòi hỏi phải có những đánh giá rất thận trọng để đưa ra biện pháp ứng phó chủ động hơn.
“Cần phải làm rõ lũ lụt do thiên tai chiếm bao nhiêu phần trăm và lũ lụt do thủy điện chiếm bao nhiêu phần trăm? Trên cơ sở đó mới xây dựng phương án có nên tiếp tục cho phát triển thủy điện hoặc phải tìm kiếm, phát triển nguồn năng lượng thay thế để giảm bớt những khó khăn cho người dân hạ du.
Việc cần làm ngay sau vụ việc tại Rào Trăng 3 là, phải tạm dừng tất cả các dự án thủy điện đang được triển khai, sắp triển khai để điều tra, đánh giá tổng thể.
Trường hợp buộc phải phát triển thủy điện do yêu cầu phát triển kinh tế, nhu cầu tiêu thụ điện tăng cao thì cũng hoàn toàn có thể tính toán đưa ra phương án phù hợp.
Ví dụ, trong phát triển kinh tế cần tính tới các bài toán tiết kiệm điện như: sử dụng các sản phẩm điện chất lượng cao, được sản xuất bằng công nghệ hiện đại; trong đầu tư, giảm thiểu các dự án sử dụng công nghệ lạc hậu, cũ, tiêu tốn nhiều điện năng, gây nguy cơ ô nhiễm môi trường.
Còn trong điều hành quản lý thủy điện phải xây đựng quy trình vận hành linh hoạt, khoa học, phải có phương án tích, xả nước rất cụ thể cũng như các phương án cảnh báo, sơ tán, kể cả đền bù, hỗ trợ cho người dân.
Tôi cũng chưa thể hình dung hết, khi làm thủy điện chủ đầu tư thi công phá rừng có sử dụng thuốc nổ không, nếu có thì nguy cơ gây thay đổi cấu trúc địa chất, làm om đất đá xung quanh… gây sạt lở như thế nào, trách nhiệm sẽ ra sao?
Bài toán này phải được làm ngay, nếu cứ để tình trạng say sưa với thủy điện vừa và nhỏ thì cái giá phải trả có khi còn đắt hơn gấp nhiều lần so với những cái thủy điện mang lại”, ông Trường nói.
Song song với đó, ông Trường cũng cho rằng phải thành lập một cơ quan điều tra chuyên ngành để điều tra, làm rõ nguyên nhân vụ sạt nở tại Rào Trăng 3, qua đó sẽ xem xét trách nhiệm tới từng cá nhân, tập thể cụ thể trong vụ việc này. Vấn đề này phải được làm ngay, làm triệt để tránh tình trạng nói đi nói lại, cuối cùng cái khổ, cái thiệt chỉ có người dân chịu.
Bên cạnh đó, ông Trường cũng đề cập tới công tác phòng thủ dân sự đã được trù tính tới trong Luật Quốc phòng là phải được quan tâm đặc biệt. “Vụ sát nở tại Rào Trăng 3, Trạm bảo vệ rừng 67 là nỗi đau, mất mát quá lớn.
Chúng ta đã để mất nhiều cán bộ, lãnh đạo, các vị tướng giỏi ngay trong thời bình là điều quá đau xót. Không thể để những vụ việc đau lòng, thương tâm như trên tái diễn nữa”, nguyên ĐBQH Khóa XIII nhận định.
Các chuyên gia ước tính rằng hơn 90% các rạn san hô còn lại ở Biển Đông cần được chú ý bảo tồn ngay lập tức.
Các rạn san hô ở Biển Đông là những cấu trúc rất quan trọng đối với môi trường biển và giúp ngăn chặn sự suy giảm trữ lượng cá, vốn là nguồn tài nguyên duy trì sinh kế của hàng chục triệu người.
Ước tính rằng hơn 90% các rạn san hô còn lại ở Biển Đông cần được chú ý bảo tồn ngay lập tức. Nguồn:Benarnews)
Các nhà hải dương học từng nghiên cứu khu vực này trong nhiều năm qua, vừa loan báo tình trạng ngày càng khó tiếp cận các rạn san hô để thực hiện những nghiên cứu quan trọng.
Họ đang kêu gọi các chính phủ trong khu vực thành lập một cơ quan quản lý để ngăn chặn sự suy giảm các rạn san hô ngoài khơi và ngăn cấm việc đánh bắt hải sản quá mức.
Ông John McManus, một giáo sư chuyên ngành Hải sinh học thuộc Đại học Miami ở bang Florida của Mỹ, cho biết: “Chúng ta luôn đối diện nguy cơ biến mất ngành đánh bắt hải sản ven biển, và theo chúng tôi thì nguyên do ngành này chưa biến mất là vì các loài cá vẫn đang từ các rạn san hô ở ngoài khơi bơi vào. Vì vậy, chúng ta phải bảo vệ các rạn san hô đó”.
Theo một báo cáo nghiên cứu được công bố năm 2016, Biển Đông là môi trường có các rạn san hô phong phú đa dạng sinh học, trải dài trên diện tích khoảng 458.430 km2.
Thế nhưng, theo Giáo sư McManus, một số rạn san hô ở Biển Đông đã “biến mất vĩnh viễn” vì bị con người bồi đắp xây dựng các căn cứ quân sự ngay trên chúng. Ông nói: “Nếu con người bồi đắp xây dựng một thứ gì đó, nếu con người trút đất cát, gạch đá… xuống, chắc chắn sẽ không có cách nào để hồi phục”.
Phần lớn các hoạt động bồi đắp xây dựng như thế do Trung Quốc thực hiện, bao gồm cả các vụ nạo vét ở Đá Chữ Thập, Đá Subi, Đá Vành Khăn, Đảo Phú Lâm và một số đảo nhỏ khác từ năm 2014-2017, nhằm bồi đắp xây dựng các đảo nhân tạo làm căn cứ quân sự.
Mặc dù Trung Quốc đã dừng công cuộc xây dựng quy mô lớn từ năm 2017, song hình ảnh vệ tinh cho thấy một số khu vực trên Biển Đông vẫn đang tồn tại các công trình bồi đắp.
Ngoài ra, còn một mối đe dọa lớn khác đối với các rạn san hô là hoạt động khai thác ngao sò khổng lồ của các đoàn tàu đánh cá Trung Quốc với những chiếc tàu có gắn thêm hệ thống chân vịt, càn quét các khu vực như Bãi cạn Scarborough mà Sáng kiến Minh bạch Hàng hải châu Á (AMTI) đã đưa ra trong báo cáo năm 2019.
Giáo sư McManus ước tính rằng hơn 90% các rạn san hô còn lại ở Biển Đông cần được chú ý bảo tồn ngay lập tức.
Tương lai của các rạn san hô rất quan trọng đối với trữ lượng cá. Ngoài ngao sò, các loài cá khác cũng có mối quan hệ cộng sinh với các rạn san hô, đáng chú ý nhất là việc các rạn san hô chính là nơi ẩn náu của tất cả cá con trước khi chúng trưởng thành, sau đó bơi về các vùng ven biển Philippines, Việt Nam và nhiều vùng ở Malaysia.
Nhận lời mời của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc và Phu nhân, Thủ tướng Nhật Bản Suga Yoshihide và Phu nhân sẽ thăm chính thức Việt Nam từ ngày 18-20/10. Đây là chuyến công du nước ngoài đầu tiên của ông Suga kể từ sau khi ông lên nhậm chức Thủ tướng cách đây một tháng.
Thủ tướng Nhật Bản Suga Yoshihide.
Trước đó, trong cuộc điện đàm với Thủ tướng Suga Yoshihide ngày 12/10, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã khẳng định Việt Nam luôn coi Nhật Bản là đối tác chiến lược, quan trọng hàng đầu, lâu dài, mong muốn tiếp tục cùng Nhật Bản tích cực thúc đẩy hợp tác song phương cũng như trên các vấn đề khu vực và quốc tế cùng quan tâm, vì lợi ích của nhân dân hai nước, đóng góp cho hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển của khu vực và thế giới.
Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc bày tỏ cảm ơn sự hỗ trợ quý báu của Nhật Bản dành cho Việt Nam trong đối phó với dịch Covid-19 thời gian qua, mong hai bên tiếp tục hợp tác, hỗ trợ lẫn nhau vượt qua dịch bệnh trong thời gian tới.
Về phần mình, Thủ tướng Suga vui mừng trước sự phát triển mạnh mẽ của quan hệ Việt Nam-Nhật Bản, cảm ơn sự hợp tác tích cực của Việt Nam trong phòng chống Covid-19. Ông Suga khẳng định Nhật Bản coi trọng và mong muốn đưa hợp tác giữa hai nước lên tầm cao mới; đánh giá cao vai trò, vị thế của Việt Nam ở khu vực và quốc tế, cho biết sẽ hợp tác chặt chẽ với Việt Nam vì thành công của Hội nghị cấp cao ASEAN sắp tới.
Nhật Bản và Việt Nam thiết lập quan hệ ngoại giao ngày 21/9/1973, nâng cấp quan hệ lên Đối tác chiến lược sâu rộng vì hòa bình và thịnh vượng ở châu Á vào tháng 3/2014 nhân chuyến thăm cấp nhà nước tới Nhật Bản của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang.
Trong những năm gần đây, quan hệ Việt Nam và Nhật Bản phát triển nhanh chóng. Nhật Bản là nước G7 đầu tiên đón Tổng Bí thư Việt Nam đến thăm (năm 1995), nước G7 đầu tiên thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược với Việt Nam (năm 2009), nước G7 đầu tiên công nhận quy chế kinh tế thị trường của Việt Nam (năm 2011), nước G7 đầu tiên mời Việt Nam tham dự Hội nghị Thượng đỉnh G7 mở rộng (5/2016).
Hiện quan hệ giữa hai nước đang ở giai đoạn tốt nhất trong lịch sử kể từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao, có sự tin cậy cao. Lãnh đạo cấp cao hai nước duy trì thường xuyên các chuyến thăm và tiếp xúc tại các diễn đàn quốc tế và khu vực.
Nhật Bản là đối tác kinh tế quan trọng hàng đầu của Việt Nam, là nước tài trợ ODA lớn nhất, nhà đầu tư số 2 (tính theo số lũy kế), đối tác du lịch thứ 3, thương mại lớn thứ 4 của Việt Nam.
Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu 9 tháng đầu năm 2020 đạt 28,6 tỷ USD (giảm 1,8% so với cùng kỳ năm 2019), nhập khẩu đạt 14,6 tỷ USD (tăng 3,1% so với cùng kỳ năm 2019), xuất khẩu đạt 14 tỷ USD (giảm 6,4% so với cùng kỳ năm 2019).
Về đầu tư trực tiếp, lũy kế đến tháng 9/2020, Nhật Bản có 4.595 dự án FDI còn hiệu lực tại Việt Nam với tổng vốn đầu tư đăng ký 59,87 tỷ USD, đứng thứ 2 trong tổng số 136 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam.
Nhật Bản là nước cung cấp vốn vay bằng đồng Yen cho Việt Nam lớn nhất, tổng giá trị vay cho đến tháng 12/2019 là 2.578 tỷ Yen (tương đương khoảng 23,76 tỷ USD, chiếm 26,3% tổng vốn ký kết vay nước ngoài của Chính phủ).
Tiểu sử Thủ tướng Suga Yoshihide
Ngày sinh: 6/12/1948
Quê quán: tỉnh Akita (miền Bắc)
Trình độ học vấn: Tốt nghiệp Khoa Luật, Trường Đại học Hosei
Về bình luận của Thời báo Hoàn cầu đả kích bà Thái, chuyên gia bình luận cho rằng “chắc là do đã không học tốt tư tưởng Tập Cận Bình rồi!”
Tổng thống Đài Loan Thái Anh Văn
Chuyên gia bình luận thời sự Liên Thư Hoa đã có bài phân tích thấu đáo trên Epoch Times.Sau đây là nguyên văn bài bình luận:
Thứ Bảy tuần trước được người Đài Loan gọi là ngày Lưỡng Thập (10/10), kỷ niệm năm thứ 109 thành lập Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan). Bà Thái Anh Văn đã có bài phát biểu với tư cách là Tổng thống Trung Hoa Dân Quốc, bà diễn thuyết có chủ đề: “Đoàn kết với Đài Loan và tự tin tiến về phía trước”. Kết quả là, Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) đột nhiên nổi cơn thịnh nộ. Trong bài phát biểu của mình, bà Thái Anh Văn đã ẩn giấu mật mã nào khiến ĐCSTQ tức giận đến vậy?
Phản ứng của ĐCSTQ sau bài phát biểu nhân Quốc khánh Đài Loan của bà Thái
Văn phòng Các vấn đề Đài Loan của ĐCSTQ phản hồi rằng bài phát biểu này của bà Thái Anh Văn tiếp tục tư duy đối đầu và thù địch, ngôn luận cổ xúy mưu đồ “độc lập”, kêu gọi kết nối với các thế lực bên ngoài, lừa dối trái tim của người dân Đài Loan, và một lần nữa bộc lộ bản chất của việc tìm kiếm độc lập của chính quyền đảng Dân Tiến (DPP).
Tờ Hoàn cầu Thời báo của ĐCSTQ cho rằng “bài phát biểu ngày Lưỡng Thập” của bà Thái Anh Văn vừa nham hiểm vừa nực cười. Bài báo này còn chọc ngoáy, cho rằng nền kinh tế Đài Loan đang kém và suy thoái, bà Thái Anh Văn muốn ràng buộc Hoa Kỳ chặt hơn mà không biết giữ tự trọng. Rằng, đảo Đài Loan không những đã không được hưởng lợi từ điều này, mà thay vào đó, ngày càng đứng trước những rủi ro cao khi trở thành một quân cờ chiến lược của Hoa Kỳ…
3 nỗi đau lớn của ĐCSTQ mà bà Thái đã đạp lên
Trước hết, việc Đài Loan từ chối một quốc gia, hai chế độ và câu chuyện của bà Thái Anh Văn về bảo vệ chủ quyền không thực sự khiến ĐCSTQ ngạc nhiên. Điều này là do trong quá khứ, các quan chức Đài Loan, dù là Đảng Dân chủ Tiến bộ (Đảng Dân Tiến) hay Quốc dân Đảng, chưa bao giờ chấp nhận một quốc gia, hai chế độ, và chưa bao giờ coi nhẹ chủ quyền của Trung Hoa Dân Quốc.
Thứ hai, phát biểu của bà Thái Anh Văn về sự phát triển kinh tế và dịch bệnh không phải là vấn đề khiến ĐCSTQ khó chịu. Thời báo Hoàn cầu đã dành nhiều thời gian cho rằng Đài Loan là một phần của Trung Quốc nên không có chủ quyền, thực ra đó chỉ là nó tự nói tự thoại chứ không được ai công nhận, bởi vì mặc dù không có nhiều quốc gia trên thế giới có quan hệ ngoại giao chính thức với Đài Loan, nhưng không ai công nhận ĐCSTQ quản trị Đài Loan. Về quyền lực quản trị Đài Loan, hầu hết các quốc gia đều tin rằng Đài Loan thực chất là một chính phủ độc lập.
Thực ra bài phát biểu của bà Thái có ba nội dung khác thực sự khiến ĐCSTQ bất an.
Phá tan âm mưu tranh thủ tấn công Đài Loan của ĐCSTQ
Đầu tiên, bà Thái nói về phản kháng quân sự, sự nhu nhược sẽ không mang lại hòa bình, và cần củng cố sức mạnh quân sự của Đài Loan. Trong năm qua, Đài Loan đã thu được nhiều vũ khí tối tân từ Hoa Kỳ và cũng nhận được sự hỗ trợ đáng kể từ quân đội Hoa Kỳ, điều này đã nâng cao đáng kể khả năng quốc phòng của hòn đảo.
Ở eo biển Đài Loan, mấy chục năm nay, về hải quân và không quân luôn là Đài Loan mạnh Trung Quốc yếu, cho nên về cơ bản ĐCSTQ đã không thể dùng vũ lực tấn công Đài Loan. Tuy nhiên, bắt đầu từ năm 2012, xu hướng này đã đảo ngược, ĐCSTQ mua vũ khí từ Nga và đầu tư rất nhiều tiền để làm nhái vũ khí. Cán cân sức mạnh của hải quân và không quân hai bên đã thay đổi. Do đó, ĐCSTQ nhận thấy có thể tấn công Đài Loan bằng vũ lực.
Trong hai năm qua, các chuyên gia từ các quốc gia khác nhau đã thảo luận về khả năng ĐCSTQ tấn công Đài Loan. Tuy nhiên, ít người cụ thể hóa thành các chính sách chuyên môn. Số lượng và chất lượng vũ khí của Trung Quốc đại lục đang dần vượt qua Đài Loan. Nhưng Đài Loan cũng đang tăng cường trang bị vũ khí và mua thiết bị mới từ Mỹ. Tuy nhiên, có một khoảng thời gian trễ giữa việc nhập khẩu trang bị này và việc triển khai nó trong quân đội, vì vậy khoảng thời gian này là thời điểm mà ĐCSTQ muốn tấn công Đài Loan.
ĐCSTQ đã có thời gian biểu và các bước lên kế hoạch cụ thể cho việc dùng vũ lực để xâm lược Đài Loan, bắt đầu từ cuối năm 2017. Tình báo Mỹ cho biết như vậy, tức là tại Đại hội ĐCSTQ lần thứ 19, Tập Cận Bình đã đề xuất giải quyết vấn đề Đài Loan bằng cách, trước tiên sử dụng chiêu bài ‘một quốc gia, hai chế độ’ hòa bình. Sau đó nếu không đạt hiệu quả thì trực tiếp dùng vũ lực. Thời gian được ấn định từ năm 2020 đến 2022.
Theo thông tin tình báo, bài phát biểu nội bộ của ông Tập Cận Bình nói rằng vấn đề Đài Loan không thể trì hoãn lâu hơn nữa và không thể để lại cho thế hệ sau.
Nhưng bố cục này đã bị phá vỡ bởi sự leo thang đối đầu Trung – Mỹ. Trên thực tế, điều này là không thể tránh khỏi, bởi vì không ai ngồi chờ ĐCSTQ khai chiến mà không chuẩn bị. Mọi hoạt động quân sự đều có thể bị theo dõi, mọi kế hoạch và mục tiêu sẽ bị lộ, và bên kia sẽ tăng cường đối phó.
Tình hình hiện nay là chủ lực của quân đội Mỹ đã hoàn thành việc chuyển giao cơ bản, từ châu Âu và Trung Đông sang khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, hay trực tiếp hơn là khu vực châu Á – Thái Bình Dương.
Đối với chính phủ và quân đội ĐCSTQ, đây là kế hoạch không thể triển khai nhanh. Sách lược quân sự ban đầu của ĐCSTQ là triển khai chớp nhoáng, và việc giải quyết Đài Loan trong vòng một tuần đòi hỏi phải tăng cường các biện pháp chống can thiệp của Mỹ. Vì vậy, ĐCSTQ đã phát triển các loại tên lửa tầm trung, bao gồm tên lửa siêu thanh, diệt tàu sân bay, máy bay ném bom tầm xa, tàu ngầm… Ví dụ, trong quá trình quân sự hóa Biển Đông, mục tiêu của nó không phải là kiểm soát thương mại, mà là kiểm soát quân đội Hoa Kỳ chuyển quân từ Trung Đông.
Nhưng giờ đây, quân đội Hoa Kỳ đã vào cuộc, và khoảng 70% lực lượng chiến đấu chính của quân đội Hoa Kỳ, bao gồm cả hải quân và không quân, đã được triển khai. Với sức mạnh quân sự hiện tại của ĐCSTQ, đơn giản là không thể đối phó với sự hùng mạnh của Hoa Kỳ. Hóa ra là ĐCSTQ muốn chặn viện binh của Hoa Kỳ, nhưng bây giờ quân đội Hoa Kỳ đã đến và triển khai, vì vậy thời điểm để tấn công Đài Loan đã bị đóng lại.
Vì vậy, khi bà Thái Anh Văn nói về việc chuẩn bị quân sự và đối phó cứng rắn với các mối đe dọa quân sự, ĐCSTQ sẽ từ buồn phiền thành tức giận. Đây là nỗi đau đầu tiên của ĐCSTQ.
Một từ “bình đẳng” khiến ĐCSTQ giận tím mặt
Về điểm thứ hai, bà Thái Anh Văn một lần nữa nhắc lại “hòa bình, bình đẳng, dân chủ và đối thoại”, bà cho rằng cả hai bên đều có trách nhiệm duy trì hòa bình ở eo biển Đài Loan. Bà hy vọng rằng các nhà lãnh đạo ở phía bên kia có thể gánh vác những trách nhiệm tương đương và cùng nhau ổn định sự phát triển lâu dài của mối quan hệ xuyên eo biển.
Ở phương diện này, then chốt nằm ở từ “bình đẳng”. Đối với ĐCSTQ, bình đẳng là không thể chấp nhận được. ĐCSTQ coi Đài Loan là một “địa phương”, bà Thái Anh Văn là lãnh đạo địa phương, và ĐCSTQ là trung ương, cao hơn “địa phương” vài cấp. Trên thực tế, ĐCSTQ đã luôn làm điều này. Văn hóa Trung Quốc đặc biệt chú trọng đến điều này, coi nước ngoài là chư hầu. Vua nước ngoài có thể xưng vương, có thể thành vương, thì phải gọi “ta” là hoàng đế, nếu coi ngang vai, thì tuyệt đối không thể, nhất định phải chiến đấu đến lúc ngươi chết ta sống. Ai làm lão đại là vấn đề sinh tử, căn bản không thể có chuyện chung sống hòa bình.
Một hệ thống chuyên chế, quyền lực có hình kim tự tháp. Trên toàn thế giới, ĐCSTQ coi nó là “Vương”. Bà Thái Anh Văn yêu cầu bình đẳng và ngang hàng với Ủy ban Trung ương, đây là nỗi đau thứ hai của ĐCSTQ.
Một câu “các quốc gia có giá trị chung” càng khiến ĐCSTQ sợ hãi
Điểm cuối cùng, có thể thực sự là quan trọng nhất. Bà Thái Anh Văn nói rằng Đài Loan đã được quốc tế định vị như một câu chuyện dân chủ thành công, một đối tác đáng tin cậy và một lực lượng tốt trên thế giới. Bà nói, “Trong tương lai, chúng tôi sẽ tăng cường hợp tác cùng phát triển thịnh vượng với tất cả các quốc gia và làm sâu sắc hơn quan hệ đối tác của chúng tôi với các quốc gia có chung giá trị như Hoa Kỳ, Nhật Bản và Châu Âu”.
Từ khóa nhạy cảm ở đây là “các quốc gia có giá trị chung”.
Như các bạn đã biết, Hoa Kỳ và ĐCSTQ đã bước vào giai đoạn đối đầu toàn diện. Chiến lược của Mỹ là hình thành một liên minh giá trị chung trên thế giới. Điều này có nghĩa là cuộc chiến giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc không phải là tranh chấp về lợi ích quốc gia, không phải là tranh chấp thương mại, hay vấn đề ai kiếm được nhiều hơn và ai kiếm được ít hơn, mà là cuộc chiến giữa các giá trị và thể chế xã hội.
Trong khoảng thời gian vừa qua, các nhà ngoại giao Hoa Kỳ, đến bất kỳ quốc gia nào, đều nói về cuộc chiến Mỹ – Trung. Và giai điệu này quả thực đã đạt được thành công đáng kể. Nhật Bản, Châu Âu, bao gồm Úc và Canada, về cơ bản đã hình thành liên minh giá trị này. Bên ngoài giá trị cốt lõi này, thực tế còn có hàng loạt hệ thống, bao gồm kinh tế và thương mại, quan hệ quân sự và triển khai địa chính trị.
Giờ đây, Đài Loan cũng hưởng ứng liên minh giá trị này, tất nhiên là đã chọc vào nỗi đau lớn nhất của ĐCSTQ.
Đối với một chính quyền mà nói, điểm nhức nhối lớn nhất là vấn đề an toàn. Các giá trị quan này liên quan đến sự an nguy tồn vong của ĐCSTQ. Đài Loan không chọn liên minh dân tộc, liên minh huyết thống hay liên minh quốc gia, mà chọn liên minh giá trị, tương đương với việc công khai tuyên bố rằng họ sẽ đứng về phía Hoa Kỳ.
Mặc dù ĐCSTQ đại khái đã biết rằng, trong cuộc chiến tranh giành quyền bá chủ toàn cầu giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ, Đài Loan khó có khả năng giúp gì cho Trung Cộng. Nhưng suy cho cùng, nó vẫn hy vọng rằng Đài Loan sẽ đứng trung lập và không dám đi về phe đối lập. Tuy nhiên, bài phát biểu của bà Thái Anh Văn tương đương với việc công bố chính thức Đài Loan đứng về phe đối lập.
Nếu nhìn vào tình hình ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, chúng ta có thể hiểu tại sao ĐCSTQ lại rất tức giận với “liên minh giá trị” này. Trước đây, Hoa Kỳ đã triển khai liên minh tại khu vực Châu Á – Thái Bình Dương với 4 quốc gia là Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc và Úc. Trên thực tế, liên minh này tương đối lỏng lẻo, vì mục tiêu của các nước là khác nhau.
Bây giờ, Hàn Quốc đã bước ra khỏi liên minh. Dưới sự lãnh đạo của Moon Jae In, các mối quan hệ của Hàn Quốc với Nhật Bản và Hoa Kỳ đều trở nên có vấn đề. Tam giác sắt Mỹ-Nhật-Hàn dường như không còn bền chặt.
Theo tin tức từ tờ “Trung ương Nhật Báo” của Hàn Quốc, ông Moon Jae In của Hàn Quốc đã đưa ra cam kết “ba không” với ĐCSTQ, đó là không nâng cấp hệ thống tên lửa phòng không Patriot, không nâng cấp hệ thống chống tên lửa THAAD và không nâng cấp quan hệ quân sự Mỹ, Nhật Bản,Hàn Quốc. Đây là một chiến thắng địa chính trị lớn của ĐCSTQ.
Hàn Quốc hy vọng sẽ tiếp tục giữ trung lập và không chọn bên nào. Nhưng cuối cùng, vẫn phải mất mát.
Vì vậy, bây giờ chiến lược Châu Á – Thái Bình Dương của Hoa Kỳ về cơ bản đã chuyển sang các hệ thống Hoa Kỳ, Nhật Bản, Ấn Độ và Úc, và mục tiêu rất rõ ràng, là đối phó với ĐCSTQ.
Việc làm rõ thái độ của Nhật Bản là rất quan trọng đối với hệ thống này. Vì Nhật Bản có thể đóng vai trò hùng mạnh hơn ở Đông Nam Á và Châu Á so với Hoa Kỳ, và một khi công nghệ của Nhật Bản hợp nhất với Hoa Kỳ sẽ trở thành công nghệ quân sự và một lực lượng cực kỳ hùng mạnh. Và tất cả những điều này chính là đang xảy ra bây giờ.
Đài Loan đã không đi theo con đường của Hàn Quốc, mà đi theo con đường của Nhật Bản để gia nhập “liên minh giá trị” này. Đây không chỉ là một vấn đề vô vọng đối với việc thống nhất bằng quân sự của ĐCSTQ, mà còn là một trở ngại lớn đối với toàn bộ địa chính trị của ĐCSTQ. Liên minh này không chỉ về quân sự mà còn về kinh tế, thương mại và công nghệ, Đài Loan sẽ ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc tổ chức lại toàn bộ chuỗi cung ứng toàn cầu của Hoa Kỳ. Nếu bạn nói về vấn đề quân sự, toàn bộ tác dụng càng trở nên rõ ràng hơn, bởi vì vị trí của Đài Loan thực sự trọng yếu hơn Hàn Quốc.
Về cơ bản mà nói, chiến lược Đài Loan của ĐCSTQ, ban đầu là dùng uy thế của lực lượng vũ trang mạnh hơn để uy hiếp, buộc đối thủ phải ký một liên minh cấp thành phố, thành lập khu vực tự trị theo mô hình ‘một quốc gia, hai chế độ’, rồi từ từ thâm nhập vào nó trong nhiều thập kỷ, giống như Hồng Kông. Đây là chính sách đầu tiên, và chính sách tiếp theo là thống nhất bằng vũ lực. Chiếm cứ Đài Loan bằng vũ lực sẽ phải đối diện với Mỹ, Châu Âu, Nhật Bản, khó có thể đánh giá được điều gì xảy ra sau đó, nhưng ít nhất có thể hoàn thành địa vị lịch sử của Tập Cận Bình là thống nhất đất nước.
Nhưng bây giờ, nếu Đài Loan hoàn toàn gia nhập “liên minh giá trị” này, mọi thứ sẽ biến đổi cự đại. Chính sách Đài Loan của ĐCSTQ từ thế tấn công biến thành phòng thủ. Thật là một chuyển biến quá đau đớn.
Tóm lại, ba khía cạnh trong bài phát biểu của bà Thái Anh Văn khiến ĐCSTQ đau đớn nhất: Thứ nhất, tăng cường vũ khí và trao đổi sức mạnh quân sự mạnh mẽ để giữ gìn nền hòa bình; Thứ hai, bình đẳng với Trung Quốc đại lục và Ủy ban Trung ương ĐCSTQ; Thứ ba, đó là tham gia “Liên minh giá trị” và trở thành một phần của cuộc tranh bá toàn cầu.
Bị chọc vào ba nỗi đau này, làm sao ĐCSTQ không nổi giận? “Thời báo Hoàn cầu” còn nực cười hơn, lúc đầu nó tưởng Đài Loan mềm lòng, nên nói rằng bà Thái Anh Văn đã run sợ trước sự phô trương sức mạnh quân sự của ĐCSTQ. Sau đó, người ta phát hiện ra điều đó là sai, và nó đưa ra một bài báo chỉ trích bà Thái Anh Văn là nham hiểm.
Bài báo của tờ Thời báo Hoàn cầu cho biết: “Tôi không biết Thái Anh Văn nghĩ gì sau khi xem lễ duyệt binh mừng Quốc khánh vừa được tổ chức ở đại lục. Khi bà ta va phải với một lực lượng hùng hậu và ý chí kiên định như vậy, hậu quả thực sự rõ ràng trong nháy mắt”. Dòng chữ này khiến chúng ta liên tưởng đến những bộ phim xã hội đen Hồng Kông “người có cú đấm lớn sẽ quyết định”. Thật mỉa mai, vài ngày trước, Tập Cận Bình còn nói rằng không thể cứ ai có cú đấm lớn thì người khác phải nghe theo. Phát ngôn này của Thời báo Hoàn cầu chắc là do đã không học tốt “tư tưởng Tập Cận Bình”!
Nhà nghiên cứu Nicholas Ross Smith cho rằng nếu không cân bằng hai “cuộc chơi” trong nước và quốc tế, tham vọng đi đầu thế giới của Trung Quốc sẽ còn xa vời.
Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình.
Theo nghiên cứu của Trung tâm Nghiên cứu Pew được công bố tháng 10, nhiều quốc gia – chủ yếu là phương Tây – có “quan điểm tiêu cực” với Trung Quốc.
Trong số 14 quốc gia được khảo sát, tỷ lệ người trả lời “không tin tưởng vào việc Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình sẽ làm điều đúng đắn liên quan đến các vấn đề thế giới” dao động từ 70% ở Hà Lan đến 84% ở Nhật Bản. Đây là một bước nhảy vọt đáng kể so với năm 2019 (50-60% đối với hầu hết các quốc gia).
Một nghiên cứu khác gần đây của Hội đồng Quan hệ Đối ngoại châu Âu cho thấy 48% công dân EU được khảo sát có cái nhìn tồi tệ hơn về Trung Quốc, kể từ COVID-19. Các nghiên cứu của Gallup, YouGov và Viện Thay đổi Toàn cầu vẽ ra một bức tranh tương đồng: Nhận thức toàn cầu về Trung Quốc ngày càng tiêu cực.
Dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình, Trung Quốc được xem là thể hiện rõ ràng mong muốn có vai trò lãnh đạo toàn cầu. Tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới năm 2017 tại Davos, ông Tập nói Trung Quốc sẽ “dang rộng vòng tay với các nước khác và chào mừng họ lên chuyến tàu siêu tốc trên hành trình phát triển của Trung Quốc”. Tham vọng này có vẻ “đúng lúc” khi chính quyền Tổng thống Mỹ Donald Trump trở nên bớt mặn mà với các thể chế quốc tế.
Nhưng không chỉ có vai trò lãnh đạo, tham vọng của Trung Quốc còn là tái lập lại trật tự quốc tế. Trong mắt Bắc Kinh, Mỹ có vẻ đang có lợi thế hơn, và Trung Quốc muốn cùng với Nga thúc đẩy một trật tự quốc tế “đúng đắn và công bằng”.
Chuyến tàu vắng khách
Theo nhà nghiên cứu Nicholas Ross Smith, Đại học Nottingham Ningbo, Trung Quốc, các sáng kiến như Ngân hàng Đầu tư Cơ sở hạ tầng Châu Á (IDB) và Sáng kiến Vành đai và Con đường của Trung Quốc, dường như đã đặt nền móng cho một trật tự có thể thay thế, hoặc thậm chí đối đầu với trật tự do Mỹ dẫn đầu.
Tuy nhiên, để có thể định hình lại trật tự quốc tế, Trung Quốc cần có các đối tác “chung” tầm nhìn.
Trật tự quốc tế được xây dựng thông qua việc phát triển tình bạn bền chặt với các cường quốc nổi bật. Việc này không chỉ bao gồm các liên kết chiến lược và quy tắc, mà còn cả sự hiểu biết văn hóa cũng như nền tảng lịch sử vững chắc. Vấn đề đối với Trung Quốc là, ngoài Nga, Pakistan và một số quốc gia có thể xem như “khách hàng” ở châu Phi, dường như rất ít quốc gia sẵn sàng bước lên “chuyến tàu tốc hành trên hành trình phát triển của Trung Quốc”.
Nhận về cái nhìn tiêu cực trong nhận thức toàn cầu là một “đòn” giáng mạnh vào các mục tiêu và mong muốn của Trung Quốc ở quốc tế.
Và họ không kiểm soát được hết. Với vị thế là một cường quốc đang lên, nhưng lại “không đến từ phương Tây”, bất cứ điều gì họ làm, sẽ bị bên ngoài nhìn vào với sự nghi ngờ, đặc biệt là trong trật tự mà phương Tây là trung tâm như hiện nay.
Ban đầu, “ngoại giao khẩu trang” của Trung Quốc dường như đã hiệu quả, đặc biệt là ở Italy, Tây Ban Nha và Serbia. Trung Quốc như đang vươn lên là một nhà lãnh đạo toàn cầu và giúp đỡ các nước khi Liên minh châu Âu và Mỹ không làm được như vậy. Có những khoảnh khắc như khi Tổng thống Serbia Aleksandar Vucic công khai hôn quốc kỳ Trung Quốc, và người dân ở Rome hát cảm ơn Trung Quốc từ ban công nhà họ trong khi áp dụng các lệnh phong tỏa.
Nhưng, chính sách ngoại giao khẩu trang của Trung Quốc sớm lộ những phần “thô”. Các vấn đề về chất lượng nguồn cung cấp, cũng như cáo buộc rằng họ đang bán cho người trả giá cao nhất, thay vì làm vì mục đích nhân đạo, đã cản trở nỗ lực của Bắc Kinh.
“Trò chơi hai cấp”
Việc Trung Quốc không có khả năng sử dụng đại dịch như một bàn đạp để khẳng định vị trí lãnh đạo toàn cầu của mình một phần là do thiếu uy tín quốc tế. Mặt khác đây cũng là thách thức của Trung Quốc trong việc điều hướng “trò chơi hai cấp” ở trung tâm chính sách đối ngoại của họ.
Theo nhà khoa học chính trị người Mỹ Robert Putnam, một quốc gia phải cân bằng giữa “trò chơi” mà họ “chơi” với người dân (nghĩa là chính trị trong nước) và trò chơi mà họ “chơi” với các quốc gia khác (tương tác quốc tế).
Đối với Trung Quốc, dường như có một khoảng cách khá lớn giữa hai vấn đề này. Trung Quốc đưa ra câu chuyện về việc trở thành một nhà lãnh đạo toàn cầu nhân từ và đồng cảm. Nhưng trong nước, câu chuyện lại tập hợp nhiều hơn xung quanh chủ nghĩa dân tộc, khẳng Trung Quốc như một cường quốc quốc tế đang phát triển.
Với áp lực trong nước, danh tiếng của Trung Quốc có thể ảnh hưởng tiêu cực. Một ví dụ là hiện tượng “cảm xúc bị tổn thương”: Công chúng Trung Quốc có xu hướng phản đối kịch liệt những hành vi được cho là xúc phạm của người nước ngoài.
Điều này thể hiện rõ trong thất bại của NBA năm ngoái, khi tổng giám đốc của Houston Rockets đăng tweet ủng hộ những người biểu tình ở Hong Kong, dẫn đến sự lên án rộng rãi và tẩy chay NBA ở Trung Quốc.
Tóm lại, nếu Trung Quốc muốn phục hồi động lực thúc đẩy vị trí lãnh đạo toàn cầu, họ cần các đối tác quốc tế cùng chung tầm nhìn về trật tự và chính trị quốc tế. Nhưng “lấy lòng” khán giả quốc tế và giới tinh hoa chỉ là một trong những thách thức – việc thuyết phục khán giả trong nước cũng quan trọng không kém.
Cho đến khi Trung Quốc có thể cân bằng cuộc chơi quốc tế và trong nước, mọi khát vọng về vị trí lãnh đạo toàn cầu của họ sẽ tiếp tục xa rời thực tế.
Lực lượng Tuần duyên Nhật Bản ngày 11.10 cho biết 2 tàu hải cảnh Trung Quốc đã đi chuyển vào vùng biển mà Tokyo xem là lãnh hải gần quần đảo tranh chấp Senkaku/Điếu Ngư ở biển Hoa Đông.
Đây là lần thứ 21 trong năm 2020 này tàu Trung Quốc đi vào vùng biển Nhật Bản và là lần đầu tiên kể từ cuối tháng 8, Reuters dẫn lời một người phát ngôn của Lực lượng Bảo vệ Bờ biển Nhật Bản cho biết.
Chính phủ Nhật Bản liên tục chỉ trích tàu hải cảnh Trung Quốc “không ngừng xâm phạm” vùng biển xung quanh quần đảo tranh chấp Senkaku/Điếu Ngư ở biển Hoa Đông, theo Reuters.
Hãng tin Kyodo đưa tin 2 tàu cảnh sát biển Trung Quốc đã tiến vào vùng biển này vào khoảng 10 giờ 45 sáng (tức 8 giờ 45 theo giờ Việt Nam) ngày 11.10 và tiến đến gần một tàu cá Nhật Bản.
Lực lượng tuần duyên Nhật Bản cũng đã triển khai các tàu tuần tra tới khu vực này, theo Kyodo. Bộ Ngoại giao Trung Quốc hiện vẫn chưa có phản ứng gì trước thông tin này.
Diễn biến trên xảy ra sau khi chuyên san Nikkei Asian Review đưa tin Bộ Quốc phòng Nhật Bản lên kế hoạch thành lập 3 đơn vị tác chiến điện tử trên các đảo hướng ra biển Hoa Đông vào tháng 3.2022 nhằm tăng cường khả năng giám sát và phản ứng trước hoạt động quân sự của Trung Quốc trong vùng biển này.
Các hòn đảo không có người ở nhưng giàu tài nguyên cùng rạn san hô ở biển Hoa Đông trở thành điểm nóng trong tranh chấp lãnh thổ giữa Trung Quốc và Nhật Bản kéo dài nhiều thập niên qua, bất chấp mối quan hệ giữa hai bên dần được cải thiện trong những năm gần đây.
Thủ tướng Suga cũng bày tỏ chia sẻ và gửi lời thăm hỏi tới nhân dân miền Trung Việt Nam về những thiệt hại do mưa lũ gây ra.
Chiều ngày 12/10, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã có cuộc điện đàm với Thủ tướng Nhật Bản Suga Yoshihide.
AFP 2020 / Yoshikazu TSUNO
Đưa hợp tác giữa hai nước lên tầm cao mới
Thay mặt Chính phủ và nhân dân Việt Nam, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc một lần nữa chúc mừng ông Suga vừa qua đã được bầu làm Thủ tướng Nhật Bản; khẳng định Việt Nam luôn coi Nhật Bản là đối tác chiến lược, quan trọng hàng đầu, lâu dài, mong muốn tiếp tục cùng Nhật Bản tích cực thúc đẩy hợp tác song phương cũng như trên các vấn đề khu vực và quốc tế cùng quan tâm, vì lợi ích của nhân dân hai nước, đóng góp cho hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển của khu vực và thế giới.
Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc bày tỏ cảm ơn sự hỗ trợ quý báu của Nhật Bản dành cho Việt Nam trong đối phó với dịch COVID-19 thời gian qua, mong hai bên tiếp tục hợp tác, hỗ trợ lẫn nhau vượt qua dịch bệnh trong thời gian tới.Thủ tướng Suga bày tỏ vui mừng trước sự phát triển mạnh mẽ của quan hệ Việt Nam – Nhật Bản, cảm ơn sự hợp tác tích cực của Việt Nam trong phòng chống COVID-19.
Thủ tướng Suga khẳng định coi trọng và mong muốn đưa hợp tác giữa hai nước lên tầm cao mới, đánh giá cao vai trò, vị thế của Việt Nam ở khu vực và quốc tế, cho biết sẽ hợp tác chặt chẽ với Việt Nam vì thành công của Hội nghị cấp cao ASEAN sắp tới. Thủ tướng Suga cũng bày tỏ chia sẻ và gửi lời thăm hỏi tới nhân dân miền Trung Việt Nam về những thiệt hại do mưa lũ gây ra.
Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc điện đàm với Thủ tướng Nhật Bản Suga Yoshihide
Nhân dịp này, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã mời Thủ tướng Suga sớm thăm Việt Nam vào thời gian thích hợp. Thủ tướng Suga đã cảm ơn và vui vẻ nhận lời.
Bộ Trưởng Quốc phòng Canada Harjit Sajjan vừa kêu gọi NATO theo dõi khi những hoạt động Trung Quốc thể hiện ở Biển Đông đang gây quan ngại một cách rõ ràng, theo báo Hindustan Times hôm nay 8.10.
Tàu chiến và máy bay Trung Quốc thao diễn ở Biển Đông vào tháng 4.2018
Ông Sajjan đưa ra lời kêu gọi trên trong lúc tham dự một hội nghị trực tuyến do tổ chức GLOBSEC ở thủ đô Bratislava (Slovakia) tổ chức từ ngày 7-8.10.
Bộ trưởng Sajjan gọi những hành động của Trung Quốc ở Biển Đông thách thức an ninh. “Đây là một trong những điều chúng ta sẽ tiếp tục theo dõi và chúng ta cần theo dõi ở NATO”, ông Sajjan nhấn mạnh, theo Đài CTV News.
Hồi tháng 6.2019, Lực lượng Phòng vệ trên biển Nhật Bản và hải quân Canada đã tiến hành hàng loạt cuộc diễn tập chung ở Biển Đông.Trước đó hơn một năm, Thượng viện Canada thông qua bản kiến nghị của nghị sĩ đảng Bảo thủ chỉ trích hành vi gây hấn của Trung Quốc tại Biển Đông.Trung Quốc đã gia tăng đáng kể hiện diện quân sự và yêu sách về lãnh hải ở Biển Đông, bất chấp phản đối của các nước láng giềng cũng như những phán quyết quốc tế chống lại yêu sách của Bắc Kinh, theo CTV News.