Category Archives: Aktuell

Tàu sân bay tối tân của Anh vào Biển Đông

Tàu sân bay HMS Queen Elizabeth của Anh đã tiến vào Biển Đông, trong một động thái mà giới quan sát dự đoán sẽ được Trung Quốc theo dõi chặt chẽ.

Theo Telegraph, nhóm tàu tác chiến tàu sân bay HMS Queen Elizabeth của Hải quân Hoàng gia Anh đã đi qua eo biển Singapore và tiến vào Biển Đông hôm 26/7.

Theo các chuyên gia quân sự, tàu HMS Queen Elizabeth sẽ không đi qua eo biển Đài Loan trong chuyến hoạt động đầu tiên trong khu vực, mặc dù lộ trình quay trở lại của nó vẫn chưa được xác nhận.

Trung Quốc chưa bình luận về sự hiện diện hay hải trình đi qua Biển Đông của nhóm tác chiến tàu sân bay HMS Queen Elizabeth, nhưng Bắc Kinh được cho là chắc chắn sẽ đang theo dõi chặt chẽ các hoạt động của nhóm tàu tác chiến của Anh.

Telegraph dẫn lời một người phát ngôn của Bộ Quốc phòng Anh cho biết: “Nhóm tàu tác chiến di chuyển hợp pháp trên Biển Đông, nơi chiếm 1/3 lượng vận tải biển toàn cầu hàng năm. Chúng tôi đang sử dụng con đường trực tiếp nhất qua các vùng biển quốc tế để tiến hành các cuộc tập trận với các đồng minh và đối tác ở Biển Đông”.

Cũng theo người phát ngôn trên, “Bộ trưởng Quốc phòng Anh đã nói trước quốc hội nước này hồi tháng 4 rằng, chúng tôi không đến để khiêu khích. Chúng tôi tự tin nhưng không đối đầu”.

HMS Queen Elizabeth là tàu sân bay mới nhất, đắt nhất và là tàu chiến lớn nhất từng được đóng tại Anh. Nó là chiếc đầu tiên thuộc thế hệ tàu sân bay mới của Anh. Tàu sân bay thứ 2, HMS Prince of Wales, đang trong quá trình đóng và hoàn thiện.

Sau gần một thập niên chế tạo, tàu sân bay HMS Queen Elizabeth đã lần đầu tiên ra khơi thử nghiệm vào tháng 6/2017. Với thiết kế tiên tiến cùng hệ thống vũ khí hiện đại, đây là tàu chiến chủ lực của Hải quân Anh trong 50 năm tới. Tàu có tải trọng khoảng 65.000 tấn, dài 280m và có khả năng mang gần 40 máy bay chiến đấu.

Đợt triển khai của nhóm tác chiến tàu sân bay HMS Queen Elizabeth đến châu Á diễn ra trong bối cảnh Anh tuyên bố xoay trục sang châu Á – Thái Bình Dương trong chính sách đối ngoại mới sau khi rời Liên minh châu Âu (Brexit). Chính sách này được cho là nhằm khẳng định tầm ảnh hưởng của Anh hậu Brexit cũng như nhằm đối phó sự bành trướng ảnh hưởng của Trung Quốc trong khu vực.

BDN

Loading

Views: 0

Báo động TQ xây thêm 110 hầm phóng tên lửa (silo) ở Hà Mật

Một báo cáo mới vừa được công bố cho thấy Trung Quốc đang xây dựng thêm 110 hầm phóng tên lửa khiến giới chức quốc phòng và các nghị sĩ Mỹ lo ngại.

Liên đoàn các nhà khoa học Mỹ (AFS) hồi đầu tuần công bố loạt ảnh vệ tinh cho thấy Trung Quốc đang xây thêm 110 hầm phóng tên lửa (silo) gần thành phố Hà Mật, phía đông Khu tự trị Tân Cương.
Trước đó, giới chuyên gia đã phát hiện Trung Quốc đang xây dựng khoảng 120 silo tại vùng sa mạc gần Ngọc Môn, cách khu vực xây dựng ở Hà Môn khoảng 380 về hướng đông nam.
Bộ Ngoại giao Mỹ đã bày tỏ lo ngại về động thái của Trung Quốc và kêu gọi nước này có biện pháp giảm nguy cơ chạy đua vũ trang.
Sau khi báo cáo mới được công bố, Bộ Chỉ huy Chiến lược Mỹ đã đăng bài viết của tờ The New York Times về báo cáo của AFS lên Twitter, cho rằng hành động của Trung Quốc là mối đe dọa ngày càng lớn mà thế giới phải đối diện.
Hạ nghị sĩ đảng Cộng hòa Mike Turner, thành viên Tiểu ban các lực lượng chiến lược thuộc Ủy ban Quân vụ Hạ viện Mỹ mô tả việc xây dựng lực lượng hạt nhân của Trung Quốc là chưa từng thấy và nhằm đe dọa Mỹ cùng các đồng minh.
Ông Turner cho rằng việc Trung Quốc từ chối đàm phán hiệp ước kiểm soát vũ khí nên là nguồn cơn gây lo ngại và nên bị các nước có trách nhiệm lên án.
Hạ nghị sĩ Mike Rogers thuộc Ủy ban Quân vụ Hạ viện tuyên bố Mỹ cần nhanh chóng hiện đại hóa khả năng răn đe hạt nhân trước hành động của Trung Quốc. Theo báo cáo của Lầu Năm Góc hồi năm 2020, Trung Quốc sở hữu khoảng 200 đầu đạn hạt nhân và dự kiến tăng gấp đôi trong thời gian tới. Trong khi đó, ước tính Mỹ có khoảng 3.800 đầu đạn hạt nhân.
BDN

Loading

Views: 0

TQ chật vật chạy đua quân sự với Mỹ

Trung Quốc đang chật vật chạy đua để bắt kịp Hoa Kỳ về quân sự. Theo một báo cáo vào tháng 6 của một tổ chức tư vấn chính sách, Trung Quốc đang làm như vậy bằng cách tăng cường các nỗ lực đổi mới trong nước song song với các nỗ lực đánh cắp tài sản trí tuệ đang diễn ra.

ĐCSTQ luôn ôm giữ mục tiêu đánh bại Hoa Kỳ

Báo cáo của Tổ chức Nghiên cứu và Phát Triển RAND có tiêu đề “Mua lại Quốc phòng ở Nga và Trung Quốc” được Epoch Times trích dẫn cho biết “Việc Trung Quốc phụ thuộc vào hành vi trộm cắp tài sản trí tuệ có nghĩa là vũ khí của họ đã tụt hậu nhiều năm, nhưng Trung Quốc nhận ra thiếu sót đó và đang đầu tư vào và phát triển năng lực nội tại thông qua liên doanh và mua lại công nghệ ngoại quốc”.

Bản báo cáo này được soạn thảo cho Quân đội Hoa Kỳ, phác thảo cách Trung Quốc đang rời bỏ mô hình tiêu chuẩn là sao chép các quốc gia khác. “Nhìn chung, PLA đã vượt qua nhiều rào cản công nghệ và là mối đe dọa rõ ràng đang cận kề đối với Hoa Kỳ trong những thương vụ mua lại quốc phòng”.

Trộm cắp và Mua lại

Mô hình đổi mới của Trung Quốc trong nhiều năm qua là trộm cắp và sao chép, mà các tác giả của tổ chức RAND gọi là “mô hình sao chép-thay thế”. Nhiều sư đoàn của Quân đội Giải phóng Nhân dân (PLA) được trang bị bản sao vũ khí của các quốc gia khác.

RAND trích dẫn rằng phi cơ Trung Quốc có những điểm tương đồng nổi bật với các phi cơ đối ứng của Hoa Kỳ và Nga. Trong số danh sách các số hiệu [không lưu] có tiêm kích F-35 Lightning II của Hoa Kỳ và J-31 Gyrfalcon của Trung Quốc trông tương tự nhau.

Một tiêm kích khác, được gọi là J-20 Mighty Dragon, tương tự như F-22 Raptor của Hoa Kỳ. Nhưng theo báo cáo, mặc dù J-20 đang trải qua quá trình phát triển tương đối nhanh chóng, RAND ước tính rằng Trung Quốc còn kém Hoa Kỳ tới 20 năm trong lĩnh vực hàng không quân sự.

Trên thực tế, khẩu súng trường tiêu chuẩn được sản xuất trong nước của PLA trong khoảng 25 năm qua, súng trường tự động QBZ-95, có thể sớm bị thay thế bằng một mẫu sao chép. Theo phân tích từ The Firearm Blog, thiết bị thay thế, được biết đến với tên gọi không chính thức là súng trường tiến công QBZ-191, là một bản sao gần giống của súng tiểu liên Heckler và Koch 416. Khẩu súng trường này cũng rất giống khẩu AR-15.

Theo RAND, việc ĐCSTQ “dựa vào hành vi trộm cắp tài sản trí tuệ để phát triển vũ khí đã giúp duy trì khả năng cạnh tranh nhưng lại khiến họ tụt hậu vài năm”. Điều này đã khiến Trung Quốc tăng cường nỗ lực trong nghiên cứu và phát triển (R&D) của riêng mình.

Cố gắng đổi mới

Chi tiêu quân sự nội địa của Trung Quốc đã tăng lên trong những thập kỷ gần đây và cách tiếp cận đổi mới của quốc gia này đã có sự thay đổi mô hình trong những năm gần đây.

Báo cáo viết, “Chi tiêu quân sự của Trung Quốc đã tăng gấp 10 lần tính bằng đồng dollar cố định trong 25 năm qua, với mức chi tiêu đạt mức cao nhất mọi thời đại là 250 tỷ USD vào năm 2018″. Để so sánh, Hoa Kỳ có ngân sách quốc phòng là 700 tỷ USD trong cùng năm.

Từ khi ông Tập Cận Bình lên nắm quyền đã dẫn đến một số thay đổi có tính hệ thống trong chiến lược phát triển vũ khí của PLA. Kể từ năm 2016, các lĩnh vực quân sự và thương mại đã trở nên tích hợp chặt chẽ hơn. Các thiết kế quân sự thường được các công ty dân sự đấu thầu, mặc dù thuộc sở hữu của nhà nước.

Theo báo cáo của RAND, “xét về quy mô, trong số 22 công ty quốc phòng có doanh thu cao nhất trên toàn thế giới, có chín công ty đến từ Hoa Kỳ và tám công ty đến từ Trung Quốc”. Mức lương của các nhà quản lý dự án và kỹ sư của Trung Quốc cũng đang trở nên cạnh tranh so với [mức lương] ở Hoa Kỳ. Điều này càng thu hút các công dân Trung Quốc theo học các trường đại học ở hải ngoại hồi hương.

Sau khi tốt nghiệp năm 2000, hầu hết tất cả sinh viên Trung Quốc đã bắt đầu sinh sống ở hải ngoại. Đến năm 2016, gần 65% sinh viên Trung Quốc đã quay trở lại Trung Quốc.

Các rào cản đến chiến trường

Tiền và trộm cắp không thể giải quyết tất cả các vấn đề phát triển của Trung Quốc. Báo cáo cho biết, “PLA vẫn đang chật vật để thúc đẩy sự đổi mới trong nước và thu hẹp khoảng cách về một số khiếm khuyết kỹ thuật rõ ràng, chẳng hạn như các vi mạch bán dẫn cao cấp, tàu ngầm không ồn và động cơ phi cơ”.

RAND nhấn mạnh những trở ngại nội bộ bắt nguồn từ cấu trúc chính trị của ĐCSTQ . Báo cáo nêu rõ, “ngay cả khi đang cố gắng xóa bỏ những rào cản kỹ thuật này, PLA phải giải quyết sự kém hiệu quả của thể chế và các rào cản liên quan đến quản lý và việc bảo đảm chất lượng vốn đang tiếp tục cản trở các nỗ lực cải cách của họ”.

Hơn nữa, “Việc thiết kế các hợp đồng quốc phòng của Trung Quốc cũng không khuyến khích sự minh bạch và trách nhiệm giải trình”. Ngôn ngữ trong các bản hợp đồng là mơ hồ, các doanh nghiệp trúng thầu được bảo đảm một phần lợi nhuận trên giá trị hợp đồng, và các doanh nghiệp trả giá thầu thấp nhất cho các hợp đồng được nhận các dự án động viên an ủi. Theo RAND, những dấu tích của nền kinh tế chỉ huy này dẫn đến rất ít hoặc không có động lực để đổi mới.

BDN

Loading

Views: 0

Cường quốc biển châu Âu tăng cường hiện diện quân sự tại châu Á

Các cường quốc châu Âu, trong đó có cường quốc biển một thời Anh quốc, đang tăng cường hiện diện quân sự tại châu Á. Trung Quốc chắc chắn sẽ không ngồi yên nhìn các nước phương Tây liên kết với nhau.

Trong chuyến công du châu Á thăm Nhật Bản, Hàn Quốc và Việt Nam mới đây, Bộ trưởng Quốc phòng Anh Ben Wallace đã tái khẳng định cam kết của Anh đối với khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương.

Vừa hợp tác vừa cạnh tranh

Việc triển khai nhóm tác chiến hạm đội tàu sân bay HMS Queen Elizabeth của Anh đến tuần tra và tập trận trên các tuyến đường hàng hải huyết mạch ở Biển Đông thể hiện được cả 3 đặc trưng trong chiến lược đối ngoại quốc phòng mới của nước Anh hậu Brexit: (i) quyết đoán, (ii) quy mô và (iii) đa liên kết.

Hải quân Hoàng gia Anh chưa từng gián đoạn hiện diện ở Đông Á (thông qua việc triển khai luân phiên các tàu HMS Montrose, Argyll và Enterprise), nhưng quy mô của việc triển khai hạm đội HMS Queen Elizabeth vẫn được đánh giá là vượt trội hơn cả.

Xoay quanh việc vì sao nước Anh chọn châu Á làm “trọng tâm tiếp cận” mới, có ba nguyên nhân chính được ông Ben Wallace tuyên bố vào tháng 4-2021: (i) kỷ niệm 50 năm thành lập Hiệp ước Phòng thủ ngũ cường (FPDA) ở khu vực, (ii) đảm bảo các giá trị chuẩn mực của luật pháp quốc tế thông qua vai trò cường quốc toàn cầu của Anh và (iii) kiềm chế sự gia tăng ảnh hưởng quân sự và các hoạt động đơn phương áp đặt giá trị của Trung Quốc ở khu vực.

Tuy nhiên, trên thực tế nước Anh cũng đang trong quá trình cạnh tranh ảnh hưởng ở Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương với Pháp, Đức nói riêng và cả Liên minh châu Âu nói chung giai đoạn hậu Brexit.

Sự công bố về chiến lược và cách tiếp cận khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương một cách đơn lẻ của mỗi bên châu Âu, cũng như việc Pháp thành công trong thiết lập tam giác chiến lược Pháp – Ấn – Úc (sắp tới có thể là Pháp – Mỹ – Nhật) và lực lượng tuần duyên chung với các nước Nam Thái Bình Dương (có cả Úc và New Zealand) khiến cho Anh phải đẩy nhanh cả 3 hướng triển khai chiến lược ở châu Á.

Xu hướng chạy đua ảnh hưởng giữa Anh – Pháp ở khu vực hiện vẫn đang được nằm trong thế “vừa hợp tác vừa cạnh tranh”, trong bối cảnh các hạm đội của hai nước vẫn có kế hoạch diễn tập chung ở Địa Trung Hải và sắp tới là Biển Tây Philippines.

Theo lộ trình được Huân tước Annabel Goldie – quốc vụ khanh Bộ Quốc phòng Anh – đưa ra, sự hiện diện dài hạn của hải quân Anh ở khu vực sẽ tăng cường một cách tiệm tiến chứ không ồ ạt như bước khởi đầu, với việc duy trì các tàu tuần duyên vào năm 2021, các đơn vị lính thủy đánh bộ từ năm 2023 và một tàu khinh hạm cho đến cuối thập niên này.

Cách tiếp cận này cho thấy mặc dù Anh có năng lực tài chính mạnh, Anh vẫn muốn triển khai tiệm tiến để giảm thiểu tối đa các chi phí hậu cần hàng hải, đồng thời tạo liên kết với các đối tác và đồng minh để khắc phục các điểm yếu về kỹ thuật quân sự (như nhờ Mỹ cung cấp thêm máy bay F-35B do hiện Anh chưa trang bị đủ số lượng cho hạm đội HMS Queen Elizabeth).

Trung Quốc có để yên?

Trung Quốc ngay từ tháng 1-2021 đã lên án việc triển khai hạm đội Anh ở khu vực và chắc chắn sẽ đưa ra những phản ứng quyết liệt và tăng cường cấp độ từ ngoại giao đến quân sự trong thời gian tới.

Mặc dù phía Anh đã phát đi các tín hiệu cho thấy sự ôn hòa trong đợt triển khai, Trung Quốc chắc chắn sẽ bỏ qua các chỉ dấu này và đẩy mạnh các hoạt động tiếp cận, do thám cũng như có những động thái phản ứng quyết liệt để tăng cường hiện diện quân sự đối trọng với hạm đội Anh nói riêng và tổ hợp lực lượng các cường quốc nói chung.

Cần nói thêm là Trung Quốc vẫn giữ tâm thế lo ngại về sự hiện diện cùng lúc từ đông đảo các cường quốc bên ngoài, xuất phát từ việc quốc gia này bị các nước phương Tây biến thành nước nửa thuộc địa suốt một thế kỷ.

Sự hiện diện của Anh trong tập trận đa phương 8 nước (Mỹ, Anh, Hà Lan, Úc, Pháp, Nhật Bản, New Zealand và Hàn Quốc) vào tháng 8 tới tại Biển Philippines gợi lại đúng khái niệm “Bát quốc liên quân” can thiệp Trung Quốc hồi đầu thế kỷ 20, dù thành phần tham dự hoàn toàn khác nhau.

ASEAN, với chủ trương đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc phòng với các nước lớn, chắc chắn sẽ có cách tiếp cận tích cực với tín hiệu tăng cường hiện diện của Anh trong khu vực, đặc biệt khi một số thành viên trong khối ASEAN vẫn là thành viên FPDA cùng Anh. Nhiều quốc gia Đông Nam Á đang muốn đẩy nhanh các hoạt động đối ngoại quốc phòng ở Biển Đông để đối trọng với các hoạt động quân sự tăng cường từ Trung Quốc gần đây.

BDN

Loading

Views: 0

Đài Loan đẩy nhanh tốc độ chế tàu ngầm, mua ngư lôi của Mỹ phòng TQ

Đài Loan rút ngắn kế hoạch ra mắt tàu ngầm nội địa và nhận ngư lôi hạng nặng từ Mỹ so với dự kiến ban đầu.

Hình ảnh tàu ngầm nội địa của Đài Loan

Theo thông tin từ trang Taiwan News, lực lượng phòng vệ Đài Loan đặt mục tiêu vào tháng 9/2023 sẽ cho tàu ngầm tự chế chạy thử lần đầu tiên. Mốc thời gian này sớm hơn gần 1 năm so với dự kiến ban đầu (khoảng giữa năm 2024).

Chính quyền đảo Đài Loan đã dành khoản ngân sách 1,75 tỉ USD để tự chế tạo tàu ngầm và bắt đầu đóng tàu từ năm ngoái.

Công đoạn lắp ráp sẽ hoàn tất vào cuối năm 2022. Đầu năm 2023, Đài Loan sẽ tiến hành lắp thiết bị điện tử lên tàu.

Với việc đẩy nhanh tốc độ ra mắt tàu tàu ngầm đồng nghĩa lực lượng phòng vệ trên biển của Đài Loan sẽ được biên chế tàu vào năm 2024, sớm hơn 1 năm.

Nếu kế hoạch diễn ra suôn sẻ, Đài Loan sẽ dành một khoản ngân sách lớn để đóng từ 8-12 tàu ngầm. Trong đó, mỗi lô bao gồm 2-3 phương tiện. Lô sau sẽ hiện đại hơn lô trước.

Cùng lúc, Đài Loan đang xúc tiến để Mỹ giao 46 ngư lôi hạng nặng Mk48 trước 2 năm so với dự kiến ban đầu vào năm 2028.

Đài Loan đang đẩy nhanh tốc độ giao phương tiện, vũ khí hiện đại cho lực lượng phòng vệ trên biển giữa tình hình quan hệ với Bắc Kinh ngày càng căng thẳng.

Bắc Kinh coi Đài Loan là một phần của nước này. Quan hệ hai bên leo thang từ khi bà Thái Anh Văn, người có tư tưởng không công nhận chính sách “Một Trung Quốc”, trở thành lãnh đạo đảo năm 2016.

Trung Quốc cho rằng bà Thái là người theo chủ nghĩa ly khai muốn tuyên bố độc lập nên từ đó đến nay liên tục tăng cường hoạt động quân sự. Cùng lúc, Đài Loan lại tăng cường quan hệ thân thiết với Mỹ. Song, phía Washington từng đưa ra tín hiệu cho biết nước này sẽ không “vượt lằn ranh đỏ” mà Bắc Kinh đặt ra trong vấn đề Đài Loan.

BDN

Loading

Views: 0

TQ bị WHO thúc giao nộp dữ liệu về Covid-19

WHO lên tiếng kêu gọi Trung Quốc hợp tác minh bạch các dữ liệu gốc về COVID-19.

Trong bài biết trên trang Reuters đưa tin bởi các tác giả Thomas Escritt, Kirsti Knolle và Stephanie Nebehay hôm thứ Năm ngày 15/07 vừa qua, người đứng đầu Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), ông Tedros Adhanom Ghebreyesus, đã phát biểu về các cuộc điều tra về nguồn gốc của đại dịch COVID-19 ở Trung Quốc đang bị cản trở do thiếu dữ liệu gốc về diễn biến những ngày đầu tiên lây lan tại đây.

Nhóm chuyên gia do WHO dẫn đầu đã dành ra bốn tuần, cùng với các nhà nghiên cứu Trung Quốc, có mặt ở trung tâm thành phố Vũ Hán và các khu vực lân cận, trước khi đi đến kết luận trong một báo cáo chung vào tháng 3 rằng virus có thể đã được truyền từ dơi sang người thông qua một loài động vật khác.

Nội dung báo cáo có đoạn “đại dịch bùng phát do một sự cố trong phòng thí nghiệm đã được xem xét là một con đường cực kỳ khó xảy ra”, tuy nhiên, nhiều quốc gia, bao gồm Hoa Kỳ, và một số nhà khoa học vẫn chưa tỏ ra hoàn toàn hài lòng với kết luận trên.

Trung Quốc đã khẳng định giả thuyết virus COVID-19 có thể đã thoát ra từ một phòng thí nghiệm ở Vũ Hán là “vô lý”, đồng thời nhắc lại nhiều lần quan điểm việc “chính trị hóa” vấn đề sẽ cản trở các cuộc điều tra.

Chuyên gia cấp cứu hàng đầu của WHO Mike Ryan cho biết, chủ tịch Tedros dự kiến sẽ có một thông báo tóm tắt trước 194 quốc gia thành viên của WHO vào thứ Sáu, liên quan đến giai đoạn thứ hai được đề xuất của nghiên cứu.

“Chúng tôi mong muốn được làm việc với các đối tác Trung Quốc trong suốt quy trình của giai đoạn thứ hai này. Ngài tổng giám đốc WHO sẽ vạch ra các biện pháp cho các quốc gia thành viên trong cuộc họp vào thứ Sáu ngày 16/07 này”

BDN

Loading

Views: 0

Sự cố ngoại giao Nhật-Hàn: Hệ quả khó lường

Sự cố ngoại giao ngày 17/7 vừa qua không chỉ đẩy quan hệ Nhật-Hàn vướng căng thẳng mới, mà còn có thể để lại hệ quả khó lường liên quan tới sự hiện diện của Mỹ tại khu vực.

ổng thống Hàn Quốc Moon Jae-in và Thủ tướng Nhật Bản Suga Yoshihide lại thêm lần lỗi hẹn. (Nguồn: Yonhap)

Cụ thể, trả lời phỏng vấn đài JBTC (Hàn Quốc) ngày 15/7 về quan hệ Nhật-Hàn, Phó Đại sứ Nhật Bản tại Seoul Hirohisa Soma gây sốc khi phát ngôn rằng Tổng thống Hàn Quốc Moon Jae-in đang “ảo tưởng” về một cuộc hội đàm với Thủ tướng Nhật Bản Suga Yoshihide vào ngày 23/7.

Ông tuyên bố: “Chính phủ Nhật Bản không có thời gian để lo về quan hệ Nhật-Hàn như mong đợi của Hàn Quốc”. Phát ngôn tai hại trên không chỉ đẩy quan hệ Nhật Bản-Hàn Quốc vướng vào căng thẳng mới, mà còn để lại hệ quả khó lường, đặc biệt là với Mỹ.

Khoét sâu bất đồng

Phát ngôn của ông Soma khiến Seoul dậy sóng. Thứ trưởng thường trực Bộ Ngoại giao Hàn Quốc Choi Jong-Kun đã triệu tập Đại sứ Koichi Aiboshi để phản đối tuyên bố “phi ngoại giao và thô tục” của ông Soma, đồng thời yêu cầu Tokyo hành động để ngăn chặn những sự cố tương tự xảy ra trong tương lai. Thậm chí, Bộ này khẳng định sẽ có “biện pháp ngoại giao tương xứng”.

Đáng chú ý, sự cố này được cho là nguyên nhân khiến Tổng thống Hàn Quốc Moon Jae-in hủy chuyến thăm Tokyo dự Olympic 2020, nơi ông dự kiến có cuộc gặp chính thức đầu tiên với Thủ tướng Nhật Bản Suga Yoshihide ngày 23/7, để tránh kích động dư luận trong nước. Thư ký Báo chí Nhà Xanh Park Soo-hyun cho biết: “Olympic Tokyo là lễ hội hòa bình cho tất cả trên thế giới và chúng tôi hy vọng rằng, Nhật Bản sẽ tổ chức sự kiện này một cách an toàn và thành công”.

Ông Soma đã xin lỗi, song giải thích rằng cách dùng từ này chỉ nhằm “miêu tả xu hướng ngoại giao của Hàn Quốc”, chứ không hề công kích ông Moon. Đại sứ Nhật Bản tại Seoul Koichi Aiboshi bày tỏ sự hối tiếc về phát ngôn không phù hợp với tư cách nhà ngoại giao của ông Soma, dù đây chỉ là trò chuyện bên lề. Chánh Văn phòng Nhật Bản Katsunobu Kato cũng nhận định tương tự, song cho biết tương lai của ông Soma sẽ do Ngoại trưởng nước này quyết định.

Nghiêm trọng hơn, sự cố ngoại giao này có thể khoét sâu hơn khác biệt trong quan hệ song phương, vốn đã trải qua nhiều sóng gió như căng thẳng về lệnh hạn chế xuất khẩu nguyên liệu bán dẫn của Nhật Bản tới Hàn Quốc, chủ quyền quần đảo Dokdo/Takeshima, xa hơn là chuyện sách giáo khoa lịch sử Nhật Bản, phụ nữ mua vui Hàn Quốc hay đền Yasukuni.

Mong manh tam giác Mỹ-Nhật-Hàn

Tuy nhiên, hệ quả không chỉ dừng lại ở đó. Căng thẳng giữa Tokyo và Seoul có thể vô hiệu hóa, thậm chí phá vỡ tam giác Mỹ-Nhật-Hàn mà Washington đang dày công vun đắp.

Trong các văn bản về đối ngoại và quốc phòng của Mỹ, trong đó có Hướng dẫn Chiến lược An ninh Quốc gia Tạm thời, khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương nói chung và Đông Bắc Á nói riêng có ưu tiên cao đối với chính quyền Tổng thống Joe Biden.

Chuyến công du nước ngoài đầu tiên của Ngoại trưởng Mỹ Antony Blinken và Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Lloyd Austin là tới Tokyo, Seoul và New Delhi, hai trong số đó thuộc Đông Bắc Á.

Từ trái sang phải: Thứ trưởng Ngoại giao Hàn Quốc Choi Jong-kun, Thứ trưởng Ngoại giao Nhật Bản Mori Takeo và Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ Wendy R. Sherman trong cuộc gặp ngày 21/7. (Nguồn: Reuters)

Tổng thống Mỹ Joe Biden cũng được cho là đã mời Tổng thống Hàn Quốc Moon Jae-in dự Thượng đỉnh các nước phát triển (G7), nơi ông lần đầu gặp mặt và có cuộc đối thoại ngắn ngủi, không chính thức với Thủ tướng Nhật Bản Suga Yoshihide tối ngày 12/6. Nói cách khác, Mỹ cần Nhật Bản và Hàn Quốc hợp tác để đối phó ảnh hưởng của Trung Quốc và giải quyết vấn đề Triều Tiên.

Tuy nhiên, các nỗ lực củng cố quan hệ giữa Tokyo và Seoul của Washington, duy trì tam giác Mỹ-Nhật-Hàn sẽ khó hiệu quả nếu sự cố như tuyên bố vạ miệng của Phó Đại sứ Nhật Bản tại Hàn Quốc Hirohisa Soma tiếp tục phát sinh. Chính quyền Tổng thống Joe Biden không muốn thấy Hiệp định đảm bảo thông tin quân sự chung (GSOMIA) Nhật-Hàn đứng trước nguy cơ bị xé bỏ lần nữa.

Trong bối cảnh đó, ngày 20/7, tân Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ Wendy R. Sherman đã có chuyến thăm đầu tiên tới châu Á, gặp gỡ người đồng cấp Mori Takeo (Nhật Bản) và Choi Jong-kun (Hàn Quốc) tại Tokyo. Quan chức ngoại giao từ Washington nhấn mạnh tầm quan trọng về duy trì sự ổn định tại eo biển Đài Loan và vấn đề phi hạt nhân hóa bán đảo Triều Tiên.

Việc bà Sherman đối thoại ba bên với quan chức từ Hàn Quốc và Nhật Bản, thay vì gặp riêng rẽ từng người, dường như là cách phản ánh kỳ vọng đứng ra làm hòa của Mỹ, để hai quốc gia Đông Bắc Á có thể gạt bỏ bất đồng, bắt tay vì mục tiêu chung.

Tuy nhiên, muốn là một chuyện, được lại là chuyện khác. Nỗ lực bảo toàn tam giác Mỹ-Nhật-Hàn của Washington thành bại ra sao, sẽ phụ thuộc nhiều vào thiện chí của cả Tokyo lẫn Seoul trong quan hệ song phương trắc trở và sóng gió.

TG&VN

Loading

Views: 0

TQ “hái quả” từ Malaysia ?

Vài năm gần đây, Malaysia luôn bị Trung Quốc quấy nhiễu hoạt động khai thác dầu khí trên Biển Đông. Bằng thủ đoạn gia tăng gây hấn, tháng 7 này, Bắc Kinh dường như đã gặt hái được một cái gì đó từ Kuala Lumpur.    

Tàu Trung Quốc trong một lần quấy nhiễu hoạt động dầu khí của Malaysia

Chẳng một quốc gia nào trong vùng duyên hải Biển Đông không là nạn nhân của Trung Quốc, nếu có ý chống lại tham vọng ngang ngược của họ. Việt Nam – tất nhiên rồi. Bởi đó là nước, trong con mắt của Bắc Kinh, ương bướng nhất. Sau Việt Nam là Philippines. Philippines dưới thời của ông Duterte, dù cách hành xử tiền hậu bất nhất khiến Trung Quốc không khỏi cảm thấy khó chịu. Nhưng sợ quốc gia này ngả hẳn vào Mỹ, nên Trung Quốc cũng chọn giải pháp “vừa đấm vừa xoa” để níu kéo, hầu có thêm một đồng minh để nâng cao khả năng đối trọng với Mỹ, đồng thời, phân tán, làm suy yếu tiếng nói của Asean trong quá trình đàm phán, xây dựng Bộ quy tắc về ứng xử trên Biển Đông (COC).

Còn Malaysia. Không như Việt Nam và Philippines, cách ứng xử của Kuala Lumpur trước các hành động hung hăng, ngang ngược của Trung Quốc trên Biển Đông, cơ bản, mềm dẻo, ít dữ dội hơn.

Điển hình cho cách ứng xử đó, là cuối năm 2019 tới nửa đầu năm 2020. Khi đó, tàu khoan thăm dò dầu khí West Capella và các tàu khoan dầu khác được Kuala Lumpur thuê đã liên tục bị tàu Trung Quốc đe dọa. Sự việc diễn ra ngay trong vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Malaysia. Malaysia không mặc kệ, nhưng cũng không làm toáng lên trước thiên hạ. Họ chỉ lặng lẽ đáp lại bằng cách triển khai luân phiên 2 tàu tuần tra để bảo vệ nhóm tàu West Capella.

Thậm chí, vào lúc Trung Quốc đẩy sự quấy nhiễu lên mức độ cao hơn: cho tàu Hải Dương 8 cùng tàu hộ tống áp sát tàu West Capella và tiến hành khảo sát ngay trong EEZ của Malaysia, Kuala Lumpur vẫn chỉ thể hiện thái độ “quan ngại” một cách nhẹ nhàng trước sự “xuất hiện của các tàu chiến và tàu khác”.

Thôi thì trong thế nước yếu, đồng thời, cũng là khẩu khí ngoại giao, “quan ngại” cũng là được. Nhưng khó hiểu nhất là sự “quan ngại” đó hàm ý đánh đồng cả tàu Trung Quốc vi phạm EEZ của mình với tàu chiến Mỹ và Úc đang tập trận trên Biển Đông? Thậm chí, thời điểm đó, Malaysia còn kêu gọi Trung Quốc và Mỹ “giải quyết hòa bình sự khác biệt thông qua ngoại giao” – hành động được hiểu như “việc tôi tôi lo. Trung Quốc và Mỹ, các vị hãy kiềm chế với nhau đi”.

Tất nhiên, về ý đồ cả Trung Quốc, không nói, ai cũng biết, cũng như với Philippines, họ muốn có được cái gật đầu của Kuala Lumpur để cùng khai thác chung dầu khí trong khu vực mà Malaysia tuyên bố chủ quyền và kiểm soát.

Malaysia quá hiểu “khai thác chung” với một kẻ như Trung Quốc thì hệ lụy lâu dài là như thế nào. Và phản ứng dữ dội của người dân nước láng giềng Philippines với tổng thống của họ – ông Duterte – cũng vì thỏa thuận về cái gọi là “khai thác chung” với trên Biển Đông với Trung Quốc, không thể không buộc các nhà lãnh đạo Malaysia phải thận trọng.

Nhưng Kuala Lumpur lại cũng muốn yên ổn, giữ hòa khí với Bắc Kinh, nên chơi bài  lặng lẽ “nắm tay dưới gầm bàn” với Bắc Kinh như là …thượng sách?

Tất nhiên, gầm bàn thì thế, nhưng trên thực địa, vẫn phải cho máy bay, tàu chiến bám, theo dõi, phát tín hiệu cảnh báo tàu bè và máy bay Trung Quốc vi phạm như một cách khẳng định chủ quyền chính đáng, chứ không hề nhân nhượng.

Cũng có thể, từ kết quả các cuộc “nắm tay dưới gầm bàn” nêu trên mà mới đây, dư luận biết được một thông tin qua nguồn “rò rỉ”: Tập đoàn dầu khí quốc gia Petronas của Malaysia và công ty dầu khí ngoài khơi quốc gia TQ (CNOOC) hôm 7/7 đã ký kết một thỏa thuận cung cấp khí thiên nhiên hóa lỏng trị giá 7 tỷ USD trong vòng 10 năm.

Câu hỏi đặt ra là: Thỏa thuận này, phải chăng, mới chỉ là kết quả ban đầu? “Thỏa thuận khai thác dầu khí chung” trên Biển Đông mới là đích đến quan trọng giữa Trung Quốc và Malaysia?

BDN

Loading

Views: 0

Tại sao Nhật Bản ngày càng sẵn sàng tham chiến với ĐCSTQ để bảo vệ Đài Loan?

Tờ Financial Times đưa tin cách đây không lâu rằng chính quyền Nhật Bản đang ngày càng lo lắng về việc chính quyền Trung Quốc xâm lược Đài Loan bằng vũ lực và yêu cầu Hoa Kỳ chia sẻ kế hoạch bảo vệ Đài Loan. Phó Thủ tướng Nhật Bản Taro Aso gần đây cũng tuyên bố rằng nếu ĐCSTQ xâm phạm Đài Loan, Hoa Kỳ và Nhật Bản phải cùng bảo vệ Đài Loan.

Ảnh minh họa

Demetri Sevastopulo và Kathrin Hille, phóng viên của tờ “Financial Times”, đã viết rằng Hoa Kỳ muốn từng bước tăng cường hợp tác với Tokyo theo từng giai đoạn. Một cựu quan chức Hoa Kỳ nói với các phóng viên rằng mục tiêu là để các lực lượng vũ trang Hoa Kỳ và Nhật Bản cuối cùng soạn thảo ra một kế hoạch toàn diện duy nhất cho tình trạng khẩn cấp ở Đài Loan.

Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Tài chính Nhật Bản Taro Aso ngày 5 tháng 7 tuyên bố rằng nếu ĐCSTQ xâm phạm Đài Loan, tiếp theo sẽ xâm phạm đến quận Okinawa của Nhật Bản. Do đó, Nhật Bản nên coi đây là “tình huống đe dọa sự tồn vong của Nhật Bản”, Lực lượng phòng vệ Nhật Bản sẽ được triển khai theo Luật An ninh, và nhấn mạnh rằng “Nhật Bản và Hoa Kỳ phải cùng bảo vệ Đài Loan”.

Sự toàn vẹn của Đài Loan có liên quan chặt chẽ với khả năng phòng thủ của Nhật Bản

Theo trang web Forbes, ý nghĩa của điều này đã khá rõ ràng, môi trường địa lý của Tây Thái Bình Dương về cơ bản đã xác định vai trò của Nhật Bản trong việc bảo vệ Đài Loan của Lực lượng Đồng minh.

Rõ ràng là các nhà lãnh đạo Nhật Bản nhìn nhận rằng Nhật Bản đã xác định định sẵn sàng tham gia vào cuộc chiến trong tình huống ĐCSTQ xâm lược Đài Loan.

Hoa Kỳ cũng cần đến sự hỗ trợ của Nhật Bản để có thể đánh bại cuộc xâm lược của ĐCSTQ mau lẹ hơn. Phần lớn lực lượng của Mỹ ở Tây Thái Bình Dương đến từ các căn cứ ở Nhật Bản, bao gồm Căn cứ Không quân Kadena ở Okinawa, Căn cứ Không quân Misawa ở Honshu và các cảng của Nhật Bản bao gồm Yokosuka và Sasebo.

Tình huống lý tưởng nhất là trong các hoạt động chống lại sự xâm lược của ĐCSTQ, chính phủ Nhật Bản không chỉ cho phép quân đội Mỹ mở các cuộc hành quân từ các căn cứ của Mỹ ở Nhật Bản, mà quân đội Nhật Bản cũng sẽ tham gia các hoạt động này.

Đánh giá từ các lời phát biểu của Tokyo, họ ngày càng có nhiều khả năng để làm như vậy. Bộ trưởng Quốc phòng Nhật Bản Yasuhide Nakayama cho biết trong một sự kiện trực tuyến cách đây không lâu, rằng “Chúng tôi và Đài Loan là một gia đình”. Ông tuyên bố rằng sự toàn vẹn của Đài Loan” rõ ràng là có liên quan chặt chẽ với khả năng phòng thủ của quận Okinawa”.

Quận Okinawa, bao gồm cả căn cứ không quân Kadena trên hòn đảo, chỉ cách Đài Loan 450 dặm Anh. Ông Nakayama nói rằng quận Okinawa và Đài Loan “gần giống như mắt với mũi, có sự tương quan rất gần”.

Nhật Bản có lực lượng hải quân tiên tiến

Nếu quân đội Nhật Bản tham gia cùng đồng minh Mỹ để chiến đấu vì Đài Loan, quy mô lực lượng quân sự của liên minh sẽ được tăng lên rất nhiều. Về phần mình, Hạm đội Thái Bình Dương của Hoa Kỳ có khoảng 200 tàu chiến, ít hơn một chút so với 360 tàu tiền tuyến của hạm đội ĐCSTQ

Khi hạm đội Nhật Bản được bổ sung vào hạm đội Hoa Kỳ, về số lượng tàu chiến mà nói, các đối thủ gần như ngang nhau. Và hãy nhớ rằng tàu chiến Nhật Bản nói chung có trang bị vũ khí hạng nặng. Hạm đội của Tokyo có 36 tàu khu trục và khinh hạm hiện đại, nhiều tàu trong số đó được trang bị hệ thống chiến đấu Aegis, cũng như 22 tàu ngầm tấn công diesel-điện lớn nhất thế giới.

Quan trọng hơn, Hải quân Nhật Bản đang chuyển đổi hai tàu của họ thành hàng không mẫu hạm để có thể chở máy bay phản lực tàng hình F-35B. Hai hàng không mẫu hạm này có thể tăng 50% số lượng hàng không mẫu hạm lớn có thể được triển khai bởi hạm đội liên hợp Mỹ-Nhật ở Tây Thái Bình Dương.

Rất hiển nhiên, là một phần của Lực lượng Đồng minh Bảo vệ Đài Loan, Nhật Bản sẽ tập trung hoạt động vào eo biển Miyako, nó là một thông đạo hẹp giữa quận Okinawa và đảo Miyakojima. Đảo Miyakojima là một hòn đảo của Nhật Bản, chỉ cách Đài Loan 277 km.

Hải quân và Không quân Trung Quốc tìm cách gián tiếp tiến nhập Đài Loan

Trong một thời gian dài, kế hoạch xâm lược Đài Loan của ĐCSTQ rất đơn giản, đầu tiên là dội bom lên hòn đảo Đài Loan và sau đó dẫn theo nhiều tàu vận tải nhất có thể, đi qua eo biển Đài Loan rộng 80 dặm đến bãi biển ở vùng tây nam của Đài Loan.

Nhưng tấn công trực diện này chắc chắn sẽ là một trận chiến đẫm máu. Các lực lượng vũ trang của Đài Loan đã được chuẩn bị trong nhiều thập kỷ để đối phó với phương thức tấn công rõ ràng này. Họ sẽ sử dụng ngư lôi, mìn, pháo và tên lửa để bảo vệ từng dặm trận địa trên bãi biển.

Hải quân và không quân Trung Quốc đang khám phá những cách gián tiếp hơn để tiến nhập vào Đài Loan, chẳng hạn, họ có thể vòng qua các lực lượng phòng thủ bãi biển vững chắc nhất. Không phải vô cớ mà Không quân TQ ngày càng điều nhiều máy bay chiến đấu, máy bay tuần tra và máy bay ném bom từ các khu vực xung quanh Đài Loan đến vùng biển Philippines ở phía đông Đài Loan.

Tương tự, Bắc Kinh đang mua hàng không mẫu hạm, hai trong số đó hiện đã đi vào hoạt động và một chiếc thứ ba đang được kiến tạo, một phần để cung cấp lực lượng phòng không cho các tàu chiến hoạt động ở phía đông Đài Loan.

Có hai cách để quân đội TQ có thể đột nhập Biển Philippines. Đầu tiên, họ có thể thông qua eo biển Ba Sĩ ở phía đông nam của đảo Đài Loan, vòng qua phía nam Đài Loan và tiến nhập vào biển Philippines.

Phương án bỏ qua miền nam Đài Loan cũng có nhiều rủi ro. Đài Loan đang xây dựng và nâng cấp một phi đội không quân bao gồm hơn 200 máy bay chiến đấu F-16 mới. Một trong những nhiệm vụ chính của phi đội này trong thời chiến là tuần tra eo biển Ba Sĩ. Một nhà phân tích thậm chí còn thúc giục Đài Bắc mua máy bay tiếp dầu trên không để giúp máy bay chiến đấu F-16 ở lâu hơn trên vùng đất chiến lược quan trọng này.

Một phương án khác là đi vào eo biển Miyako,  Tàu sân bay Liêu Ninh của Trung Quốc ngay từ tháng 4 đã thông qua eo biển Miyako tiến nhập vào Biển Philippines và Biển Đông, động thái này đã nhận được sự chú ý rộng rãi.

Nếu Nhật Bản chiến đấu để bảo vệ Đài Loan, cuộc xâm lược của ĐCSTQ sẽ phải đối mặt những rủi ro lớn

Nếu Nhật Bản tham gia cuộc chiến tranh giành Đài Loan, nó có thể biến eo biển Miyako thành một trong những tuyến đường thủy nguy hiểm nhất thế giới. Tokyo đã và đang sử dụng các radar và tên lửa chống hạm mới để tăng cường khả năng phòng thủ trên các đảo xung quanh eo biển Miyako, đồng thời mua máy bay F-35B để có thể cất cánh và hạ cánh từ những hòn đảo này.

Triết lý thời chiến của Hải quân Nhật Bản là tập trung vào việc phòng thủ eo biển. Tàu ngầm sẽ nằm mai phục ở đó chờ tàu Trung Quốc. Dưới sự bảo vệ của hàng không mẫu hạm mới của Nhật Bản, nhóm tác chiến hải quân sử dụng tên lửa chống hạm và đất đối không của họ để đảm bảo an toàn cho eo biển Miyako.

Nhật Bản đã nói rõ rằng họ sẵn sàng gửi quân đến chiến đấu để bảo vệ Đài Loan, điều này làm phức tạp thêm kế hoạch tấn công của ĐCSTQ, thậm chí đến mức khiến cuộc xâm lược có vũ trang vào Đài Loan trở thành một nguy cơ không thể chấp nhận được.

Đây là ý nghĩa thực sự của sự sẵn sàng tham gia bảo vệ Đài Loan của Tokyo: ít nhất là trong việc thảo luận về vai trò tích cực của Nhật Bản trong việc bảo vệ Đài Loan.

Shinji Kawana, một nhà nghiên cứu tại Viện Nghiên cứu Quốc phòng thuộc Bộ Quốc phòng Nhật Bản, nói với Đài Tiếng nói Hoa Kỳ rằng các cuộc tập trận quân sự của Trung Quốc ở Biển Hoa Đông và Biển Đông ngày càng trở nên thường xuyên. Do đó, quan chức Nhật Bản đã chấp nhận rằng Nhật Bản phải tham chiến một khi Trung Quốc tiến hành một cuộc xâm lược có vũ trang vào Đài Loan.

Ông nói: “Okinawa là một bước ngoặt quan trọng cho cuộc chiến ở eo biển Đài Loan, vì nơi đây ắt phải đưa ra phản ứng đầu tiên về mặt địa lý. Hơn nữa, từ quan điểm quân sự, chuỗi đảo đầu tiên ngày càng trở nên quan trọng.

Okinawa đặc biệt có một căn cứ quân sự tiền tuyến của Hoa Kỳ, quân đội Trung Quốc phải tấn công các căn cứ quân sự của Mỹ ở Okinawa để ngăn chặn việc Mỹ can thiệp trực tiếp vào eo biển Đài Loan. Tức là, nếu họ tấn công lãnh thổ Nhật Bản, Lực lượng Phòng vệ sẽ phải tham chiến. Do đó, xung đột Mỹ – Trung càng sâu sắc thì tầm quan trọng chiến lược của Okinawa càng lớn”.

BDN

Loading

Views: 0

Eo biển Singapore thành trung tâm tội phạm cướp biển

Số vụ cướp biển tại eo biển Singapore tăng nhanh chóng trong thời gian qua.

Đài Channel NewsAsia ngày 16.7 đưa tin các vụ cướp biển có vũ trang ở eo biển Singapore tăng trong 6 tháng đầu năm, phần lớn liên quan các tàu lớn chở hàng.
Theo đó, có tổng cộng 20 vụ cướp biển có vũ trang xảy ra trong khu vực, tăng so với 16 vụ cùng kỳ năm ngoái. Số liệu được đưa ra bởi Trung tâm Chia sẻ thông tin về Thỏa thuận Hợp tác khu vực về chống cướp biển và cướp có vũ trang nhằm vào tàu thuyền tại châu Á (ReCAAP).
Tuy nhiên, tổng số vụ cướp biển ở châu Á trong 6 tháng đầu năm lại giảm, với 37 vụ so với 57 vụ cùng kỳ năm ngoái. Những nơi giảm số vụ cướp biển gồm các vùng biển Ấn Độ, Indonesia, Philippines và Biển Đông.
CEO của ReCAAP Masafumi Kuroki cho rằng tình trạng tiếp diễn các vụ cướp biển ở eo biển Singapore là điều đáng lo ngại và các vụ việc cứ tái diễn nếu thủ phạm không bị bắt.
Ngoài eo biển Singapore, có 16 vụ xảy ra tại tuyến đường biển ngoài khơi khu vực Tanjung Pergam trên đảo Bintan ở Indonesia, xảy ra vào ban đêm, nhằm vào các tàu chở hàng rời, tàu chở dầu và tàu hàng khác. Đa số các vụ liên quan nhóm gồm 4 tên cướp biển.
“Đó không còn là các vụ trộm cắp vặt, đó là tội nghiêm trọng hơn khi thủ phạm trang bị dao và các vũ khí khác, hoặc khi thủy thủ bị đe dọa hay bị thương”, theo ông Kuroki.
Ông cho rằng có nhiều băng cướp biển, do có nhiều vụ xảy ra gần như đồng thời tại các điểm khác nhau. “Điều quan trọng là cần tăng cường nỗ lực thực thi pháp luật bởi các nước trong khu vực”, ông kêu gọi.
BDN

Loading

Views: 0

20 tiêm kích F-22 của Mỹ tới Thái Bình Dương

Đài CNN cho biết không quân Mỹ sẽ điều hơn 20 tiêm kích tàng hình F-22 tới một cuộc tập trận ở Thái Bình Dương trong tháng này, nhằm gửi thông điệp mạnh mẽ tới Trung Quốc.

Lực lượng không quân Mỹ ở Thái Bình Dương dự tính cử 25 chiếc F-22 Raptor từ căn cứ chung Elmendorf-Richardson ở Alaska tới các đảo Guam và Tinian, nhằm phục vụ chiến dịch tập trận không quân mang tên Pacific Iron 2021.

“Chúng tôi chưa bao giờ triển khai cùng lúc nhiều chiếc Raptor như vậy trong khu vực hoạt động của lực lượng không quân Thái Bình Dương” – tướng Ken Wilsbach, chỉ huy lực lượng không quân Mỹ ở Thái Bình Dương, nói với Đài CNN.

F-22 là máy bay chiến đấu thế hệ thứ 5, tiên tiến nhất thế giới và tích hợp công nghệ tàng hình. Máy bay cũng có khả năng kết nối hệ thống cảm biến bên trong với hệ thống thông tin bên ngoài, giúp phi công có cái nhìn chi tiết về không gian chiến đấu.

Do khả năng né radar, F-22 được kỳ vọng sẽ là một trong những vũ khí được sử dụng đầu tiên trong bất kỳ cuộc xung đột nào, với nhiệm vụ tiêu diệt hệ thống phòng không của đối phương.

Mỹ điều hơn 20 tiêm kích F-22 tới Thái Bình Dương - Ảnh 2.

Hai chiếc F-22 Raptor của không quân Mỹ bay trên bầu trời Alaska – Ảnh: CNN

Carl Schuster, nhà phân tích quốc phòng tại Hawaii, cho biết một đợt triển khai F-22 thông thường bao gồm từ 6 đến 12 máy bay.

“Lực lượng không quân Thái Bình Dương đang chứng minh rằng họ có thể triển khai cùng lúc nhiều máy bay thế hệ thứ 5 hơn là số máy bay quân đội Trung Quốc sở hữu”, ông Carl nói.

Theo ông Carl, tuy không quân Trung Quốc có khoảng 20 đến 24 máy bay chiến đấu thế hệ thứ 5 đang hoạt động, nhưng khả năng đang được cải thiện nhanh chóng.

“Việc chứng minh khả năng chiến đấu nhanh của không quân Mỹ gửi tín hiệu răn đe mạnh mẽ đến Trung Quốc, và trấn an các đồng minh cũng như đối tác”, ông Carl nói.

Ông Layton, nhà phân tích người Úc, cho biết việc triển khai F-22 khiến không quân Mỹ gặp một số khó khăn.

“F-22 là một trong những loại máy bay khó triển khai nhất. Nếu Mỹ có thể làm được thì việc triển khai với những máy bay chiến đấu khác trở nên đơn giản – ông Layton nói – Một cuộc triển khai thành công sẽ có giá trị răn đe với Trung Quốc”.

Không quân Mỹ có khoảng 180 chiếc F-22, nhưng chỉ có một nửa trong số đó có thể thực hiện nhiệm vụ bất kỳ lúc nào vì lý do bảo trì. Như vậy, Mỹ sẽ cử khoảng 25% tiêm kích F-22 tham gia tập trận ở Thái Bình Dương.

BDN

Loading

Views: 0

Báo Úc: Rò rỉ email phòng thí nghiệm Vũ Hán cầu cứu Mỹ, thân phận người cầu viện không tầm thường

Hơn 300 trang email được giải mật cho thấy phòng thí nghiệm Vũ Hán từng cầu cứu sự giúp đỡ từ phía Mỹ – theo báo Daily Telegraph (Úc).

Sau khi Mỹ, Úc và một số quốc gia khác yêu cầu điều tra về khả năng virus SARS-CoV-2 có nguồn gốc từ các phòng thí nghiệm, truyền thông Úc mới đây tiết lộ nội dung hơn 300 trang email được giải mật cho thấy một phòng thí nghiệm ở Vũ Hán, Trung Quốc, đã yêu cầu phía Mỹ giúp đỡ về vấn đề khử trùng và diệt khuẩn.

Báo Daily Telegraph của Úc ngày 13/7 tiết lộ nội dung các email trao đổi giữa Viện Dị ứng và Bệnh truyền nhiễm Quốc gia Mỹ (NIAID) và phòng thí nghiệm Vũ Hán, cho thấy phòng thí nghiệm này đề nghị phía Mỹ hỗ trợ về khả năng xảy ra vấn đề rò rỉ trong phòng thí nghiệm.

Hơn 300 trang email từ phòng thí nghiệm Vũ Hán và NIAID đã được giải mật bởi tổ chức giám sát chính phủ Judicial Watch, có trụ sở tại Washington.

Nội dung các email cho thấy, NIAID và phòng thí nghiệm Vũ Hán đang hợp tác chặt chẽ về kinh phí và công nghệ, đồng thời tài trợ 9 lần cho các thành viên của chương trình coHealth Alliance – tham gia vào các đề tài nghiên cứu liên quan đến lây nhiễm virus corona từ dơi ở Trung Quốc.

Đáng chú ý, số tài liệu rò rỉ cho thấy vào năm 2016, phòng thí nghiệm Vũ Hán từng nhờ đến sự giúp đỡ từ các đối tác Mỹ để giải quyết các vấn đề khử trùng và diệt khuẩn của quần áo làm việc trong phòng thí nghiệm và bề mặt khu vực làm việc.

Daily Telegraph nhấn mạnh, chủ đề của bức thư điện tử này là “xin giúp đỡ” và được ký tên bởi Viên Chí Minh – Viện trưởng Phân viện Vũ Hán thuộc Viện Khoa học Trung Quốc (CAS).

Trong email kể trên, ông Viên yêu cầu các đối tác Mỹ của mình cố vấn về vấn đề khử trùng và diệt khuẩn của Phòng thí nghiệm P4.

Ông Viên lãnh đạo Phân viện Vũ Hán của CAS từ tháng 10/2012. Đến tháng 1 năm nay, ông trở thành thành viên nhóm chuyên gia nghiên cứu khoa học ứng phó khẩn cấp về dịch bệnh Covid-19 sau khi Sở Khoa học Kỹ thuật tỉnh Hồ Bắc khởi động dự án nghiên cứu này.

Phân viện Vũ Hán là cơ sở được thành lập rất sớm của CAS, từ năm 1958. CAS là cơ quan học thuật cao nhất của Trung Quốc về khoa học tự nhiên, nằm dưới sự quản lý của Quốc vụ viện nước này.

Hôm 26/5 vừa qua, Tổng thống Mỹ Joe Biden đã ra lệnh cho các cơ quan tình báo Mỹ “tăng cường nỗ lực” để điều tra nguồn gốc của dịch Covid-19, yêu cầu báo cáo trong vòng 90 ngày và đưa ra kết luận virus SARS-CoV-2 có nguồn gốc từ tự nhiên hay từ sự cố rò rỉ trong phòng thí nghiệm.

Các lãnh đạo nhóm G7 vào giữa tháng 6 cũng ra tuyến bố chung thúc giục tổ chức cuộc điều tra giai đoạn 2 về nguồn gốc Covid-19 do Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) dẫn dắt.

Bắc Kinh chỉ trích mạnh mẽ những động thái của Mỹ và phương Tây là chính trị hóa vấn đề nguồn gốc đại dịch.

Trong diễn biến mới nhất, Tổng giám đốc WHO Tedros Adhanom Ghebreyesus hôm 15/7 bất ngờ thừa nhận còn quá sớm để loại trừ mối liên hệ giữa Covid-19 và sự cố rò rỉ từ phòng thí nghiệm. Ông cũng yêu cầu Trung Quốc minh bạch hơn khi các nhà khoa học đang cố gắng tìm kiếm nguồn gốc của Covid-19.

BDN

Loading

Views: 0

Taliban sẽ “tung hoành” ở Tân Cương

Lo ngại đang gia tăng rằng khu tự trị Tân Cương, Trung Quốc, sẽ đối mặt với chủ nghĩa khủng bố xâm nhập từ hành lang Wakhan ở biên giới Afghanistan.

Mối lo ngại về kịch bản chủ nghĩa khủng bố trỗi dậy và xâm nhập Trung Quốc được dấy lên sau khi lực lượng Taliban tràn qua tỉnh Badakhshan, Afghanistan và đang tiến gần biên giới giáp với khu tự trị Tân Cương của Trung Quốc.

Kịch bản khủng bố xâm nhập Tân Cương, Trung Quốc

Taliban đang đẩy nhanh tốc độ chiếm lĩnh địa bàn khi lực lượng do Mỹ dẫn dắt rút lui khỏi Afghanistan. Một số ý kiến đã được nêu ra về “nỗi sợ của Trung Quốc” khi Taliban áp sát biên giới nước này và khuấy động bất ổn tại Tân Cương.

France 24 (Pháp) đưa tin Trung Quốc lo ngại về các vụ tấn công ở khu vực biên giới Afghanistan gần với Tân Cương. Kênh này đánh giá các biện pháp chống khủng bố của Bắc Kinh đang trở thành “gậy ông đập lưng ông”.

Cao Wei, chuyên gia về an ninh tại Đại học Lan Châu, Trung Quốc, nhận định trên Thời báo Hoàn Cầu rằng hầu như không có khả năng các nhóm khủng bố và cực đoan xâm nhập Trung Quốc qua hành lang Wakhan.

Hành lang này tiếp giáp với Trung Quốc trên chiều dài khoảng 90km và không khó để Trung Quốc “phong tỏa” hoàn toàn đường biên này – theo Qian Feng, giám đốc bộ phận nghiên cứu của Viện Chiến lược Quốc gia thuộc Đại học Thanh Hoa, Trung Quốc.

Ông Cao Wei nói thêm rằng Taliban ngày nay đã hoàn toàn khác so với hai thập kỷ trước.

Trả lời trang This Week in Asia thuộc tờ Bưu điện Hoa Nam Buổi sáng (SCMP) ngày 7/7, phát ngôn viên của Taliban Suhail Shaheen nói tổ chức này coi Trung Quốc là “bạn” của Afghanistan và mong muốn đối thoại với Bắc Kinh về đầu tư tái thiết đất nước “sớm nhất có thể”.

Suhail cũng khẳng định Taliban sẽ không cho phép những người ly khai Duy Ngô Nhĩ tị nạn ở Afghanistan, cũng như ngăn chặn al-Qaeda hay các nhóm khủng bố khác hoạt động tại quốc gia này.

Một đoàn đại biểu Taliban cũng bảo đảm với Moskva trong chuyến công du Nga hồi tuần trước rằng sẽ không để cho Afghanistan bị lợi dụng như một bàn đạp để tấn công nước khác.

Theo ông Cao, những tín hiệu này cho thấy Taliban đang âm thầm chuyển mình, trở nên giống một tổ chức chính trị hơn và tập trung vào các vấn đề trong nước của Afghanistan. Và nếu Taliban kiểm soát đất nước thì thời gian sẽ chứng minh cho lời nói của họ.

Một đánh giá tình báo của Mỹ mới đây cảnh báo chính phủ hiện nay ở Kabul có thể sụp đổ trong vòng 6 tháng sau khi Mỹ rút khỏi Afghanistan. Hàng loạt hãng truyền thông đưa tin Taliban đã sẵn sàng để kiểm soát toàn bộ đất nước.

Các nhà phân tích Trung Quốc cảnh báo nếu đe dọa an ninh ở Afghanistan tiếp tục lan sang các nước láng giềng thì những kẻ khủng bố và cực đoan có thể xâm nhập Trung Quốc thông qua các nước vùng Trung Á và qua Pakistan.

Quân đội Mỹ tại Afghanistan đã kìm hãm không gian hoạt động của các nhóm khủng bố ở Trung Á trong những năm qua, và đẩy một số nhóm sang Syria. NHưng khi Taliban sắp giành quyền lực ở Afghanistan thì cần phải quan sát xem liệu nhóm al-Qaeda được Taliban hậu thuẫn có “vươn vòi” trở lại hay không – Cao Wei nói.

Căng thẳng tại Afghanistan đang lan nhanh ra khu vực Trung Á. Hàng trăm binh lính chính phủ Afghanistan đã phải rút chạy qua biên giới sang nước láng giềng Tajikistan khi Taliban chiếm thế thượng phong. Tajikistan đã kêu gọi các thành viên của một khối quân sự do Nga đứng đầu hỗ trợ để ứng phó với thách thức an ninh mới này.

Ông Cao Wei cho rằng Nga đối mặt với sức ép lớn hơn Trung Quốc bởi một số nhóm khủng bố có thể xâm nhập Nga từ các nước thuộc Liên Xô cũ, và phạm vi có thể lan đến cả vùng Caucasus và Chechnya.

Moskva cũng gánh trên vai trách nhiệm bảo đảm an ninh vùng Trung Á của Tổ chức Hiệp ước An ninh Tập thể (CSTO) – gồm có Nga và 5 nước Liên Xô cũ.

Afghanistan thành điểm nóng nhất khu vực

Ngoại trưởng Trung Quốc trong tuần này đang tiến hành chuyến công du Turkmenistan, Tajikistan, Uzbekistan, và tham dự phiên họp ngoại trưởng của Nhóm Liên hệ về Afghanistan của Tổ chức Hợp tác Thượng Hải (SCO).

Chuyến đi của ông Vương diễn ra trong bối cảnh mối đe dọa an ninh ngày càng lan rộng do tình hình leo thang ở Afghanistan.

Đây là lần đầu hội nghị của Nhóm Liên hệ về Afghanistan của SCO được nâng lên cấp bộ trưởng ngoại giao, kể từ khi cơ chế này thiết lập năm 2005. Điều này cho thấy tính cấp bách trong tình hình ở Afghanistan và mối quan tâm lớn cùng nhận thức chung của SCO về sự cần thiết phải thảo luận chi tiết, xuyên suốt về kế hoạch với Afghanistan.

Sun Zhuangzhi, giám đốc điều hành Trung tâm Nghiên cứu Trung Quốc thuộc SCO, nói với tờ Hoàn Cầu rằng hội nghị ngoại trưởng sẽ củng cố nỗ lực phối hợp nhằm thúc đẩy tất cả các bên liên quan tìm kiếm giải pháp hòa bình cho vấn đề Afghanistan, bên cạnh đưa ra kế hoạch chi tiết ở các mức độ song phương và đa phương trong hỗ trợ Afghanistan tái thiết, cũng như cảnh báo các nước phương Tây do Mỹ dẫn dắt về “hành vi rút lui vô trách nhiệm”.

Được thành lập năm 2001 và do Nga-Trung Quốc dẫn dắt, SCO có đến 6 thành viên là các láng giềng của Afghanistan. Khối có 4 quan sát viên (Afghanistan, Mông Cổ, Belarus, Iran) và 6 đối tác đối thoại.

Ông Qian Feng bình luận, thành viên SCO là Ấn Độ muốn mượn Afghanistan để mở rộng “tầm với” chiến lược bởi Afghanistan bao quanh Pakistan – đối thủ của New Delhi – ở phía bắc và phía tây. Ấn Độ cũng cần bảo đảm Afghanistan không trở thành nơi trú ẩn cho những lực lượng chống Ấn Độ. Trong 20 năm qua, New Delhi đã viện trợ Afghanistan khoảng 3 tỷ USD và duy trì quan hệ tốt với chính phủ Kabul, các thủ lĩnh địa phương và các lực lượng dân sự.

Quan hệ của Ấn Độ với Taliban không tốt và sự trỗi dậy của Taliban đồng nghĩa với ảnh hưởng gia tăng của Pakistan tại Afghanistan. New Delhi đang nóng lòng khôi phục liên hệ với tổ chức này.

Nga, Trung sẽ  là những “đế chế xuống mồ” tiếp theo

Những nỗ lực tham gia tái thiết Afghanistan của Nga và Trung Quốc được cảnh báo có thể khiến hai ông lớn này sa lầy giống như Mỹ.

Báo The Hill (Mỹ) nói rằng Bắc Kinh có kế hoạch “sà vào” và “lấp khoảng trống” Mỹ để lại ở Afghanistan. Tờ này nói thẳng rằng Trung Quốc sẽ là “đế chế tiếp theo tiến vào nấm mồ ở Afghanistan”.

Tuy nhiên, ông Cao Wei nói Nga và Trung Quốc – với nguyên tắc không can thiệp – sẽ tập trung vào hỗ trợ kinh tế hơn là can thiệp quân sự. Ông bác bỏ quan điểm rằng Nga-Trung sẽ là những đế chế tiếp theo “xuống mồ” ở Afghanistan.

Cả Bắc Kinh và Moskva nhấn mạnh vấn đề Afghanistan cần được chính người Afghanistan giải quyết.

Taliban cũng tỏ thái độ hoan nghênh Trung Quốc tham gia tái thiết. Tổ chức này tuyên bố sẽ cố gắng duy trì quan hệ ổn định với Trung Quốc và các nước láng giềng khác nếu họ nắm quyền.

Các nhà phân tích Trung Quốc nói Taliban gần như sẽ không cố ý “xuất khẩu” ý thức hệ của mình, song Bắc Kinh vẫn cần cảnh giác trước đe dọa từ các nhóm cực đoan tự nguyện chấp nhận ý thức hệ của Taliban và cố gắng ảnh hưởng đến Tân Cương.

Ông Qian Feng chỉ ra, Taliban bị phân tán bởi nhiều thủ lĩnh cấp cao của tổ chức này không ở Afghanistan, do đó một số chi nhánh Taliban đã thu nạp các thành viên Phong trào Hồi giáo Đông Turkestan (ETIM) – nhóm khủng bố người Duy Ngô Nhĩ khiến Bắc Kinh e ngại nhất, hoạt động tại Afghanistan.

Taliban ở Afghanistan đang từng bước chuyển đổi thành một “chính quyền khu vực” sẵn sàng tham gia vào quản trị quốc gia hơn là che chở các nhóm khủng bố. Các chuyên gia Trung Quốc tin rằng ngay cả khi Taliban theo đuổi các biện pháp cực đoan trong tương lai thì Bắc Kinh vẫn có đủ khả năng ứng phó bằng cơ chế chống khủng bố trong nước toàn diện của mình, cũng như dựa vào hợp tác khu vực và luật pháp quốc tế.

BDN

Loading

Views: 0

Tàu chiến của Mỹ xuất hiện tại vùng biển gần quần đảo Hoàng Sa

Bộ chỉ huy Chiến khu Nam bộ của Trung Quốc cho biết một tàu chiến của Mỹ “xâm phạm trái phép” vùng biển gần quần đảo Hoàng Sa, thuộc chủ quyền của Việt Nam, và đã bị đuổi đi.

Trong tuyên bố ngày 12-7 trên tài khoản WeChat, Bộ chỉ huy Chiến khu Đông bộ Trung Quốc cho biết vụ “đuổi tàu Mỹ” diễn ra cùng ngày. Các lực lượng hải quân và không quân Trung Quốc đã được triển khai theo dõi và xua chiếc tàu chiến của Mỹ.

Cơ quan này tiếp lời chỉ trích đây là bằng chứng cho việc Mỹ quân sự hóa Biển Đông và cáo buộc Washington là “kẻ gây rủi ro” tại khu vực.

“Chúng tôi hối thúc Mỹ lập tức ngừng các hành động khiêu khích” – Hãng tin Reuters dẫn tuyên bố của phía Trung Quốc.

Vụ việc diễn ra cùng lúc với tuyên bố của ngoại trưởng Mỹ ngày 11-7, giờ Mỹ, về lập trường của chính quyền Tổng thống Joe Biden về vấn đề Biển Đông ngày 11-7, nhân kỷ niệm 5 năm ngày phán quyết Biển Đông (12-7-2016) của Tòa trọng tài được thành lập theo Phụ lục VII của Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển (UNCLOS) 1982 trong vụ kiện “đường lưỡi bò” phi pháp ở Biển Đông do Philippines đệ trình.

“Mỹ tái khẳng định chính sách ngày 13-7-2020 liên quan đến các tuyên bố chủ quyền hàng hải ở Biển Đông” – Hãng tin Reuters dẫn lời ông Blinken, nhắc đến chính sách dưới thời chính quyền cựu tổng thống Donald Trump coi các tuyên bố của Trung Quốc đối với các nguồn tài nguyên ở hầu hết Biển Đông là phi pháp.

Ngoại trưởng Mỹ khẳng định “không có nơi nào mà trật tự hàng hải dựa trên luật pháp lại bị đe dọa như ở Biển Đông”. Ông cáo buộc Trung Quốc “cưỡng ép, đe dọa các nước ven biển ở Đông Nam Á, đe dọa tự do đi lại trên tuyến đường toàn cầu quan trọng này”.

Washington cũng nhắc lại cam kết sẽ bảo vệ Philippines trong trường hợp bị Trung Quốc tấn công.

Theo phán quyết 2016, tòa đã bác bỏ yêu sách chủ quyền của Trung Quốc trên Biển Đông, gồm cả “đường 9 đoạn” (đường lưỡi bò) do nước này tự vẽ để đòi chủ quyền và cái gọi là chủ quyền lịch sử hoàn toàn không có cơ sở pháp lý.

Đây không phải lần đầu tiên tàu Mỹ thách thức Trung Quốc ở Hoàng Sa. Trung Quốc ngày 20-5 khẳng định đã “trục xuất” tàu USS Curtis Wilbur (DDG-54) của Mỹ khi tàu này “xâm nhập trái phép” vào quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam. Tuy nhiên, hải quân Mỹ khẳng định con tàu đang tham gia hoạt động tự do đi lại phù hợp luật pháp quốc tế.

Trước đó, Mỹ ngày 5-2 cho biết tàu khu trục USS John S. McCain của nước này đã tiến gần quần đảo Hoàng Sa trong một hoạt động thúc đẩy tự do hàng hải.

BDN

Loading

Views: 0

Phán quyết về Biển Đông – luật pháp quốc tế sẽ đồng hành và phải được tuân thủ

Trong vấn đề Biển Đông, phán quyết của Tòa trọng tài cho thấy UNCLOS là nền tảng thiết lập trật tự trên biển dựa trên luật pháp quốc tế.

5 năm để Tòa Trọng tài quốc tế đưa ra phán quyết về vụ Philippines kiện Trung Quốc (12/7/2016). Phán quyết cũng đã trải qua 5 năm.

Trong thời đại bùng nổ thông tin, có 2 vấn đề được coi là xu hướng. Mọi sự kiện xuất hiện, ít nhiều đều tạo dư chấn và sự kiện dù lớn nhỏ, rồi thời gian cũng sẽ khỏa lấp. Sự kiện 12/7 có theo dòng chảy đó không?

Tòa trọng tài ở The Hague (Hà Lan) tổ chức tranh tụng kín từ ngày 7-13/7/2016 cho vụ kiện của Philippines đối với Trung Quốc liên quan đến yêu sách phi pháp của Trung Quốc về Biển Đông. (Nguồn: PCA)

Nhìn lại 5 năm

Xin nhắc lại một chi tiết, Tổng thống Philippines Benigo Aquino III là người gốc Hoa. Sau khi lên cầm quyền, Trung Quốc là nước đầu tiên ngoài khối ASEAN ông tới thăm. Khi đó, truyền thông Trung Quốc bình luận ông Aquino “về thăm quê ngoại”. Chưa đầy 1 năm sau, ông khởi xướng vụ kiện. Ông mãn nhiệm được gần 2 tuần, Tòa Trọng tài quốc tế đưa ra phán quyết nghiêng về Philippines. Xem ra, vụ kiện còn quan trọng hơn gốc gác cá nhân.

Người Philippines vui mừng vì thắng lợi của công lý. Chính phủ kế nhiệm gần như tránh nhắc tới phán quyết để đổi lấy đầu tư kinh tế, tránh xung đột, đối đầu. Nhưng hơn 20 ngàn tỷ USD đầu tư vẫn chỉ là lời hứa. Bãi cạn Scarborough vẫn do Trung Quốc kiểm soát.

Hàng trăm tàu cá Trung Quốc hiện diện trên các vùng biển quốc tế, vùng biển nước khác mà Bắc Kinh tuyên bố chủ quyền theo yêu sách lịch sử. Tháng 3/2021, hơn 200 tàu cá được cho là của dân quân biển Trung Quốc neo đậu bất thường ở đá Ba Đầu, Trường Sa. Ngư dân Philippines vừa đánh bắt vừa trông chừng tàu cá, tàu Hải cảnh Trung Quốc ngăn chặn, xua đuổi, đâm va.

Nội bộ Philippines phân hóa. Trong cuộc thăm dò dư luận tháng 7/2020, 70% người Philippines muốn Chính phủ có lập trường cứng rắn hơn về vấn đề Biển Đông. Trước áp lực trong nước và dư luận quốc tế, gần đây, Tổng thống và một số quan chức Philippines lại kêu gọi tuân thủ phán quyết.

Trung Quốc giận dữ, công khai bác bỏ, tuyên bố không chấp nhận phán quyết. Bắc Kinh bằng nhiều cách, cả “cứng” và “mềm” để vô hiệu hóa phán quyết.

Sau thời gian im ắng, Trung Quốc tiếp tục hành động mạnh. Thúc đẩy hoạt động ngoại giao, tuyên truyền, nghiên cứu khoa học, đưa người vào các cơ quan pháp lý của Liên hợp quốc… Đưa ra “Thuyết Tứ Sa” thay thế yêu sách “đường 9 đoạn” có phần yếu thế.

Rầm rộ cải tạo, quân sự hóa hàng loạt đảo, đá; gia tăng hiện diện nhiều tàu Hải cảnh, tàu chiến, tàu sân bay – căn cứ di động trên Biển Đông. Xây dựng hàng loạt cơ sở “dân sự” dưới danh nghĩa nghiên cứu khoa học, cung cấp dịch vụ hàng hải; hàng nghìn tàu cá, không chỉ để đánh cá, mà thực chất là khẳng định chủ quyền.

Cộng đồng quốc tế nhìn chung ủng hộ phán quyết, kêu gọi các bên tuân thủ. Song ít hành động thực tế và chưa thống nhất. Một số nước, vì những lý do khác nhau, tính toán riêng, ràng buộc lợi ích mà nghiêng về Trung Quốc hoặc ủng hộ việc để phán quyết “chìm xuồng”. Chính sách “cây gậy” và “củ cà rốt” tỏ ra hữu hiệu.

Được và chưa được

5 năm sau phán quyết, tranh chấp Biển Đông vẫn phức tạp, chưa tìm ra lối thoát khả dĩ. Nhiều nước lo ngại Trung Quốc đang chiếm ưu thế ở Biển Đông, không chỉ so với các nước nhỏ có tranh chấp mà cả với Mỹ và nhiều nước lớn khác.

Đã có những kết luận bi quan. Phán quyết của Tòa không có tính cưỡng chế! Càng kích động sự hung hăng của Bắc Kinh. Không nên theo đuổi biện pháp pháp lý với Trung Quốc!

Nhiều nhà lãnh đạo và học giả đánh giá cao ý nghĩa phán quyết của Tòa. Phán quyết bác bỏ hầu hết yêu sách biển của Trung Quốc một cách rõ ràng. Tòa tuyên bố “đường 9 đoạn” của Trung Quốc không có cơ sở pháp lý. Các thực thể nổi ở quần đảo Trường Sa chỉ có vùng biển không quá 12 hải lý. Không có cơ sở pháp lý cho đường cơ sở nối liền bao quanh toàn bộ quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa… Có nghĩa là “Thuyết Tứ Sa” cũng không có cơ sở pháp lý… Chừng đó cũng đủ thu hẹp đáng kể các tranh chấp ở Biển Đông.

Phán quyết của Tòa cho thấy Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) năm 1982 là công cụ pháp lý góp phần hạn chế, giải quyết các tranh chấp chủ quyền biển; là nền tảng thiết lập trật tự trên biển dựa trên luật pháp quốc tế.

Vấn đề tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông và tuân thủ UNCLOS là chủ đề nóng của nhiều diễn đàn, hội nghị đa phương, song phương. Có một cuộc chiến công hàm liên quan đến vấn đề Biển Đông.

Tháng 6/2021, gần 100 nước thành viên Liên hợp quốc đã tham gia “Nhóm bạn bè của UNCLOS”, theo sáng kiến đề xuất của Việt Nam, Đức và một số nước khác. Ngày càng có nhiều nước tham gia FONOP trên Biển Đông, ngầm phản đối yêu sách chủ quyền trái pháp luật.

Không ít ý kiến cho rằng bề ngoài Trung Quốc tỏ ra cứng rắn, “phớt Ăng-lê”, nhưng bên trong vẫn lo ngại trước dư luận quốc tế. Trung Quốc bác bỏ phán quyết cũng có nghĩa là không tuân thủ UNCLOS mà họ là quốc gia thành viên.

Những ngôn từ đẹp kiểu “xây dựng cộng đồng chung vận mệnh” trái ngược với hành động thực tế… Với một quốc gia muốn đóng vai trò chi phối, dẫn dắt thế giới, thu hút cộng đồng, thì đó là những điểm trừ đáng kể. Đơn độc không phải là chìa khóa để một nước lớn có thể duy trì vị thế, ảnh hưởng lâu dài trên đỉnh cao. Sức mạnh áp đặt, cưỡng chế không tạo ra công lý.

Xung quanh phán quyết nói riêng, UCLOS nói chung vẫn còn những góc nhìn, cách vận dụng, thái độ khác nhau. Nhưng không thể không thừa nhận phán quyết đã xới lên một vấn đề nóng: khẳng định sự cần thiết giải quyết các tranh chấp chủ quyền Biển Đông bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở pháp luật quốc tế…

Chừng đó cũng chứng tỏ tác động của sự kiện 12/7.

Những khuyến nghị

Tranh chấp chủ quyền là chuyện muôn thuở. Biển Đông đủ chỗ cho tất cả, nếu tất cả tuân thủ luật pháp quốc tế. Giải quyết hòa bình, lâu dài vấn đề Biển Đông là một biểu tượng của duy trì trật tự thế giới dựa trên luật pháp quốc tế.

Nếu các quốc gia chạy theo toan tính lợi ích riêng, coi tranh chấp Biển Đông là chuyện của người khác, là thứ để mặc cả…, thì các hành động cứng rắn, dựa trên ưu thế nước lớn, theo tư duy “tổng bằng không” càng tiếp diễn.

Cộng đồng quốc tế cần thống nhất cao hơn trong lập trường giải quyết vấn đề Biển Đông theo UNCLOS, phù hợp với tinh thần phán quyết; tạo ra một áp lực hòa bình đủ mức, có khả năng kiềm chế các hành động cưỡng chế, cưỡng chiếm.

ASEAN cần đóng vai trò trung tâm trong giải quyết vấn đề Biển Đông.

Giải pháp tốt nhất là ASEAN và các đối tác đi đến một thỏa hiệp chính trị, quân sự, an ninh, kinh tế vững chắc, tôn trọng chủ quyền của nhau, cùng đầu tư giữ ổn định khu vực, bảo vệ lợi ích chính đáng của tất cả các quốc gia. Xây dựng, đàm phán COC thực chất, có tính ràng buộc pháp lý là một bước đi quan trọng, cần thiết.

Đôi điều rút lại

Không có một giải pháp duy nhất nào có thể giải quyết được mọi vấn đề, các tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông. Giải quyết bằng pháp lý là một trong những công cụ văn minh, cần thiết của xã hội loài người. Nhưng đó không nên là giải pháp đầu tiên, càng không phải là giải pháp duy nhất.

Tuần tự hợp lý là đi từ quản lý tranh chấp, kiềm chế hành vi để từng bước giải quyết tranh chấp. Tất cả các bên dựa trên phán quyết, UNCLOS để nhìn nhận lại chính sách biển của mình. Ngoại giao tiên phong, mở đường. Đối thoại làm rõ khác biệt. Lựa chọn lĩnh vực dễ nhất có thể hợp tác, từ đó tìm kiếm lợi ích chung.

Thực tế chứng tỏ những gì phù hợp với quy luật, cần thiết, sẽ tồn tại, dù muốn hay không. Không ai và không gì có thể cản được. Phán quyết ngày 12/7, rộng ra là UNCLOS, luật pháp quốc tế sẽ luôn đồng hành và phải được tuân thủ.

TG&VN

Loading

Views: 0

Amazon ngăn cản tham vọng của Bắc Kinh

Trong nửa đầu năm nay, Amazon.com đã đóng cửa 340 cửa hàng trực tuyến do một trong những nhà bán lẻ lớn nhất ở Trung Quốc điều hành.

Amazon đã có động thái trừng phạt nhằm vào các cửa hàng do Công ty Công nghệ Youkeshu Thâm Quyến điều hành với cáo buộc các cửa hàng này vi phạm các quy định của Amazon, tuy nhiên không cung cấp thêm bất kỳ chi tiết nào.

Theo công ty mẹ của Youkeshe là Tiza, các cửa hàng bị Amazon cấm hoạt động hoặc tạm thời đóng băng chiếm tới 30% số cửa hàng bán lẻ của Youkeshu trên nền tảng này. Nó cho biết hơn 130 triệu nhân dân tệ (20,08 triệu đô la Mỹ) trong quỹ của Youkeshu đã bị đóng băng và ước tính doanh thu nửa đầu năm nay của nhà bán lẻ sẽ giảm từ 40 đến 60%.

Amazon trừng phạt các công ty Trung Quốc

Tiza cho biết rằng “các quy tắc trên các nền tảng thương mại điện tử đang được thắt chặt, do vi phạm quyền và thao túng giá tiếp tục gia tăng”.

Trường hợp của Youkeshu là đòn giáng mới nhất đối với cộng đồng buôn bán “sản phẩm Trung Quốc bán trên nền tảng Amazon”. Trong số đó, nhiều nhà bán lẻ Trung Quốc đã đổ xô đến nền tảng thương mại của Mỹ trong nỗ lực tiếp cận khách hàng quốc tế.

“Amazon có thể tạm ngừng bán hàng hoặc đóng băng quỹ của các cửa hàng vì bán các sản phẩm có rủi ro về sở hữu trí tuệ và vì khiếu nại của khách hàng”, Tiza cho biết. Công ty này cho biết hơn 130 triệu nhân dân tệ (khoảng 20 triệu USD) trong quỹ của Youkeshu đã bị Amazon phong tỏa.

Youkeshu cũng điều hành các cửa hàng trên các trang web khác bao gồm eBay, Wish và AliExpress, nhưng hiện tại công ty đang tập trung vào Amazon với “một tầm nhìn chiến lược” cho nền tảng này. AliExpress là một dịch vụ bán lẻ trực tuyến của Alibaba Group Holding, công ty sở hữu tờ Bưu điện Hoa nam Buổi sáng (SCMP).

Youkeshu có tổng cộng 1.135 cửa hàng trực tuyến trên Amazon vào năm 2020, đạt doanh thu 1,5 tỷ nhân dân tệ cùng năm đó – theo một hồ sơ do Tiza gửi tới Sở giao dịch chứng khoán Thâm Quyến vào tháng 6.

Youkeshu đã tham gia vào nền thương mại điện tử xuyên biên giới từ năm 2008, bán nhiều loại sản phẩm bao gồm các thiết bị điện tử, đồ chơi và thiết bị ngoài trời trên các nền tảng trực tuyến khác nhau.

Động thái của Amazon nhằm vào Youkeshu diễn ra cùng lúc với thời điểm nhà cung cấp tiện ích Choetech, do Công ty Công nghệ DAK Thâm Quyến điều hành, biến mất khỏi nền tảng này.

Khi các công ty Trung Quốc đổ xô lên sàn thương mại Amazon, nhiều công ty đã dùng các phương pháp “không lành mạnh” vốn rất phổ biến trong thị trường thương mại điện tử của Trung Quốc. Những hành động này bao gồm việc tạo ra các đánh giá giả mạo và thổi phồng số lượng bán hàng.

Nhiều thương hiệu bị cấm

Vào tháng 6, Amazon đã cấm ba thương hiệu thuộc công ty điện tử Sunvalley Group có trụ sở tại Thâm Quyến – bao gồm công ty RAVPower, tai nghe Taotronics và máy ảnh VAVA – vì cung cấp thẻ quà tặng cho những khách hàng sẵn sàng viết đánh giá tích cực về việc mua hàng của họ.

Vài tuần trước đó, Amazon đã chặn sản phẩm từ các nhà cung cấp thiết bị điện tử Aukey và Mpow. Một phát ngôn viên của Amazon cho biết vào thời điểm đó rằng công ty không bình luận về các trường hợp riêng lẻ, nhưng họ có các hệ thống để phát hiện “hành vi đáng ngờ” và thực hiện các hành động kịp thời.

Amazon cho biết trong một tuyên bố vào giữa tháng 6: “Để giúp giành được sự tin tưởng của khách hàng, chúng tôi dành nguồn lực đáng kể để ngăn chặn các đánh giá giả mạo hoặc đánh giá để được nhận thưởng xuất hiện trong cửa hàng của chúng tôi.”

“Trong nhiều năm qua, chúng tôi đã tiếp tục phát minh, triển khai và liên tục cải tiến công nghệ tinh vi được hỗ trợ bởi AI, kết hợp với các nhà điều tra chuyên nghiệp về con người để chủ động ngăn chặn các đánh giá giả mạo từng bị phát hiện trong cửa hàng của chúng tôi.”

Amazon đã nỗ lực trong nhiều năm để chống lại các thao túng đánh giá, cấm các “đánh giá được trả thưởng” kể từ năm 2016, bao gồm việc cửa hàng nhờ người thân để lại đánh giá tích cực hoặc trao thưởng để người dùng viết các đánh giá tích cực.

Vào năm 2020, Amazon đã xóa hơn 200 triệu bài đánh giá bị nghi ngờ là giả mạo trước khi chúng được khách hàng nhìn thấy và 99% các bài đánh giá giả mạo được phát hiện bởi chính công ty này.

Bắc Kinh đã và đang thúc đẩy sự phát triển của thương mại điện tử xuyên biên giới như một mô hình mới để thúc đẩy hoạt động ngoại thương, với các chính sách hỗ trợ bao gồm hệ thống thông quan nhanh hơn.

BDN

Loading

Views: 0

Chuyên gia Đức: Phán quyết của Tòa Trọng tài PCA có giá trị sâu rộng

Ngày 9/7, Viện Á – Phi thuộc Đại học Hamburg (Đức) đã tổ chức hội thảo lần thứ tư về Biển Đông nhân kỷ niệm 5 năm Tòa trọng tài Thường trực (PCA) ra phán quyết về Biển Đông. 

Phát biểu tại hội thảo, Giáo sư, Tiến sỹ Suzette Suarez- Đại học Khoa học ứng dụng Bremen cho biết, 5 năm sau phán quyết của Tòa Trọng tài ngày 12/7/2016, Trung Quốc tiếp tục đặt câu hỏi về tính hợp pháp của thủ tục trọng tài cũng như tính hợp lệ của phán quyết PCA. Cùng với đó, Trung Quốc tiếp tục mở rộng và củng cố quyền kiểm soát tại các khu vực trọng yếu trên Biển Đông. Hành vi của Trung Quốc đã vi phạm luật pháp quốc tế và phán quyết của Tòa Trọng tài, bị thế giới lên án mạnh mẽ.

Trái ngược với quan điểm của Trung Quốc, phán quyết của Tòa Trọng tài hoàn toàn hợp pháp và có giá trị quốc tế sâu rộng cả trong lĩnh vực pháp lý và chính trị bên trong cũng như bên ngoài hệ thống Công ước quốc tế về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS). Theo Giáo sư, Tiến sỹ Suzette Suarez, phán quyết của Tòa Trọng tài đã khẳng định “đường 9 đoạn” do Trung Quốc tự tạo ra hoàn toàn không dựa trên cơ sở pháp lý nào; cơ sở pháp lý hợp pháp của các quyền hàng hải ở Biển Đông phải là UNCLOS.

Giáo sư, Tiến sỹ Suzette Suarez cho rằng phán quyết của Tòa Trọng tài năm 2016 có vai trò hết sức quan trọng trong việc phân định các giới hạn bên ngoài của thềm lục địa ở Biển Đông. Việc phân định các giới hạn của thềm lục địa là một thủ tục ràng buộc và bắt buộc trong UNCLOS. Hiện đã có 4 đệ trình từ Malaysia và Việt Nam cho các khu vực thềm lục địa mở rộng ở Biển Đông. Trung Quốc đã phản đối tất cả các đệ trình này. Đối với 2 đệ trình đưa ra trước khi phán quyết của Tòa Trọng tài được ban hành, Bắc Kinh đã phản đối và lấy dẫn chứng “đường 9 đoạn” để chứng minh, thậm chí nước này còn đính kèm bản đồ “đường 9 đoạn”. Tuy nhiên, năm 2019 khi phản đối Malaysia đệ trình hồ sơ các khu vực thềm lục địa mở rộng ở Biển Đông, Trung Quốc đã không còn đề cập đến “đường 9 đoạn” và bản đồ mô tả đường này. Việc Trung Quốc không còn đề cập đến “đường 9 đoạn” chỉ có thể giải thích là do tác động từ phán quyết của Tòa Trọng tài PCA.

Đồng quan điểm với chuyên gia Suzette Suarez, Giáo sư, Tiến sỹ Thomas Engelbert cho rằng phán quyết PCA dựa trên các quy định của UNCLOS, có hiệu lực pháp lý rộng rãi. Phán quyết này bác bỏ các tuyên bố chủ quyền phi lý của Trung Quốc đối với hầu như toàn bộ Biển Đông. Trung Quốc bác bỏ phán quyết nhưng đề xuất tiến hành các cuộc đàm phán mới với ASEAN về bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC).

Đến nay, các cuộc đàm phán này hầu như không đạt tiến triển nào do các bên không thống nhất được quan điểm. Mặc dù vậy, Bắc Kinh đã áp đặt ý chí và cách giải thích của mình trên thực địa. Năm 2020, Trung Quốc đã thành lập hai quận mới là Tây Sa và Nam Sa thuộc tỉnh Hải Nam. Hành động này vi phạm nghiêm trọng phán quyết PCA năm 2016 và đi ngược lại tinh thần của Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông. Nó cho thấy Trung Quốc vẫn luôn nỗ lực để giành chiến thắng tuyệt đối trong cuộc xung đột với các bên liên quan nhằm thực hiện mưu đồ độc chiếm Biển Đông.

Theo Giáo sư, Tiến sỹ Thomas Engelbert, thế giới cần lên án mạnh mẽ hơn nữa hành động vi phạm luật pháp quốc tế của Trung Quốc.

east-sea.de

 

Loading

Views: 0

Đức nhắc TQ về phán quyết Biển Đông

Trong cuộc họp trực tuyến với Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Ngụy Phượng Hòa, Bộ trưởng Quốc phòng Đức Annegret Kramp-Karrenbauer đề cập tới phán quyết về Biển Đông năm 2016.

Hãng tin Reuters ngày 6-7, dẫn thông cáo từ Bộ Quốc phòng Đức, cho hay Bộ trưởng Quốc phòng Kramp-Karrenbauer đã thảo luận tình hình Biển Đông với Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc.

Phía Đức theo đó bàn về việc Đức triển khai tàu chiến tới Biển Đông trong năm nay. Ngoài ra, bà Kramp-Karrenbauer cũng nhắc ông Ngụy Phượng Hòa về tầm quan trọng của việc tuân thủ phán quyết của tòa án quốc tế năm 2016.

Phán quyết năm 2016 là kết quả vụ Philippines kiện tuyên bố chủ quyền “đường lưỡi bò” (hay “đường chín đoạn”) của Trung Quốc ở Biển Đông. Tới nay Bắc Kinh được cho vẫn ngó lơ phán quyết này.

Như thông tin trên Tuổi Trẻ Online trước đó, vào hôm 2-3 năm nay, một số quan chức Đức đã xác nhận việc điều một tàu hộ vệ tên lửa tới châu Á trong tháng 8.

Được biết hành trình của khinh hạm này sẽ đi ngang Biển Đông (trên đường về), và đặc biệt đây là lần đầu tiên một tàu chiến Đức đi qua Biển Đông sau gần 20 năm, kể từ 2002.

Các thông tin liên quan cho thấy tàu Đức sẽ không đi qua khu vực 12 hải lý tính từ các thực thể tranh chấp ở Biển Đông. Tuy vậy, động thái của Berlin vẫn được phía Mỹ ca ngợi, còn Trung Quốc lên tiếng cảnh báo.

Trong một cuộc họp báo một ngày sau đó, phát ngôn viên của Bộ Ngoại giao Trung Quốc Vương Văn Bân nhấn mạnh mọi quốc gia đều có quyền tự do đi lại trên biển và bay qua không phận ở Biển Đông, nhưng điều này không nên được dùng như cái cớ đe dọa chủ quyền, an ninh quốc gia của các nước ven biển.

Năm nay, Đức chỉ là một trong số nhiều nước châu Âu quyết định đưa tàu chiến tới Biển Đông.

Đơn cử vào tháng 3, tàu hộ vệ trinh sát Prairial (Pháp) đã có chuyến thăm cảng Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa.

Trao đổi với Tuổi Trẻ Online, đại sứ Pháp tại Việt Nam Nicolas Warnery cho biết chuyến thăm ở cảng Cam Ranh “là sự kiện rất quan trọng của Pháp tại Việt Nam trong năm nay”, cũng là thông điệp ủng hộ tự do hàng hải và hàng không của Pháp ở Biển Đông cũng như khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương.

Trước Prairial, Pháp cũng đã điều tàu đổ bộ Tonnere và tàu hộ tống Surcouf để bắt đầu nhiệm vụ ba tháng ở khu vực Thái Bình Dương, nơi họ hai lần đi qua Biển Đông và tham gia tập trận với Mỹ và Nhật Bản trong tháng 5.

Trước đó, tàu ngầm tấn công hạt nhân SNA Emeraude và tàu hỗ trợ BSAM Seine của Pháp đã thực hiện cuộc tuần tra ở Biển Đông.

Cuối tháng 2, Bộ Quốc phòng Anh cho biết tàu sân bay HMS Queen Elizabeth của hải quân nước này sẽ tới Đông Nam Á trong thời gian từ tháng 4 tới tháng 6 năm nay. Tờ Financial Review của Úc tiết lộ nước này sẽ tham gia cuộc tập trận với HMS Queen Elizabeth, cùng hải quân các nước như Mỹ, Nhật Bản và Hà Lan.

Hồi tháng 1 năm nay, khu trục hạm Winnipeg của Canada cũng đi qua eo biển Đài Loan nhằm nhấn mạnh “khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do – rộng mở”.

BDN

Loading

Views: 0

Cuộc tập trận Pacific Vanguard của 5 nước ở khu vực Thái Bình Dương

Mỹ đang dẫn đầu cuộc tập trận có tên Pacific Vanguard diễn ra ở khu vực Thái Bình Dương với sự tham gia của hải quân Hàn Quốc, Nhật Bản và Australia.

Yonhap dẫn nguồn tin Bộ Quốc phòng Hàn Quốc cho hay, hôm 5/7, hải quân của Hàn Quốc, Mỹ, Nhật Bản và Australia bắt đầu cuộc tập trận hàng hải có tên Pacific Vanguard ngoài khơi bờ biển phía đông của Australia. Cuộc tập trận này sẽ kéo dài đến ngày 10/7.

Cũng theo nguồn tin Yonhap, cuộc tập trận này do hải quân Mỹ dẫn đầu, nhằm tăng cường trao đổi, nâng cao kỹ năng phối hợp tác chiến trên biển giữa hải quân các nước. Cuộc tập trận sẽ diễn ra nhiều hoạt động khác nhau, trong đó có hoạt động chống tàu ngầm, mô phỏng quá trình tác chiến…

Hải quân Hàn Quốc đã điều động tàu khu trục lớp Wang Geon (4.400 tấn) được trang bị 1 trực thăng tác chiến trên biển Lynx, 3 tàu tuần tra cao tốc, cùng thủy thủ đoàn hơn 200 người tham gia tập trận này.

Bên cạnh đó, về phía Mỹ, tham dự tập trận là tàu khu trục lớp Arleigh Burke. Trong khi đó, Lực lượng phòng vệ trên biển của Nhật Bản cử tàu khu trục lớp Takanami tham gia.

Đây là cuộc tập trận được tổ chức thường niên giữa lực lượng hải quân các nước. Hải quân Hàn Quốc bắt đầu tham gia từ năm 2019. Hải quân Hàn Quốc cho biết, cuộc tập trận “Pacific Vanguard” không nhắm tới một quốc gia nào cụ thể.

Cuộc tập trận này diễn ra trong bối cảnh căng thẳng giữa Trung Quốc với Mỹ ngày càng gia tăng. Chính quyền Tổng thống Joe Biden đang nỗ lực lôi kéo đồng minh tham gia liên minh đối phó, ngăn chặn ảnh hưởng cũng như sự bành trướng của Bắc Kinh ở khu vực.

Ngoài ra, quan chức quốc phòng Hàn Quốc cũng cho biết, hải quân nước này có kế hoạch tham gia cuộc tập trận hải quân quy mô lớn Talisman Sabre vào cuối tháng này, với sự tham gia của Mỹ, Australia, Anh, Nhật Bản, Canada và New Zealand.

BDN

Loading

Views: 0