Hiện vẫn chưa rõ tác động mà biến thể Omicron gây ra nhưng nỗi sợ hãi đã bao trùm tại nhiều nơi trên thế giới với những hạn chế được tái áp đặt.
Đại dịch COVID-19 đã khiến thế giới chán nản và mệt mỏi trong nhiều năm.
Một bức tranh gần đây trên nhật báo Le Monde của Pháp đã vẽ hình ảnh một người đàn ông ốm yếu đến phòng khám gặp bác sĩ để được tiêm vaccine ngừa COVID-19. Trong bức tranh, người đàn ông nói: “Tôi đến để tiêm mũi vaccine thứ 5 do làn sóng dịch COVID-19 thứ 3. Hoặc ngược lại”.
Sự hoang mang của người đàn ông trong tranh khi Pháp hứng chịu đợt đại dịch COVID-19 thứ 5, với các ca nhiễm biến thể Delta tăng mạnh cùng với sự lo lắng của biến thể Omicron, khiến sự kiệt quệ và phẫn nộ gia tăng ở khắp nơi trên thế giới sau 2 năm từ khi virus lần đầu lây lan.
Số lượng giường bệnh giờ không chắc chắn. Sự hoảng sợ đã lan rộng khắp thế giới ngay cả khi mức độ nghiêm trọng của biến thể Omicron chưa được xác định. Các quốc gia có những phản ứng khác nhau và không theo một logic rõ ràng nào. Tình trạng trầm cảm gia tăng. Cô đơn và sự mệt mỏi cũng vậy. Điều này càng khiến người ta kiệt quệ hơn khi nghĩ rằng kỷ nguyên COVID-19 sẽ có kéo dài trong nhiều năm.
Sự chán nản và mệt mỏi
Ngay cả ở Trung Quốc, dù số ca mắc mới được giữ ở mức độ thấp và không còn ca tử vong trong nhiều tháng, một số người thú nhận rằng họ mệt mỏi với các biện pháp hạn chế.
Chen Jun, 29 tuổi, một công nhân công ty công nghệ ở thành phố Thâm Quyến, miền Nam Trung Quốc, chia sẻ: “Tôi thật sự rất mệt với những lộ trình này. Tôi bắt đầu nghĩ rằng có thể đại dịch sẽ không bao giờ kết thúc”.
Anh Chen cho biết anh đã phải xét nghiệm COVID-19 ba lần liền hồi tháng 6 vì một ổ dịch bùng phát trong thành phố. Sau đó, anh phải tiếp tục tự cách ly trong 14 ngày và đã từ rất lâu không còn nghĩ tới việc đi du lịch thế giới.
New York Times đã thực hiện khoảng 20 cuộc phỏng vấn với người dân ở nhiều nơi và nhận định cảm giác mệt mỏi và các vấn đề tâm lý là chủ đề chung được người ở châu Á, châu Âu, châu Phi và châu Mỹ. Sau 2 năm áp dụng hàng loạt các biện pháp phòng dịch, nới lỏng rồi lại tái áp đặt, khả năng phục hồi của con người đã giảm dần.
Điều này sẽ trở thành rào cản đối với các nhà lãnh đạo thế giới, những người đang tìm cách bảo vệ cả người dân và nền kinh tế đất nước họ.
Liệu sự kiệt quệ này sẽ có những giới hạn mới, khả năng được gặp lại gia đình và bạn bè sau nhiều tháng giãn cách có thể xảy ra? Câu hỏi về việc các nhà lãnh đạo hà khắc có thể ra sao khi sức khỏe tinh thần của mọi người trở nên quá yếu khi đại dịch chuẩn bị bước vào năm thứ ba.
Natalia Shishkova, một giáo viên ở Moscow (Nga), tâm sự: “Tôi biết nó sẽ chỉ trở nên tồi tệ hơn, nó sẽ không dừng lại, đại dịch sẽ chỉ khiến mọi thứ trong cuộc sống của bạn trở nên trầm trọng hơn. ất cả chỉ là sự hỗn loạn, giống như một bộ phim giả tưởng. Bạn xem tất cả những bộ phim về ngày tận thế này và nhận ra rằng các nhà văn thật sự là những nhà tiên tri”.
Đã có nhiều tiến bộ trong cuộc chiến chống lại virus. Một năm trước đây, chỉ mới một vài quốc gia bắt đầu triển khai kế hoạch tiêm vaccine ngừa COVID-19. Hiện nay, khoảng 47% dân số thế giới đã được tiêm chủng đầy đủ. Điều này góp phần giúp giảm bớt gánh nặng cho hệ thống y tế, dù số ca mắc mới vẫn tăng nhưng nguy cơ mắc bệnh nặng và tử vong sẽ được duy trì ở mức độ thấp. Dù vậy, cuộc sống vẫn khó có thể được đặt trong tầm kiểm soát.
Đại dịch khiến kỳ nghỉ lễ trong tháng này trở nên không chắc chắn. Đôi khi, dịch bệnh còn nằm ngoài tầm hiểu biết của con người. Làm thế nào để đánh giá sự sụp đổ thông qua số liệu thống kê, ý kiến, cảnh báo, đóng cửa, mở cửa trở lại? Làm gì trước sự bất bình đẳng rõ rệt trong phân phối vaccine? Làm thế nào để tránh ánh nhìn của người ta khỏi những chiếc khẩu trang bỏ đi vẫn còn rải rác trên đường phố, những mảnh vụn lâu năm của đại dịch?
Không biết khi nào đại dịch kết thúc
Cuộc sống hiện nay như một chu kỳ với những lộ trình đều đặn: Họ mở cửa trường học đón học sinh sau một thời gian dài tạm nghỉ để phòng dịch. Nhưng một thời gian sau, các trường học lại phải đóng cửa vì một làn sóng dịch mới. Hạn chế di chuyển được nới lỏng nhưng rồi lại có thêm những hạn chế mới. Tình trạng đau ốm vì COVID-19 giảm nhưng lại bắt đầu những nỗi lo về triệu chứng COVID-19 kéo dài. Và hiện nay, đã có những dấu hiệu cho thấy những người đã khỏi COVID-19 vẫn có nguy cơ tái mắc bệnh với sự xuất hiện của biến thể Omicron.
Tại phòng thí nghiệm ở Paris (Pháp), nhà dịch tễ học Maria Melchior cho biết các cuộc họp mặt trực tiếp vừa được nối lại thì tuần qua, bà đã phải quay lại làm việc trực tuyến qua Zoom. Bà Melchior nhận xét: “Chúng tôi không biết khi nào chúng ta mới có thể quay lại cuộc sống bình thường. Và ngay cả định nghĩa bình thường hiện nay là gì tôi cũng không rõ. Với tôi thì bình thường ít nhất là một cuộc sống không phải đeo khẩu trang khắp nơi”.
Ở Kenya, số ca mắc COVID-19 đã giảm rõ rệt từ tháng 10. Khi ấy, Tổng thống Kenya Uhuru Kenyatta đã gỡ bỏ các lệnh giới nghiêm. Cuộc sống tại Kenya đã phần nào phục hồi về dáng vẻ như thời trước đại dịch. Tuy nhiên, sự xuất hiện của biến thể Omicron ở châu Phi đã reo hồi chuông cảnh báo mới. Ngay từ trước khi Kenya xác nhận trường hợp mắc COVID-19, các lãnh đạo nước này đã công bố các quy định với người chưa tiêm vaccine và hạn chế mới trong mùa lễ.
Tình trạng này không chỉ xảy ra ở Kenya mà còn nhiều nơi trên thế giới. Corrie Mwende, một chuyên gia truyền thông ở Nairobi, cho biết cô ấy đã cảm thấy như “tự do quay trở lại” sau một thời gian dài. Tuy nhiên giờ đây, cô Mwenda nói rằng cô không còn chắc chắn về điều ấy.
Ngày 15/12/2021, một tàu chiến Đức đã đi vào Biển Đông lần đầu tiên sau gần 20 năm. Trong khi dư luận đánh giá sự kiện này là phản ứng của Đức trước những hành động hung hăng vô pháp của Trung Quốc, thì Trung Quốc lại nói Berlin làm thế để Bắc Kinh phải chú ý đến họ.
Ảnh. Khinh hạm Bayern của hải quân Đức
Phát ngôn ngạo mạn trên là từ nhân vật có máu mặt – ông Hồ Tích Tiến, Tổng biên tập Thời báo Hoàn Cầu – tờ báo có tiếng là “đầu gấu” trong làng truyền thông Trung Quốc. Trong phát ngôn của mình, ông Hồ Tích Tiến khoe rằng: “Cựu Đại sứ Đức tại Bắc Kinh Michael Clauss đã nhiều lần mời tôi ăn tối. Từ những lời phàn nàn của ông ấy, tôi cảm thấy rõ ràng rằng người dân Đức hy vọng Trung Quốc có thể chú ý đến châu Âu nhiều như họ dành cho Mỹ”.
Nói gần nói xa, chẳng qua nói thật. Hàm ý của ông Hồ Tích Tiến ở đây, là Trung Quốc trong thế thượng phong. Kêu gọi sự mặn mà bằng lời mà Bắc Kinh vẫn vô cảm nên Berlin bất đắc dĩ phải đem tàu chiến ra nói chuyện, để trả đũa việc Bắc Kinh chẳng thể làm ngơ hoặc coi thường, chứ xét về lý, Đức cơn cớ gì mà điều tàu chiến đến một khu vực họ không có tranh chấp nào về lợi ích hay chủ quyền?
Tuy nhiên, nhiều người đặt câu hỏi: sao ông Hồ Tích Tiến lại chỉ tiết lộ “bữa ăn tối” cùng những lời phàn nàn của ông đại sứ Đức, khi chiếc khinh hạm Bayern với thủy thủy đoàn 230 người, sau khi rời cảng Busan của Hàn Quốc, trong chặng cuối hành trình, đã đi vào Biển Đông ngày 15/12/2021, sau gần nửa năm trên biển?
“Điểm dừng chân tiếp theo của khinh hạm này sẽ là Singapore” trước Lễ Giáng sinh. Dự kiến, nó cũng sẽ thăm Việt Nam – một quốc gia thường xuyên bị Trung Quốc gây hấn, chèn ép do quyết liệt phản đổi yêu sách “đường 9 đoạn” của Trung Quốc trên Biển Đông – Thông tin từ phía Berlin cho biết. Trong phát ngôn, Berlin chẳng hề đề cập, càng không hề lấy làm tiếc nuối về việc không được ghé thăm cảng Thượng Hải như ý định ban đầu và đã có lời đề nghị với Bắc Kinh.
Và có lẽ, chính sự lạnh lùng đó khiến Bắc Kinh lấy làm chạnh lòng. Thâm ý của Bắc Kinh có lẽ là: khó dễ trước đề nghị của Berlin, nhưng một khi chịu nỉ non, người Đức vẫn có thể nhận được cái gật đầu của Trung Quốc như một sự “hạ cố” trước kẻ một đối tượng đã tỏ ra biết điều.
Nhưng Bắc Kinh đã không thể ngờ, sự kênh kiệu của mình đâm hỏng việc lớn: không những không hạ mình nỉ non, mặc cho Bắc Kinh xem xét, người Đức “nắn” lại hành trình, trong đó, họ bỏ qua luôn ý định ghé cảng Thượng Hải.
Không chỉ thế, trong trong lễ xuất phát của khinh hạm Bayern tại cảng Wilhelmshaven cuối tháng 7 năm nay, Bộ trưởng Quốc phòng Đức còn nhấn mạnh: “Chúng tôi muốn luật pháp hiện hành được tôn trọng, các tuyến đường biển có thể đi lại tự do, các xã hội cởi mở được bảo vệ và hoạt động thương mại phải tuân theo các quy tắc công bằng”. Và vị này hoàn toàn chẳng đếm xỉa tới cái gọi là “đề nghị ghé Thượng Hải” như phía Bắc Kinh rò rỉ với báo chí.
Trong hành trình trên biển những tháng qua, tàu chiến Bayern đã tham gia các cuộc tập trận với Mỹ, Australia, Singapore, Nhật Bản và Hàn Quốc, điều đó càng thể hiện ý nghĩa thông điệp cứng rắn mà Berlin muốn thể hiện qua việc điều chiếc khinh hạm hiện đại này tới Biển Đông. Về phía Bắc Kinh, như kẻ “có tật giật mình”, họ không thể không đoán ra, Berlin ám chỉ Trung Quốc chính là nước chà đạp lên các quy tắc công bằng trên biển.
Đã khó chịu về thông điệp người Đức ném ra qua vụ khinh hạm Bayern, Bắc Kinh càng cay cú hơn khi gần đây, tân Ngoại trưởng Đức Annalena Baerbock còn đe sẽ không loại trừ khả năng tẩy chay Thế vận hội mùa Đông ở Bắc Kinh. Thế nên, một lần nữa, họ lại sử dụng mồm miệng ông Hồ Tích Tiến với những bình luận ngạo mạn trên, hy vọng gỡ lại thể diện của một “cường quốc đang lên” qua những thông tin thật khó xác minh liên quan đến các “bữa ăn tối” của ông tổng biên tập này với ngài cựu đại sứ Đức từ hồi nảo hồi nào.
Công nghiệp quốc phòng nước ta đã tiến bộ vượt bậc, sản xuất được nhiều loại vũ khí “Made in Vietnam”, có chất lượng cao, cạnh tranh được với các sản phẩm nước ngoài.
Các hệ thống vũ khí – khí tài hiện đại do ngành công nghiệp quốc phòng Việt Nam tự sản xuất, cải tiến, trưng bày trong khuôn khổ Hội nghị quân chính toàn quân năm 2019.
Việt Nam tổ chức triển lãm quốc phòng giữa mùa dịch
Từ ngày 14-17/12/2021, Bộ Quốc phòng đã chủ trì, phối hợp với các bộ ngành liên quan để tổ chức Hội chợ – triển lãm quốc phòng VIDEX 2021 với chủ đề “Kinh tế-quốc phòng trong kỷ nguyên công nghệ số”.
Tham gia VIDEX 2021 có hơn 100 doanh nghiệp trong nước và quốc tế, trưng bày nhiều thành tựu tiêu biểu về khoa học công nghệ quân sự, kinh tế kết hợp với quốc phòng của nhiều đơn vị kinh tế trong quân đội.
Ngoài ra, VIDEX 2021 còn là nơi diễn ra các cuộc hội thảo, hoạt động giao thương, kết nối cung-cầu, trình diễn các sản phẩm công nghệ.
Đáng chú ý, VIDEX 2021 là lần đầu tiên một triển lãm quốc phòng Việt Nam được tổ chức trên không gian mạng do tình hình bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp.
Vũ khí “Made in Vietnam”: Tỏa đi khắp thế giới
Trong những năm gần đây, Việt Nam rất tích cực tổ chức các triển lãm quốc phòng với sự tham gia của nhiều đơn vị trong nước, cũng như các nhà thầu quân sự nước ngoài.
Dù gặp muôn vàn khó khăn do đại dịch Covid-19, song Bộ Quốc phòng đã nỗ lực cao nhất để thực hiện triển lãm quốc phòng.
Trước triển lãm online VIDEX 2021, Việt Nam đã chớp thời cơ dịp đăng cai tổ chức hai nội dung của Army Games 2021 trong khuôn khổ Hội thao quân sự quốc tế, để giới thiệu hơn 200 loại vũ khí “Made in Vietnam” hiện đại tới các đoàn quan chức, vận động viên và bạn bè quốc tế ngay tại Hà Nội.
Một phần đáng kể trong số đó là sản phẩm mới của công nghiệp quốc phòng Việt Nam.
Những triển lãm quốc phòng được tổ chức trong thời gian vừa qua chính là minh chứng rõ ràng nhất cho sự phát triển của ngành công nghiệp quốc phòng nước ta. Nhờ những triển lãm quốc phòng, Việt Nam có được “lợi đơn, lợi kép”, cụ thể:
Thứ nhất, công nghiệp quốc phòng Việt Nam trong những năm qua đã tiến bộ vượt bậc, sản xuất được nhiều loại vũ khí, khí tài hiện đại, có chất lượng cao, cạnh tranh được với các sản phẩm nước ngoài.
Song song với việc trang bị cho lực lượng vũ trang nước nhà, chúng ta cần đẩy mạnh việc xuất khẩu các sản phẩm vũ khí, khí tài “Made in Vietnam”, tiêu biểu là các loại súng bộ binh, pháo cỡ nhỏ, thiết bị vô tuyến điện tử, radar phòng không, tàu xuồng tuần tra…
Việt Nam đã gặt hái những thành công bước đầu khi ký được một số hợp đồng xuất khẩu vũ khí, đóng tàu quân sự,… cho các bạn hàng quốc tế.
Việc mạnh dạn tổ chức và tham gia các triển lãm quốc phòng trong và ngoài nước là hết sức cần thiết.
Đó là những cơ hội quan trọng để giao lưu, kết nối với khách hàng nước ngoài, giới thiệu năng lực sản xuất vũ khí của Việt Nam, đặt tiền đề cho những hợp đồng xuất khẩu hoặc hợp tác nghiên cứu chế tạo, chuyển giao công nghệ trong tương lai.
Thứ hai, bên cạnh việc thu ngoại tệ từ xuất khẩu vũ khí, một lợi ích quan trọng từ các hợp đồng với nước ngoài, chính là việc duy trì sản xuất và sức sống cho các nhà máy quốc phòng trong nước.
“Muốn có hòa bình, phải chuẩn bị chiến tranh” (Si vis pacem, para bellum – ngạn ngữ Latin). Dù đang được hưởng hòa bình, Việt Nam vẫn cần dự trữ khả năng sản xuất vũ khí với qui mô lớn để chuẩn bị cho mọi tình huống xảy ra.
Vì vậy, trong thời bình, nước ta vẫn cần duy trì các dây chuyền sản xuất vũ khí ở mức độ nhất định, vẫn cần tổ chức các nhà máy, cơ sở công nghiệp quốc phòng với đội ngũ kĩ sư, công nhân có tay nghề cao.
Để tạo “công ăn việc làm” cho các nhà máy quốc phòng, bên cạnh việc sản xuất vũ khí trang bị cho quân đội, cần chú trọng kết hợp sản xuất lưỡng dụng quân sự – dân sự, cũng như đẩy mạnh xuất khẩu vũ khí ra nước ngoài.
Thứ ba, các triển lãm cũng giúp tăng cường danh tiếng, uy tín của ngành công nghiệp quốc phòng Việt Nam nói riêng và sức mạnh của Quân đội nhân dân Việt Nam trên toàn thế giới.
Trong hoạt động đối ngoại, có nhiều hình thức để phô diễn năng lực quân sự của quốc gia, như diễu binh, duyệt binh, tập trận (có và không có bắn đạn thật), triển lãm quốc phòng … Mỗi hình thức kể trên đều có những ưu điểm và hạn chế nhất định, cần vận dụng tùy theo hoàn cảnh.
Đối với điều kiện của Việt Nam hiện nay, việc tổ chức các triển lãm quốc phòng chính là một cách phù hợp để “khoe” năng lực và sự tiến bộ vượt bậc của ngành công nghiệp quốc phòng, nhấn mạnh khả năng tự lực sản xuất vũ khí để bảo vệ Tổ quốc.
Các triển lãm quốc phòng cũng chứng tỏ năng lực của Việt Nam, đủ khả năng trở thành một đối tác quan trọng về quân sự – quốc phòng của bạn bè quốc tế.
Thứ tư, ở chiều ngược lại, các triển lãm quốc phòng cũng là cơ hội để các bạn hàng nước ngoài đến với Việt Nam, giới thiệu những tinh hoa của công nghiệp quốc phòng thế giới nhằm giúp chúng ta có thể lựa chọn được loại vũ khí, khí tài ưng ý, phù hợp với nghệ thuật tác chiến để mua sắm hoặc nhận chuyển giao công nghệ sản xuất ngay trong nước.
Cho rằng Trung Quốc đang phát triển “vũ khí điều khiển bộ não”, Mỹ đã thẳng tay trừng phạt các cơ quan nghiên cứu Trung Quốc trong lĩnh vực công nghệ sinh học.
Viện Khoa học Quân y Trung Quốc cùng 11 cơ quan nghiên cứu khác bị Bộ Thương mại Mỹ trừng phạt vì phát triển vũ khí điều khiển não.
Ngày 16/12, theo giờ địa phương, Cục An ninh Công nghiệp (BIS) của Bộ Thương mại Mỹ đã đưa ra phán quyết cuối cùng, đưa 25 thực thể Trung Quốc trong đó có Học viện Khoa học Quân y và 11 công ty công nghệ sinh học Trung Quốc vào “Entity List” (Danh sách thực thể), cho rằng Trung Quốc đang sử dụng công nghệ sinh học mới nổi để phát triển các ứng dụng quân sự trong tương lai; trong đó bao gồm “chỉnh sửa gen, nâng cao tính năng của cơ thể người và kết nối máy tính với não người.”
Theo báo Mỹ Washington Post ngày 17/12, trong đợt trừng phạt do Cục An ninh Công nghiệp (BIS) thuộc Bộ Thương mại Mỹ công bố ngày 16/12, có tổng cộng 37 thực thể được đưa vào danh sách “vi phạm chính sách đối ngoại và lợi ích an ninh quốc gia của Mỹ”. Theo quy định của chính phủ Mỹ, không ai có thể xuất khẩu công nghệ Mỹ cho các thực thể có tên trong danh sách nếu không có giấy phép xuất khẩu của chính phủ Mỹ.
Washington Post cho biết lý do của lệnh trừng phạt của Mỹ đối với Học viện Khoa học Quân y Trung Quốc và 11 cơ quan nghiên cứu khoa học khác là do họ đang phát triển “vũ khí điều khiển não bộ” (brain-control weaponry). Các quan chức cấp cao của Mỹ tuyên bố rằng Trung Quốc đang sử dụng công nghệ sinh học mới nổi để phát triển các ứng dụng quân sự trong tương lai, bao gồm “chỉnh sửa gen, nâng cao hiệu suất của con người và kết nối máy tính với não người.”
Michael Orlando, người đứng đầu Trung tâm Phản gián và An ninh Quốc gia Hoa Kỳ (NCSC), trước đó tuyên bố rằng Mỹ đã cảnh báo các công ty của họ rằng Trung Quốc đang lấy cắp công nghệ của Mỹ trong 5 lĩnh vực then chốt, trong đó có công nghệ sinh học.
Trong một tuyên bố đưa ra ngày 16/12, Bộ trưởng Thương mại Gina Raimondo một lần nữa chỉ trích Trung Quốc về các vấn đề liên quan đến Tân Cương. Bà cho rằng “Trung Quốc đang sử dụng những công nghệ này để tìm kiếm kiểm soát người dân và đàn áp các nhóm sắc tộc và tôn giáo”, “không thể cho phép các hàng hóa, công nghệ và phần mềm hỗ trợ đổi mới khoa học y tế và công nghệ sinh học được phép chuyển dùng cho các mục đích đi ngược với an ninh quốc gia của Mỹ.”
Ngoài ra, cùng ngày 16/12, Bộ Tài chính Mỹ tuyên bố xác định 8 công ty công nghệ Trung Quốc trong đó có hãng sản xuất máy bay không người lái DJI là “tổ hợp công nghiệp quân sự” của Trung Quốc, đồng thời cho rằng 8 công ty này đang tiến hành “theo dõi và giám sát sinh trắc học” ở khu tự trị Tân Cương. 8 công ty này trước đây đã được liệt kê trong “Danh sách thực thể” của Bộ Thương mại. Theo đó, không người Mỹ nào được phép bán hoặc mua cổ phiếu niêm yết công khai và chứng khoán phái sinh của các công ty này.
Trên thực tế, đây là lần thứ hai Mỹ đưa DJI và 7 công ty công nghệ khác vào “Danh sách thực thể” vì lý do tương tự. Trước đó, trước những cáo buộc của Mỹ, Công ty DJI đã tuyên bố trong phản hồi vào năm 2020 rằng họ thất vọng với quyết định của Bộ Thương mại Mỹ, khách hàng Mỹ có thể tiếp tục mua và sử dụng các sản phẩm của DJI như bình thường.
Điều đáng chú ý là cùng ngày, Thượng viện Mỹ đã thông qua “Đạo luật ngăn chặn cưỡng bức lao động người Duy Ngô Nhĩ”, sau đó sẽ được gửi tới Tổng thống Joe Biden để ký thành luật. Dự luật này sẽ cấm hoàn toàn Mỹ nhập khẩu tất cả các sản phẩm từ Tân Cương.
Về việc Mỹ đưa 25 thực thể của Trung Quốc bao gồm Viện Khoa học Quân y vào “Danh sách thực thể”, ông Lưu Bằng Vũ (Liu Pengyu), người phát ngôn của Đại sứ quán Trung Quốc tại Mỹ, đã gửi thư tới ban biên tập của báo Washington Post: “Trung Quốc luôn phản đối Mỹ quá mở rộng khái niệm An ninh Quốc gia để tiến hành đàn áp vô cớ các công ty và cơ quan nghiên cứu Trung Quốc. Sự thật về vấn đề Tân Cương là rất rõ ràng. Sự phát triển công nghệ sinh học của Trung Quốc luôn vì lợi ích của nhân loại.”
Ông Lưu Bằng Vũ nói, các biện pháp quản chế xuất khẩu của chính quyền Biden đối với các thực thể Trung Quốc “vi phạm nghiêm trọng các quy tắc thương mại tự do, đe dọa nghiêm trọng đến sự an toàn của các ngành công nghiệp và chuỗi cung ứng toàn cầu, cản trở sự phát triển của khoa học và công nghệ của nhân loại, và gây tổn hại nghiêm trọng hạnh phúc và lợi ích của nhân dân các nước, trong đó có Mỹ.”
Phía Trung Quốc đã nhiều lần nêu quan điểm kiên quyết phản đối việc Quốc hội Mỹ sử dụng các vấn đề liên quan đến Tân Cương để can thiệp vào công việc nội bộ của Trung Quốc. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Triệu Lập Kiên hôm 15/12 tuyên bố “một số chính trị gia Mỹ liên tục sử dụng các vấn đề liên quan đến Tân Cương để bịa đặt gây chuyện. Đây là mượn chiêu bài nhân quyền để thao túng chính trị và độc chiếm kinh tế, mưu đồ ‘dùng Tân Cương kiềm chế Trung Quốc’, kìm hãm Trung Quốc phát triển, âm mưu thâm độc của họ sẽ không bao giờ thành công, sẽ chỉ làm sụp đổ thêm uy tín và hình ảnh của chính phủ và Quốc hội Mỹ ở Trung Quốc. Quyết tâm bảo vệ an ninh quốc gia và các lợi ích phát triển của Trung Quốc là kiên định không đổi. Nếu Mỹ cứ thúc đẩy dự luật liên quan, Trung Quốc chắc chắn sẽ đáp trả.
Được biết, ngoài các cơ quan nghiên cứu công nghệ y sinh, bị đưa vào “danh sách thực thể” của Bộ Thương mại Mỹ còn có thêm Công ty TNHH Công nghệ Hoa Hải Trí Hối (Huahai), Công nghệ cáp quang Giang Tô Hengtong, Công ty Cáp tàu ngầm cao thế Giang Tô Hengtong…và các công ty Trung Quốc khác. Phía Mỹ cáo buộc họ đã mua lại hoặc có ý định để có được công nghệ của Mỹ để hỗ trợ xây dựng quân đội Trung Quốc. Các công ty nằm trong danh sách đen sẽ có ngưỡng mua công nghệ Mỹ cao hơn đáng kể trong tương lai. Các nhà cung cấp Mỹ phải được phép của Bộ Thương mại Mỹ mới có thể tiến hành giao dịch với họ.
Biển Đông trong năm 2021 là một bức tranh với những gam màu sáng tối đan xen. Trên thực địa, tình hình tiếp tục căng thẳng, tiềm ẩn nhiều nhân tố dẫn tới xung đột trên biển và trên không.
Phiên khai mạc Hội thảo quốc tế về Biển Đông “Nhìn lại quá khứ vì một tương lai tươi sáng hơn”, ngày 18/11/2021 tại điểm cầu Hà Nội. (Ảnh: Tuấn Anh)
Hành động đơn phương, sử dụng lực lượng chấp pháp vượt quá thẩm quyền, thậm chí sử dụng số lượng lớn tàu cá được trang bị vũ trang để duy trì hiện diện, tạo nguyên trạng mới, đồng thời, cản trở, can thiệp vào các hoạt động thăm dò, khai thác và quản lý tài nguyên của các quốc gia ven biển đang ngày càng mở rộng về phạm vi và tần suất gây quan ngại và xói mòn lòng tin giữa các bên.
Sự hiện diện với mật độ cao, quy mô lớn của các lực lượng hải quân không chỉ là biểu hiện của cạnh tranh sức mạnh quân sự mà còn tiềm ẩn rủi ro, sơ suất dẫn tới đối đầu.
Đặc biệt, sự gia tăng đột biến các hoạt động tập trận trên biển và trên không của các nước lớn đang làm lo ngại về nguy cơ chạy đua vũ trang và quân sự hoá, khiến Biển Đông không chỉ là không gian biểu dương sức mạnh quân sự giữa các nước lớn, mà còn tiềm ẩn là điểm nóng xung đột của thế giới.
Xu hướng hợp tác
Bên cạnh những diễn biến căng thẳng, xu hướng hợp tác đã có dấu hiệu khởi sắc. Sau 14 năm gián đoạn, Việt Nam và Philippines đã nối lại thỏa thuận khảo sát nghiên cứu khoa học biển. Malaysia và Brunei đạt được thỏa thuận hợp tác về dầu khí trong khu vực dàn xếp thương mại trên biển giữa hai nước.
Trong khu vực, nhiều diễn đàn được tổ chức nhằm bàn thảo về các khía cạnh hợp tác biển, trong đó, có hợp tác bảo vệ môi trường biển, chống các tác động tiêu cực từ biến đổi khí hậu, khôi phục kết nối trên biển và phát triển kinh tế biển xanh.
Trên mặt trận chính trị, ngoại giao, mặc dù còn những tuyên bố đơn phương làm phức tạp hóa tranh chấp, năm 2021 chứng kiến những chuyển động tích cực cả trong và ngoài khu vực. Các quốc gia, tổ chức có lợi ích liên quan như EU, Anh, Pháp, Hà Lan, Ấn Độ… đồng loạt công bố chiến lược Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, trong đó nhấn mạnh lợi ích và cam kết đóng góp cho hợp tác duy trì ổn định trên không gian biển, kể cả sẽ tăng cường hiện diện tại khu vực Biển Đông nhằm củng cố và bảo vệ trật tự trên biển dựa trên luật pháp quốc tế.
ASEAN và các diễn đàn ASEAN chủ trì đã tìm được tiếng nói chung khi khẳng định quan ngại với các diễn biến trên thực địa, khẳng định vai trò thống nhất và phổ quát của UNCLOS trong việc xác lập các yêu sách biển và kêu gọi các bên hợp tác xây dựng lòng tin, nhấn mạnh sự cần thiết của việc thực hiện Tuyên bố về các Quy tắc ứng xử tại Biển Đông (DOC) và thúc đẩy đàm phán Bộ Quy tắc ứng xử tại Biển Đông (COC). ASEAN cũng thành công trong việc ra Tuyên bố về Kinh tế biển xanh và tăng cường hợp tác giữa các nước thành viên trên nhiều lĩnh vực.
Đặc biệt, sau một thời gian gián đoạn do tác động của Covid-19, quá trình đàm phán COC được tiếp tục với mục tiêu chung là hướng tới bộ quy tắc thực chất và hiệu quả.
Trên lĩnh vực pháp lý, mặc dù nhiều văn bản nội luật được ban hành với phạm vi điều chỉnh và phạm vi áp dụng mập mờ, trao thẩm quyền vượt quá phạm vi chức năng của các lực lượng chấp pháp, đặc biệt là việc cho phép sử dụng vũ lực để trấn áp các hoạt động trên biển gây quan ngại về việc sử dụng vũ lực để hậu thuẫn, năm 2021 chứng kiến xu hướng tiếp diễn từ năm 2020 với việc vấn đề Biển Đông tiếp tục được nêu tại Liên hợp quốc.
Nhật Bản và New Zealand đã gửi công hàm tới Ủy ban Ranh giới ngoài thềm lục địa của Liên hợp quốc bày tỏ một số lập trường pháp lý về Biển Đông. Nhật Bản phản bác việc áp dụng phương pháp đường cơ sở thẳng với Trường Sa và khẳng định tầm quan trọng của Phán quyết trọng tài Biển Đông trong việc đảm bảo duy trì tự do hàng hải, hàng không tại Biển Đông.
Trong khi đó, New Zealand khẳng định giá trị duy nhất của UNCLOS trong việc tạo ra cơ sở pháp lý cho các yêu sách biển, bác bỏ quyền lịch sử, cũng như việc áp dụng đường cơ sở thẳng với Trường Sa, phản bác việc yêu sách chủ quyền và yêu sách vùng biển với các thực thể chìm, đồng thời, khẳng định giá trị ràng buộc của Phán quyết trọng tài Biển Đông với các bên trong vụ kiện.
Tiếp theo Mỹ, Australia, Anh, Đức và Pháp, đây tiếp tục là những tiếng nói của cộng đồng quốc tế, thể hiện quan điểm pháp lý rõ ràng, đề cao giá trị phổ quát của UNCLOS và công nhận giá trị pháp lý của Phán quyết trọng tài Biển Đông.
Trên lĩnh vực truyền thông, việc ứng dụng công nghệ viễn thám đã mở ra khả năng minh bạch hóa các diễn biến trên thực địa, khiến cộng đồng quốc tế dễ dàng nhận thức được các hoạt động đang diễn ra trên không gian biển.
Tuy nhiên, công nghệ viễn thám cũng có thể bị lợi dụng, công bố những kết quả sai lệch theo ý chủ quan của con người. Bên cạnh đó, việc lồng ghép những yêu sách chủ quyền phi pháp vào ấn phẩm khoa học, hoạt động chuyên ngành của một số tổ chức quốc tế vẫn tiếp diễn, làm phức tạp và chính trị hóa hoạt động nghiên cứu khoa học.
Mọi sự phát triển hay diễn giải luật biển đều phải lấy UNCLOS làm trung tâm và không được trái với các quy định của Công ước. (Nguồn: UN)
Thông tin đa chiều
Tuy nhiên, điểm sáng trên lĩnh vực truyền thông là ngày càng có các diễn đàn mở, diễn đàn học thuật, công bố những thông tin, nghiên cứu khách quan, từ đó tạo ra hệ thống thông tin đa chiều, có thể kiểm chứng, làm tăng tính minh bạch và giảm thiểu sự kiểm soát, bóp méo thông tin về vấn đề Biển Đông. Sự tham gia của các kênh thông tin phi truyền thống góp phần làm cho thông tin trao đổi nhanh và thông suốt, từ đó, góp phần gia tăng nhận thức của giới học thuật và cộng đồng quốc tế quan tâm về vấn đề Biển Đông.
Những gam màu sáng tối đan xen trong bức tranh Biển Đông cho thấy, mặc dù năm 2021 không có xung đột lớn xảy ra, Biển Đông vẫn tiềm ẩn nhiều lớp sóng ngầm, bất cứ lúc nào cũng có thể bùng lên thành sự cố lớn.
Trong không gian chiến lược đang định hình với nhiều cấu trúc, liên kết an ninh mới hình thành đan xen ở phạm vi rộng lớn hơn tại Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, Biển Đông là tâm điểm, nơi chứng kiến cạnh tranh nước lớn diễn ra gay gắt nhất, đồng thời cũng là địa điểm thử nghiệm sự hình thành một trật tự quốc tế mới trên biển.
Xu hướng quân sự hóa, sử dụng sức mạnh cường quyền, hay xu hướng tự do, rộng mở, tôn trọng lợi ích của các nước vừa và nhỏ, dựa trên luật pháp quốc tế sẽ thắng thế và chiếm vị trí chủ đạo trong trật tự mới trên biển, không chỉ phụ thuộc vào vai trò trách nhiệm của các nước lớn mà còn cần nỗ lực chung của các nước vừa và nhỏ, đặc biệt là các nước trong khu vực, trong đó có Việt Nam.
Chiến hạm Đức hôm 15/12 tiến vào Biển Đông, đánh dấu lần đầu tiên sau gần 20 năm một tàu chiến của Đức đi vào khu vực này.
Một quan chức Bộ Quốc phòng Đức cho biết khinh hạm Bayern đã tiến vào Biển Đông. Con tàu dự kiến sẽ tới Singapore trong vài ngày tới.
Các quan chức Đức khẳng định Bayern sẽ di chuyển dọc tuyến hàng hải thương mại thông thường và không đi qua eo biển Đài Loan.
Chính phủ Đức trước đó từng khẳng định chuyến đi lần này của Bayern nhằm nhấn mạnh Berlin không chấp nhận yêu sách về chủ quyền của Trung Quốc.
Hải trình qua Biển Đông này của Bayern cũng đánh dấu lần đầu tiên một chiến hạm Đức di chuyển qua khu vực này kể từ năm 2002.
Hồi tháng 3, các quan chức trong Bộ Ngoại giao và Quốc phòng Đức nói thêm rằng con tàu sẽ không đi vào khu vực 12 hải lý (của các quốc gia ở Biển Đông).
Khinh hạm Bayern là một trong các tàu lớp Brandenburg của hải quân Đức, có thủy thủ đoàn 230 người. Nhiệm vụ chính của Bayern chủ yếu là chống ngầm nhưng cũng có khả năng tham gia phòng không và các hoạt động khác trong nhóm tàu.
Thông tin về chuyến đi của Bayern được công bố trong bối cảnh chính quyền Biden đang tìm cách xây dựng lại các liên minh của Mỹ nhằm đối phó với Trung Quốc trước các hành vi ngang ngược gia tăng của Bắc Kinh trên Biển Đông.
Hồi đầu năm, Pháp và Anh cũng lần lượt điều tàu chiến và hàng không mẫu hạm đi qua Biển Đông.
Đức, Anh, Pháp là ba quốc gia châu Âu gửi công hàm lên Liên hợp quốc hồi tháng 9/2020, phản bác các yêu sách phi lý của Trung Quốc ở Biển Đông.
Giới chuyên gia nhận định bước đi mới đây cho thấy ba nền kinh tế hàng đầu của Liên minh châu Âu (EU) cho rằng họ có lợi ích trong bảo vệ trật tự dựa trên luật lệ ở Biển Đông.
Để tranh ngôi bá chủ thế giới, Trung Quốc coi Biển Đông là vấn đề sống còn, là “bàn đạp” để tạo đà vươn lên. Tuy nhiên, muốn độc chiếm Biển Đông, Bắc Kinh phải sử dụng nhiều loại “vũ khí mềm”.
Các loại “vũ khí mềm” nhằm thực thi “chiến thuật vùng xám”. Chiến lược này được hiểu là hoạt động gây hấn, cưỡng chế, làm gia tăng căng thẳng, nhưng lại duy trì ở dưới ngưỡng xung đột quân sự thông thường. Lực lượng xung kích của “chiến thuật vùng xám” của Trung Quốc đến hiện tại chủ yếu là lực lượng dân quân biển, lực lượng hải cảnh, lực lượng tàu chiến được cải trang thành tàu đánh cá…
Liên tục biện minh cho những “mũi tiến công mềm”, Trung Quốc đẩy mạnh công tác truyền thông quốc tế, tiến hành hợp thức hóa bằng các quy định, quyết định hành chính của các cơ quan quản lý nhà nước. Mục tiêu cuối cùng mà “chiến thuật vùng xám” của Bắc Kinh hướng đến là, độc chiếm Biển Đông, dùng Biển Đông làm bàn đạp vươn lên tranh giành vị thế siêu cường quốc tế.
Không còn nghi ngờ gì nữa, “Chiến lượng vùng xám” làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của các quốc gia ven Biển Đông. Không những thế nó còn tác động tiêu cực đến môi trường hòa bình, an ninh, ổn định, hợp tác, phát triển của các nước trong khu vực.
Một câu hỏi không dễ trả lời, chiến thuật này của Trung Quốc ảnh hưởng như thế nào đến Việt Nam, cũng như các nước có liên quan ở Biển Đông? Giải pháp để vô hiệu hóa nó là gì?
Để bảo vệ và thực thi các quyền và lợi ích hợp pháp của Việt Nam ở Biển Đông, tích cực đóng góp vào sứ mệnh bảo vệ môi trường hòa bình, ổn định, an ninh, hợp tác, phát triển của khu vực, Việt Nam cần tăng cường sức mạnh của lực lượng thực thi pháp luật trên biển, như cảnh sát biển, lực lượng kiểm ngư, dân quân tự vệ biển. Việc tăng cường cần chú ý cả hai mặt số lượng và chất lượng. Không chỉ tăng quân số, trang thiết bị, mà còn coi trọng nâng cao trình độ chính trị, pháp lý, cách ứng xử khi tiến hành các hoạt động trên các vùng biển với những quy chế pháp lý khác nhau.
Hơn lúc nào hết, Việt Nam không bao giờ vì quá tin vào những lời hứa hẹn “giữ đại cục”, “tôn trọng luật pháp quốc tế”, “coi trọng tình hữu nghị”, “chớ để môi hở răng lạnh”… mà xao nhãng việc theo dõi, nắm bắt thông tin. Cần kịp thời phân tích, đánh giá mọi diễn biến để có phương án chủ động đấu tranh tại thực địa, cũng như trên mặt trận ngoại giao, pháp lý, truyền thông. Đặc biệt không để bị động trong ứng xử, tạo cớ để Trung Quốc thực hiện “Chiến thuật vùng xám”.
Muốn đi được lâu phải đi cùng nhau. Việt Nam cần tích cực hơn nữa trong việc đóng góp để xây dựng ASEAN trở thành nhân tố trung tâm trong xử lý các vấn đề Biển Đông. Điều này các nước trong khối đã chú trọng củng cố khối đoàn kết, xây dựng lòng tin chiến lược dựa trên sự tôn trọng luật pháp quốc tế.
Đúng như Ngoại trưởng Mỹ Antony Blinken trong chuyến thăm Indonesia – điểm dừng chân đầu tiên trong chuyến công du Đông Nam Á – hôm 14/2 đã chỉ trích hành động khiêu khích của Trung Quốc trên biển Đông. Ông đề nghị các nước ASEAN cần xích lại, hợp tác một cách thật sự, đừng quá sợ và đừng lệ thuộc vào cây gậy và củ cà rốt của Bắc Kinh.
Ông A. Blinken nói: “Các nước trong khu vực muốn Trung Quốc thay đổi hành vi. Chúng tôi cũng vậy. Đó là lí do chúng tôi quyết tâm bảo đảm tự do hàng hải ở biển Đông, nơi các hành vi hung hăng của Trung Quốc đe dọa dòng chảy thương mại trị giá hơn 3.000 tỉ USD/năm”. Ông còn tuyên bố rằng, Washington sẽ làm việc với các đồng minh, đối tác trong khu vực để “bảo vệ trật tự quốc tế dựa trên luật pháp”, đảm bảo một khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương “tự do và rộng mở”.
Vậy là cái “Chiến thuật vùng xám” của Trung quốc đã lộ bem, muốn duy trì dưới ngưỡng xung đột quân sự thông thường và luôn tạo cớ để đối phương nổ súng trước, nhưng cái “bài” này đã bị Mỹ bóc trần. Các nước ASEAN cũng thừa hiểu, nhưng dù sao họ vẫn cần thị trường khổng lồ và cần vaccines diệt Covid-19 của Trung Quốc. Trong bước đi ngắn hạn luôn chú ý đến dài hạn.
Cuộc đu dây giữa hai siêu cường vẫn tiếp diễn. Và để tranh giành ảnh hưởng, các ông ngoại trưởng Mỹ và Trung Quốc sẽ còn phải qua lại khu vực nóng bỏng này nhiều lần, cho đến khi nào “vùng xám”… đổi màu.
Suốt một thời gian dài nhiều nước Châu Âu đứng đầu là Đức, Anh đã bị Trung Quốc đánh lừa bằng tuyên bố vươn lên trong hòa bình.
Cựu thủ tướng Đức bà Angela Merkel
Gần một thế kỷ, Trung Quốc chậm phát triển vì tham vọng muốn vươn lên thật nhanh bằng chính sách đại nhảy vọt, cách mạng văn hóa. Trung Quốc lạc hậu về khoa học, công nghệ, đời sống nhân dân rất khó khăn. Khi bước vào cải cách mở cửa, Bắc Kinh nhận ra rằng nếu không mở cửa, không có sự đầu tư về khoa học, công nghệ và tài chính của các nước phát triển như Mỹ, Nhật, Anh, Đức, Pháp và các nước khác thì Trung Quốc không thể phát triển được. Không lệ thuộc vào chế độ, Đặng Tiểu Bình tuyên bố “mèo trắng, mèo đen miễn là bắt được chuột” và thành lập các đặc khu kinh tế với nhiều ưu đãi để thu hút đầu tư từ các nước. Với thị trường hơn một tỷ dân, Trung Quốc lập tức nhận được sự quan tâm của các nước. Doanh nghiệp nhiều nước đã nhanh chóng hối thúc các chính phủ cho phép họ đầu tư vào Trung Quốc. Lãnh đạo Trung Quốc thực hiện ngoại giao thân thiện, cam kết sẽ mở cửa thị trường, giành nhiều ưu đãi cho các doanh nghiệp nước ngoài. Đặc biệt, Bắc Kinh tỏ ra là chỉ giành ưu tiên cho phát triển kinh tế trong hòa bình.
Chỉ trong hai thập kỷ, các doanh nghiệp ở các nước như Mỹ, Nhật, Đức, Anh đã nhanh chóng đổ bộ vào Trung Quốc. Họ mang theo công nghệ và tài chính xây dựng các cơ sở sản xuất, thu hút nhiều lao động Trung Quốc. Trung Quốc đã được ví như công xưởng của thế giới.
Bên cạnh thu hút đầu tư, Trung Quốc còn đặc biệt quan tâm đến việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao. Hàng triệu học sinh Trung Quốc được nhà nước tạo điều kiện ra các nước học tập, nghiên cứu. Các nhà nghiên cứu của Trung Quốc cũng được tạo điều kiện để đến thực tập, nghiên cứu ở những cơ sở khoa học của các nước. Họ vừa học tập nghiên cứu vừa tìm cách đánh cắp khoa học công nghệ.
Trước thực trạng đó, nhiều nhà khoa học, nhà chính trị đã cảnh báo nguy cơ từ Trung Quốc. Nhưng lúc đó Đức và Anh là 2 nước có quan hệ kinh tế mạnh mẽ với Trung Quốc đã phớt lờ các cảnh báo, thậm chí còn cổ súy cho quan hệ với Trung Quốc.
Khi Trung Quốc trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới và đã có đủ nguồn lực để đe dọa thế giới cả về chính trị, kinh tế và quân sự và bộc lộ đầy đủ âm mưu thống trị thế giới thì các nước mới giật mình.
Suốt trong thời gian nắm quyền thủ tướng bà Merkel đã làm cho Trung Quốc trở thành đối tác thương mại lớn nhất của Đức. Tuy nhiên, Đức dần dần bị gia tăng sự phụ thuộc vào Trung Quốc.
Thật đáng buồn là chỉ đến khi rời ghế Thủ tướng Đức bà Angela Merkel mới thừa nhận với Returs là: “chúng tôi ban đầu có thể là quá ngây thơ trong cách tiếp cận với một số vấn đề hợp tác (với Trung Quốc). Giờ đây chúng tôi xem xét mọi thứ kỹ lưỡng hơn”.
Lời tuyên bố dù muộn màng nhưng cũng cảnh tỉnh thế giới trong quan hệ với Trung Quốc.
Ngày 10-12, Mỹ áp đặt các biện pháp trừng phạt liên quan đến vấn đề nhân quyền với hàng chục cá nhân và thực thể liên quan tới Trung Quốc, Myanmar, Triều Tiên và Bangladesh.
“Hành động của chúng tôi hôm nay (10-12), đặc biệt với những hành động hợp tác từ Vương quốc Anh và Canada, gửi đi một thông điệp rằng các nền dân chủ trên thế giới sẽ hành động chống lại những nước lạm dụng quyền lực nhà nước để gây đau khổ và đàn áp người dân”, Thứ trưởng Bộ Tài chính Mỹ Wally Adeyemo cho biết.
Theo Hãng tin Reuters, Vương quốc Anh và Canada đã tham gia cùng Mỹ trong việc áp đặt các biện pháp trừng phạt liên quan đến vấn đề nhân quyền tại Myanmar.
Bộ Tài chính Mỹ cho biết họ đã áp các biện pháp trừng phạt đối với 2 thực thể quân đội Myanmar, trong đó có Tổng cục Công nghiệp quốc phòng, và một tổ chức cung cấp các dịch vụ cho quân đội nước này, với cáo buộc liên quan đến hành vi giết hại dân thường.
Lần đầu tiên dưới thời chính quyền Tổng thống Joe Biden, Mỹ áp đặt các biện pháp trừng phạt đối với Triều Tiên.
Bộ Tài chính Mỹ cũng thêm công ty trí tuệ nhân tạo Trung Quốc SenseTime Group vào danh sách đen đầu tư, cáo buộc công ty này đã phát triển các chương trình nhận diện khuôn mặt nhắm đến người dân tộc thiểu số, đặc biệt là người Duy Ngô Nhĩ ở Tân Cương.
Các chuyên gia Liên Hiệp Quốc và các nhóm nhân quyền ước tính hơn 1 triệu người, chủ yếu là người Duy Ngô Nhĩ và người dân tộc thiểu số Hồi giáo khác, đã bị giam giữ trong nhiều năm gần đây tại hệ thống trại giam lớn của Trung Quốc ở vùng Tân Cương.
Trung Quốc đã bác bỏ các cáo buộc về nhân quyền ở Tân Cương.
Ngoài ra, Đơn vị Phản ứng nhanh chống ma túy của Bangladesh cũng bị cáo buộc “vi phạm nhân quyền” và đe dọa lợi ích an ninh quốc gia Mỹ.
Phái bộ Triều Tiên ở Liên Hiệp Quốc và các đại sứ quán của Trung Quốc, Myanmar và Bangladesh tại Washington vẫn chưa đưa ra bình luận gì về hành động nói trên của Mỹ.
“Vấn đề Đài Loan”càng lúc càng tăng nhiệt. Chưa biết khi nào mới đến hồi kết. Liệu Trung Quốc có dám tấn công hòn đảo này bằng vũ lực? Đổ máu trong thế kỷ này đương nhiên là một thảm họa không thể chấp nhận. Không chỉ có sự căng thẳng Bắc Kinh-Đài Bắc mà còn là thách thức lâu dài với Mỹ.
Mấy năm nay, nhà cầm quyền Bắc Kinh cho rằng, Đại lục có nhiều cơ hội để đánh úp Đài Loan, thu giang sơn về một mối. Điều này cần phải làm sớm, trước khi các khoản đầu tư quân sự của Mỹ phương Tây ùn ùn đổ vào và tăng sức mạnh cho Đài Bắc. Nếu dền dứ quá lâu, các khoản đầu tư quân sự của Mỹ gia tăng đáng kể sẽ biến Mỹ trở thành một đối thủ quân sự đáng gờm hơn nhiều.
Một quan chức cao cấp của chính phủ Mỹ nói: Ông Tập Cận Bình từng tuyên bố rằng “vấn đề Đài Loan không nên được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác”. Ông Tập đã thẳng thừng từ chối việc “loại bỏ khả năng sử dụng vũ lực” trong bài phát biểu quan trọng từ năm 2019.
Hiện Đài Loan đang nổi lên như là tâm điểm của một cuộc cạnh tranh chiến lược giữa Mỹ và Trung Quốc. Sau những cuộc thăm dò chính trị, trừng phạt kinh tế, Mỹ từng bước nhận rõ một điều, Trung Quốc là một mối đe dọa quân sự, xung đột có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Mối đe dọa ấy xuất phát ở chỗ, Bắc Kinh sẵn sàng sử dụng vũ lực thôn tính Đài Loan.
Kéo hòn đảo này về với “đất mẹ” không đơn giản là chuyện thu hồi một tỉnh “đã mất”, mà hơn thế tạo ra một uy thế chính trị. Đây sẽ là một bước quan trọng để giúp Trung Quốc thiết lập quyền bá chủ ở châu Á.
Để chắc thắng, quân đội Trung Quốc đã thường xuyên diễn tập các cuộc tấn công đổ bộ, cũng như diễn tập các cuộc tấn công quy mô lớn, nhằm vào đối tượng tác chiến là Mỹ. Để thu hồi Đài Loan, hòn đảo có lực lượng hải quân hùng mạnh, Trung Quốc đã dành 25 năm để xây dựng quân đội hiện đại, với hải quân ngày càng phát triển, không quân khổng lồ, với những kho vũ khí tên lửa và mạng lưới vệ tinh tối tân.
Theo Bộ trưởng Quốc phòng Đài Loan, hồi tháng 10 cho biết, Trung Quốc “hoàn toàn có năng lực để xâm lược” hòn đảo này, có thể vào năm 2025.
Trước những diễn biến mau lẹ ở khu vực Biển Đông, Mỹ cuối cùng cũng đã thức tỉnh trước mối thách thức đến từ Trung Quốc. Washington đã thay đổi, đã định hướng lại các nỗ lực quân sự bằng cách hướng vào châu Á. Đồng thời, các liên minh như Bộ Tứ, AUKUS, đang tăng cường liên kết để ngăn chặn khả năng thống trị khu vực của Trung Quốc. Theo tính toán của Bắc Kinh, nếu chờ đợi quá lâu, các khoản đầu tư quân sự khổng lồ của Mỹ sẽ giúp “con hổ” này trở thành một đối thủ quân sự đáng gờm hơn nhiều.
Về phía Đài Loan, được ví như thùng thuốc súng có thể phát nổ bất cứ lúc nào, ưu tiên cấp bách nhất là, phải nâng cấp triệt để hệ thống phòng thủ. Hòn đảo này phải tăng gấp nhiều lần ngân sách quốc phòng. Thế nhưng trong những thập niên gần đây, nguồn ngân sách chi cho quốc phòng khá eo hẹp.
Đài Loan cần phải nỗ lực đầu tư cho quốc phòng để ngăn chặn một cuộc xâm lược của Trung Quốc, làm sao đủ khả năng chống chọi trước một cuộc phong tỏa hoặc không kích của Bắc Kinh. Để giúp Đài Bắc, Washington cũng nên gây áp lực tương tự lên Nhật Bản, đồng minh quan trọng nhất của Mỹ. Nhật Bản thấy rõ một điều, nếu Đài Loan thất thủ sẽ bị Bắc Kinh đe dọa quân sự trực tiếp. Do vậy Tokyo đóng vai trò rất lớn trong bất kỳ nỗ lực phòng thủ nào của Đài Loan.
Việc ngăn chặn chiến tranh chống lại một siêu cường đang nuôi tham vọng bá chủ thế giới, đòi hỏi sự tàn nhẫn trong các ưu tiên của Mỹ. Muốn đứng vững ở châu Á, quân đội Mỹ sẽ phải thu nhỏ quy mô ở Trung Đông, Châu Phi, Châu Mỹ Latinh và thậm chí cả Châu Âu.
Rõ ràng, trong chiến lược bành trướng, âm mưu từng bước thôn tính Biển Đông, Trung Quốc đã đặt ra một thách thức lâu dài đối với Mỹ không chỉ ở vấn đề sức mạnh quân sự. Washington phải làm sao “thuyết phục” Bắc Kinh, rằng, thưa các ngài, các ngài không thể giành được lợi ích từ cuộc chiến tranh xâm lược. Đụng vào Đài Loan là đụng vào một liên minh quân sự khổng lồ.
Rốt cục, Trung Quốc sẽ đánh hay không đánh Đài Loan, vẫn chỉ là những tiên đoán mà thôi. Tiên đoán lịch sử trước khi nó diễn ra là vô cùng khó khăn, đòi hỏi phải có một sự phân tích toàn diện và tầm nhìn quốc tế. Lịch sử không diễn ra suôn sẻ như nhiều nhà bình luận, sử gia tin tưởng. Đối với những nước độc tài, dù hữu, hay tả, nhất là đối với một nước phương Đông, vừa mang nặng hệ tư tưởng phong kiến, vừa theo đuổi chủ nghĩa xã hội (đặc sắc) như Trung Quốc, dự đoán chính xác là điều không tưởng.
Thế mới là đòn hiểm, là miếng gân gà khó nuốt đối với Lầu Năm Góc.
Việc sản xuất thành công loại súng “Made in Vietnam” rất độc đáo này đã mở ra hướng đi mới trong việc trang bị số lượng lớn cho Quân đội và Công an nhân dân Việt Nam.
Súng Jericho 941 được lắp trên bộ súng bắn góc của Đặc công chống khủng bố.
Súng ngắn (hay còn gọi là súng ngắn cầm tay, súng lục) là loại vũ khí phụ trợ bên cạnh các loại súng chủ lực khác như súng trường tấn công hoặc súng tiểu liên và là vũ khí không thể thiếu đối với các sĩ quan quân đội, đặc biệt là các nước thuộc khối Xã hội chủ nghĩa.
Hình ảnh người sĩ quan với khẩu súng ngắn trong tay dẫn đầu đội hình xung phong đã trở thành huyền thoại.
Sau khi khối NATO được thành lập, loại đạn 9x19mm Parabellum đã trở thành loại đạn tiêu chuẩn của các loại súng ngắn trong khối, loại đạn này cũng được trang bị cho các súng tiểu liên của khối này.
Đối với các nước Xã hội chủ nghĩa, khẩu súng TT-33 (K54) sử dụng cỡ đạn 7,62x25mm và các phiên bản vốn nổi tiếng từ Chiến tranh thế giới thứ 2, bên cạnh mẫu súng ngắn Makarov (K59) cỡ đạn 9x18mm được Liên Xô chế tạo cũng nhanh chóng được phổ biến và trở thành vũ khí không thể thiếu cho các sĩ quan trong lực lượng vũ trang.
TỪ NHỮNG KHẨU SÚNG ĐƯỢC VIỆN TRỢ…
Sau khi bắt đầu nhận được viện trợ vũ khí từ khối Xã hội chủ nghĩa, quân đội ta đã đưa các loại súng ngắn như TT-33 và Makarov trở thành súng ngắn chủ lực cho sĩ quan quân đội cũng như công an.
Tại Việt Nam, súng ngắn TT-33 có nhiều phiên bản do Liên Xô sản xuất, Type-54 do Trung Quốc sản xuất và cả K54 do quân đội ta sản xuất. Súng ngắn Makarov có các phiên bản do Liên Xô và Type-59 (được gọi là K59) do Trung Quốc sản xuất.
Được đánh giá là 2 loại súng bền bỉ, dễ dàng sửa chữa, TT-33 và Makarov trở thành vũ khí tin cậy trên chiến trường miền Nam và vẫn được trang bị chính thức trong Quân đội Nhân dân Việt Nam.
Tuy nhiên, sau hàng chục năm sử dụng, những mẫu súng này cũng cần phải được thay thế bằng những vũ khí mới, phù hợp hơn với chiến tranh hiện đại.
Hiện nay, lực lượng Công an Nhân dân Việt Nam cũng đã thay thế K54, K59 bằng các loại súng hiện đại hơn như CZ-83 và sau đó là CZ-75, Glock 17/34 …
Nếu như CZ-83 vẫn sử dụng cỡ đạn 9x18mm thì CZ-75 và Glock 17/34 đã sử dụng đạn 9×19 Parabellum. So với đạn 9x18mm, đạn 9x19mm có sức công phá lớn hơn và tuy độ xuyên thấp hơn đạn 7,62×25 của súng K54 thì sát thương do loại đạn này cũng cao hơn.
Các loại súng như CZ-75 và Glock cũng có các loại khóa an toàn hiện đại, tránh được các tai nạn đáng tiếc do va đập súng gây ra như đã từng xảy ra với súng K54.
Mặt khác, các loại súng này thường có sẵn các ray trên thân để có thể lắp thêm những phụ kiện như đèn pin hay đèn laser. Các loại súng mới cũng có băng đạn lớn hơn lên tới 13 viên so với 8 viên của loại súng cũ.
… TỚI NHỮNG KHẨU SÚNG ĐỘC ĐÁO “MADE IN VIETNAM”
Đối với Quân đội Nhân dân Việt Nam, bên cạnh việc sản xuất súng K54, công nghiệp quốc phòng nước ta đã nghiên cứu sản xuất loại súng mới dựa trên dòng súng này với tên gọi là K14 được cải tiến về nòng và thân súng, giúp bắn chính xác và mang được nhiều đạn hơn.
Tuy nhiên K14 vẫn sử dụng chung loại đạn và thiết kế với K54 nên chưa thực sự có nhiều đột phá, chỉ được sử dụng hạn chế trong đội tuyển bắn súng quân dụng.
Theo Báo QĐND, mới đây, một loại súng hiện đại đã được nhà máy Z111 của Bộ Quốc phòng đưa vào sản xuất, đó là súng ngắn Jericho.
Khẩu súng ngắn bán tự động Jericho 941 là một sản phẩm của Tập đoàn chế tạo vũ khí IWI Israel, nó được cho là đã kết hợp những ưu điểm súng ngắn Tanfoglio T95 của Italia và CZ-75 của Séc.
Jericho 941 có trọng lượng 1050g (phiên bản bắn đạn 9x19mm), chiều dài 207mm với nòng dài 112mm, hộp tiếp đạn có thể chứa 16 viên.
Các thông số của Jericho 941 đều vượt trội hơn so với K54 mà quân đội ta đang sử dụng, đặc biệt khẩu súng này còn có thể được gắn trên súng bắn góc CornerShot của lực lượng đặc công chống khủng bố.
Việc Nhà máy Z111 sản xuất thành công súng Jericho 941 cho công ty IWI (dành cho xuất khẩu) mở ra hướng đi mới trong việc trang bị đại trà loại súng ngắn hiện đại này cho Quân đội Nhân dân Việt Nam và thậm chí có thể cung cấp cho lực lượng Công an Nhân dân, thay cho các loại súng đang nhập khẩu.
Mặt khác, việc dùng chung cỡ đạn 9x19mm cũng giúp thuận tiện hơn cho công tác hậu cần.
Hy vọng trong tương lai, Jericho 941 – súng “Made in Vietnam” sẽ sớm được trang bị cho các lực lượng vũ trang Việt nam và góp phần vào việc đưa Quân đội Nhân dân Việt Nam tiến lên hiện đại.
Đại sứ quán Việt Nam tại Hàn Quốc, Triều Tiên và Nhật Bản đã tích cực liên hệ với cơ quan chức năng sở tại, gấp rút cứu nạn thuyền viên Việt Nam.
Tàu Houei Crystal có 18 thuyền viên Việt Nam đã gặp nạn trên vùng biển giáp ranh giữa Hàn Quốc, Triều Tiên và Nhật Bản, ngày 1/12. (Nguồn: Houei Transport)
Tại họp báo thường kỳ ngày 9/12, cập nhật thông tin về tình hình thuyền viên Việt Nam gặp nạn trên vùng biển giáp ranh Nhật Bản, Hàn Quốc và Triều Tiên, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng cho biết:
Như chúng tôi đã thông tin, theo các cơ quan chức năng, chiều ngày 1/12 theo giờ địa phương, khi đang di chuyển trên vùng biển giáp ranh Nhật Bản, Hàn Quốc và Triều Tiên, tàu Houei Crystal, quốc tịch Nhật Bản, treo cờ Panama, trên đó có 18 thuyền viên là người Việt Nam đã gặp sự cố do sóng lớn khiến nước tràn vào tàu. Tàu đã bị mất liên lạc ngay sau đó.
Ngay sau khi nhận được thông tin, các Cơ quan đại diện Việt Nam tại Nhật Bản, Hàn Quốc và Triều Tiên đã chủ động, khẩn trương liên hệ với cơ quan sở tại để xác minh thông tin, đề nghị triển khai khẩn cấp công tác tìm kiếm, cứu nạn cần thiết, đảm bảo an toàn tối đa tính mạng cho thuyền viên Việt Nam.
Các cơ quan chức năng Nhật Bản, Hàn Quốc và Triều Tiên đều cho biết đã triển khai ngay tàu cứu hộ tới hiện trường và đến rạng sáng ngày 2/12, tàu cứu hộ của Hàn Quốc đã cứu được 17 thuyền viên, đưa về nhập cảnh an toàn tại cảng Mukho, thành phố Donghae, tỉnh Gangwon, Hàn Quốc.
Việc tìm kiếm một thuyền viên còn lại đã được các lực lượng bảo vệ bờ biển triển khai tích cực cho đến chiều tối ngày 4/12 nhưng không có kết quả.
Bộ Ngoại giao đã liên hệ với Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Bộ Giao thông Vận tải, đề nghị chỉ đạo các công ty phái cử liên hệ với thân nhân của các thuyền viên, thông báo tình hình, thăm hỏi, động viên thân nhân và hướng dẫn các thủ tục cần thiết.
Đồng thời, các công ty phái cử cũng phải thực hiện theo đúng chức năng, nhiệm vụ, đảm bảo công tác hỗ trợ cho các thuyền viên các quyền và nghĩa vụ hợp pháp của công dân Việt Nam.
Hiện công ty chủ tàu và bảo hiểm đã liên lạc với các thuyền viên để xác nhận tình trạng và tiến hành công tác bảo hiểm, bồi thường theo quy định. Việc hồi hương các thuyền viên sẽ được triển khai theo nguyện vọng của các thuyền viên.
Trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0, công nghệ viễn thám trở thành vấn đề mới nổi, cần được quan tâm và đầu tư hơn nữa để góp phần cung cấp thông tin đầy đủ hơn về tình hình thực địa trên Biển Đông.
Sự phổ biến thông tin viễn thám và hình ảnh vệ tinh cũng đặt ra yêu cầu các nước liên quan phải chia sẻ nhiều hơn các thông tin phản ánh đúng các diễn biến trên thực địa. (Nguồn: Defence Talk)
Tại phiên 8 của Hội thảo Khoa học quốc tế về Biển Đông lần thứ 13 vừa qua, các học giả đã tập trung thảo luận chủ đề “Tăng cường sự minh bạch thông qua công nghệ viễn thám”.
Tham dự thảo luận phiên này có ông Gregory B. Poling, Giám đốc Sáng kiến Minh bạch hàng hải châu Á (AMTI), Trung tâm Nghiên cứu chiến lược và quốc tế (CSIS), Mỹ; Đại tá về hưu Shichen Tian, nhà sáng lập và Chủ tịch Cơ quan quản trị toàn cầu (GGI) kiêm Giám đốc Trung tâm Luật quốc tế về hoạt động quân sự trực thuộc GGI, Trung Quốc; ông Nguyễn Thế Phương, Nghiên cứu viên Dự án Đại sử ký Biển Đông (SCSCI), Việt Nam; và Đại tá về hưu Martin A. Sebastian, nguyên Giám đốc Trung tâm An ninh và Ngoại giao biển, Viện Hàng hải Malaysia (MIMA).
Vai trò gia tăng của công nghệ viễn thám
Các diễn giả và các đại biểu tham dự hội thảo đã trao đổi học thuật sôi nổi về chủ đề công nghệ viễn thám ở Biển Đông (thông qua hệ thống nhận diện tự động (AIS), hệ thống giám sát tàu (VMS), hình ảnh vệ tinh…) trong bối cảnh phát triển nhanh chóng của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư.
Công nghệ viễn thám giúp cung cấp thêm thông tin và tăng cường nhận thức về hoạt động và hành vi trên biển của các loại tàu thuyền. Sự phổ biến thông tin viễn thám và hình ảnh vệ tinh cũng đặt ra yêu cầu các nước liên quan phải chia sẻ nhiều hơn các thông tin phản ánh đúng các diễn biến trên thực địa.
Khám phá sự thay đổi trong “chiến thuật vùng xám” của Trung Quốc
Một số diễn giả tập trung trình bày kết quả nghiên cứu dữ liệu viễn thám về hoạt động của tàu dân quân biển và tàu khảo sát biển của Trung Quốc ở Biển Đông. Kết quả nghiên cứu của các diễn giả cho thấy nét mới trong chiến thuật điều động các lực lượng trên thực địa của Trung Quốc ở Biển Đông.
Thay vì sử dụng các tàu hải cảnh là lực lượng chính tham gia các vụ việc trên Biển Đông như trước đây, Trung Quốc thời gian qua sử dụng các tàu dân quân biển và tàu khảo sát là lực lượng chính để tiến hành các hoạt động khẳng định chủ quyền, khiêu khích và mở rộng kiểm soát Biển Đông trong khi các tàu hải cảnh vẫn tiếp tục hoạt động và hỗ trợ các tàu dân quân biển và tàu khảo sát.
Tàu dân quân biển của Trung Quốc tràn ra Biển Đông
Ông Gregory B. Poling khẳng định, kể từ khi hoàn thành việc xây dựng các tiền đồn trên các đảo nhân tạo ở Trường Sa vào năm 2016, Trung Quốc tập trung điều động các tàu dân quân biển để tăng cường quyền kiểm soát không gian Biển Đông trong thời bình. Bề ngoài các tàu dân quân biển của Trung Quốc hoạt động như các tàu cá thương mại, song thực chất phối hợp với các tàu hải cảnh và hải quân của Trung Quốc để khẳng định chủ quyền trong vùng biển tranh chấp.
Tàu dân quân biển của Trung Quốc có hai loại chính, bao gồm tàu dân quân biển chuyên nghiệp và tàu đánh cá thương mại được tuyển chọn tham gia lực lượng dân quân biển theo chương trình trợ cấp (gọi là tàu đánh cá Trường Sa – SBFV).
Các tàu chuyên nghiệp thường được chế tạo theo các thông số kỹ thuật khắt khe hơn, gồm các tính năng quân sự, trong khi các tàu SBFV cũng có vỏ thép và có chiều dài ít nhất là 35 mét, nhiều chiếc dài hơn 55 mét. Dân quân biển chuyên nghiệp của Trung Quốc làm việc trong các doanh nghiệp kiểm ngư của Nhà nước và được hưởng lương. Cả dân quân biển chuyên nghiệp và SBFV đều tham gia các cuộc triển khai lớn nhằm khẳng định chủ quyền của Trung Quốc và đều có biện pháp chống tàu nước ngoài tiếp cận.
Lực lượng dân quân biển của Trung Quốc hoạt động ở Biển Đông xuất phát từ 10 cảng ở các tỉnh Quảng Đông và Hải Nam. Trong số 28 công ty được xác định là trực tiếp sở hữu các tàu dân quân, 22 công ty đóng tại Quảng Đông và 5 công ty đóng tại Hải Nam.
Dữ liệu viễn thám cho thấy mỗi ngày có khoảng 300 tàu dân quân đang hoạt động ở quần đảo Trường Sa. Chính quyền trung ương và địa phương của Trung Quốc trong những năm gần đây gia tăng tài trợ cho lực lượng dân quân biển, như trợ cấp nhiên liệu cho SBFV hoạt động ở vùng biển xung quanh quần đảo Trường Sa, trợ cấp đóng tàu dân quân chuyên nghiệp, trợ cấp lắp đặt và cải tạo trang thiết bị trên tàu cá, trợ cấp lãi suất vay đóng tàu, cung cấp các chương trình đào tạo, tuyển dụng các cựu quân nhân làm việc trong lực lượng dân quân biển…
Các chính sách trợ cấp hiện hành của Trung Quốc nhằm khuyến khích các tàu dân quân biển hoạt động trong vùng biển tranh chấp hơn là đánh bắt cá thuần tuý. Các tàu có chiều dài ít nhất 55m với công suất động cơ ít nhất 1.200 kw hoạt động ở Trường Sa được trợ cấp nhiên liệu đặc biệt với mức 24.175 CNY (khoảng 3.743,30 USD) mỗi ngày.
Tàu khảo sát biển của Trung Quốc hoạt động dày đặc ở Biển Đông
Ông Nguyễn Thế Phương cho biết, theo dữ liệu AIS trong 10 tháng qua, Trung Quốc điều động khoảng 20 tàu khảo sát hoạt động rộng khắp Biển Đông, có thời điểm có hai đến ba tàu khảo sát của Trung Quốc được triển khai cùng lúc. Các tàu này đều thuộc về các cơ quan dân sự ở Trung Quốc như Bộ Tài nguyên, Học viện Khoa học Trung Quốc và các trường đại học khác.
Nhiều tàu khảo sát trong số này được đóng sau năm 2012, là tàu nghiên cứu toàn diện, có thể thực hiện các hoạt động khảo sát khác nhau. Các tàu này cơ bản có các thiết bị, cảm biến và các thiết bị khác để thu thập dữ liệu đại dương và khí quyển.
Các tàu khảo sát của Trung Quốc phục vụ nhiều mục đích khác nhau, vừa kiểm soát trên thực tế, vừa nhằm mục đích dân sự và quân sự. Các tàu khảo sát của Trung Quốc hoạt động ở ba khu vực chính, gồm khu vực Đông Bắc Biển Đông xung quanh Pratas; khu vực phía Nam và Tây Nam Biển Đông, gồm Trường Sa; và phía Tây Bắc Biển Đông giữa Hải Nam và Hoàng Sa.
Ở phía Đông Bắc và xung quanh Pratas, các tàu khảo sát của Trung Quốc hoạt động nhằm kiểm soát không gian biển ở Pratas do Đài Loan kiểm soát và các động thái trên biển của các nước liên quan đến Đài Loan, đặc biệt là các luồng lạch dưới biển cho tàu ngầm di chuyển. Các tàu khảo sát của Trung Quốc nghiên cứu địa hình, dòng chảy và các vấn đề liên quan đến đáy biển, có thể cả việc triển khai các cảm biến và thiết bị ngầm hiện đại (cấp 12).
Ở phía Tây Nam, các tàu Trung Quốc rất chủ động trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam và Malaysia. Các tàu khảo sát của Trung Quốc (HD-8, Hướng Dương Hồng 10, Shen Kuo…) hoạt động dọc theo đường phân cách giữa thềm lục địa và Trường Sa, một mặt để tìm kiếm tài nguyên, mặt khác khảo sát đáy biển, khảo sát đại dương và khí quyển để kiểm soát đường đi của tàu ngầm ở khu vực phía Nam Biển Đông.
Tàu Hai Da Hao của Trung Quốc khảo sát ngoài Vịnh Cam Ranh nhằm nhận biết toàn diện về địa hình và đặc điểm đại dương của các khu vực xung quanh Cam Ranh để phát hiện, áp đảo và vô hiệu hóa tàu ngầm của Việt Nam trong lúc Trung Quốc tiếp tục hiện đại hoá khả năng chống tàu ngầm ở Trường Sa.
Các tàu khảo sát của Trung Quốc hoạt động gần Philippines một mặt nhằm đảm bảo sự kiểm soát của Trung Quốc với khu vực này, gồm Scarborough, mặt khác nhằm mục tiêu chiến lược nhắm vào Mỹ và dự phòng trước sự mở rộng hiện diện tàu ngầm Australia trong tương lai qua Biển Sulu vào Biển Đông…
Các hoạt động khảo sát của Trung Quốc diễn ra một cách thường xuyên và liên tục, kéo dài trong suốt thời gian qua. Trong tương lai gần, Trung Quốc sẽ luôn duy trì một tần suất nhất định các nhiệm vụ khảo sát ở Biển Đông với địa bàn hoạt động rộng khắp và thời gian không hạn chế. Điều này đảm bảo nhiều mục tiêu khác nhau, nhưng quan trọng hơn tất cả là giúp Trung Quốc nắm vững và theo dõi các điều kiện khoa học thuận lợi để duy trì khả năng nhận thức hàng hải vượt trội của mình ở Biển Đông.
Một số báo cáo khoa học cho thấy Trung Quốc đang cố gắng xây dựng một mạng lưới nhận thức hàng hải bốn chiều ở Biển Đông, đặc biệt là xung quanh Trường Sa. Mạng lưới các cảm biến, thiết bị theo dõi dưới lòng biển, radar đặt trên các đảo nhân tạo, và vệ tinh trên không gian giúp Trung Quốc có khả năng theo dõi 24/24 động thái của bất cứ một bên liên quan nào khác trên thực địa.
Hội thảo Khoa học quốc tế về Biển Đông lần thứ 13 vừa diễn ra với sự tham gia của nhiều chuyên gia, học giả dưới hình thức trực tiếp và trực tuyến. (Ảnh: Tuấn Anh)
Hành vi của các tàu Trung Quốc vi phạm luật pháp quốc tế
Ông Gregogy B. Poling cho rằng các tàu của Trung Quốc vi phạm một số nguyên tắc của luật pháp quốc tế: hành vi ngăn chặn các hoạt động hợp pháp của các quốc gia có yêu sách khác trong vùng đặc quyền kinh tế của họ là vi phạm Công ước Liên hợp quốc về Luậ Biển năm 1982 (UNCLOS 1982).
Theo vị chuyên gia này, các tàu Trung Quốc hành động không an toàn nhằm cản trở hoạt động của tàu nước ngoài và tạo ra nguy cơ va chạm là vi phạm Công ước về các quy định quốc tế về phòng ngừa đâm va trên biển năm 1972 (COLREGS).
Trong khi đó, Đại tá về hưu Shichen Tian chĩa mũi nhọn vào Mỹ, tập trung phản bác các hoạt động quân sự của Mỹ ở Biển Đông. Ông Shichen Tian cho rằng tình hình an ninh ở Biển Đông trở nên xấu đi do sự phổ biến tàu ngầm, gần đây là sự cố tàu ngầm của Mỹ, và rủi ro trong tương lai do AUKUS có thể tạo ra. Mỹ sử dụng dữ liệu công nghệ viễn thám hiện đại, tinh vi để bêu xấu Trung Quốc, phục vụ cuộc cạnh tranh chiến lược với Trung Quốc.
Sử dụng đúng đắn dữ liệu viễn thám
Bên cạnh ưu điểm giúp tăng cường hiểu biết về tình hình trên thực địa ở Biển Đông, các đại biểu cho rằng dữ liệu viễn thám, nhất là AIS có thể bị các nước thao túng và lợi dụng nhằm mục đích chính trị, tạo thông tin sai lệch và diễn giải sai để tuyên truyền phê phán nước khác.
Minh chứng là Sáng kiến Theo dõi Tình hình Chiến lược Biển Đông (SCSPI) của Đại học Bắc Kinh, Trung Quốc, thường sử dụng dữ liệu AIS không được kiểm chứng để “bêu xấu” Việt Nam rằng, Việt Nam điều động nhiều tàu dân quân biển xâm nhập vùng biển xung quanh Hải Nam và vùng biển của Malaysia. Trong khi đó, các tàu của Trung Quốc thường tắt AIS, tạo ra sự không minh bạch thông tin khi di chuyển, càng tạo ra nghi ngờ đối với hành tung của các tàu đó.
Để tăng cường sự minh bạch và sử dụng đúng đắn dữ liệu công nghệ viễn thám, các đại biểu cho rằng cần có cách tiếp cận toàn diện để xử lý dữ liệu công nghệ viễn thám; theo dõi dữ liệu một cách có hệ thống, nhiều lớp thông tin và so sánh với các cơ sở dữ liệu khác nhau về thông tin tàu, như hình ảnh vệ tinh, báo cáo của các cơ quan liên quan, tuyên bố từ các quan chức và tham vấn chặt chẽ với các chuyên gia kỹ thuật của các công ty viễn thám để kiểm chứng dữ liệu.
Cựu Đại tá Martin A. Sebastian cho rằng cần sử dụng hệ thống giám sát tàu (VMS) để theo dõi tàu cá. VMS cho phép theo dõi, giám sát và kiểm soát nạn đánh bắt cá quá mức và quản lý hoạt động khai thác thủy sản. VMS có lợi thế hơn so với AIS do được kiểm soát bởi chính phủ, áp dụng để truy suất nguồn gốc tàu đánh cá thương mại và các tàu nội địa. VMS cũng có thể được kết hợp với dữ liệu AIS và các công nghệ theo dõi khác để xác minh thông tin, gồm quét mã QR các tàu thuyền và sử dụng thiết bị không người lái để giám sát.
Nếu các dữ liệu viễn thám và hình ảnh vệ tinh được kiểm chứng có độ chính xác cao có thể được sử dụng làm bằng chứng để đệ trình lên toà án quốc tế hoặc toà trọng tài trong các vụ kiện liên quan (ví dụ Philippines đã sử dụng các ảnh vệ tinh làm chứng cứ đệ trình lên Toà Trọng tài trong vụ Philippines kiện Trung Quốc ở Biển Đông).
Tóm lại, các đại biểu tại phiên 8 của Hội thảo Khoa học quốc tế về Biển Đông lần thứ 13 đã trao đổi học thuật sôi nổi về chủ đề công nghệ viễn thám ở Biển Đông. Đây là một vấn đề mới nổi, theo sự phát triển của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0.
Trong thời gian tới, công nghệ viễn thám nên được quan tâm và đầu tư hơn nữa để góp phần cung cấp thông tin đầy đủ hơn về tình hình thực địa trên Biển Đông, giúp các nước liên quan đưa ra đối sách phù hợp và công chúng hiểu đúng đắn hơn về tình hình Biển Đông.
Ngày 6-12, Tổng thống Nga Vladimir Putin có chuyến công du đến Ấn Độ và gặp gỡ Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi tại Hội nghị thượng đỉnh Nga-Ấn thường niên lần thứ 21. Hai nhà lãnh đạo Nga-Ấn đều ưu tiên việc quyến rũ công chúng. Vladimir Putin đưa nhiếp ảnh gia đi săn gấu; trong khi Narendra Modi ngồi thiền trước máy ảnh. Nhưng khi họ gặp nhau tại Delhi vào thứ Hai cho hội nghị thượng đỉnh Nga-Ấn thường niên lần thứ 21, nó sẽ có nhiều điều hơn sự thể hiện bề ngoài. Một phần lớn kho vũ khí của Ấn Độ có từ các thỏa thuận thời Liên Xô. Hệ thống tên lửa phòng không S-400 của Nga, vốn khiến Mỹ lo sợ về khả năng do thám, dự kiến sẽ nổi bật trong chương trình nghị sự.
Điều đó có thể làm phức tạp một số mối quan hệ khác của Ấn Độ. Các hành động khiêu khích của Trung Quốc dọc biên giới trên dãy Himalaya đã thúc đẩy Ấn Độ tìm kiếm quan hệ chặt chẽ hơn với Mỹ; Ông Modi đã được mời tham dự “Hội nghị thượng đỉnh dân chủ” của Joe Biden trong tháng này. Trong bối cảnh Nga căng thẳng với phương Tây và xích lại gần Trung Quốc, bất kỳ cái ôm nào giữa Modi và Putin cũng có thể gây căng thẳng cho mối quan hệ đối tác mới chớm nở của Ấn Độ với Mỹ.
Joe Biden và Vladimir Putin, tổng thống Mỹ và Nga, đã đồng ý gặp trực tuyến vào thứ Ba tới. Hai nước đang căng thẳng xoay quanh việc Nga quân sự hóa biên giới với Ukraine. Nga phủ nhận đang lên kế hoạch cho một cuộc tấn công, nhưng cảnh báo việc NATO triển khai quân đội sẽ là “lằn ranh đỏ.”
Việt Nam là quốc gia ven biển, có các vùng biển và thềm lục địa rộng lớn, chứa đựng nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú và đa dạng.
Biển, đảo của nước ta không những là khu vực phát triển kinh tế đầy tiềm năng, là nơi án ngữ các trục giao thông huyết mạch trên biển, cùng với nguồn lợi về tài nguyên, kinh tế biển, mà còn là môi trường tác chiến quan trọng trong chiến lược bảo vệ Tổ quốc.
Vịnh Hạ Long được UNESCO công nhận là Di sản thiên nhiên thế giới, một trong những địa điểm nổi tiếng nhất của Việt Nam với du khách nước ngoài. (Nguồn: BQN)
Thềm lục địa Việt Nam có nhiều bể trầm tích chứa dầu khí, triến vọng khai thác nguồn khoáng sản này là rất lớn.
Tuy mới ra đời, nhưng ngành dầu khí Việt Nam đã trở thành một trong những ngành kinh tế mũi nhọn, có tiềm lực kỹ thuật, vật chất lớn và hiện đại nhất trong những ngành khai thác biển; đồng thời cũng là một trong những ngành xuất khấu và thu nhiều ngoại tệ nhất cho đất nước.
Ngành công nghiệp khai thác dầu khí phát triển kéo theo sự phát triển của một số ngành khác như công nghiệp hóa dầu, giao thông vận tải, thương mại trong nước và khu vực
Ngoài dầu mỏ, biển Việt Nam còn có nhiều mỏ sa khoáng và cát thủy tinh có trữ lượng khai thác công nghiệp và làm vật liệu xây dựng… Tiềm năng về khí – điện – đạm và năng lượng biển cũng rất lớn như năng lượng gió, năng lượng mặt trời, thủy triều, sóng…
Bên cạnh đó, vùng biển Việt Nam có điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên thuận lợi cho phát triển nhiều loại hình du lịch.
Đất nước Việt Nam chạy dài trên 15 vĩ độ địa lý (từ vĩ độ 6° Bắc đến vĩ độ 21° Bắc) nhưng lại hẹp về chiều ngang, khí hậu phân hóa, phong phú về tập quán dân tộc.
Bờ biển dài, có nhiều bãi cát rộng, vũng, vịnh, hang động tự nhiên đẹp, các dãy núi đá vôi vươn ra sát bờ biển tạo cảnh quan thiên nhiên sơn thủy rất đa dạng.
Các bán đảo và đảo lớn, nhỏ liên kết với nhau thành một quần thể du lịch hiếm có trên thế giới, tiêu biểu là quần thể núi và hang động đá vôi ở Vịnh Hạ Long đã được UNESCO xếp hạng là Di sản thiên nhiên của thế giới.
Do hoàn cảnh tự nhiên, biển đảo Việt Nam có những sắc thái riêng không đâu có với gần 82 hòn đảo ven bờ có diện tích trên 1 km, trong đó 24 đảo có diện tích trên 10 km2, các hệ sinh thái và xung quanh đảo được hình thành và phát triển trải qua hàng trăm năm rất độc đáo, hấp dẫn.
Đó là những nơi có không khí trong lành, nước biển trong và sạch, bãi cát trắng mịn, lý tưởng để phát triển du lịch, đặc biệt là du lịch biển đảo, sinh thái. Các đảo như Cù lao Chàm, Lý Sơn, Côn Đảo, Phú Quốc… vốn đã rất nổi tiếng trong và ngoài nước, là điểm đến hấp dẫn bậc nhất trong khu vực và trên thế giới.
Ngoài ra, Việt Nam còn có các thắng cảnh tự nhiên trên đất liền được yêu thích như Phong Nha, Kẻ Bàng, Thiên Đường, Sơn Đoòng, Bích Động, Non Nước… và nhiều di tích lịch sử-văn hóa đều tọa lạc ở ven biển.
Các trung tâm kinh tế thương mại, thành phố du lịch như Hạ Long, Hải Phòng, Đà Nẵng, Quy Nhơn, Nha Trang, Vũng Tàu… nằm trên tuyến du lịch quốc tế có đủ các điều kiện và khả năng để trở thành tụ điểm du lịch biển đảo.
Biển Việt Nam còn là địa bàn quan trọng để phát triển kinh tế đất nước.
Hiện nay, có trên 31% dân số cả nước sinh sống ở 28 tỉnh, thành phố ven biển. Đa số các thành phố, thị xã đều nằm ở ven sông, cách biển không xa, nhất là các thành phố, thị xã ở miền Trung.
Khu vực ven biển cũng là nơi tập trung các trung tâm công nghiệp lớn, có nhiều sân bay, cảng biển quan trong, các căn cứ hải quân, kho tàng, các công trình kinh tế-quốc phòng khác.
Các tỉnh, thành phố ven biển có các cảng, cơ sở sửa chữa, đóng tàu, đánh bắt hoặc chế biến hải sản, làm muối… thu hút hơn 13 triệu lao động, giải quyết công ăn việc làm, góp phần to lớn vào việc ổn định tình hình kinh tế, chính trị, xã hội và an ninh-quốc phòng.
„Những năm tháng đó đã thử thách bản thân tôi về mặt chính trị và con người“
„Kính thưa ngài Tổng thống Liên bang,
Kính thưa bà Chủ tịch Quốc hội,
Kính thưa Quý vị và
Đồng bào yêu quí,
ngày hôm nay, khi đứng trước Quí vị, điều tôi cảm nhận trước hết là: Lòng biết ơn và Sự khiêm cung – Sự khiêm cung trước chức vụ mà tôi đã được phép đảm nhiệm bấy lâu nay; Lòng biết ơn về sự tin tưởng mà tôi đã được phép trải nghiệm. Tôi luôn ý thức rằng lòng tin là tài sản quan trọng nhất trong chính trị. Tất cả những điều đó không phải tự nhiên mà có và chính vì thế tôi xin cảm ơn tất cả từ tận đáy lòng mình.
Tôi cũng xin cảm ơn bà Bộ trưởng Quốc phòng, Annegret thân mến và Quân đội Liên bang đã tổ chức Đại quân lễ – đặc biệt là tại địa điểm của toà nhà Bendler, nơi rất quan trọng trong lịch sử của chúng ta. Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới đội Quân nhạc của Quân đội (Bundeswehr) – đã cố gắng tổ chức buổi lễ chia tay trong điều kiện khó khăn của đại dịch.
Trước tiên, tôi đặc biệt nghĩ đến những người, mà giờ này họ đang chống lại làn sóng thứ tư của đại dịch bằng tất cả sức lực của mình, những người đang làm mọi thứ để cứu và bảo vệ mạng sống: các bác sĩ, y tá trong bệnh viện, đội tiêm chủng, sự chung tay giúp đỡ của Quân đội và các tổ chức hỗ trợ. Họ xứng đáng được nhận sự cám ơn đặc biệt và đánh giá cao nhất từ nơi tôi và tất cả chúng ta.
Hôm nay trong một cuộc họp, tôi đã cùng với những người đứng đầu chính quyền của các Bang hội ý về các biện pháp tiếp theo để chống dịch. Bây giờ, sau một vài tiếng đồng hồ và trong khung cảnh của buổi lễ này, tôi được phép chia tay quí vị sau 16 năm làm Thủ tướng Liên bang. Rất ít khi có sự kết nối thời gian một cách đáng kinh ngạc mà chúng ta hiện đang sống trong đó.
16 năm ròng làm Thủ tướng Liên bang đầy biến cố và thách thức. Những năm tháng đó đã thử thách tôi về mặt chính trị và con người đồng thời cũng luôn làm cho tôi thoả mãn. Đặc biệt, hai năm qua của đại dịch đã cho thấy lòng tin trong chính trị, khoa học và xã hội quan trọng như thế nào, nhưng nó cũng có thể mong manh như thế nào.
Nền dân chủ của chúng ta phát triển mạnh là nhờ khả năng tranh luận phê phán và sự tự điều chỉnh. Nó tồn tại nhờ sự cân bằng liên tục giữa lợi ích và tôn trọng lẫn nhau. Nó tồn tại nhờ sự đoàn kết và tin tưởng, hơn nữa từ sự tin tưởng vào các sự kiện thực tế, cho nên bất cứ đâu kiến thức khoa học bị phủ nhận, các thuyết âm mưu và sự kích động được truyền bá, đều bị lớn tiếng phản đối. Nền dân chủ của chúng ta cũng tồn tại từ một thực tế rằng, bất cứ nơi nào thù hận và bạo lực được coi là phương tiện hợp pháp để giành lợi ích riêng, thì lòng khoan dung của chúng ta với tư cách là những người dân chủ làm cho họ thấy giới hạn của mình.
Những thách thức nội tại đa dạng cũng được phản ánh trong chính sách đối ngoại và không chỉ kể từ sau đại dịch. Cuộc khủng hoảng kinh tế và tài chính năm 2008 và cuộc bỏ chạy tìm chỗ nương thân của nhiều người vào năm 2015 đã làm cho chúng ta thấy rõ rằng, để có thể đương đầu với những thách thức lớn lao của thời đại, chúng ta phụ thuộc vào sự hợp tác xuyên biên giới đa quốc gia, vào các thể chế quốc tế và vào công cụ đa phương như thế nào. Những thách thức đó là: Sự biến đổi khí hậu, số hóa và dòng người di cư. Trong tương lai tôi khuyến nghị Quí vị, hãy luôn nhìn thế giới bằng con mắt của người khác, đó cũng là cách để cảm nhận những quan điểm đôi khi khó chịu và mâu thuẫn của người đối diện nhằm tạo ra sự cân bằng về lợi ích chung.
Thưa Quý vị, tôi sẽ không thể nào thực hiện được công việc chính trị của mình, nếu không có sự hỗ trợ đa dạng của những người đồng hành, cả trong nước và quốc tế. Tôi cảm ơn tất cả các bạn rất nhiều. Cảm ơn các đồng nghiệp của tôi trong Chính phủ Liên bang, Quốc hội và Hội đồng Liên bang Đức. Tôi cũng rất biết ơn nền văn hóa tranh luận phản biện chính trị mà nhiều quốc gia khác ghen tị với chúng ta. Tôi nợ những nhân viên thân thiết nhất của tôi một lời cảm ơn đặc biệt vô cùng sâu sắc. Cảm ơn về tất cả những sự giúp đỡ và ủng hộ và cám ơn gia đình của tôi.
Giờ đây, chính phủ kế tiếp sẽ phụ thuộc vào việc tìm ra câu trả lời cho những thách thức phía trước và định hình cho tương lai của chúng ta. Về điều này, tôi cầu chúc cho ngài Olaf Scholz thân mến và Chính phủ Liên bang mà bạn sẽ lãnh đạo, mọi điều tốt đẹp nhất, may mắn nhất và nhiều thành công nhất.
Tôi tin rằng, chúng ta có thể tiếp tục tạo dựng tương lai một cách tốt đẹp, nếu chúng ta không làm việc với tâm trạng bất mãn, oán giận, bi quan mà là – như tôi đã nói ba năm trước trong một bối cảnh khác – với niềm vui trong trái tim. Niềm vui đó tôi luôn gìn giữ cho riêng mình trong bất kỳ hoàn cảnh nào, trong cuộc sống của tôi thời CHDC Đức và càng hơn thế sau này, trong điều kiện tự do. Đó là hạnh phúc trong trái tim, điều mà tôi muốn chúc tất cả mọi người, chúc cho tổ quốc của chúng ta cũng như chúc cho tương lai.
Ngày 1/12, Việt Nam và Trung Quốc đã tổ chức đàm phán vòng 15 Nhóm công tác về vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ và vòng 12 Nhóm công tác bàn bạc về hợp tác cùng phát triển trên biển theo hình thức trực tuyến.
Các khu vực tranh chấp ở Biển Đông (phần lớn dựa trên các tài liệu và bản đồ mới nhất đã được các bên công bố chính thức – những chỗ chưa có văn kiện chính thức -vẽ bằng đường màu xám – thì dùng trung tuyến).
Sự kiện do Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Biên giới quốc gia, Bộ Ngoại giao Trịnh Đức Hải và Đại diện các vấn đề biên giới và biển, Bộ Ngoại giao Trung Quốc Dương Nhân Hỏa đồng chủ trì.
Trong không khí hữu nghị, thẳng thắn, chân thành, hai bên đã trình bày thực chất quan điểm của mỗi bên và đi sâu trao đổi ý kiến về vấn đề phân định vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ, bàn bạc về vấn đề hợp tác cùng phát triển trên biển trên tinh thần tuần tự, tiệm tiến, dễ trước khó sau, tôn trọng lẫn nhau, trên cơ sở phù hợp với luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Liên hợp quốc về luật Biển năm 1982 (UNCLOS).
Hai bên nhấn mạnh tầm quan trọng của quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện và hữu nghị láng giềng Việt Nam-Trung Quốc, xử lý thỏa đáng vấn đề trên biển phù hợp với nhận thức chung Lãnh đạo hai Đảng, hai nước và “Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển Việt Nam-Trung Quốc” năm 2011, giữ gìn hòa bình, ổn định ở Biển Đông, tôn trọng luật pháp quốc tế.
Hai bên nhất trí sẽ tiến hành vòng đàm phán tiếp theo trong năm 2022.