Mỹ nâng Tariff – Lợi & Hại?

Từ thời Trump đến Biden, rồi quay lại Trump, xu hướng nâng thuế nhập khẩu, đặc biệt với Trung Quốc...
Read More
Mỹ nâng Tariff – Lợi & Hại?

Lộ diện máy bay “Quái vật biển Bột Hải” của TQ

Trung Quốc được cho là đang phát triển máy bay “Quái vật biển Bột Hải” có sự kết hợp các...
Read More
Lộ diện máy bay “Quái vật biển Bột Hải” của TQ

Tàu sân bay Mỹ cập cảng Philippines

Tàu sân bay USS George Washington của Mỹ đã cập cảng Manila, Philippines vào ngày 3/7. Hoạt động này diễn...
Read More
Tàu sân bay Mỹ cập cảng Philippines

TQ bác bỏ thông tin muốn xây căn cứ quân sự ở Nam Thái Bình Dương

Đại sứ quán Trung Quốc ở Fiji hôm 3.7 bác bỏ thông tin cho rằng Bắc Kinh muốn xây dựng...
Read More
TQ bác bỏ thông tin muốn xây căn cứ quân sự ở Nam Thái Bình Dương

TQ chế máy bay không người lại nhỏ như con…ruồi

Trung Quốc vừa khiến giới công nghệ quân sự thế giới bất ngờ khi công bố một loại máy bay...
Read More
TQ chế máy bay không người lại nhỏ như con…ruồi

Từ Thái Bình Dương nhìn về Biển Đông

Tân Hoa xã đưa tin: Hai nhóm tác chiến tàu sân bay – Liêu Ninh và Sơn Đông đã tiến...
Read More
Từ Thái Bình Dương nhìn về Biển Đông

‘Nhất thể hóa mặt trận’ Biển Đông và biển Hoa Đông để đối phó thách thức

Mỹ cùng một số đồng minh đang hướng đến việc ‘nhất thể’ Biển Đông và biển Hoa Đông thành một...
Read More
‘Nhất thể hóa mặt trận’ Biển Đông và biển Hoa Đông để đối phó thách thức

Bộ tứ gặp sóng gió khi các hành động và chính sách của Mỹ thay đổi

Các hành động và chính sách của Tổng thống Mỹ Donald Trump đang khiến quan hệ giữa nước này với...
Read More
Bộ tứ gặp sóng gió khi các hành động và chính sách của Mỹ thay đổi

Hệ thống Patriot của Mỹ nhiều chưa từng có để chặn tên lửa Iran

Các kíp vận hành hệ thống phòng không Patriot của Mỹ chỉ có vài giây để khai hỏa khi một...
Read More
Hệ thống Patriot của Mỹ nhiều chưa từng có để chặn tên lửa Iran

Mỹ sẽ đối phó với TQ như thế nào?

Lục quân Mỹ đặt mục tiêu đóng vai trò then chốt trong việc răn đe Trung Quốc và ngăn chặn...
Read More
Mỹ sẽ đối phó với TQ như thế nào?

Category Archives: Aktuell

Những điểm nóng quân sự ở châu Á

Tổng thống Mỹ Joe Biden có chuyến thăm Hàn Quốc và Nhật Bản, trong bối cảnh môi trường an ninh ở khu vực đang ở mức bất ổn nhất trong nhiều thập kỷ.

Những điểm nóng Đài Loan, Triều Tiên, Biển Đông, biên giới Ấn Độ – Trung Quốc, và quần đảo Kuril đều mang hiệu ứng từ xung đột ở Ukraine.

Đài Loan

Với Đài Loan, Mỹ cũng cam kết cung cấp những vũ khí cần thiết để hòn đảo tự bảo vệ, dù không điều quân đến. Đó là bài học rút ra từ Ukraine, đối với Mỹ và các đồng minh, cũng như với Trung Quốc.

“Nói một cách đơn giản, rất khó để các lãnh đạo Mỹ thuyết phục Trung Quốc rằng họ sẵn sàng mạo hiểm với một cuộc chiến ở Đài Loan, để từ đó có nguy cơ sa vào chiến tranh hạt nhân”, Peter Harris, phó giáo sư ngành khoa học chính trị tại ĐH bang Colorado, viết trong bài đăng tuần này.

“Điều này đặc biệt đúng khi Tổng thống Biden từ chối một cách mơ hồ việc cam kết đưa quân đến Ukraine vì lo nguy cơ chiến tranh hạt nhân với Nga”, ông Harris viết.

Tuy nhiên, chuyên gia này cho rằng Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) và nhiều quốc gia đã sát cánh với Ukraine, bằng cách trừng phạt Nga và viện trợ vũ khí cho Kiev.

Ông cho rằng điều này sẽ khiến Trung Quốc thận trọng hơn với đảo Đài Loan, để tránh nguy cơ bị trừng phạt tương tự.

“Trung Quốc chắc chắn không nghi ngờ việc Nhật, Úc, Hàn Quốc, Philippines và các nước khác ở khu vực sẽ buộc phải nghĩ lại về chiến lược an ninh quốc gia của họ vì sức mạnh ngày càng lớn và các hành động của Bắc Kinh”, ông Harris viết.

Và một phần nhiệm vụ của ông Biden trong chuyến thăm Đông Bắc Á lần này sẽ là đoàn kết khu vực.

Triều Tiên

Triều Tiên đã phóng thử số lượng tên lửa nhiều kỷ lục trong mấy tháng đầu năm nay, và có dấu hiệu cho thấy nước này đang chuẩn bị cho một vụ thử hạt nhân lần đầu tiên kể từ năm 2017.

Những vụ phóng này diễn ra trong bối cảnh đàm phán giữa Triều Tiên và Mỹ về vấn đề phi hạt nhân tiếp tục bế tắc.

Giới quan sát cho rằng Triều Tiên gia tăng phóng thử vũ khí để thu hút sự chú ý của Mỹ nhằm khởi động lại đàm phán.

Một số chuyên gia cho rằng ông Biden có thể giảm mối đe doạ từ Triều Tiên bằng cách tăng cường các quan hệ đối tác của Mỹ ở Thái Bình Dương.

Quần đảo Kuril

Quần đảo mà Nhật Bản gọi là Lãnh thổ phương Bắc này thuộc quyền quản lý của Nga từ khi Nhật Bản đầu hàng quân đồng minh năm 1945.

Bất đồng về quyền sở hữu hợp pháp quần đảo này khiến Tokyo và Mátxcơva đến giờ vẫn chưa ký được hiệp ước hòa bình.

Xung đột ở Ukraine khiến quan hệ giữa Nga và Nhật Bản trở nên căng thẳng hơn, sau khi Tokyo áp hàng loạt biện pháp trừng phạt các cá nhân và tổ chức của Nga.

Nga cũng đang tăng cường hoạt động quân sự ở Tây Thái Bình Dương, bằng cách thử tên lửa trên vùng biển nằm giữa Nga và Nhật Bản và cùng Hải quân Trung Quốc tập trận.

“Vì những điều đó, quan điểm của Nhật Bản về khu vực rìa phía bắc đã thay đổi đáng kể”, Robert Ward, Chủ tịch Viện nghiên cứu quốc tế về an ninh, nhận định.

Căng thẳng ở phía bắc tạo ra cái mà Ward gọi là “vòng cung rủi ro” đối với Nhật Bản, từ hướng quần đảo Kuril, Triều Tiên, biển Hoa Đông và đảo Đài Loan.

Điều này cũng là mối bận tâm của ông Biden, vì Mỹ cam kết bảo vệ Nhật Bản theo hiệp ước phòng thủ tương hỗ.

Biển Đông

Yêu sách phi lý của Trung Quốc đối với hầu khắp vùng Biển Đông rộng 1,3 triệu dặm vuông trở thành nguồn cơn căng thẳng giữa Washington và Bắc Kinh trong những năm gần đây.

Các chuyên gia cho rằng cuộc xung đột ở Ukraine cũng như ở eo biển Đài Loan, Triều Tiên và quần đảo Kurils khiến tình hình Biển Đông gần đây hạ nhiệt đôi chút.

Collin Koh, nhà nghiên cứu công tác tại Trường Quốc tế học S. Rajaratnam Singapore, lưu ý rằng trong năm 2022, Hải quân Mỹ có vẻ đang hạn chế hoạt động tự do hàng hải gần các cấu trúc mà Trung Quốc chiếm đóng trái phép trên Biển Đông. Từ đầu năm đến nay mới có một chuyến như vậy, diễn ra vào tháng 1.

“Có vẻ chính quyền Biden đang chuyển từ tập trung vào quân sự sang địa kinh tế nhiều hơn”, ông Koh nhận định.

Ông Koh cho rằng cuộc xung đột ở Ukraine khiến Bắc Kinh nhận ra rằng họ có thể gặp vấn đề tương tự khi cố bảo vệ các cấu trúc quân sự hoá ở Biển Đông.

“Ngay cả khi Trung Quốc có thể giành được ưu thế ban đầu bằng cách chiếm một số cấu trúc ở Biển Đông, nhưng việc giữ được những cấu trúc đó trong dài hạn không phải điều chắc chắn”, ông Koh nói.

Ấn – Trung

Ấn Độ là một thành viên của “Bộ tứ”, một liên minh lỏng lẻo của Mỹ, Nhật, Ấn Độ và Úc nhằm đối phó với ảnh hưởng ngày càng lớn của Trung Quốc ở khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương.

Trong khi đó, Ấn Độ có quan hệ gần gũi từ lâu với Nga, và hiện nay hai bên vẫn tiếp tục giữ gìn.

Tuy nhiên, GS Harsh V. Pant, công tác tại trường Kings College London và là giám đốc Quỹ nghiên cứu Obsever ở New Delhi, cho rằng có 2 yếu tố từ Ukraine có thể khiến Ấn Độ nghiêng về Mỹ.

Thứ nhất, những thông tin tình báo mà Washington và các đồng minh cung cấp đã giúp Ukraine ngăn chặn và làm chậm đà tiến quân của Nga trên chiến trường.

Ấn Độ có quan tâm tương tự Mỹ trong lĩnh vực giám sát và tìm hiểu năng lực quân sự của Trung Quốc.

Thứ hai, vai trò của Nga khi cung cấp một nửa số vũ khí trong kho của Ấn Độ có thể sẽ gặp một số vấn đề về bảo dưỡng và bộ phận thay thế, trong bối cảnh Nga đang phải sử dụng rất nhiều vũ khí ở Ukraine và các lệnh trừng phạt quốc tế khiến mọi trao đổi với bên ngoài trở nên khó khăn.

Ông Pant nói rằng Washington và các đồng minh có thể sẽ vừa cung cấp vũ khí, vừa chuyển giao công nghệ để Ấn Độ tự sản xuất.

Đó có thể là một chủ đề lớn trong cuộc họp của các lãnh đạo “Bộ tứ” tại Tokyo trong tuần tới.

BDN

Loading

Views: 0

Sáng kiến mới của “Bộ tứ”

Tại hội nghị thượng đỉnh diễn ra ở Tokyo ngày 24/5, các nhà lãnh đạo “Bộ tứ” dự kiến đưa ra sáng kiến đối phó với tình trạng đánh bắt trái phép ở khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương. Sáng kiến khiến Trung Quốc như đang bị chạm nọc.

Ảnh vệ tinh về tàu Trung Quốc dày đặc tại bãi Đá Ba Đầu trong vùng Biển Đông có tranh chấp, ngày 23/03/2021.

“Bộ tứ”, còn gọi là “bộ tứ kim cương” QUAD, gồm 4 cường quốc Ấn Độ, Mỹ, Úc và Nhật Bản. Dù nội bộ cũng có những khác biệt, nhưng nhìn chung, “Bộ tứ” thảy đều cố nín nhịn những điều có thể, để dung hòa, không gây ảnh hưởng đến lợi ích chung.

Những cuộc họp, gặp, đối thoại của các cấp lãnh đạo ngay cả thời gian quá bấn bíu với chống dịch Covid hai năm vừa qua, thể hiện sự nỗ lực của nhóm, nhất là Mỹ, quốc gia dù không có danh nghĩa, nhưng trong thực tế có vai trò như “anh Cả”.

Dù không, hoặc ít khi lộ ra, nhưng với những gì thể hiện, cộng đồng quốc tế, nhất là giới nghiên cứu không thể không mường tượng rằng một trong những đối tượng của QUAD là Trung Quốc.

Ngược chút ít thời gian, trong Tuyên bố chung của QUAD đưa ra ngày 11/2 năm nay của ngoại trưởng 4 nước, sau cuộc họp tại Melbourne, Úc, gồm Antony Blinken (Mỹ), Marise Payne (Úc), Subrahmanyam Jaishankar (Ấn Độ) và Yoshimasa Hayashi (Nhật Bản), có đoạn: “Chúng tôi một lần nữa nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tuân thủ luật pháp quốc tế, đặc biệt được phản ánh trong Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển (UNCLOS) năm 1982, nhằm đối phó các thách thức về trật tự hàng hải dựa trên luật pháp, bao gồm cả ở Biển Đông và Biển Hoa Đông”.

Biển Đông và biển Hoa Đông, tại hai vùng biển này, ai là thủ phạm gây ra “các thách thức về trật tự hàng hải dựa trên luật pháp” để đến nỗi QUAD bận tâm đối phó, nếu không phải là Trung Quốc?

Trước thềm Hội nghị thượng đỉnh lần này, với sự hiện diện của tổng thống Mỹ Biden và các nguyên thủ ba thành viên còn lại, mới biết, hóa ra, QUAD thâm mưu, đã dọn đường cho “Sáng kiến đối phó với tình trạng đánh bắt trái phép ở khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương” từ đầu năm, trong cuộc họp cấp bộ trưởng ngoại giao nêu trên. Đó là chưa kể, tới đầu tháng 5 này, ông Kurt Campbell – Điều phối viên khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương của Mỹ – cũng nói: Washington sẽ sớm công bố kế hoạch đối phó với tình trạng đánh bắt trái phép.

Thế là đã rõ, công tác chuẩn bị cho Sáng kiến ra đời (đối phó với đánh bắt hải sản tùy tiện của Trung Quốc) của QUAD là bài bản theo quy trình.

Tờ Finacial Times, ngày 22/5, dẫn lời một quan chức Mỹ úp mở rằng, sáng kiến mới sẽ sử dụng công nghệ vệ tinh để tạo nên một hệ thống theo dõi hoạt động đánh bắt trái phép từ Ấn Độ Dương đến Nam Thái Bình Dương, bằng cách kết nối với các trung tâm giám sát ở Singapore và Ấn Độ…Cũng Finacial Times cho biết: Sáng kiến hàng hải mới sẽ cho phép các nước thành viên giám sát hoạt động đánh bắt hải sản trái phép ngay cả khi tàu tắt thiết bị phát đáp radar.

Chết Trung Quốc rồi. Theo dõi, giám sát đến thế thì “con kiến” cũng không lọt, đừng nói đội tàu cá Trung Quốc đông, nhiều như lá tre. Nói cách khác, còn đâu hy vọng để Trung Quốc lặng lẽ cho cả đàn tàu cá xâm nhập trái phép vùng biển thuộc chủ quyền các nước láng giềng, nhất là trên Biển Đông, mà không hoặc lâu lâu sau mới bị phát hiện. Và lộ ra thì sự đã rồi. Khi ấy, Trung Quốc, nếu viện cớ tránh bão thì là may, bởi sau đó, trước sự làm căng của bên đang quản lý và phản đối của dư luận, họ còn rút đi (như trong vụ gần 300 tàu cá, nghi là tàu dân quân biển trá hình, tại vùng biển Đá Ba Đầu, tháng 3/2021, khiến cả Philippines và Việt Nam phải to tiếng với Trung Quốc); tình huống xấu hơn, là Bắc Kinh giở bài cùn, cho tàu ở lỳ tại đó, cậy thế thách thức tất cả.

Các quốc gia khu vực châu Á – Thái Bình Dương, nhất là các nước duyên hải Biển Đông quá biết Trung Quốc có số lượng tàu cá lớn nhất thế giới. Họ cũng thường xuyên bị các tàu cá Trung Quốc xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế và khai thác hải sản kiểu tận diệt…

Với một kẻ rắn mặt như Trung Quốc, đấu lực tay đôi thì khi cần vẫn phải đấu, nhưng các nước tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông với Trung Quốc, xét về cơ bắp, quá lép vế. Đấu tranh ngoại giao vẫn cần, nhưng hiệu quả cũng quá hạn chế, vì Bắc Kinh là kẻ cùn số một.

Vì thế, dù nói ra hay không, các nước có yêu sách chủ quyền Biển Đông thảy đều hoan hỷ với sáng kiến nêu trên của “Bộ tứ”. Họ ngầm coi đó như một động thái “quốc tế hóa” vấn đề do “Bộ tứ” chủ động, đồng thời mong sáng kiến sớm được triển khai.

BDN

Loading

Views: 0

Chuyên gia an ninh lương thực: Dự trữ lúa mì toàn cầu chỉ tồn tại trong vòng 10 tuần

  • Sara Menker, một chuyên gia về an ninh lương thực, nói với Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc rằng, dự trữ lúa mì toàn cầu có thể cạn kiệt trong khoảng 10 tuần.
  • Nguyên nhân rất đa dạng: chu kỳ hạn hán toàn cầu kéo dài, biến đổi khí hậu và thiếu phân bón. Cuộc chiến của Nga ở Ukraine cũng góp phần vào việc này.
  • “Tình trạng tồi tệ hơn so với năm 2007 và 2008,” Menker nói. Lượng dự trữ đối với ngô và các loại ngũ cốc khác cũng có mối lo ngại tương tự.

Theo một chuyên gia về an ninh lương thực tại Liên hợp quốc, nguồn cung lúa mì toàn cầu sẽ cạn kiệt trong khoảng 10 tuần nữa. Sara Menker, giám đốc điều hành của công ty phân tích nông nghiệp Gro Intelligence, nói với Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc rằng, cuộc chiến giữa Nga và Ukraine không phải là gốc rễ của khủng hoảng an ninh lương thực, mà chỉ “đổ thêm dầu vào lửa đã cháy từ lâu”.

Putin dùng lương thực làm “con tin”

Ukraine được mệnh danh là “vựa lúa của thế giới”. Nga và Ukraine chiếm gần một phần ba tổng lượng lúa mì xuất khẩu toàn cầu. Ngoại trưởng Mỹ Antony Blinken trước đó cáo buộc Nga sử dụng lương thực làm vũ khí chiến tranh. Blinken nói với Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc rằng, Nga đang giữ lương thực làm “con tin” không chỉ đối với Ukraine, mà cả hàng triệu người trên thế giới.

“Chính phủ Nga dường như nghĩ rằng việc giữ lại lương thực sẽ giúp họ làm được những gì mà cuộc xâm lược đã thất bại – làm nhụt chí của người dân Ukraine”, Blinken nói.

Menker cho biết chu kỳ hạn hán toàn cầu đang làm cho sản lượng lúa mì giảm mạnh. Ngoài ra, do biến đổi khí hậu và thiếu phân bón nguồn cung cấp lương thực cũng đang bị ảnh hưởng, theo chuyên gia an ninh lương thực.

Chỉ còn có 20 đến 33 % bảo đảm cho lượng tiêu thụ hàng năm

“Chúng tôi hiện chỉ có lượng dự trữ cho 10 tuần tiêu thụ toàn cầu. Với điều kiện hiện tại là tồi tệ hơn so với những năm 2007 và 2008, ”cô nói. Menker giải thích rằng theo ước tính chính thức của các cơ quan nhà nước trên khắp thế giới, dự trữ lúa mì hiện chiếm khoảng 33% lượng tiêu thụ hàng năm. Nhưng, cô ấy nói thêm rằng, các mô hình do Gro Intelligence xây dựng, cho thấy con số này có thể chỉ khoảng 20% – một mức thấp chưa từng thấy kể từ năm 2007 và 2008.

Menker: “Điều quan trọng cần nhấn mạnh là dự trữ ngũ cốc toàn cầu đang ở mức thấp nhất mọi thời đại, trong khi khả năng tiếp cận với phân bón bị hạn chế nghiêm trọng và hạn hán ở các khu vực trồng lúa mì trên thế giới đang ở mức tồi tệ nhất trong hơn 20 năm qua.” Những lo ngại tương tự về các kho dự trữ cũng sẽ áp dụng đối với ngô và các loại ngũ cốc khác.

Lê Hoàng biên dịch

Nguồn:

https://www.businessinsider.de/wirtschaft/expertin-fuer-nahrungssicherheit-weltweite-weizenvorraete-reichen-nur-noch-fuer-die-naechsten-10-wochen-a/

Loading

Views: 0

Trung Quốc bình luận về xu hướng chiến sự sau khi Nga chiếm được Mariupol

Ngày 19/5 vừa qua, người phát ngôn Bộ Quốc phòng Nga Konashenkov thông báo: Từ ngày 16/5 tới nay đã có 1.730 người thuộc quân đội Ukraine và thuộc “Tiểu đoàn Azov” trong lực lượng quân sự Ukraine bị bao vây trong Nhà máy gang thép Azovstal ở Mariupol ra hàng. Dư luận bên ngoài phổ biến cho rằng trận chiến dài nhất và đẫm máu nhất trong cuộc xung đột Nga-Ukraine đã cơ bản chấm dứt. Trong hơn 80 ngày qua, chiến trận tại Mariupol đã trực tiếp ảnh hưởng tới xu thế phát triển cuộc xung đột nói trên. Trong tương lai, quân đội Nga sau khi dứt ra khỏi trận chiến đó sẽ tấn công về hướng nào?

Bày lại bàn cờ “Chiến sự đẫm máu nhất trong cuộc xung đột Nga-Ukraine”

Sau ngày 24/2/2022 khi Nga bắt đầu thực thi “Hành động quân sự đặc biệt” đối với Ukraine, Mariupol trở thành một trong những thành phố quân đội Nga coi là trọng điểm tấn công. Đây là thành phố hải cảng quan trọng trên bờ biển Azov của vùng Donbas thuộc Ukraine, nhiều năm qua là đầu mối xuất khẩu sắt thép, than và nông sản Ukraine đi các vùng Trung Đông và châu Âu. Đối với quân đội Nga, việc chiếm được Mariupol sẽ giúp cho việc hoàn toàn đánh thông miền Tây nước Nga nối liền với vùng Donbas – miền Nam Ukraine – bán đảo Crimea, triệt để chia cắt Ukraine và thực hiện phong tỏa Ukraine trên biển. Nhưng chẳng ai ngờ được rằng cùng với thời gian tác chiến không ngừng kéo dài, trận đánh tại Mariupol trở nên nổi tiếng hơn các hướng chủ công khác của quân đội Nga tại Kyiv, Kharkiv, Sumei.

Khi mới bắt đầu tác chiến, quân đội Nga hy vọng thực hiện “đánh chớp nhoáng”, dùng ưu thế áp đảo bẻ gãy sự phòng ngự của quân đội Ukraine tại Mariupol. Quân đội Nga chia hai mũi tấn công: một mũi là lục quân Nga từ Donesk ở phía Đông tiến đánh Mariupol. Một mũi là Hạm đội Biển Đen của Hải quân Nga từ bờ biển Azov phía Tây Mariupol tiến hành đổ bộ. Nhằm mục đích đó, Hải quân Nga cho 10 tàu đổ bộ ra trận, trong đó 6 tàu trước đấy đã được điều từ Hạm đội biển Baltic và Hạm đội biển Bắc đến đây, qua đó có thể thấy quân đội Nga đã có sự chuẩn bị đầy đủ cho trận tấn công Mariupol. Thế nhưng hành động công kiên của quân đội Nga lại gặp phải sự chống trả mạnh mẽ của quân đội Ukraine, tốc độ tiến của quân đội Nga rất chậm.

Cho tới ngày 16/4, người phát ngôn Bộ Quốc phòng Nga mới công bố ra ngoài, nói quân đội Nga đã kiểm soát tất cả các vùng ở thành phố Mariupol, trừ nhà máy thép Azovstal. Khi ấy đã gần hai tháng trôi qua kể từ ngày Nga bắt đầu “Hành động quân sự đặc biệt”. Trong quãng thời gian đó, chiến thuật tác chiến “Tốc độ nhanh quyết định” do phía Nga đề ra ban đầu chưa được thực thi có hiệu quả. Ngoại trừ chiến tích quan trọng giành được tại Kherson ở miền Nam Ukraine ra, chiến sự [của quân đội Nga] tại Kyiv ở miền Bắc, tại Sumei và Kharkiv ở hướng Đông Bắc, tại Donbas ở hướng Đông Nam đều không tiến triển như dự định. Giả thiết, nếu quân đội Nga dễ dàng chiếm được Mariupol, sau đó nhanh chóng chia quân tiến lên phía Tây hoặc phía Bắc thì rất có thể họ đã đảo ngược được thế trận. Thảo nào phía Ukraine nhiều lần nhấn mạnh nhà máy thép Azovstal đã làm cho dự định [của phía Nga] điều ngót 20 nghìn bộ đội chủ lực (khoảng 1 phần 10 tổng binh lực Nga đưa vào Ukraine) đến các vùng khác ở Ukraine bị chậm lại. Đúng là sự chống cự của quân đội Ukraine tại Mariupol đã viết lại tiến trình cuộc xung đột Nga-Ukraine.

Sau khi quân đội Ukraine chật vật cố thủ nhà máy Azovstal, chiến sự tại đây tuy không có tiến triển lớn nhưng lại trở thành “Tượng trưng cho ý chí chống cự của Ukraine”, nhanh chóng thu hút sự chú ý của toàn thế giới. Ngày 21/4, Tổng thống Putin tuyên bố hủy bỏ kế hoạch tấn công nhà máy Azovstal, đổi thành sách lược vây chặt, nhằm giảm thương vong. Tổng thống Ukraine Zelensky bèn bắt tay với phương Tây tạo ra bầu không khí “bi thương” của quân đội Ukraine tại nhà máy Azovstal. Thủ tướng Đức Scholz, Tống Thư ký Liên Hợp Quốc Guterres, cho đến cả Giáo Hoàng La Mã đều nhất trí kêu gọi mở đường sống cho quân đội Ukraine, hình thành sức ép lớn đối với Nga. Nhưng Chính phủ Ukraine hiểu rằng bộ đội cố thủ của họ khó có thể chống đỡ lâu dài. Ngày 16/5, Bộ Tổng Tham mưu các lực lượng vũ trang Ukraine tỏ ý đã kết thúc nhiệm vụ chiến đấu tại Mariupol và để cho các binh sĩ của họ tiến hành “rút lui” (đầu hàng).

Trong ngữ cảnh của thế giới phương Tây, các nhà phân tích ưa thích đem cuộc chiến đấu tại Mariupol bàn luận ngang hàng với trận chiến bảo vệ Leningrad trong Thế chiến II, kèm theo nhiều ẩn dụ. Thứ trưởng Quốc phòng Ukraine, ông Maliar nói: “Nhờ có các chiến sĩ bảo vệ Mariupol mà Ukraine giành được quãng thời gian quan trọng để tổ chức quân hậu bị, cải tổ bộ đội và tiếp nhận viện trợ từ các đối tác bạn bè. Bộ đội cố thủ tại Mariupol đã hoàn thành tất cả các nhiệm vụ.” Xét theo toàn bộ sự thay đổi xu thế cuộc xung đột Nga-Ukraine thì phát biểu của Maliar không phải là khoe khoang. Sự chống cự lâu dài của quân đội Ukraine tại Mariupol chẳng những đã thành công kìm chân cuộc tấn công của quân đội Nga, mà ý chí chiến đấu kiên định họ đã thể hiện còn làm cho các nước NATO hiểu rằng sự “hợp tác” theo cách phương Tây xuất trang thiết bị và ngân khoản, Ukraine xuất người, là hình thức “Chống Nga” có hiệu quả.

Bước tiếp sau của quân đội Nga: tiến lên phía Bắc hay phía Tây?

Cho dù vẫn còn một bộ phận lực lượng vũ trang Ukraine giấu mình bên trong nhà máy gang thép Azovstal, nhưng dư luận phổ biến cho rằng quân đội Nga trên thực tế đã hoàn toàn kiểm soát Mariupol. Đây là chiến thắng lớn nhất mà quân đội Nga giành được, có nghĩa là phần lớn bờ biển Ukraine hiện nay đã rơi vào tay quân Nga; Crimea, miền Nam Ukraine và Donbas đã nối liền thành một mảng, phần lãnh thổ Ukraine tương đương diện tích Hy Lạp đã bị Nga kiểm soát.

Điều làm cho người bên ngoài quan tâm là sau khi rảnh tay [khỏi Mariupol], quân đội Nga sẽ mở cuộc tấn công theo hướng nào. Hiện nay họ có thể lựa chọn trong 2 hướng tấn công trọng điểm: một là “Bắc thượng” tiến lên vùng phía bắc Donbas, và một là “Tây tiến” Odesa. Nếu quân đội Nga hoàn toàn chiếm được Odesa thì Ukraine sẽ mất tất cả các lối ra biển, hoàn toàn mất đường tiếp tế trên biển. Điều đó có ý nghĩa cực lớn về chính trị và ý nghĩa tượng trưng. Nhưng hiện nay Hạm đội Biển Đen của Nga đã tiến hành phong tỏa trên biển phía ngoài Odesa, thành phố này đã khó mà phát huy được tác dụng đầu mối của một cảng biển. Thêm nữa, tuyến đường huyết mạch của Odesa – cây cầu lớn vượt biển đã bị quân đội Nga phá hủy, trên thực tế đã cắt đứt con đường tiếp vận vũ khí đạn dược từ phương Tây qua ngả Rumani vào Odesa. Bởi vậy việc đánh chiếm Odesa đã không còn là nhiệm vụ khẩn cấp đối với quân đội Nga. Sau khi rảnh tay ở Mariupol, rất có thể quân đội Nga sẽ đưa chủ lực vào hướng Donbas.

Tại tỉnh Luhansk ở vùng Donbas, quân đội Nga đã kiểm soát hơn 90% vùng này, trọng điểm tấn công tiếp sau của họ sẽ là Bắc Donesk. Từ năm 2014 khi miền Đông Ukraine nổ ra khủng hoảng, Chính phủ Ukraine đã bố trí các cơ quan hành chính Luhansk đóng tại Bắc Donesk. Đối với Chính phủ Ukraine, Bắc Donesk tương đương như thủ phủ tỉnh Luhansk. Quân đội Ukraine bố trí lực lượng mạnh ở ngoại vi thành phố này và đã xây dựng công sự phòng ngự dầy đặc. Chiếm được Bắc Donesk là tiền đề và là bảo đảm giữ được sự độc lập cho tỉnh Luhansk, cũng là phần quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu của “hành động quân sự đặc biệt” của Nga tại Ukraine và sẽ đe dọa nghiêm trọng trận địa quân đội Ukraine ở Altemovsk. Nơi đây là đầu mối giao thông đường bộ quan trọng, quân đội Nga có thể mượn con đường này để tấn công quân đội Ukraine tại Lisichansk và chặt đứt tuyến tiếp tế quan trọng của đối phương, thực hiện mục đích bao vây tiêu diệt quân đội Ukraine ở Luhansk. Ngoài ra, tấn công thành phố Zaporoge thủ phủ tỉnh Zaporoge cũng là một lựa chọn. Tóm lại, chỉ có hoàn toàn chiếm được vùng Donbas thì quân đội Nga mới có thể thực hiện mục tiêu chủ yếu của “Hành động quân sự đặc biệt giai đoạn hai”.

Nguyễn Hải Hoành biên dịch từ nguồn tiếng Trung trên Thời báo Hoàn cầu 马里乌波尔之战影响俄乌冲突走向,抽身后俄军又将剑指何方,  2022-05-20.

Loading

Views: 0

Hơn 70 quốc gia cùng bàn về kinh tế đại dương bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu

Dự kiến sẽ có đại diện hơn 70 quốc gia tham dự Hội nghị quốc tế về kinh tế đại dương bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu dự kiến sẽ được tổ chức trong hai ngày 12 và 13/5 tại Hà Nội.

Cuộc họp chuẩn bị cho Hội nghị quốc tế về Kinh tế đại dương bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu.

Theo đó, dự kiến đại diện của hơn 70 quốc gia sẽ cùng trao đổi về các nội dung, như xây dựng đô thị ven biển thông minh và có khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu, ô nhiễm và rác thải nhựa đại dương, an ninh lương thực và khả năng chống chịu của các cộng đồng dễ bị tổn thương…

Đây là hội nghị quốc tế quan trọng và có quy mô lớn trong lĩnh vực phát triển bền vững kinh tế đại dương và thích ứng với biến đổi khí hậu. Việc tổ chức hội nghị sẽ góp phần thể hiện vai trò chủ động, tích cực của Việt Nam trong việc giải quyết các vấn đề toàn cầu, nâng cao vị thế của nước ta trong khu vực và trên thế giới.

Hội nghị quốc tế về kinh tế đại dương bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu với chủ đề chung “Các giải pháp cho một nền kinh tế biển có khả năng chống chịu” dự kiến sẽ tổ chức trong hai ngày 12 và 13/5, gồm 4 phiên toàn thể và 4 phiên chuyên đề: Phục hồi và xây dựng lại tốt hơn sau đại dịch COVID-19 vì một nền kinh tế biển bền vững và có khả năng chống chịu với khí hậu; quy hoạch không gian biển và xây dựng các đô thị và hạ tầng ven biển có khả năng chống chịu với khí hậu; an ninh khí hậu, giới và khả năng chống chịu của các cộng đồng dễ bị tổn thương; nguồn tài chính cho khí hậu và đại dương.

Theo Đề án tổ chức Hội nghị năm 2022 đã được phê duyệt, Hội nghị quốc tế về kinh tế đại dương bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu với chủ đề chung “Các giải pháp cho một nền kinh tế biển có khả năng chống chịu” dự kiến sẽ tổ chức trong 2 ngày (12-13/5/2022), gồm: 4 phiên toàn thể (Phiên toàn thể 1 – Phiên Khai mạc; Phiên toàn thể 2 – Rủi ro an ninh liên quan đến khí hậu; Phiên toàn thể đặc biệt – Giải quyết vấn đề ô nhiễm đại dương và Rác thải nhựa đại dương: Một Thách thức lớn của thế kỷ 21; Phiên toàn thể 4 – Phiên Bế mạc) và 4 Phiên chuyên đề (mỗi phiên có 3-4 phiên song song): Phục hồi và Xây dựng lại tốt hơn sau đại dịch COVID-19 vì một nền kinh tế biển bền vững và có khả năng chống chịu với khí hậu; Quy hoạch không gian biển và Xây dựng các đô thị và hạ tầng ven biển có khả năng chống chịu với khí hậu; An ninh khí hậu, Giới và Khả năng chống chịu của các Cộng đồng dễ bị tổn thương và Nguồn tài chính cho Khí hậu và Đại dương.

Bên cạnh các phiên toàn thể và phiên chuyên đề, sẽ có các các cuộc họp và sự kiện bên lề bao gồm: Lễ Công bố Báo cáo Kinh tế biển xanh – Hướng đến phát triển bền vững kinh tế biển; Mô hình nhà chống bão, lũ – Bài học kinh nghiệm từ miền Trung Việt Nam; Triển lãm Đóng góp của doanh nghiệp và các sáng kiến khác cho kinh tế đại dương bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu.

Đặc biệt, Hội nghị dự kiến sẽ đưa ra một Tuyên bố của các đồng Chủ tịch Hội nghị, trong đó, trình bày các nội dung và kết luận chính của Hội nghị, cung cấp thông tin đầu vào cho các sự kiện và tiến trình quốc tế liên quan trong tương lai, bao gồm cả Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc, Hội đồng Môi trường Liên Hợp Quốc vào năm 2022 được dự kiến sẽ diễn ra thảo luận về Thoả thuận toàn cầu ô nhiễm nhựa và các nội dung khác.

BDN

Loading

Views: 0

Thả con giống cá ngựa đen để tái tạo nguồn lợi thủy sản tại đảo Hòn Tre (Nha Trang)

Hoạt động có ý nghĩa to lớn góp phần làm đa dạng hệ sinh thái biển, tái tạo nguồn lợi thủy sản của vịnh Nha Trang.

Cán bộ, nhân viên Chi nhánh ven biển (Trung tâm nhiệt đới Việt- Nga) và Ban quản lý Vịnh Nha Trang thả con giống xuống biển.

Từ ngày 29/4 đến 6/5, tại khu vực biển Bãi Bàng Lớn thuộc đảo Hòn Tre (Nha Trang), Chi nhánh Ven Biển thuộc Trung tâm nhiệt đới Việt – Nga đã phối hợp với Ban Quản lý vịnh Nha Trang ký biên bản bàn giao và tổ chức thả hơn 20.000 con giống cá ngựa đen (Hippocampus kuda Bleeker, 1852) thế hệ F2, kích thước mỗi con từ 30 – 90mm xuống biển, với tổng giá trị con giống hơn 800 triệu đồng.

Đây là hoạt động tiếp tục triển khai thực hiện Dự án cấp Nhà nước về: “Sản xuất thử nghiệm giống và nuôi thương phẩm nguồn gen cá ngựa đen (Hippocampus kuda Bleeker, 1852)”, do Thượng tá, Tiến sĩ Nguyễn Thị Hải Thanh, Trưởng phòng Sinh Thái Nhiệt đới/Chi nhánh Ven Biển (Trung tâm nhiệt đới Việt – Nga) làm chủ nhiệm dự án.

Hoạt động có ý nghĩa to lớn góp phần làm đa dạng hệ sinh thái biển, tái tạo nguồn lợi thủy sản của vịnh Nha Trang, đồng thời khẳng định trách nhiệm, vị thế của Trung tâm Nhiệt đới Việt – Nga trong công tác nghiên cứu, bảo tồn và phát triển những nguồn gen quý hiếm”.

BDN

Loading

Views: 0

Đã đến lúc Việt Nam xây dựng nền kinh tế xanh bền vững

Trang Asia Times (trụ sở tại Hong Kong) ngày 10/5 đăng bài của bà Kauujnni Wignaraja, Trợ lý Tổng thư ký Liên hợp quốc (LHQ), và bà Caitlin Wiesen, Trưởng đại diện thường trú Chương trình phát triển LHQ tại Việt Nam (UNDP), chỉ ra tầm quan trọng của việc Việt Nam lập kế hoạch phát triển bền vững nền kinh tế xanh, đảm bảo các lợi ích mà đại dương mang lại cho cả thế hệ hiện tại và tương lai.

Theo bài viết, ở Việt Nam, kinh tế biển và các tỉnh, thành phố ven biển chiếm gần một nửa GDP. Bao phủ hơn 3/4 hành tinh, các đại dương hấp thụ tới 30% lượng khí carbon do con người tạo ra – một vùng đệm lớn trước tác động của hiện tượng ấm lên toàn cầu.

Vai trò của đại dương và nền kinh tế xanh

Giống như không khí sạch và nước ngọt, đại dương là lợi ích công cộng toàn cầu. Không gì sánh được với đại dương với vai trò là một hệ sinh thái quan trọng và lớn nhất trên hành tinh. Hơn 3 tỷ người phụ thuộc vào các hệ sinh thái biển, ven biển và đa dạng sinh học để kiếm sống.

Nền kinh tế xanh toàn cầu – gồm dầu và khí đốt, nghề cá, du lịch biển và ven biển, vận tải biển, cảng, năng lượng tái tạo và các hệ sinh thái biển và ven biển – đóng góp khoảng 3.000 tỷ USD mỗi năm, tương đương khoảng 5% GDP của thế giới. Với bờ biển dài hơn 3.000 km, kinh tế biển và các tỉnh, thành phố ven biển chiếm gần một nửa GDP của Việt Nam.

Tuy nhiên, các đại dương đang phải đối mặt với những mối đe dọa nghiêm trọng từ biến đổi khí hậu, xâm nhập mặn, mất oxy và nóng lên. Nếu không được kiểm soát, điều đó sẽ tác động tàn phá đối với cả cuộc sống dưới biển và cuộc sống trên đất liền, cuối cùng là sự tồn tại của con người và hành tinh của chúng ta.

Các đánh giá gần đây cho thấy mực nước biển dâng 1m sẽ ảnh hưởng đến 11% dân số Việt Nam và 7% diện tích đất nông nghiệp của Việt Nam. Tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng của mực nước biển dâng, biến đổi khí hậu cuối cùng có thể khiến 38‐46% dân số Việt Nam phải hứng chịu lũ lụt.

Ngoài ra, ô nhiễm đại dương, đặc biệt là rác thải nhựa, đang ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của con người và sinh vật biển. Tại Việt Nam, ước tính khoảng 3,7 triệu tấn chất thải nhựa được tạo ra hàng năm, trong đó chỉ 10-15% được tái chế. Khoảng 2.000 tấn rác thải nhựa từ trong nước rò rỉ ra đại dương mỗi ngày.

Là một trong những quốc gia dễ bị tổn thương nhất bởi biến đổi khí hậu, Việt Nam quyết tâm đóng góp một phần vào công cuộc ứng phó với biến đổi khí hậu trên toàn cầu.

Tại Hội nghị COP26 ở Glasgow (Anh) tháng 11/2021, Thủ tướng Phạm Minh Chính cam kết Việt Nam sẽ đạt mức phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050.

Việt Nam đang xây dựng các kế hoạch mạnh mẽ để phát triển bền vững nền kinh tế xanh, đảm bảo các lợi ích mà đại dương mang lại có thể được bảo vệ, gìn giữ và cải thiện để cung cấp cho cả thế hệ hiện tại và tương lai.

Đây sẽ là chìa khóa quan trọng nếu Việt Nam đạt được Mục tiêu phát triển bền vững vào năm 2030. Tháng 4 vừa qua, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã giao Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam (VASI) làm việc với các đối tác để xây dựng chiến lược phát triển bền vững cho kinh tế biển.

Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) đang hỗ trợ VASI xác định 6 ngành kinh tế biển và hình dung tiềm năng của nền Kinh tế Xanh của đất nước bằng cách đánh giá sự đóng góp của các ngành này đối với sự phát triển bền vững của Việt Nam.

Các dự án khác của UNDP trong nước, như quản lý tổng hợp vùng ven biển (ICM) – kết hợp quản lý các hoạt động của con người với bảo vệ các hệ sinh thái quan trọng – hỗ trợ phát triển bền vững, gồm quản lý vùng biển và ven biển, lưu vực sông và các hệ sinh thái liên quan khác.

Trong khi Việt Nam vẫn còn rất nhiều tiềm năng về đánh bắt và nuôi trồng thủy sản, cũng như phát triển năng lượng tái tạo – đặc biệt là gió ngoài khơi và các dịch vụ hệ sinh thái đa dạng sinh học và du lịch – điều cốt yếu là phải cân bằng sự tăng trưởng của các lĩnh vực liên kết chặt chẽ này, vì sự phát triển của một ngành có thể tác động đến những ngành khác.

Vì lý do này, cần có quy hoạch không gian biển quốc gia mạnh mẽ và toàn diện, gồm cả quy hoạch tổng thể vượt qua ranh giới cấp tỉnh, có thể giúp Việt Nam tập trung ưu tiên đầu tư công và khuyến khích khu vực tư nhân đầu tư vào các dự án sử dụng công nghệ xanh phát thải carbon thấp, các lĩnh vực như năng lượng gió và thủy triều ngoài khơi, công nghiệp, giao thông vận tải và du lịch biển.

Việc thúc đẩy các giải pháp dựa vào thiên nhiên vẫn là điều cần thiết, đặc biệt khi biến đổi khí hậu đang diễn ra với tốc độ và quy mô cao hơn dự đoán, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đa dạng sinh học và hệ sinh thái. Chỉ cần một chút chậm trễ, những kế hoạch và hành động này có thể là quá muộn.

Việt Nam đã đạt được những tiến bộ đáng kể và đáng ghi nhận trong việc thiết lập một hệ thống khu bảo tồn toàn diện, cho đến nay là16 khu vực biển như phá Tam Giang – Cầu Hai ở miền Trung.

Khoảng 12 triệu ha đất ngập nước trên toàn quốc cung cấp nguồn sinh kế chính và thu nhập bổ sung cho khoảng 20 triệu người, đóng vai trò là vùng đệm chống triều cường và bể chứa carbon, đồng thời ngăn chặn xâm nhập mặn.

UNDP đang hỗ trợ phục hồi và tái sinh 4.000 ha rừng ngập mặn ven biển để bảo vệ các cộng đồng dễ bị tổn thương và sinh kế.

Điều quan trọng là thúc đẩy bình đẳng giới và tăng cường vai trò của phụ nữ, dân tộc thiểu số cũng như các nhóm dễ bị tổn thương khác trong nền kinh tế xanh, gồm cơ hội trong các hoạt động liên quan đến biển, để hiện thực hóa tiềm năng kinh tế và xã hội của họ, đồng thời cho phép họ bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và tăng cơ hội cống hiến.

Cần đảm bảo rằng phát triển kinh tế không ảnh hưởng đến đại dương là điều cơ bản để bảo vệ nền kinh tế xanh. Đây là thách thức không chỉ đối với chính phủ và người dân Việt Nam, mà đối với cả thế giới.

BDN

Loading

Views: 0

Tại sao dầu và khí đốt của Nga lại rất quan trọng với thế giới?

Cơ quan Năng lượng Quốc tế đánh giá Nga là một gã khổng lồ trên thị trường khí đốt tự nhiên.

Một trong những nhà sản xuất và xuất khẩu dầu mỏ lớn

Theo tờ Thông tin Năng lượng của Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA), Nga là nước đóng vai trò quan trọng trong thị trường năng lượng toàn cầu. Đây là một trong ba nhà sản xuất dầu thô hàng đầu thế giới, cạnh tranh vị trí đầu bảng với Ả Rập Xê-út và Mỹ. Nga chủ yếu dựa vào nguồn thu từ xuất khẩu dầu mỏ và khí đốt tự nhiên, năm 2021, con số này chiếm 45% ngân sách quốc gia.

Năm 2021, sản lượng dầu thô và khí ngưng tụ của Nga đạt 10,5 triệu thùng/ngày, chiếm 14% tổng nguồn cung của thế giới. Nga có hệ thống sản xuất dầu thô và khí đốt trên khắp cả nước nhưng phần lớn các mỏ của nước này tập trung ở phía tây và đông Siberia. Năm 2021, ước tính xuất khẩu dầu thô của Nga đạt khoảng 4,7 triệu thùng/ngày dầu. Trung Quốc là nhà nhập khẩu dầu thô lớn nhất của Nga (1,6 triệu thùng/ngày) nhưng Nga cũng xuất khẩu một khối lượng đáng kể cho các khách hàng ở châu Âu (2,4 triệu thùng/ngày).

Nga sản xuất nhiều loại dầu thô khác nhau, trong đó dầu thô xuất khẩu chính là Urals, một loại dầu nặng trung bình. Moscow cũng xuất khẩu một lượng lớn dầu thô hỗn hợp ESPO sang châu Á, thông qua đường ống Đông Siberia-Thái Bình Dương. Các loại dầu khác bao gồm Siberian light, Sokol, Sakhalin blend, Arctic and Novy Port.

Trong khi ngành công nghiệp dầu mỏ của Nga đã chứng kiến một giai đoạn hợp nhất trong những năm gần đây thì một số công ty lớn vẫn còn chỗ đứng. Rosneft, thuộc sở hữu nhà nước, là nhà sản xuất dầu thô lớn nhất ở Nga. Tiếp theo là LUKOIL, công ty dầu khí tư nhân lớn nhất nước này. Gazprom Neft, Surgutneftegaz, Tatneft và Russneft cũng là những tập đoàn sản xuất và tinh chế dầu lớn.

Nga có hệ thống đường ống xuất khẩu dầu thô trải khắp, cho phép nước này vận chuyển khối lượng lớn dầu trực tiếp đến châu Âu cũng như châu Á. Hệ thống đường ống Druzhba dài khoảng 5.500 km, mạng lưới đường ống dài nhất thế giới, vận chuyển trực tiếp 750.000 thùng/ngày đến các nhà máy lọc dầu ở Đông và Trung Âu. Hiện tại, Nga cung cấp khoảng 20% tổng lượng dầu thô thông qua đường ống này tới các nhà máy lọc dầu của châu Âu.

Năm 2012, Nga đã cho đi vào hoạt động đường ống ESPO dài 4.740 km, đạt 1,6 triệu thùng/ngày, đưa dầu thô trực tiếp đến các thị trường châu Á như Trung Quốc và Nhật Bản. Đường ống này là một phần trong chiến lược xoay trục năng lượng chung của Nga sang châu Á, một chiến lược tập trung vào việc tránh phụ thuộc xuất khẩu sang châu Âu và tận dụng nhu cầu dầu thô ngày càng tăng của châu Á. Nga cũng vận chuyển dầu thô bằng tàu chở dầu từ các cảng phía Tây Bắc như Ust-Luga và Primorsk, cũng như cảng Novorossiysk ở biển Đen và Kozmino ở Viễn Đông. Ngoài ra, Nga cũng xuất khẩu dầu thô bằng đường sắt.

Nga có hệ thống công suất lọc dầu ước tính khoảng 6,9 triệu thùng/ngày và sản xuất một lượng đáng kể các sản phẩm dầu như xăng và dầu diesel. Các công ty Nga đã dành cả thập kỷ vừa qua để đầu tư mạnh mẽ vào hệ thống công suất lọc dầu sơ cấp và thứ cấp nhằm tận dụng ưu đãi thuế của chính phủ, cũng như nhu cầu dầu diesel toàn cầu ngày càng tăng.

Chiến lược năng lượng của Nga là ưu tiên việc tự cung tự cấp xăng dầu, vì vậy nước này có xu hướng xuất khẩu với khối lượng tối thiểu. Tuy nhiên, các nhà máy lọc dầu của Nga đã sản xuất gần gấp đôi lượng dầu diesel cần thiết để đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu một nửa sản lượng hàng năm, phần lớn trong số đó sang các thị trường châu Âu.

Ngoài ra, Nga còn là nhà xuất khẩu lớn về xăng chân không và dầu nhiên liệu nặng. Năm 2021, các nhà máy lọc dầu của Nga sản xuất 5,6 triệu thùng dầu thô mỗi ngày và xuất khẩu 2,8 triệu thùng/ngày. Châu Âu vẫn là thị trường chính cho các sản phẩm dầu của Nga. Năm 2021, Nga xuất khẩu 750.000 thùng dầu diesel sang châu Âu mỗi ngày, đáp ứng 10% nhu cầu lục địa già.

Một gã khổng lồ trên thị trường khí đốt tự nhiên

Nga là nhà sản xuất khí đốt tự nhiên lớn thứ hai thế giới, sau Mỹ và có trữ lượng khí đốt lớn nhất thế giới. Nga cũng là nước xuất khẩu khí đốt lớn nhất thế giới. Năm 2021, quốc gia này sản xuất 762 tỷ mét khối khí tự nhiên và xuất khẩu khoảng 210 tỷ mét khối.

Gazprom và Novatek là hai nhà sản xuất khí đốt chính của Nga, nhưng nhiều công ty dầu khí của Nga, bao gồm cả Rosneft, cũng vận hành các cơ sở sản xuất khí đốt. Gazprom, thuộc sở hữu nhà nước, là nhà sản xuất khí đốt lớn nhất, nhưng thị phần sản xuất của tập đoàn này đã giảm trong những năm qua, do Novatek và Rosneft đã mở rộng năng lực sản xuất. Tuy nhiên, Gazprom vẫn chiếm 68% sản lượng khí đốt của Nga trong năm 2021.

Về mặt lịch sử, hoạt động sản xuất khí đốt ban đầu tập trung ở Tây Siberia nhưng hiện Nga đã đầu tư sang cả khu vực Yamal, Đông Siberia và Viễn Đông, cũng như ngoài khơi Bắc Cực.

Nga sở hữu mạng lưới đường ống xuất khẩu khí đốt rộng khắp, với các tuyến đường trung chuyển qua Belarus và Ukraine, cũng như đường ống dẫn khí đốt trực tiếp vào châu Âu (bao gồm Nord Stream, Blue Stream và TurkStream).

Vào năm 2021, khí đốt tự nhiên của Nga chiếm 45% sản lượng nhập khẩu và gần 40% nhu cầu khí đốt của Liên minh châu Âu. Tỷ trọng này đã tăng lên trong những năm gần đây do sản lượng khí đốt tự nhiên khai thác trong nước của châu Âu giảm. Đức, Thổ Nhĩ Kỳ và Ý là những nước nhập khẩu khí đốt tự nhiên lớn nhất của Nga.

Vào cuối năm 2019, Nga đã khởi động một đường ống xuất khẩu khí đốt lớn về phía đông, đường ống Power of Siberia dài khoảng 3.000 km, với công suất 38 tỷ mét khối, có thể vận chuyển khí đốt sang Trung Quốc. Vào năm 2021, Gazprom đã xuất khẩu hơn 10 tỷ mét khối khí tự nhiên thông qua đường ống Power of Siberia-2, và sản lượng xuất khẩu dự kiến sẽ tăng dần lên 38 tỷ mét khối trong những năm tới. Nga đang tìm cách phát triển đường ống Power of Siberia-2, với công suất 50 tỷ mét khối/năm.

Ngoài ra, Nga đã và đang mở rộng công suất khí đốt tự nhiên hóa lỏng (LNG), để cạnh tranh với xuất khẩu LNG ngày càng tăng từ Mỹ, Úc và Qatar. Năm 2021, Moscow đưa ra kế hoạch phát triển LNG dài hạn, đặt mục tiêu xuất khẩu 110-190 tỷ/năm vào năm 2025. Năm 2021, Nga xuất khẩu 40 tỷ mét khối LNG, trở thành nhà xuất khẩu LNG lớn thứ 4 thế giới và chiếm khoảng 8 % nguồn cung LNG toàn cầu.

Trong những năm gần đây, Nga ngày càng tập trung vào Bắc Cực như một cách để tăng sản lượng dầu khí và bù đắp sự sụt giảm tại các cơ sở sản xuất hiện tại. Bắc Cực chiếm hơn 80% sản lượng khí đốt tự nhiên và khoảng 20% sản lượng dầu thô của Nga.

Trong khi biến đổi khí hậu đe dọa các dự án trong tương lai ở khu vực này, thì nó cũng mang lại cho Nga cơ hội tăng cường tiếp cận các tuyến thương mại ở Bắc Cực, cho phép Mosocw linh hoạt hơn nữa đối với việc vận chuyển nhiên liệu hóa thạch bằng đường biển, đặc biệt là đến châu Á.

BDN

Loading

Views: 0

Mỹ khởi động sáng kiến kinh tế lớn ở khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương

Chính phủ Mỹ dự kiến sẽ khởi động một sáng kiến kinh tế ở khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương nhân dịp Tổng thống Joe Biden thăm Nhật Bản trong tháng này, Đại sứ Nhật Bản tại Mỹ Koji Tomita cho biết ngày 9/5.

“Tôi chờ đợi chuyến thăm này sẽ diễn ra đồng thời với việc khởi động chính thức sáng kiến Khuôn khổ Kinh tế Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương”, ông Tomita nói khi cùng Đại sứ Mỹ tại Nhật Rahm Emanuel tham gia một sự kiện trực tuyến do một viện nghiên cứu tổ chức.

Đại sứ Tomita cho biết sáng kiến này sẽ đóng vai trò “rất quan trọng” để tạo ra một khu vực “mở và tự do”, nơi Trung Quốc đang nỗ lực tăng cường ảnh hưởng kinh tế.

Đề xuất được đưa ra từ mùa thu năm ngoái, và chính quyền Biden dự kiến sẽ khởi động chính thức trong nửa đầu năm nay. Khuôn khổ Kinh tế Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương được kỳ vọng sẽ thúc đẩy thương mại tiêu chuẩn cao, quản trị kinh tế kỹ thuật số, cải thiện năng lực chống chịu của các chuỗi cung ứng và thúc đẩy đầu tư vào hạ tầng.

Đây được coi là một cam kết kinh tế mới của Mỹ với khu vực, sau khi chính quyền cựu Tổng thống Donald Trump rút khỏi thỏa thuận Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) từ năm 2017.

Các quan chức của chính quyền Biden cho biết khuôn khổ mới sẽ không phải một thỏa thuận tự do thương mại thông thường.

Việc Mỹ rút khỏi TPP bị coi là một bước lùi trong nỗ lực tham gia vào khu vực về kinh tế. 10 thành viên còn lại vẫn thúc đẩy thỏa thuận và đổi tên thành CPTPP. Đại sứ Tomita nói rằng CPTPP “không phải con đường duy nhất để tái khẳng định vai trò lãnh đạo của Mỹ” ở khu vực.

Trong bài phát biểu, Đại sứ Tomita cảnh báo rằng Trung Quốc đang “rất quyết liệt tìm cách lấp vào khoảng trống” về hiện diện kinh tế mà Mỹ để lại, bằng cách nộp đơn xin tham gia CPTPP.

“Chúng tôi lo ngại (về bước đi của Trung Quốc)… vì thế chúng tôi rất hoan nghênh việc chính thức khởi động IPEF”, Đại sứ Tomita nói và sử dụng tên viết tắt của sáng kiến.

Ông cho biết Nhật Bản đang tham gia sâu vào việc chuẩn bị cho lễ khởi động.

Đại sứ Nhật nói rằng IPEF cần thu hút sự tham gia của các đối tác khu vực bằng cách mang lại “những lợi ích hữu hình”, trong khi bảo đảm sự cân bằng giữa phát triển bao trùm và thúc đẩy thương mại tiêu chuẩn cao.

Chính quyền Biden đã bàn bạc về IPEF với các quốc gia trong khu vực như Úc, Ấn Độ, Indonesia và Singapore. Hồi tháng 2, một quan chức Mỹ cho biết Washington “không có ý định” mời Trung Quốc tham gia khuôn khổ này.

Tổng thống Biden dự kiến sẽ có chuyến thăm kéo dài 5 ngày đến Hàn Quốc và Nhật Bản từ ngày 20/5. Đây sẽ là chuyến thăm châu Á đầu tiên của nhà lãnh đạo Mỹ từ khi ông nhậm chức vào tháng 1 năm ngoái.

Trong thời gian thăm Nhật Bản, ông Biden sẽ gặp Thủ tướng Fumio Kishida và dự thượng đỉnh nhóm “Bộ tứ”, cùng với lãnh đạo Úc và Ấn Độ.

Đại sứ Tomita khẳng định chuyến thăm của ông Biden sẽ cho thấy Mỹ và Nhật Bản “sẵn sàng đóng vai trò lãnh đạo trong quá trình phát triển kinh tế và xã hội ở khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương”.

BDN

Loading

Views: 0

Chúa Nguyễn Ánh lập trạm tiếp đón tàu buôn châu Âu ở Côn Đảo ra sao?

Việc lưu trú của đoàn thám hiểm người Anh kéo dài trên đảo chính của quần đảo Côn Lôn (Côn Đảo) kéo dài đến ngày 28.1.1780. Khi họ chuẩn bị rời đảo, thuyền trưởng Gore để lại thư gửi cho các thuyền trưởng sẽ ghé bến Côn Đảo.

Một bản đồ Côn Đảo xưa.

Nghe qua sự trình bày của viên quan người Việt tại Côn Đảo, thuyền trưởng Gore nói rõ ông ta không phải là người Pháp, mà là người Anh, và hỏi viên quan là ông ta có biết hai nước Anh – Pháp đang ở trong tình trạng chiến tranh không.

Viên quan trả lời rằng biết và nói rõ mục tiêu sứ mạng của ông ta là dẫn đường cho bất cứ tàu thuyền nào muốn buôn bán với người dân Đàng Trong, không phân biệt đến từ nước nào. Ông ta còn đưa cho Gore xem một tờ giấy khác và đề nghị viên thuyền trưởng đọc qua.

Đó là một lá thư có gắn xi, với nội dung như sau: “Thư gửi thuyền trưởng các tàu ghé lại Côn Đảo: những thông tin gần đây đến từ châu Âu khiến chúng tôi hi vọng rằng sẽ có một chuyến tàu đến tại Đàng Trong, chúng tôi đã xin với triều đình cử đến Côn Đảo một viên quan là người mang lá thư này để chờ các tàu thuyền đến đây. Vì vậy, nếu có một tàu thuyền ghé lại đây, vị thuyền trưởng có thể thông báo cho chúng tôi thông qua viên quan mang thư này, hoặc tin vào ông ta, để cho ông dẫn dắt về một cảng ở Đàng Trong, khuất gió và cách Côn Đảo một ngày hải hành. Nếu vị thuyền trưởng muốn ở lại Côn Đảo chờ một đặc phái viên của triều đình, chúng tôi có thể cử đến các thông ngôn và những hỗ trợ mà quý vị cần đến. Các vị thuyền trưởng cũng cần biết rằng đi sâu hơn nữa vào tiểu tiết là điều vô ích” (L.Gaide – tlđd, trang 89, Lê Nguyễn tạm dịch). Lá thư này cũng đề một ngày cùng với giấy chứng nhận của Bá Đa Lộc. Qua nội dung thư và câu chuyện với Luc, thuyền trưởng John Gore tin rằng viên quan này có ý trông chờ tàu buôn của Pháp.

Ông ta cần được biết người trên đảo này có thể cung cấp cho đoàn thám hiểm những đồ thiết dụng nào. Lúc trả lời là ông ta có hai con trâu khỏe mạnh sẵn sàng bán lại cho đoàn thám hiểm với giá 4 hay 5 đồng mỗi con (không rõ tiền gì). Loài vật 4 chân này, Gore và các đồng sự nhìn thấy có rất nhiều trên đảo. Việc lưu trú của đoàn thám hiểm người Anh kéo dài trên đảo chính của quần đảo Côn Lôn (Côn Đảo) kéo dài đến ngày 28.1.1780. Khi họ chuẩn bị rời đảo, viên quan nói trên đề nghị thuyền trưởng Gore để lại một thư giới thiệu gửi cho các thuyền trưởng tàu thuyền sẽ ghé bến Côn Đảo. Gore viết đưa cho viên quan bức thư giới thiệu theo yêu cầu, tặng cho ông ta một món quà.

Viên thuyền trưởng còn nhờ chuyển một bức thư và một kính đeo mắt cho Giám mục Bá Đa Lộc, như dấu hiệu lòng biết ơn của ông ta đối với vị Giám mục. Xem như trên, có thể thấy rằng sau khi rời bỏ Côn Đảo hơn 60 năm, vào cuối thập niên 1760, người Anh đã mon men trở lại hòn đảo này. Không chỉ với mục tiêu thám hiểm để lập bản đồ các vùng biển xa lạ trên Thái Bình Dương mà còn nhằm mở rộng thương mại với Đại Việt thông qua vị trí đắc địa này. Vào thời điểm đó, người cai trị Ấn Độ thuộc Anh là Huân tước Warren Hasting, một viên chức gắn bó rất nhiều với vùng đất Ấn Độ.

Năm 1774, ông ta là Toàn quyền đầu tiên của vùng đất Ấn Độ thuộc Anh, trong kế hoạch phát triển thương mại và thuộc địa, đã nghĩ đến khu vực Đông Dương và Côn Đảo, nơi mà những người Anh đi trước đã tìm đến và đổ xương máu tại đây (1702-1705).

Hai năm trước khi thuyền trưởng John Gore đến Côn Đảo, Toàn quyền Hasting đã cho phép một hãng buôn đưa hai chiếc thuyền chở hàng hóa sang Đàng Trong vừa với mục tiêu thương mại, vừa là một công tác bán ngoại giao. Đoàn tàu này ghé lại nhiều cảng ở Đàng Trong. Song lúc bấy giờ cuộc nội chiến giữa nhà Nguyễn và nhà Tây Sơn đã bùng lên mạnh mẽ, cảm thấy có nguy cơ bị nghi ngờ bởi cả hai bên, đoàn tàu buôn phải bỏ cả số hàng hóa chưa bán được để quay trở về nước.

BDN

Loading

Views: 0

Việt Nam không chọn phe

Ông Phạm Minh Chính, Thủ tướng chính phủ Việt Nam đang có chuyến công du Mỹ. Cùng với việc tham dự Hội nghị cấp cao đặc biệt ASEAN-Hoa Kỳ, ông Chính sẽ có chuyến thăm Mỹ từ ngày 11 đến 17/5.

Trong hai ngày Hội nghị cấp cao đặc biệt ông Phạm Minh Chính đã có bài phát biểu được cho là khá thẳng thắn về các vấn đề gai góc, nhạy cảm, như vấn đề Biển Đông, cuộc chiến Ukraine, nhân quyền ở Việt Nam. Gọi là nhạy cảm vì khi nó lọt tai bên này thì lại chối tai bên kia, mà cái “bên kia” đáng gờm nhất chính là quốc gia láng giềng luôn gầm ghè và tính con bài bành trướng ra Biển Đông. Nhưng Việt Nam tuyên bố quyết “không chọn phe”, chỉ chọn cái đúng, cái chính nghĩa.

Vào chiều 11/5 (giờ địa phương), Thủ tướng Việt Nam đã phát biểu một bài khá dài, khoảng 40 phút, tại Trung tâm Chiến lược và Nghiên cứu Quốc tế (CSIS). Ông nhấn mạnh: “Lòng tin, chân thành và trách nhiệm” là chìa khoá để xây dựng mối quan hệ Việt – Mỹ; chìa khóa giải quyết các vấn đề toàn cầu, bao gồm đại dịch Covid-19, các tranh chấp ở Biển Đông và cuộc chiến đang diễn ra ở Nga-Ukraine.

Với Mỹ và các quốc gia ở Đông Nam Á, Thủ tướng Việt Nam cho rằng, các nước đều có chế độ chính trị khác nhau, do vậy cần phải tôn trọng hệ thống chính trị.

Ông Phạm Minh Chính đã phần nào lí giải lí do vì sao Hà Nội chưa chấp nhận đề nghị của Washington về việc nâng tầm quan hệ hai nước lên đối tác chiến lược. Ông nói: “Trong ba thập niên sau khi bình thường hóa, chúng ta chứng kiến sự phát triển phi thường của mối quan hệ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ. Mối quan hệ đó đã nảy nở và đơm hoa kết trái, có thể nói là nhờ nỗ lực của cả hai bên, được vun đắp bằng sự chân thành, tin cậy và tinh thần trách nhiệm, sự thông cảm, chia sẻ và tôn trọng lẫn nhau, phù hợp với lợi ích và mong muốn của hai đất nước, hai dân tộc và nhân dân”.

Sự “đơm hoa kết trái” ấy theo góc nhìn của chúng tôi không phải là lời xã giao mà nó được minh chứng trong thực tiễn sinh động tại Việt Nam. Cụ thể, Lãnh đạo hai bên đã duy trì việc tiếp xúc và điện đàm ở các cấp, đặc biệt là tổ chức thành công các hoạt động của Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc bên lề Đại hội đồng Liên hợp quốc vào tháng 9/2021. Ngay sau đó một tháng là các cuộc gặp của Thủ tướng Phạm Minh Chính với Tổng thống Joe Biden và đặc phái viên John Kerry bên lề Hội nghị COP26 tại Anh (10/2021).

Về kinh tế, mặc dù trong điều kiện phải thích ứng, linh hoạt, ứng phó an toàn với đại dịch Covid-19 nhưng kinh tế Việt Nam phục hồi và phát triển khá nhanh chóng, trong đó có sự giúp đỡ tích cực của Mỹ. Thương mại song phương Việt – Mỹ tiếp tục tăng trưởng mạnh, với tổng kim ngạch năm 2021 đạt hơn 111,56 tỉ USD. Liên tục trong nhiều năm, Mỹ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, và Việt Nam trở thành đối tác thương mại lớn thứ 9 của Mỹ.

Về đầu tư, đến tháng 3/2022, đầu tư trực tiếp của Mỹ tại Việt Nam đạt 10,3 tỉ USD, đứng thứ 11/141 trong số các nước và vùng lãnh thổ có FDI tại Việt Nam. Các doanh nghiệp lớn của Mỹ tiếp tục quan tâm, đầu tư vào thị trường Việt Nam: Intel thông báo bổ sung đầu tư gần 500 triệu USD vào nhà máy tại TP Hồ Chí Minh; đối tác sản xuất chính của Apple (Foxconn) bổ sung đầu tư 270 triệu USD tại Bắc Giang, v.v..

Về kinh tế là như vậy, là điều khó bác bỏ, nhưng khó nhất vẫn là vấn đề chính trị, ngoại giao, nhất là ứng xử với những diễn biến phức tạp, căng thẳng trên Biển Đông. Một nước lớn là Trung Quốc ngày càng tỏ ra hung hăng thực hiện tham vọng độc chiếm gần 90% diện tích vùng biển quan trọng này. Chính Bắc Kinh đã đưa ra những yêu cầu vô lý, khiến cho các nước ASEAN không thể đồng thuận, thời gian xây dựng bộ quy tắc ứng xử (COC) trên Biển Đông, vì thế, đã kéo dài trong niều năm qua.

Phát biểu trước Quốc hội Mỹ, ông Phạm Minh Chính đã nói thẳng thắn mà không ngại Bắc Kinh lườm nguýt. Ông khẳng định: Tự do hàng hải và hàng không ở Biển Đông là trách nhiệm chung. Khi nói tới Biển Đông cần xem xét hai vấn đề chính, bao gồm tranh chấp chủ quyền và tự do hàng hải và hàng không.

Thủ tướng Việt Nam nhấn mạnh: “Việt Nam không chọn phe nào cả, mà chọn sự công lý, công bằng và sự tốt đẹp. Dựa trên các nguyên tắc của luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc”.

Vì không chọn phe cho nên trong việc giải quyết các tranh chấp, xung đột ở khu vực, Hà Nội luôn tìm cách duy trì hòa bình, ổn định, bảo đảm an ninh, an toàn, tự do hàng hải và hàng không, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên, giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình bằng cách đối thoại, trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên hợp quốc về Luật biển (UNCLOC- 1982). Việt Nam ủng hộ sự hiệu quả và việc chấp hành đầy đủ Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (gọi tắt là DOC).

Ông Phạm Minh Chính sẽ còn lui lại Mỹ vài ngày nữa với những tính toán cụ thể hơn về hợp tác kinh tế, đối ngoại. Tuy nhiên, ông đã “hoàn thành” phần việc quan trọng nhất là bày tỏ chính kiến của Hà Nội trước Hội nghị cấp cao, đặc biệt là trao đổi thẳng thắn với Chủ tịch Quốc hội Mỹ và Tổng thống Joe Biden. Tổng thống Mỹ cũng đã nhận lời sớm thămViệt Nam.

Vậy có thể nói, Hà Nội đã đạt được “thắng lợi kép”. Việt Nam đang có cơ hội lớn để bứt phá. Và điều đó giúp ông Phạm Minh Chính “lên điểm” trong con mắt giới chính trị ở Việt Nam.

BDN

Loading

Views: 0

Hội Nghề cá Việt Nam phản đối TQ đơn phương cấm đánh bắt cá ở Biển Đông

Hội Nghề cá Việt Nam phản đối hành động đơn phương cấm đánh bắt cá ở Biển Đông.

Một tàu cá của ngư dân Quảng Ngãi bị tàu Trung Quốc đâm chìm ở Hoàng Sa năm 2020.

Ngày 4/5, Hội Nghề cá Việt Nam có công văn gửi Văn phòng Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Ngoại giao, Ban Đối ngoại Trung ương về việc phản đối Trung Quốc đơn phương cấm đánh bắt cá trên Biển Đông năm 2022.

Theo Hội Nghề cá Việt Nam, vừa qua, Trung Quốc ban hành lệnh cấm đánh bắt cá trên Biển Đông, dự kiến trong thời gian 3 tháng, bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1/5. Phạm vi cấm đánh bắt bao gồm một phần vùng biển vịnh Bắc Bộ và quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam.

Hội Nghề cá Việt Nam cho rằng, đây là hành động đơn phương, lặp lại và phi lý của Trung Quốc, xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam, vi phạm các quyền và lợi ích khác của Việt Nam trên vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Việt Nam; vi phạm luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật biển năm 1982 và các văn bản pháp lý quốc tế liên quan; đi ngược lại Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC).

Việc ban hành lệnh cấm lặp lại hằng năm và kéo dài thời gian cấm đánh bắt cá trên Biển Đông làm gia tăng nguy cơ đụng độ giữa tàu cá của ngư dân Việt Nam với lực lượng hải cảnh phía Trung Quốc, cản trở hoạt động bình thường của tàu cá và ngư dân Việt Nam trên vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam.

Hội Nghề cá Việt Nam kịch liệt phản đối hành động sai trái, ngang ngược, đơn phương, lặp lại của phía Trung Quốc và khẳng định lệnh cấm đánh bắt cá của Trung Quốc là vô giá trị trên vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam. Yêu cầu Trung Quốc chấm dứt ngay lệnh cấm đánh bắt phi lý này ở Biển Đông, bao gồm cả vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam.

Hội Nghề cá Việt Nam đề nghị các cơ quan chức năng phản đối mạnh mẽ và có những biện pháp quyết liệt, ngăn chặn ngay lệnh cấm đánh bắt cá phi lý nói trên của Trung Quốc. Ngoài ra, Hội Nghề cá Việt Nam sẽ tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các Hội thủy sản, Hội nghề cá địa phương và các đơn vị liên quan chủ động, tích cực thông tin, tuyên truyền để ngư dân chấp hành đúng pháp luật khi đánh bắt trên biển; hỗ trợ, vận động ngư dân yên tâm ra khơi bám biển sản xuất, góp phần bảo vệ vững chắc chủ quyền biển đảo của Tổ quốc.

Từ năm 1999, Trung Quốc hàng năm ngang nhiên tự ban hành lệnh cấm đánh bắt cá trái phép trên Biển Đông. Thời gian cấm biển thường là từ 1/5 đến 16/8.

Liên quan tới việc các nước trong khu vực tranh chấp và chiếm đóng trái phép các đảo thuộc chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông, Bộ Ngoại giao Việt Nam nhiều lần tuyên bố, Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền của mình đối với các đảo trong quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Mọi hành vi của quốc gia khác tại hai quần đảo này mà không được sự cho phép của Việt Nam đều là hành vi xâm chiếm trái phép và vi phạm luật pháp quốc tế.

BDN

Loading

Views: 0

Hải quân TQ tăng cường diễn tập ‘thực chiến’ tại biển Hoa Đông gần Đài Loan

Quân đội Trung Quốc (PLA) thông báo đang đẩy mạnh các cuộc diễn tập “thực chiến” tại Hoa Đông, trong bối cảnh căng thẳng giữa hai bờ eo biển Đài Loan tiếp tục tăng nhiệt.

Bộ Tư lệnh chiến khu Đông bộ của PLA hôm 3.5 tiết lộ chi tiết về cuộc diễn tập nhóm tấn công hải quân gần đây, theo đó những cuộc diễn tập dạng này “liên quan chặt chẽ với các sứ mệnh và nhiệm vụ của Hải quân PLA, tập trung vào mục tiêu đối phó kẻ thù và nêu bật những điều kiện tác chiến thực tế”.

Báo South China Morning Post (SCMP) dẫn thông tin từ Chiến khu Đông bộ cho biết chuỗi hoạt động diễn tập bao gồm hơn 10 dạng khác nhau, như phòng thủ súng cận chiến, tấn công bằng vũ khí chủ lực trên biến, theo dõi và do thám, kiểm soát thiệt hại và tìm kiếm, cứu hộ.

“Nội dung huấn luyện giúp các đơn vị cải thiện hơn nữa năng lực và tăng cường sự dẻo dai trong chiến đấu để giành chiến thắng trong các trận chiến”, theo thông báo của Bộ Tư lệnh Chiến khu Đông bộ, thêm rằng “các thủy thủ ở Hoa Đông luôn sẵn sàng chiến đấu”.

Thông báo không đề cập thời điểm và vị trí diễn ra hoạt động huấn luyện trên biển, nhưng cho biết có sự tham gia của hai chiến hạm trong đội hình tàu chiến là tàu hộ vệ Ôn Châu thuộc Type 054 và tàu hộ tống cỡ nhỏ Đức Dương thuộc Type 056.

Hoạt động diễn tập hải quân trên được thực hiện theo sau chuỗi tập trận phối hợp của các lực lượng PLA tại vùng biển và không phận xung quanh Đài Loan. Trung Quốc đã rầm rộ tập trận sau khi đoàn nghị sĩ Mỹ thăm Đài Loan trong hai ngày 14-15.4.

“Hoạt động này nhằm đáp trả việc Mỹ thường xuyên phát đi các tín hiệu sai lầm về vấn đề Đài Loan trong thời gian gần đây”, tuyên bố cho hay nhưng không đề cập đến phái đoàn nghị sĩ Mỹ.

Sau đó, tàu sân bay Liêu Ninh của Trung Quốc vào ngày 2.5 đã huấn luyện cùng nhóm tác chiến lớn hơn bình thường ở vùng biển Tây Thái Bình Dương.

Theo SCMP, tàu sân bay Liêu Ninh đã được 5 tàu khu trục, bao gồm một tàu Type 055 – loại tàu chiến mạnh nhất của hải quân Trung Quốc – hộ tống trong . Nhóm tác chiến này còn có một khinh hạm và một tàu tiếp liệu.

BDN

Loading

Views: 0

F-35 Mỹ chạm trán J-20 Trung Quốc trên Biển Đông

Tướng Kenneth Wilsbach, Tư lệnh Lực lượng không quân Mỹ tại Thái Bình Dương, cho biết Lầu Năm Góc đã triển khai hơn 200 chiến đấu cơ F-35 đến châu Á – Thái Bình Dương.
Chiến đấu cơ F-35 của Mỹ.

Chiến đấu cơ tối tân của Trung Quốc và Mỹ từng vài lần chạm trán ở biển Hoa Đông, qua đó cho thấy mức độ căng thẳng cao giữa 2 nước này.

Một nguồn tin tiết lộ với tờ South China Morning Post (Hồng Kông) thông tin trên sau khi một tướng Mỹ cho biết máy bay F-35 của Mỹ từng chạm trán chiến đấu cơ J-20 của Trung Quốc ít nhất 1 lần ở biển Hoa Đông. Tuy nhiên, ông Kenneth Wilsbach, Tư lệnh Lực lượng không quân Mỹ tại Thái Bình Dương, không cho biết thời điểm diễn ra vụ việc.

Chiến đấu cơ tàng hình J-20 của Trung Quốc.

Trong khi đó, nguồn tin của tờ South China Morning Post cho biết những lần chạm mặt như thế diễn ra thường xuyên hơn vào nửa cuối năm 2020, thời điểm quan hệ Mỹ – Trung Quốc trở nên căng thẳng.

Một số chuyên gia cho rằng Trung Quốc tăng cường triển khai J-20 và máy bay cảnh báo sớm KJ-500 tuần tra chung ở biển Hoa Đông với vai trò chính là  ngăn không quân Mỹ tiếp cận vùng biển này trong trường hợp Bắc Kinh quyết định “tấn công Đài Loan”.

Hơn 50 chiếc J-20 đã được đưa vào sử dụng kể từ khi Trung Quốc bắt đầu sản xuất hàng loạt nó vào năm 2020. Tuy nhiên, ông Wilsbach nêu bật sức mạnh răn đe của không quân Mỹ tại châu Á – Thái Bình  Dương khi cho biết Lầu Năm Góc đã đưa hơn 200 chiếc F-35 đến khu vực này.

Trong khi đó, 3 tàu chiến Mỹ, Nhật Bản và Úc vừa kết thúc cuộc diễn tập chung ở biển Đông hôm 15-3, theo Hải quân Mỹ.

Cuộc diễn tập có sự tham gia của tàu khu trục mang tên lửa dẫn đường lớp Arleigh Burke USS Momsen (Mỹ), tàu khu trục JS Yuudachi của Lực lượng phòng vệ trên biển Nhật Bản (JMSDF) và tàu khu trục Arunta của Hải quân Hoàng gia Úc

Cuộc diễn tập nhằm giải quyết các ưu tiên và mối bận tâm chung về an ninh hàng hải, tăng cường khả năng tương tác và giao tiếp, cũng như thúc đẩy tự do hàng hải nhằm ủng hộ một khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và cởi mở hơn.

F-35 Mỹ chạm trán J-20 Trung Quốc trên biển Hoa Đông - Ảnh 3.

Cuộc diễn tập trung của tàu chiến Mỹ, Nhật Bản, Úc ở biển Đông hôm 15-3. Ảnh: Hải quân Mỹ

Loading

Views: 0

Căng thẳng có thể leo thang từ việc Trung Quốc đưa tàu đổ bộ tấn công mới xuống Biển Đông

Việc Trung Quốc lần đầu tiên đưa tàu đổ bộ tấn công Hải Nam Type-075 xuống Biển Đông tham gia huấn luyện nội dung tiếp dầu và bắn đạn thật nhằm “cải thiện năng lực chiến đấu” đang được dư luận quan tâm đặc biệt, trong bối cảnh tình hình khu vực có những diễn biến phức tạp.

Căng thẳng có thể leo thang từ việc Trung Quốc đưa tàu đổ bộ tấn công mới xuống Biển Đông - 1

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Tàu đổ bộ tấn công Type-075 của Trung Quốc Mục tiêu thể hiện sức mạnh hải quân

Cổng thông tin của Bộ Quốc phòng Trung Quốc cho biết, tàu đổ bộ tấn công Hải Nam thuộc lớp Type-075 đã tiến hành đợt huấn luyện hiệp đồng và diễn tập tại một khu vực trên Biển Đông ngày 22-4, nhưng không tiết lộ vị trí cụ thể. Hình ảnh do quân đội Trung Quốc công bố cho thấy, tàu Hải Nam di chuyển song song và tiếp dầu từ một tàu hậu cần. Lính hải quân đánh bộ trên tàu cũng diễn tập triển khai và đổ bộ bằng trực thăng, trong khi tổ hợp pháo phòng thủ cực gần Type-1130 khai hỏa về phía mục tiêu giả định trên biển.

Lâu nay, Trung Quốc đẩy nhanh tốc độ đóng thế hệ tàu đổ bộ tấn công mới nhằm tăng cường vai trò của lực lượng hải quân trong việc phô trương sức ở nước ngoài. Những chiếc tàu này sẽ giúp Bắc Kinh quyết đoán hơn trong yêu sách chủ quyền đối với các vùng biển đang có tranh chấp ở Biển Đông, đồng thời tăng cường đội tàu tuần tra tại eo biển Đài Loan trong bối cảnh quan hệ giữa Bắc Kinh và Đài Bắc đang trở nên căng thẳng.

Tàu đổ bộ Type-075 chính là loại tàu đáp ứng yêu cầu đó. Với độ choán nước toàn tải xấp xỉ 40.000 tấn, dài khoảng 237m, Type-075 có thể mang theo 30 trực thăng chiến đấu đa nhiệm Z-8 hoặc Z-9 và xa hơn là loại máy bay Z-20. Cả hai loại trực thăng Z-8 và Z-9 đều có khả năng tác chiến đa nhiệm, tấn công tàu chiến và cả đất liền. Đặc biệt, Z-9 còn có thể mang tên lửa đối không và tích hợp cả khả năng săn tàu ngầm. Chính vì thế, tàu đổ bộ mang máy bay trực thăng Z-8 hay Z-9 có thể được triển khai cho các hoạt động tấn công đảo, đổ bộ tấn công quy mô lớn vào đất liền.

So sánh với tàu vận tải đổ bộ như Type-071, thì Type-075 mang theo lượng khí tài nhiều hơn, đồng thời trong tương lai có thể được sử dụng cùng máy bay tiêm kích cất cánh đường băng ngắn và hạ cánh thẳng đứng để trở thành tàu sân bay. Hiện Trung Quốc cũng đang gấp rút phát triển máy bay chiến đấu thế hệ 5 tàng hình J-31 phiên bản cất cánh đường băng ngắn và hạ cánh thẳng đứng để trang bị cho tàu Type-075, giúp chiến hạm này trở thành tàu sân bay tương tự Mỹ.

Về tầm chiến lược, lâu nay, Hải quân Trung Quốc chủ yếu chuẩn bị cho các nhiệm vụ gần bờ. Các tàu vận tải đổ bộ loại nhỏ hơn vẫn đang đóng vai trò chủ chốt đối với hải quân Trung Quốc. Nhưng đây là mô hình có từ thời Chiến tranh Lạnh, nên có lẽ không còn phù hợp với tham vọng mà Bắc Kinh đặt ra.

Việc tập trung phát triển tàu vận tải đổ bộ cỡ lớn như Type-075 phản ánh rõ hơn mục tiêu thể hiện sức mạnh mà hải quân Trung Quốc hướng đến. Đưa vào trang bị tàu đổ bộ mới Type-075 đánh dấu một cột mốc mới trong quá trình nâng cấp khả năng tấn công của Hải quân Trung Quốc. Từ nay, Hải quân Trung Quốc có thể vươn xa hơn ra các đại dương.

Nguy cơ từ “sự bất cân xứng ngày càng lớn”

Trước thập niên 1990, hải quân Trung Quốc chỉ đóng vai trò thứ yếu so với lục quân. Từ năm 2015, Trung Quốc khởi động dự án quy mô lớn nhằm biến quân đội Trung Quốc trở thành “lực lượng đẳng cấp thế giới”. Tháng 4-2018, trong cuộc duyệt binh trên biển lớn nhất mà Trung Quốc từng triển khai với sự tham gia của 48 chiến hạm, hơn 10 nghìn quân và hàng chục máy bay, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã công bố tham vọng xây dựng lực lượng thể hiện sức mạnh của Trung Quốc trên các đại dương.

Hải quân Trung Quốc bắt đầu trong “cơn sốt” đóng tàu lớn chưa từng thấy trên thế giới. Theo Văn phòng Tình báo hải quân Mỹ (ONI), nếu như năm 2015, hải quân Trung Quốc chỉ có 225 chiến hạm trong biên chế thì tới cuối năm 2020, con số này đã là 360 chiến hạm, nhiều hơn Mỹ 63 chiếc. Chỉ riêng trong năm 2019, nước này đã có tới 24 chiến hạm lớn nhỏ các loại, từ khu trục hạm đến tàu đổ bộ và khinh hạm, được hạ thủy.

Theo thống kê, số lượng tàu chiến hiện đại của hải quân Trung Quốc hiện chỉ đứng sau hải quân Mỹ và vượt xa các nước còn lại. Tuy đa phần tàu chiến Mỹ đều là tác chiến biển xa với trang bị hiện đại (trong đó lực lượng tàu sân bay chiếm ưu thế áp đảo về cả số lượng và chất lượng), song tất cả tàu chiến của Trung Quốc (kể cả tàu tác chiến xa/gần bờ) đều đóng quân tại khu vực Đông Á, do đó giữ được ưu thế về địa lý và mức độ tập trung nếu so sánh với việc Mỹ phải điều quân từ rất xa tới khu vực. Bởi vậy, tại vùng biển gần, thậm chí tại khu vực “chuỗi đảo thứ nhất”, hải quân Trung Quốc luôn chiếm ưu thế hỏa lực lớn hơn so với Hạm đội 7 của hải quân Mỹ.

Về mặt chính thức, Trung Quốc chưa từng công khai mục tiêu phát triển lực lượng hải quân của mình, tuy nhiên theo tính toán của giới chuyên gia Mỹ, đến năm 2035 hải quân Trung Quốc có thể sẽ sở hữu 430 tàu chiến hiện đại có năng lực tác chiến biển xa, bao gồm 270 tàu cỡ lớn và 160 tàu cỡ nhỏ, chưa kể đến các loại tàu khác như tàu quét ngư lôi, tàu đổ bộ cỡ nhỏ và các tàu phụ trợ. Khi đó, hải quân Trung Quốc sẽ đạt đến quy mô lớn nhất thế giới, bất kể là đánh giá theo tiêu chí nào.

Đặc biệt, trong bối cảnh tình hình Biển Đông đang có những diễn biến phức tạp, việc Trung Quốc tăng cường sức mạnh đổ bộ tấn công bằng tàu Type-075 khiến dư luận lo ngại tình hình căng thẳng ở vùng biển này có thể tiếp tục leo thang.

Ông Collin Koh, chuyên gia tại Trường nghiên cứu quốc tế S. Rajaratnam, Singapore, cho biết động thái triển khai tàu tấn công đổ bộ tiên tiến nhất của quân đội Trung Quốc tới Biển Đông là một thông điệp của Bắc Kinh gửi tới các nước láng giềng trong khu vực. Theo ông Collin Koh, các nước láng giềng của Trung Quốc có thể cảm thấy cần phải ứng phó với “sự bất cân xứng ngày càng lớn” trong cán cân quyền lực quân sự bằng cách nâng cấp lực lượng vũ trang của mình và tìm kiếm sự hỗ trợ từ các cường quốc bên ngoài.

Loading

Views: 0

Việc Tập tiếp tục nắm quyền có thể không còn là điều hiển nhiên

Nhà lãnh đạo Trung Quốc có nguy cơ bị đổ lỗi cho thất bại của chính sách zero Covid từng có vẻ thành công.

Chính phủ Trung Quốc không có tính chính danh đến từ chiến thắng trong bầu cử. Nhưng các quan chức của nước này thường tuyên bố rằng Đảng Cộng sản có một nguồn chính danh thậm chí còn tốt hơn: “tính chính danh nhờ hiệu quả.”

Ý tưởng rằng chính phủ Trung Quốc có hiệu quả vượt trội so với một phương Tây đang rối loạn đã được truyền bá mạnh mẽ trong cuộc khủng hoảng Covid-19. Tại một buổi lễ vào năm 2020, Chủ tịch Tập Cận Bình tuyên bố rằng “đại dịch một lần nữa chứng minh tính ưu việt của hệ thống xã hội chủ nghĩa đặc sắc Trung Quốc.” Vào ngày kỷ niệm lần đầu tiên virus bùng phát ở Vũ Hán, thành phố đã tổ chức một cuộc triển lãm minh họa cho thành công của Trung Quốc trong cuộc chiến chống lại dịch bệnh, với hình ảnh – như đài BBC đưa tin – “các mô hình nhân viên y tế trong bộ đồ bảo hộ, … và ở khắp mọi nơi, là những bức chân dung khổng lồ của Tập Cận Bình.”

Nhưng sự đắc thắng của Tập đang trở lại ám ảnh chính ông. Chính sách “zero Covid” đang dần sụp đổ. Thượng Hải, thành phố 26 triệu dân, đã bị phong tỏa suốt 5 tuần trong một nỗ lực tuyệt vọng nhằm ngăn chặn virus – với những câu chuyện đáng báo động về những người đói lả, hoặc phát điên, trong lúc chật vật với chuyện bị cách ly cưỡng chế.

Các nhà chức trách hiện tuyên bố rằng phong tỏa Thượng Hải đang dần được nới lỏng. Tuy nhiên, ngày càng có nhiều lo ngại rằng Bắc Kinh có thể là siêu đô thị tiếp theo bị đóng cửa. Và nhiều đô thị kém quan trọng hơn đã bị hạn chế nghiêm trọng. Khoảng 345 triệu người hiện được cho là đang sống trong tình trạng phong tỏa toàn bộ hoặc một phần, tại 46 thành phố khác nhau.

Vấn đề cơ bản là biến thể Omicron của Covid-19 có khả năng lây lan rất cao. Thế nên, bất kỳ nỗ lực nào để ‘đưa thần Covid trở lại cây đèn’ đều có thể kết thúc trong thất bại.

Các tác động xã hội, tâm lý, và kinh tế từ những đợt phong tỏa như ở Thượng Hải là rất thảm khốc. Nhưng các tác động chính trị mới là điều khiến Tập lo lắng nhất. Nhà lãnh đạo Trung Quốc đang tiến đến giai đoạn quan trọng trong ‘triều đại’ của mình. Năm nay, ông sẽ hoàn thành hai nhiệm kỳ tổng bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc – thời điểm mà hai người tiền nhiệm của ông rời khỏi nhiệm sở.

Tuy nhiên, Tập có ý định tiếp tục ở lại. Mong muốn đó phải được chấp thuận tại Đại hội 20 quan trọng của Đảng Cộng sản – nhiều khả năng sẽ diễn ra vào tháng 11. Nhiệm kỳ thứ ba với tư cách là lãnh đạo đảng sẽ giúp Tập siết chặt bàn tay cai trị đất nước. Trong những năm gần đây, tư tưởng Tập Cận Bình đã được ghi nhận trong điều lệ của Đảng Cộng sản, và các giới hạn nhiệm kỳ đối với vị trí chủ tịch nước cũng đã bị bãi bỏ.

Để đảm bảo củng cố quyền lực của Tập hơn nữa, theo đúng như kế hoạch, sự sùng bái cá nhân ông phải được duy trì. Nhưng giờ đây, nhà lãnh đạo Trung Quốc đang phải đối mặt với viễn cảnh u ám rằng giai đoạn ngay trước đại hội đảng sẽ bị tàn phá bởi khủng hoảng kinh tế và căng thẳng xã hội do các đợt phong tỏa liên tục.

Một giải pháp rõ ràng là chuyển hướng sang chính sách sống chung với virus theo kiểu phương Tây. Nhưng, trong khi một số chính phủ phương Tây mắc phải sai lầm trong phản ứng ban đầu trước Covid -19 vì tự do quá mức, thì Tập và Đảng Cộng sản lại gặp phải vấn đề ngược lại: kiểm soát quá mức. Bản năng ăn sâu trong tâm trí họ là phản ứng lại sự lây lan của đại dịch bằng cách yêu cầu người dân Trung Quốc giữ kỷ luật và hy sinh nhiều hơn bao giờ hết.

Giai đoạn mới của đại dịch cũng đang làm lộ ra những sai sót nguy hiểm trong phản ứng ban đầu của Trung Quốc đối với virus. Thành công ban đầu của chiến lược zero Covid giúp đảm bảo rằng số ca tử vong ở Trung Quốc chỉ vào khoảng vài nghìn người, so với hơn một triệu ca tử vong ở Mỹ. Đó là một chiến thắng thực sự.

Nhưng bị ru ngủ bởi thành công của chiến lược zero Covid, người Trung Quốc đã lơ là khâu tiêm chủng. Hiện tại, vẫn còn một số lượng lớn người già chưa được tiêm chủng đầy đủ. Và dường như vắc xin do Trung Quốc tự sản xuất có khả năng bảo vệ yếu hơn so với vắc xin mRNA, vốn đóng vai trò quan trọng đối với phản ứng của phương Tây. Sự kết hợp của hai yếu tố này có nghĩa là các quan chức Trung Quốc đang sợ hãi, nếu họ để Omicron bùng phát, hàng triệu đồng bào của họ có thể chết.

Đó sẽ là một thảm kịch quốc gia. Nó cũng sẽ là thảm kịch về mặt chính trị đối với Tập. Sau khi nhận lấy công lao cho thành công ban đầu của zero Covid, ông sẽ khó mà tránh khỏi việc bị đổ lỗi khi chính sách này đổ bể.

Các quan chức địa phương có thể bị quy trách nhiệm cho thiệt hại của đợt phong tỏa kéo dài ở Thượng Hải. Nhưng những cuộc phong tỏa tương tự trên khắp đất nước chắc chắn sẽ đặt ra câu hỏi về giới lãnh đạo quốc gia.

Cái giá kinh tế mà Trung Quốc phải trả có thể sẽ tăng cao hơn trong những tháng tới. Các chuỗi cung ứng đã bắt đầu ngưng hoạt động, và đầu tư đang sụt giảm do sự không chắc chắn về các đợt đóng cửa trong tương lai.

Đến một lúc nào đó, tất cả những điều này có thể khiến giới tinh hoa Trung Quốc đặt ra câu hỏi hiển nhiên – việc kéo dài nhiệm kỳ cai trị của Tập liệu có còn hợp lý? Không phải chỉ có nhà lãnh đạo Trung Quốc mới mắc sai lầm. Bất kỳ hệ thống quản trị nào đầu tư quá nhiều quyền lực và uy tín vào một cá nhân duy nhất đều dễ mắc phải những sai lầm nghiêm trọng mà hệ thống đó không thể sửa chữa.

Giới tình báo Đài Loan – những người có lẽ hiểu rõ hơn ai hết những gì đang xảy ra tại đại lục – vừa đưa ra một báo cáo rằng vẫn chưa có dấu hiệu nào cho thấy sự thách thức đối với vai trò lãnh đạo của Tập.

Nhưng còn sáu tháng nữa mới diễn ra đại hội đảng quan trọng. Trong giai đoạn đó, các đợt phong tỏa lặp đi lặp lại có thể thử thách xã hội và nền kinh tế Trung Quốc. Việc tiếp tục nắm quyền của Tập có thể sẽ không còn được coi là điều hiển nhiên.

Nguồn: Gideon Rachman, “Triumphalism returns to haunt Xi Jinping,” Financial Times, 02/05/2022

Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng

Loading

Views: 0

Sức mạnh phòng thủ của Tàu sân bay Mỹ

Mặc dù giới truyền thông đã phóng đại rằng ĐCSTQ đang phát triển vũ khí chống hạm, nhắm vào hàng không mẫu hạm Hoa Kỳ. Nhưng các chỉ huy hàng không mẫu hạm của Mỹ tự tin rằng hàng không mẫu hạm của Mỹ không chỉ khó tìm mà còn được bảo vệ tốt và ít bị tấn công hơn.

Quân đội Hoa Kỳ hiện đang có 11 hàng không mẫu hạm, bao gồm 10 hàng không mẫu hạm chạy bằng năng lượng hạt nhân lớp Nimitz và một hàng không mẫu hạm chạy bằng năng lượng hạt nhân lớp Ford.

Quân đội Trung Quốc cũng đang phát triển vũ khí chống hạm để nhắm vào các hàng không mẫu hạm của Mỹ, làm dấy lên lo ngại. Chỉ huy trưởng Paul Campagna, chỉ huy tàu USS Dwight David Eisenhower, cho biết tại một cuộc hội thảo hàng không và đường biển ở National Harbour, Maryland vào ngày 5/4, “Tôi nghĩ rằng hàng không mẫu hạm đã chứng tỏ mình rất bền bỉ. Đối với bất kỳ ai lo ngại rằng có những mối đe dọa hiện hữu ngoài kia, tôi chỉ nói rằng hàng không mẫu hạm không có trong danh sách”.

“Nó (hàng không mẫu hạm) được khai triển với các liên đội không quân, nó được khai triển với các nhóm tấn công. Nó được khai triển với các lớp phòng thủ từ đại dương đến không gian, và bất cứ ai nghĩ rằng chúng tôi dễ bị tấn công là rất sai lầm”, ông Campagna nói thêm.

Trung Quốc nghiên cứu và phát triển vũ khí chống hạm gây mất ổn định khu vực ở Biển Đông và Biển Hoa Đông

Tên lửa chống hạm của Trung Quốc là mối quan tâm lớn, đặc biệt là tên lửa đạn đạo Dongfeng-21D (DF-21D) và Dongfeng-26B (DF-26B), được thiết kế cho các mục tiêu hải quân và đôi khi được gọi là “sát thủ hàng không mẫu hạm”. Một số người coi tên lửa là mối đe dọa đối với các tàu và căn cứ của Hoa Kỳ.

Vào tháng 8 năm 2020, ĐCSTQ gây lo ngại khi phóng tên lửa chống hạm Dongfeng-26B và Dongfeng-21D vào Biển Đông. Trong một cuộc phỏng vấn vào tháng 12 năm đó, ông Adm. Philip Davidson, khi đó là Tư lệnh Bộ Chỉ huy Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương của Hoa Kỳ, xác nhận rằng các tên lửa đã được bắn vào “các mục tiêu di động” và cho biết các quan chức Hoa Kỳ “đã biết trong nhiều năm” rằng Trung Quốc đang tìm kiếm khả năng tấn công này.

Trung tướng Jeffrey Trussler, Giám đốc Tình báo Hải quân, cho biết vào tháng 2 năm 2021 rằng Trung Quốc đang “đầu tư mạnh mẽ để có khả năng tên lửa chống hạm ngoài khơi Biển Đông”, ông nói thêm: “Đây là một nỗ lực nhằm gây mất ổn định ở Biển Đông, Biển Hoa Đông – tất cả những khu vực đó”.

Các phương tiện truyền thông, cơ quan ngôn luận của ĐCSTQ thường gọi tên lửa Dongfeng là “sát thủ hàng không mẫu hạm”. Nhưng các cựu chuyên gia quân sự của Ngũ Giác Đài cho rằng, tên lửa Dongfeng thực tế khó xuyên thủng hệ thống phòng thủ nhiều lớp hiện đại của hàng không mẫu hạm Mỹ.

Một ngày sau vụ thử tên lửa của ĐCSTQ, tàu khu trục mang tên lửa dẫn đường USS Mustin đã đi vào vùng biển Tây Sa của Biển Đông để thực hiện “sứ mệnh tự do hàng hải”. Các nhà phân tích cho rằng điều này có nghĩa là vệ tinh, máy bay trinh sát và hệ thống chiến đấu Aegis của quân đội Hoa Kỳ từ lâu đã nắm được toàn bộ quy trình tên lửa của ĐCSTQ từ khi phóng đến khi rơi xuống và đã tiến hành khai triển tương ứng.

Dưới đây là ba lợi thế của hàng không mẫu hạm Mỹ giúp chúng ít bị vũ khí chống hạm của ĐCSTQ tấn công hơn

  1. Hàng không mẫu hạm Mỹ có khả năng phục hồi vượt trội và có tính sát thương đối với kẻ thù

Các quan chức hiện tại và trước đây của Hải quân Hoa Kỳ thừa nhận rằng hàng không mẫu hạm không phải là bất khả xâm phạm, nhưng họ nhấn mạnh rằng hàng không mẫu hạm được bảo vệ tốt và có khả năng phục hồi, và nó có một số rủi ro khi hoạt động.

Ông Campagna nói rằng, nhờ việc chia khoang trong hàng không mẫu hạm, chúng tôi có khả năng sửa chữa các khoang trên toàn bộ con tàu, tương đương với việc có một trạm cứu hỏa bên trong tàu; “Cũng như chúng tôi niêm phong nó (hàng không mẫu hạm) bằng 1.000 feet thép để có khả năng hấp thụ bất kỳ loại chấn động nào, nó (hàng không mẫu hạm) có khả năng chịu đựng được”.

“Chúng tôi đã chuẩn bị sẵn sàng. Chúng tôi có thể gây chết người (đối với kẻ thù)”, ông nói.

Hải quân Hoa Kỳ đã tiến hành một cuộc “thử nghiệm xung kích” đối với hàng không mẫu hạm mới nhất, USS Gerald R. Ford, vào mùa hè năm 2021, cho nổ 40.000 pound chất nổ trong vùng nước xung quanh hàng không mẫu hạm.

USS Ford là hàng không mẫu hạm đầu tiên vượt qua cuộc thử nghiệm va đập kể từ năm 1987. Các cuộc thử nghiệm không mô phỏng một tác động trực tiếp, nhưng các quan chức Hải quân cho biết là hàng không mẫu hạm cuối cùng đã vượt qua các cuộc thử nghiệm đó, con tàu chỉ cần sửa chữa một phần nhỏ sau khi hứng chịu một vụ nổ bom.

Một nhà bình luận Trung Quốc cho biết vào tháng 8 năm đó rằng, các cuộc thử nghiệm đã chứng minh “khả năng siêu phục hồi” của hàng không mẫu hạm Ford đối với các loại vũ khí chống hạm thông thường.

Ông Campagna cho biết hàng không mẫu hạm của Mỹ “được chế tạo rất tốt, như quý vị đã thấy trong các cuộc thử nghiệm va đập của Ford”, “vì vậy tôi rất tin tưởng vào các hàng không mẫu hạm, rất tự tin đưa nó ra khơi trong bất kỳ môi trường nào”.

  1. Hàng không mẫu hạm Hoa Kỳ có khả năng phòng thủ nhiều lớp

Các lớp phòng thủ mà ông Campagna đề cập bao gồm hệ thống chống tên lửa đạn đạo trên các tàu của nhóm tấn công hàng không mẫu hạm. Cơ quan Phòng thủ Tên lửa Hoa Kỳ cũng đang tìm kiếm khả năng phòng thủ hàng hải trước mối đe dọa từ tên lửa siêu thanh.

Bản thân hàng không mẫu hạm có các cảm biến và hệ thống phòng thủ, bao gồm tên lửa đất đối không, pháo dẫn đường bằng radar và các biện pháp “tiêu diệt mềm” như mồi nhử và gây nhiễu điện tử. Quân đội Hoa Kỳ cũng đang ngày càng chú ý đến tàu ngầm của Trung Quốc và Nga, và hải quân Hoa Kỳ và các đồng minh đã một lần nữa nhấn mạnh đến chiến tranh chống tàu ngầm.

Những rủi ro do tên lửa tầm xa gây ra đang khiến các nhà hoạch định chính sách của Mỹ phải xem xét lại các hoạt động ngăn chặn hàng không mẫu hạm và các tàu chiến khác ngoài tầm bắn của những tên lửa này cho đến khi máy bay ném bom, tàu ngầm và tên lửa tầm xa của Mỹ có thể bắn hạ tên lửa của đối phương. Hải quân Hoa Kỳ cũng đang tìm kiếm các loại máy bay và vũ khí tầm xa hơn để tiếp tục hoạt động trong tình huống này. Máy bay không người lái tiếp nhiên liệu MQ-25, sẽ mở rộng phạm vi hoạt động của máy bay trên tàu, gần đây đã được thử nghiệm lần đầu tiên trên một hàng không mẫu hạm.

Ông Kris Osborn, cựu chuyên gia cấp cao của Văn phòng trợ lý Bộ trưởng Lục quân về Tiếp thu, Công nghệ và Hậu cần của Ngũ Giác Đài, đã viết trên tờ The National Interest sau khi Trung Quốc phóng tên lửa Dongfeng vào Biển Đông rằng Hải quân Hoa Kỳ đang nhanh chóng xây dựng một thế hệ phòng thủ tàu công nghệ cao mới hơn. Các hệ thống này bao gồm vũ khí laser năng lượng cao được dẫn đường chính xác theo dõi quang học các mục tiêu ở xa và sau đó thiêu hủy chúng.

Ông viết: “Mạng lưới giữa các vũ khí phòng thủ phân lớp ngày càng chặt chẽ, dùng chung hệ thống chỉ huy và điều khiển để nhanh chóng chia sẻ thông tin mục tiêu, phối hợp tấn công và phân loại mục tiêu theo thời gian thực”. Hệ thống mới cũng cho phép phát hiện sớm hơn các mối đe dọa, cho phép chỉ huy phản ứng ngay lập tức.

  1. Tốc độ và khả năng cơ động của hàng không mẫu hạm Mỹ khiến kẻ thù khó theo dõi

Mặt khác, quân đội Trung Quốc nếu muốn tấn công hàng không mẫu hạm Mỹ thì trước hết phải có khả năng tìm và theo dõi hàng không mẫu hạm Mỹ, nhưng rất khó làm được điều này.

Hàng không mẫu hạm có thể di chuyển trong khi tên lửa đang bay, nghĩa là tên lửa cần có khả năng xác định vị trí hàng không mẫu hạm hoặc nhận các tín hiệu dẫn đường cập nhật. Tên lửa di chuyển với tốc độ hàng nghìn dặm/giờ cũng tạo ra ma sát, ảnh hưởng đến độ chính xác của việc dẫn đường cho tên lửa và dễ bị radar phát hiện hơn.

Ông Andrew Erickson, giáo sư tại Học viện Hàng hải Trung Quốc thuộc Trường Đại học Hải quân Hoa Kỳ, cho biết trong một cuộc phỏng vấn vào tháng 11 năm 2020 rằng hệ thống dẫn đường tên lửa đã có từ nhiều thập niên và Trung Quốc có thể khắc phục những thiếu sót của hệ thống dẫn đường bằng cách phóng thêm tên lửa vào các khu vực cụ thể. Nhưng các hàng không mẫu hạm của Mỹ sẽ không đợi những tên lửa đó đến.

Ông nói: “(Hàng không mẫu hạm) di chuyển với tốc độ 30 hải lý/giờ và có thể điều hướng trong nhiều không gian đại dương, khiến việc theo dõi nó trở nên rất khó khăn”.

Chỉ huy trưởng Paul Lanzilotta, chỉ huy tàu USS Ford, cho biết tốc độ và khả năng cơ động của hàng không mẫu hạm có nghĩa là “tìm ra hàng không mẫu hạm thực sự đang ở đâu không phải là một chuyện nhỏ”.

“Chúng tôi nhanh chóng và cơ động, và chúng tôi sẽ sử dụng tất cả những khả năng đó để làm lợi thế của mình”, ông Lanzilotta nói. “Nếu bạn không hiểu đại dương rộng lớn như thế nào trong thực tế (tác chiến), thì bạn không hiểu vấn đề nằm ở đâu”.

BDN

Loading

Views: 0

EU đang “lấy đá ghè chân mình”

Bộ trưởng Năng lượng Liên minh châu Âu hôm nay (2/5) sẽ nhóm họp tìm các giải pháp cho vấn đề năng lượng của khối này. Dù đã áp đặt nhiều biện pháp trừng phạt với Nga song Liên minh châu Âu vẫn đang loay hoay trong chính cái thòng lọng do khối này đặt ra.

Hai vấn đề lớn được đặt ra trong cuộc họp của Bộ trưởng Năng lượng Liên minh châu Âu lần này chính là tìm cách giảm phụ thuộc vào nguồn cung năng lượng của Nga và giải quyết yêu cầu thanh toán bằng đồng rúp mà Nga đưa ra nếu không nguồn cung năng lượng cho châu Âu sẽ bị cắt đứt. Đây được xem là 2 bài toán hóc búa mà Liên minh châu Âu đến nay vẫn đang loay hoay giải quyết.

Về thanh toán khí đốt bằng đồng rúp của Nga, đây vẫn là vấn đề gây tranh cãi giữa các nước thành viên khối này. Một mặt nhiều lãnh đạo châu Âu công khai tuyên bố sẽ không mua khí đốt của Nga bằng đồng rúp như Nga yêu cầu. Mặt khác, theo tiết lộ của giới chức Hungary ngày 1/5 hiện có 10 quốc gia khối này vẫn đang âm thầm mua khí đốt của Nga bằng đồng rúp.

Sau khi Nga ra lệnh cắt nguồn cung khí đốt cho Ba Lan và Bulgaria đầu tuần này, các công ty năng lượng châu Âu đang gấp rút tìm cách tuân thủ yêu cầu từ phía Nga do lo ngại sẽ rơi vào một cuộc khủng hoảng năng lượng lớn nếu Nga tiếp tục cắt nguồn cung. Mặc dù Uỷ ban châu Âu đã ra hướng dẫn, theo đó các công ty năng lượng châu Âu có thể “lách” về mặt kỹ thuật bằng cách tuyên bố đã hoàn tất việc trả tiền khí đốt cho Nga ngay lập tức sau khi chuyển số tiền này bằng đồng euro hoặc USD cho đối tác Nga, trước khi phía Nga quy đổi số tiền này sang đồng rúp Nga.

Tuy nhiên, hướng dẫn này được cho là quá mập mờ, khiến các nước khó áp dụng. Hiện một số nước như Đan Mạch, Hy Lạp, Ba Lan, Slovakia đã lên tiếng yêu cầu Uỷ ban châu Âu hướng dẫn chi tiết thêm về việc trả tiền mua khí đốt của Nga bằng đồng rúp theo yêu cầu từ phía chính quyền Nga.

Ngoài vấn đề thanh toán khi đốt, các bộ trưởng năng lượng Liên minh châu Âu cũng sẽ thảo luận việc giảm nguồn cung khí đốt từ Nga. Cho đến nay, Liên minh châu Âu cũng vẫn chưa tìm được giải pháp tối ưu để giảm nguồn cung năng lượng từ Nga.

Dù đã dừng nhập khẩu than song Liên minh châu Âu vẫn chưa dừng nhập khẩu khí đốt bởi 40% lương khí đốt nhập khẩu vào EU là từ Nga. Việc áp đặt lệnh cấm nhập khẩu khí đốt của Nga đang là một vấn đề gây tranh cãi giữa các thành viên EU. Trong khi một số thành viên yêu cầu chấm dứt việc sử dụng dầu mỏ của Nga trước cuối năm 2022 thì một số quốc gia khác lại lo ngại về tác động của quyết định này đối với giá khí đốt.

Theo đánh giá của giới phân tích, việc cắt giảm đột ngột tổng nguồn cung khí đốt cho Liên minh châu Âu sẽ đẩy nhiều nền kinh tế lớn của khối này trong đó có Đức rơi vào suy thoái.

Chuyên gia phân tích thuộc viện Nghiên cứu quốc tế Mỹ Tiểu Hội nhận xét: “Liên minh châu Âu đang gặp khó khăn trong việc đưa ra quyết định trừng phạt nhằm vào lĩnh vực khí đốt của Nga. Vẫn còn những khác biệt rất lớn giữa các thành viên khối này”.

Theo kế hoạch, Ủy ban châu Âu cuối tháng này sẽ công bố kế hoạch chấm dứt sự phụ thuộc vào nhiên liệu khí đốt của Nga vào năm 2027, bao gồm mở rộng năng lượng tái tạo và đổi mới công nghệ xây dựng để tiêu thụ ít năng lượng đi. Tuy nhiên cho đến nay, Nga vẫn đang cung cấp 40% khí đốt và 30% dầu mỏ cho Liên minh châu Âu. Thực tế này khiến nhiều chuyên gia kinh tế cho rằng, mục tiêu mà khối này đặt ra là đến năm 2027 chấm dứt hoàn toàn nguồn năng lượng nhập khẩu từ Nga là rất tham vọng và không dễ đạt được.

BDN

Loading

Views: 0

Do xung đột chính trị và kinh tế, thời kỳ đầu tư mạnh mẽ của TQ vào châu Âu đã kết thúc

Một báo cáo nghiên cứu mới cho thấy, mặc dù đầu tư trực tiếp nước ngoài của Trung Quốc vào châu Âu đã phục hồi vào năm ngoái, nhưng nó vẫn đang trên đà giảm xuống trong nhiều năm. Khi căng thẳng kinh tế và chính trị song phương ngày càng sâu sắc, kỷ nguyên đầu tư vốn ồ ạt của Trung Quốc vào châu Âu có thể đã kết thúc.

Theo một báo cáo chung được công bố trong tuần này của công ty tư vấn Rongding Group và Mercator Centre for China Studies, một tổ chức tư vấn của Đức, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của Trung Quốc vào châu Âu năm 2021 là 10,6 tỷ euro, mức đầu tư thấp thứ hai của Trung Quốc vào châu Âu kể từ năm 2013, chỉ cao hơn năm 2020 và thấp hơn nhiều so với mức 47,4 tỷ euro vào năm 2016.

Sự sụt giảm đầu tư của Trung Quốc vào châu Âu là do một loạt các yếu tố chính trị và kinh tế, bao gồm cả việc các nước châu Âu tăng cường giám sát nguồn vốn của Trung Quốc với lý do bảo vệ an ninh quốc gia, cũng như các hạn chế nghiêm trọng đối với dòng vốn bên trong Trung Quốc và thiệt hại đối với hoạt động kinh tế từ dịch Covid-19.

Các tác giả của báo cáo dự đoán rằng đầu tư của Trung Quốc vào châu Âu khó có khả năng phục hồi vào năm 2022, vì Bắc Kinh sẽ kiên trì với các nỗ lực kiểm soát vốn nghiêm ngặt và xóa bỏ đòn bẩy. Cuộc chiến ở Ukraine và căng thẳng leo thang giữa châu Âu và Trung Quốc có thể tạo thêm áp lực.

Báo cáo cho biết: “Thời đại đầu tư ồ ạt của Trung Quốc vào châu Âu dường như đã kết thúc”.

Đầu tư đang giảm

Báo cáo lưu ý rằng đầu tư trực tiếp nước ngoài của Trung Quốc vào châu Âu đã tăng lên 10,6 tỷ euro vào năm ngoái, tăng từ mức 7,9 tỷ euro vào năm 2020. Sự gia tăng này một phần do công ty quản lý đầu tư Hillhouse Capital mua lại 3,7 tỷ USD mảng kinh doanh thiết bị gia dụng của Philips.

Báo cáo cho biết tỷ trọng đầu tư của nhà nước Trung Quốc vào châu Âu đã giảm xuống mức thấp nhất trong 20 năm. So với năm 2020, đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước đã giảm 10% và tỷ trọng trong tổng vốn đầu tư vào Trung Quốc cũng giảm xuống còn 12%. Đầu tư của nhà nước chủ yếu tập trung vào lĩnh vực năng lượng và cơ sở hạ tầng, đặc biệt là ở Nam Âu.

Báo cáo cho thấy bản chất đầu tư của Trung Quốc vào châu Âu đang thay đổi. Sau nhiều năm thống trị M&A, đầu tư của Trung Quốc vào châu Âu hiện tập trung hơn vào các dự án greenfield (tức đầu tư xây dựng mới). Đầu tư vào Greenfield đạt mức cao mới là 3,3 tỷ euro vào năm 2021, chiếm gần một phần ba tổng số vốn FDI của Trung Quốc.

Trong khi đó, vốn đầu tư mạo hiểm (VC) của Trung Quốc đang đổ vào các công ty khởi nghiệp công nghệ châu Âu. Năm ngoái, vốn đầu tư mạo hiểm của Trung Quốc ở châu Âu đã đạt mức lịch sử 1,2 tỷ euro. Đầu tư chủ yếu chảy vào Anh và Đức, và tập trung vào một số lĩnh vực như thương mại điện tử, công nghệ tài chính, trò chơi, trí tuệ nhân tạo và robot.

Căng thẳng giữa Trung Quốc và Châu Âu

Quan hệ giữa Trung Quốc và châu Âu trở nên căng thẳng hơn trong vài năm qua, với những tranh chấp về nhân quyền và thương mại.

Châu Âu đã coi Trung Quốc là “đối thủ cạnh tranh kinh tế và là đối thủ có tính hệ thống” và đã tăng cường giám sát vốn của Trung Quốc. Năm 2019, Nghị viện Châu Âu đã thông qua một quy định nhằm thiết lập một khuôn khổ cơ bản để sàng lọc FDI vào EU, và được thực hiện đầy đủ vào tháng 10 năm 2020.

Các tác giả của báo cáo chỉ ra rằng căng thẳng giữa EU và Trung Quốc sẽ tiếp tục đè nặng lên thương mại song phương, sau các lệnh trừng phạt đối đầu giữa Trung Quốc và châu Âu vào tháng 3 năm ngoái và đòn trả đũa thương mại của Trung Quốc đối với Litva về vấn đề Đài Loan. Và các cuộc đàm phán về một thỏa thuận đầu tư toàn diện giữa EU và Trung Quốc dự kiến sẽ tiếp tục bị gác lại trong năm nay.

Báo cáo cũng cho biết cuộc khủng hoảng Ukraine đã làm dấy lên các cuộc thảo luận ở châu Âu về việc duy trì cơ sở hạ tầng quan trọng và tăng cường khả năng phục hồi của chuỗi cung ứng, điều này có thể dẫn đến việc tăng cường giám sát hơn nữa các khoản đầu tư của Trung Quốc vào các lĩnh vực chủ chốt ở châu Âu.

Việc Trung Quốc từ chối lên án cuộc xâm lược của Nga và bảo vệ Nga trên trường quốc tế trong bối cảnh cuộc chiến chống Ukraine của Nga đã làm suy yếu các nỗ lực trừng phạt của EU và Mỹ nhằm vào Nga, đồng thời làm mất đi hy vọng của châu Âu rằng Trung Quốc sẽ sử dụng đòn bẩy của mình đối với Nga để ngăn chặn chiến tranh.

Một số nhà phân tích cho rằng cuộc chiến Nga-Ukraine đang đẩy Trung Quốc ngày càng xa rời châu Âu, và củng cố sự cạnh tranh mang tính hệ thống giữa hai bên. Phương Tây một lần nữa đang cân nhắc lại những rủi ro khi hợp tác với các nền kinh tế phi dân chủ và cố gắng giảm sự phụ thuộc kinh tế vào Bắc Kinh.

Ông Dan Hamilton, thành viên cấp cao tại Viện Nghiên cứu Chính sách Đối ngoại Johns Hopkins, nói với VOA rằng: “Nền kinh tế Hoa Kỳ và EU không hoàn toàn tách rời khỏi Trung Quốc, nhưng cả hai đều đang xác định lại các điều khoản về sự phụ thuộc lẫn nhau của họ với Trung Quốc”.

Reuters đưa tin vào giữa tháng này, trích dẫn các nguồn thạo tin, rằng Ý sẽ tăng cường giám sát các hoạt động mua lại công ty và có kế hoạch thành lập một đơn vị mới để giám sát các thương vụ sáp nhập liên quan đến các công ty chiến lược. Đây được coi là phản ứng trực tiếp đối với những nỗ lực mở rộng ảnh hưởng của Trung Quốc tại nền kinh tế lớn thứ ba khu vực đồng euro này.

Ngoài châu Âu, báo cáo nêu trên cũng lưu ý rằng đầu tư của Trung Quốc vào phần còn lại của thế giới cũng đang đình trệ từ năm 2021. Trong khi tổng vốn FDI toàn cầu tăng mạnh trở lại, thì FDI ra nước ngoài của Trung Quốc chỉ tăng 3% lên 96 tỷ euro.

Trong khi đó, hoạt động M&A ra nước ngoài toàn cầu của Trung Quốc đã giảm xuống mức thấp nhất trong 14 năm vào năm 2021, với tổng giá trị các thương vụ M&A đã hoàn thành chỉ là 20 tỷ euro, giảm 22% so với năm 2020, vốn đã cho thấy sự yếu kém.

Theo thống kê từ Rhodium Consulting, đầu tư của Trung Quốc vào Hoa Kỳ đã giảm xuống còn 15% so với mức đỉnh vào năm 2017. Bản chất của các khoản đầu tư này cũng đang thay đổi, với phần lớn là vào các lĩnh vực ít nhạy cảm như giải trí và bất động sản.

BDN

Loading

Views: 0