Phó Trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ phụ trách khu vực Nam Á và Đông Nam Á Lindsey Ford cho biết Mỹ “chắc chắn sẽ kích hoạt” Hiệp ước phòng thủ chung (MDT) với Philippines nếu xảy ra một cuộc tấn công vũ trang nhằm vào “tài sản của nước này, bao gồm cả tài sản của Lực lượng bảo vệ bờ biển Philippines (PCG), xảy ra ở Biển Đông”.
Các tàu của lực lượng cảnh sát biển Trung Quốc tiến gần hàng rào nổi của khu vực bãi cạn Scarborough ở Biển Đông, ngày 23/9. (Nguồn: Reuters)
Bà Ford đã đưa ra lời đảm bảo này trong phiên điều trần trước Hạ viện Mỹ sáng 29/9.
Giải đáp mối băn khoăn của Hạ nghị sĩ Young Kim của bang California, người cũng đứng đầu tiểu ban về Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương của Ủy ban Đối ngoại Hạ viện Mỹ, bà Ford nói: “Bộ Quốc phòng Mỹ đã thể hiện quan điểm cực kỳ rõ ràng khi nói đến các cam kết trong hiệp ước của chúng ta với Philippines”.
Phát biểu khi ông Kim nêu lên những chỉ trích về cam kết của Mỹ với Philippines, bà Ford nhấn mạnh: “Chúng tôi đã nói nhiều lần và sẽ tiếp tục khẳng định chúng tôi tuân thủ những cam kết đó”.
Nhà lập pháp Mỹ này chất vấn: “Mỹ có sẵn sàng hỗ trợ Hiệp ước phòng thủ chung bằng lực lượng quân sự không? Và thông điệp nào sẽ gửi tới các nước khác trong khu vực nếu Mỹ không phản ứng đủ mạnh mẽ trước một sự kiện kích hoạt hiệp ước đó?”.
Đáp lại, bà Ford ghi nhận “sự đáng tin cậy” trong quan hệ đối tác quân sự của Washington với Manila, mà bà mô tả là “một phần nền tảng” đối với an ninh của Mỹ ở Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương và trên toàn cầu.
Ngoài việc đảm bảo “chỗ đứng” của quân đội Mỹ tại Philippines thông qua 9 địa điểm thuộc Thoả thuận hợp tác quốc phòng tăng cường (EDCA) trên khắp lãnh thổ Philippines, bà Ford cho biết Washington cũng đang giúp một công ty Mỹ hoạt động tại Vịnh Subic vận hành một nhà máy đóng tàu mà họ coi là “cơ sở hạ tầng chiến lược quan trọng”.
Bà Ford nói thêm: “Tôi cho rằng thực tế mà các công ty Mỹ đang hợp tác và góp phần tạo việc làm cũng như đảm bảo khu vực chiến lược đó nằm trong những bàn tay thân thiện là vô cùng quan trọng”.
Nhật Bản và Đức đang hướng tới một thỏa thuận hỗ trợ hậu cần, nhằm giúp hai nước đảm bảo tốt hơn tình hình an ninh, hòa bình của khu vực.
Quan hệ quốc phòng giữa Đức và Nhật Bản dần đan xen mật thiết với nhau, sau khi hai nước có lần đầu tiên tập trận không quân chung vào năm 2022. (Nguồn: Nikkei Asia)
Nhật Bản dự kiến đàm phán với Đức về Thỏa thuận tiếp nhận và cung ứng dịch vụ tương hỗ (ACSA), cho phép lực lượng vũ trang của hai nước trao đổi nhiên liệu và các vật tư khác, tạo điều kiện thuận lợi cho các cuộc tập trận chung. Đây được xem là nỗ lực mới nhất nhằm đảm bảo an ninh cho hai nước, đồng thời góp phần thúc đẩy an ninh, hòa bình cho khu vực.
Thỏa thuận này đã được xác nhận vào năm ngoái tại cuộc họp 2+2 giữa bộ trưởng ngoại giao và quốc phòng của hai nước. Sắp tới, hai bên sẽ thảo luận về khuôn khổ pháp lý cho thỏa thuận này.
Nhật Bản đã ký ACSA tương tự với các nước khác, bao gồm Mỹ, Australia, Pháp, Anh và Ấn Độ.
Nhật Bản và Đức đang tích cực nâng cao quan hệ hợp tác quốc phòng. Năm 2022 đánh dấu lần đầu tiên hai nước tập trận không quân chung trên bầu trời Nhật Bản.
Trong đó, ba máy bay phản lực Eurofighter của Đức và ba máy bay chiến đấu F-2 của Nhật Bản đã cùng tham gia huấn luyện. Cuộc tập trận nhằm tăng cường khả năng chiến đấu trên không của Berlin ở khu vực châu Á- Thái Bình Dương và giúp tích hợp máy bay chiến đấu của Đức vào hệ thống chỉ huy của các đồng minh.
Con tàu Nhật Bản Montevideo Maru chở hơn 1.000 người được tìm thấy sau 81 năm bị chìm ở biển Đông.
Montevideo Maru là tàu thương gia Nhật Bản bị đánh chìm trong Thế chiến thứ hai khi đang chở hơn 1.000 tù nhân chiến tranh. Phó Thủ tướng Úc Richard Marles ngày 22-4 xác nhận trên mạng xã hội Twitter rằng tàu Montevideo Maru được phát hiện ngoài khơi phía Tây Bắc của đảo Luzon – Philippines ở độ sâu hơn 4.000 m. “Phát hiện này giúp chấm dứt một trong những chương bi thảm nhất trong lịch sử hàng hải của Úc” – ông Marles nói. Sau 5 năm lập kế hoạch, sử dụng những thiết bị công nghệ cao, các nhà thám hiểm bắt đầu tìm kiếm xác tàu vào ngày 6-4 năm nay.
Tàu Montevideo Maru. Ảnh: Đài tưởng niệm chiến tranh Úc
Trước đó, vào ngày 1-7-1942, tàu Montevideo Maru chở khoảng 1.060 tù nhân từ 16 quốc gia, dự kiến đi từ vùng lãnh thổ Papua New Guinea đến hòn đảo Hainan do Nhật Bản kiểm soát.
Một tàu ngầm của Mỹ sau đó phóng ngư lôi đánh chìm tàu Montevideo Maru do không nhận ra nó đang vận chuyển tù nhân chiến tranh.
Vụ chìm tàu Montevideo Maru là thảm họa hàng hải tồi tệ nhất của Úc, giết chết khoảng 979 công dân Úc, trong đó có ít nhất 850 quân nhân.
Theo nhóm khảo cổ học hàng hải Silentworld Foundation, dân thường từ hơn 10 quốc gia – bao gồm Anh, Đan Mạch, Estonia, Phần Lan, Ireland, Hà Lan, New Zealand, Quần đảo Solomon, Thụy Điển và Mỹ – cũng ở trên tàu, đưa tổng số tù nhân thiệt mạng lên con số khoảng 1.060 người.
Sau khi tìm thấy xác tàu ở biển Đông, nhà chức trách Úc ca ngợi những người tham gia chiến dịch tìm kiếm, bao gồm các chuyên gia khảo sát biển sâu và các thành viên của Lực lượng Vũ trang Úc.
Tướng Simon Stuart, Tham mưu trưởng Lục quân Úc, cho biết: “Sự mất mát này nhắc nhở chúng ta về cái giá phải trả cho những cuộc xung đột của con người”.
Trong khi đó, Thủ tướng Úc Anthony Albanese đề cập tới sự tưởng nhớ và tôn vinh những người đã phục vụ nước Úc. Ông chia sẻ: “Cuối cùng, nơi an nghỉ của những linh hồn đã mất của Montevideo Maru đã được tìm thấy”.
Philippines và EU nhấn mạnh cam kết với tự do hàng hải và hàng không ở Biển Đông, phù hợp với Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS).
Philippines và EU cam kết cải thiện hợp tác hàng hải song phương thông qua các diễn đàn và tổ chức đa phương và khu vực, bao gồm ASEAN.
Philippines và Liên minh châu Âu nhấn mạnh cam kết vững chắc đối với quyền tự do hàng hải và hàng không ở Biển Đông, phù hợp với Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS), đồng thời kêu gọi các nước kiềm chế sử dụng vũ lực gây bất ổn trong khu vực.
Bộ Ngoại giao Philippines đưa ra thông báo sau cuộc họp tiểu ban đầu tiên về hợp tác hàng hải Philippines – Liên minh châu Âu diễn ra trong tuần qua tại Brussels, Bỉ.
Theo Bộ Ngoại giao Philippines, hai bên bày tỏ quan ngại sâu sắc về các hành động gây nguy hiểm cho hòa bình, an ninh, ổn định và trật tự quốc tế dựa trên luật lệ. Các hoạt động này cũng bao gồm những hành động “gây tổn hại đến đáy biển và môi trường biển, cản trở sinh kế của cộng đồng ngư dân và làm suy yếu an ninh lương thực của Philippines”.
Philippines và EU nhất trí rằng “các tranh chấp phải được giải quyết thông qua các biện pháp hòa bình, phù hợp với luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982”. Hai bên nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phi quân sự hóa và tự kiềm chế trong hành động của các quốc gia.
Tại cuộc họp, Philippines và EU cũng đưa ra các cam kết mới cải thiện hợp tác hàng hải song phương và tăng cường hợp tác thông qua các diễn đàn và tổ chức đa phương và khu vực, bao gồm ASEAN. Hai bên nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tôn trọng chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của các quốc gia cũng như các quyền về biển phù hợp với luật pháp quốc tế, đặc biệt là UNCLOS 1982.
Cả hai cam kết sẽ tăng cường đào tạo và diễn tập trong dự án Tuyến đường hàng hải quan trọng Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương nhằm tăng cường năng lực quản lý khủng hoảng của Philippines, đồng thời thảo luận về các lĩnh vực hợp tác trong lĩnh vực hàng hải, như phát triển bền vững, quản trị đại dương và kết nối.
Cuộc họp tiểu ban tiếp theo về hợp tác hàng hải theo thỏa thuận hợp tác và đối tác Philippines – Liên minh châu Âu sẽ diễn ra tại Manila (Philippines) vào năm 2024.
Quan chức Bộ Quốc phòng Mỹ nói Philippines “gỡ dây phao Trung Quốc” gần bãi cạn Scarborough là “một bước đi táo bạo để bảo vệ chủ quyền”.
Vị trí bãi cạn Scarborough trên Biển Đông. Đồ họa: CSIS
“Philippines gần đây đã có bước đi táo bạo trong việc bảo vệ chủ quyền, bằng cách loại bỏ dây phao do tàu hải cảnh Trung Quốc thả gần bãi cạn Scarborough trên Biển Đông”, Phó trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ về Nam và Đông Nam Á Lindsey Ford cho biết trong phiên điều trần trước tiểu ban về Ấn Độ – Thái Bình Dương, Ủy ban Đối ngoại Hạ viện Mỹ, ngày 28/9.
Bà Ford còn tái khẳng định cam kết an ninh của Washington với Manila, cho biết cam kết áp dụng trong cả trường hợp lực lượng vũ trang Philippines, bao gồm Cảnh sát biển Philippines, bị tấn công trên Biển Đông.
“Chúng tôi tuân thủ hoàn toàn những cam kết đó”, bà Ford nói.
Bà Ford bình luận sau khi Cảnh sát biển Philippines ngày 25/9 thông báo đã triển khai “hoạt động đặc biệt” để cắt dây phao ngăn ngư dân do hải cảnh Trung Quốc triển khai gần bãi cạn Scarborough. Manila gọi việc Bắc Kinh thả dây phao là vi phạm luật quốc tế, gây nguy hiểm cho hoạt động hàng hải.
Bãi cạn Scarborough là rạn san hô vòng gồm nhiều đá ngầm và đá nổi nằm cách đảo chính Luzon của Philippines khoảng 230 km và cách bờ biển đông nam Trung Quốc khoảng 1.000 km. Hai bên đều tuyên bố chủ quyền, với Manila gọi Scarborough là Bajo de Masinloc, Bắc Kinh đặt tên bãi cạn là Hoàng Nham.
Trung Quốc cuối ngày 27/9 bác bỏ thông tin từ phía Philippines, cho rằng lực lượng hải cảnh nước này “tạm thời triển khai dây phao để ngăn chặn tàu Philippines tiến vào bãi cạn, sau đó chủ động thu hồi và tiếp tục kiểm soát bình thường khu vực”.
Video do cảnh sát biển Philippines công bố cho thấy thợ lặn cắt dây phao gần Scarborough. Video: CSB Philippines
Trung Quốc đẩy lực lượng Philippines ra khỏi Scarborough và kiểm soát bãi cạn này từ năm 2012. Trung Quốc sau đó thường xuyên triển khai tàu hải cảnh tuần tra xung quanh bãi cạn Scarborough, cũng như xua đuổi ngư dân Philippines ra khỏi khu vực.
Trung Quốc cho phép tàu ngư dân Philippines quay lại đánh bắt tại bãi cạn Scarborough khi quan hệ hai nước được cải thiện rõ rệt dưới thời tổng thống Rodrigo Duterte. Tuy nhiên, căng thẳng leo thang sau khi Tổng thống Marcos Jr. nhậm chức năm ngoái và đưa ra các tuyên bố cứng rắn với Bắc Kinh.
Cuộc diễn tập quân sự chung đầu tiên trong năm 2023 của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) đã diễn ra ở Biển Bắc Natuna, vùng biển nằm ở cực Nam của Biển Hoa Nam (Biển Đông), ngoài khơi Indonesia. Cuộc diễn tập này không bao gồm bất kỳ hoạt động huấn luyện chiến đấu nào và chi tập trung vào an ninh hàng hải, ứng phó thảm họa và các hoạt động cứu hộ.
Tham gia cuộc diễn tập có tất cả 10 quốc gia thành viên ASEAN gồm Brunei, Campuchia, Indonesia, Lào, Malaysia, Myanmar, Philippines, Singapore, Thái Lan và Việt Nam. Ngoài ra, Timor-Leste – quốc gia vừa nộp đơn xin gia nhập khối – cũng tham gia cuộc diễn tập này. Đây là cuộc diễn tập quân sự chung đầu tiên do chính ASEAN triển khai mà không có đối tác bên ngoài tham gia. Mục đích của cuộc diễn tập này là nhằm tăng cường “vai trò trung tâm của ASEAN” và thể hiện sự thống nhất, đoàn kết của khối trước những căng thẳng và thách thức đang gia tăng trong khu vực.
Cuộc diễn tập chung của ASEAN ở Biển Đông là cách để ASEAN duy trì Tầm nhìn ASEAN về Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (AIOP). AIOP là tài liệu phác thảo tầm nhìn và nguyên tắc của ASEAN nhằm thúc đẩy hòa bình, ổn định và thịnh vượng ở khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, trong đó bao gồm cả khu vực châu Á-Thái Bình Dương lẫn Ấn Độ Dương. AIOP xác định 4 lĩnh vực hợp tắc chính: hợp tác hàng hải, kết nối, phát triển bền vững và hợp tác kinh tế.
Cuộc diễn tập chung ASEAN nằm trong khuôn khổ lĩnh vực đầu tiên là hợp tác hàng hải, theo đó nhằm tăng cường an ninh, an toàn và tự do hàng hải và hàng không, cũng như giải quyết các thách thức chung như cướp biển, khủng bố, đánh bắt thủy sản bất hợp pháp, ô nhiễm biển, và biến đổi khí hậu. Cuộc diễn tập này đã tập trung vào các hoạt động an ninh hàng hải, ứng phó thảm họa và cứu hộ, vốn rất cần thiết để đảm bảo an toàn và phúc lợi cho người dân và môi trường trong khu vực. Điều này thể hiện sự cởi mở, bao trùm và sẵn sàng hợp tác với các đối tác bên ngoài của ASEAN vì lợi ích và thách thức chung.
Cuộc diễn tập chung ASEAN cũng nhất quán với lĩnh vực hợp tác thứ hai là kết nối, theo đó tăng cường kết nối về vật chất, thể chế và giao lưu nhân dân giữa các quốc gia thành viên ASEAN và với các khu vực khác. Cuộc diễn tập sẽ tăng cường năng lực tương tác và điều phối giữa các lực lượng vũ trang ASEAN và thúc đẩy sự tin cậy lẫn nhau giữa các lực lượng này. Cuộc diễn tập này cũng sẽ tăng cường các cơ chế và nền tảng hợp tác an ninh hiện hành do ASEAN lãnh đạo phục vụ hợp tác an ninh, như Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN (ADMM) mở rộng và Diễn đàn Biển ASEAN Mở rộng (EAMF).
Tập trận chung ASEAN trên Biển Đông
Cuộc diễn tập quân sự chung ASEAN cũng hỗ trợ lĩnh vực thứ ba – phát triển bền vững – nhằm thúc đẩy phát triển xã hội và bảo vệ môi trường. Cuộc diễn tập sẽ nâng cao năng lực và sự sẵn sàng của các lực lượng vũ trang ASEAN trong việc ứng phó với thiên tại và khủng hoảng nhân đạo trong khu vực, vốn ngày càng diễn ra thường xuyên và nghiêm trọng hơn do biến đổi khí hậu.
Cuộc diễn tập chung ASEAN cũng liên quan hợp tác kinh tế, lĩnh vực hợp tác thứ tư và cuối cùng, nhằm thúc đẩy thương mại, đầu tư, đổi mới và kinh tế số giữa các quốc gia thành viên ASEAN. Cuộc diễn tập này sẽ góp phần duy trì hòa bình và ổn định ở Biển Đông, tuyển đường biển quan trọng đối với thương mại toàn cầu. Cuộc diễn tập cũng sẽ tạo cơ hội hợp tác kinh tế giữa các bên tham gia trong các lĩnh vực như công nghiệp quốc phòng, cơ sở hạ tầng hàng hải, hậu cần, du lịch và giáo dục.
Đảng chú ý, cuộc diễn tập quân sự chung của ASEAN ở Biển Đông là thông điệp gửi đến Trung Quốc các nước Đông Nam Á đoàn kết, quyết tâm bảo vệ chủ quyền và lợi ích của mình ở vùng biển tranh chấp. Căng thẳng và thách thức gia tăng ở Biển Đông, nơi Trung Quốc khẳng định yêu sách và tiến hành các hành động đơn phương vi phạm chủ quyền và quyền của các quốc gia yêu sách khác như Philippines, Malaysia và Brunei – bao gồm việc cải tạo và quân sự hóa các đảo nhân tạo, áp đặt lệnh cấm đánh bắt cá, các hoạt động thăm dò dầu khi và ban hành luật Hải cảnh sát mới cho phép lực lượng vũ trang Trung Quốc sử dụng vũ lực.
ASEAN kêu gọi giải quyết hòa bình các tranh chấp thông qua luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) 1982 và sớm hoàn tất Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) hiệu quả và thực chất.
Ngoài ra, tội phạm xuyên quốc gia và các mối đe dọa phi truyền thống đã ảnh hưởng đến an ninh và phúc lợi của người dân trong khu vực, như cướp biển, khủng bố, buôn người, di cư bất hợp pháp, đánh bắt cá bất hợp pháp, suy thoái môi trường, biến đổi khí hậu, thiên tai và đại dịch. ASEAN đã và đang tăng cường hợp tác và phối hợp trong các vấn đề này thông qua nhiều cơ chế và sáng kiến, như Trung tâm chống tội phạm xuyên quốc gia ASEAN, Sáng kiến an ninh eo biển Malacca, Hiệp định khu vực về hợp tác chống cướp biển có vũ trang, Diễn đàn hàng hải ASEAN. ASEAN cũng đã tìm cách hợp tác với các đối tác bên ngoài và các bên liên quan để giải quyết những thách thức chung này.
Cuộc diễn tập này không nhằm mục đích khiêu khích hay đối kháng với Trung Quốc, mà là nhằm tăng cường lòng tin và sự tin cậy lẫn nhau giữa các thành viên ASEAN với nhau và với Trung Quốc. Đây là một phần của sáng kiến rộng hơn mang tên Aman Youyi (Hòa bình và Hữu nghị), nhằm thúc đẩy hợp tác và đối thoại giữa Trung Quốc và ASEAN về các vấn đề an ninh phi truyền thống.
Tuy nhiên, cuộc tập trận được công bố 3 tuần sau khi Bắc Kinh công bố bản đồ mới bao gồm Đài Loan và gần như toàn bộ Biển Đông. Các nước Đông Nam Á và Đài Loan đã bác bỏ bản đồ này. ASEAN không muốn bị coi là đứng về phía Trung Quốc hoặc Mỹ, tham gia vào cuộc cạnh tranh chiến lược ở khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương. Vì vậy, cuộc diễn tập chung của ASEAN là thông điệp cho thấy ASEAN coi trọng quyền tự chủ và độc lập nhưng cũng tìm kiếm sự tham gia mang tính xây dựng. ASEAN mong muốn duy trì hòa bình, ổn định ở Biển Đông thông qua đổi thoại và tuân thủ luật pháp quốc tế.
Tóm lại, cuộc diễn tập chung ASEAN là một bước quan trọng hướng tới hiện thực hóa tầm nhìn và các nguyên tắc của AIOP vì một khu vực Ấn Dương-Thái Bình Dương hòa bình, ổn định và thịnh vượng. Cuộc diễn vai trò trung tâm, thống nhất, đoàn kết, tự chủ, độc lập, bổ sung và hợp tác của ASEAN trong việc định hình trật tự an ninh khu vực./.
Tị nạn chiến tranh Ukraine và làn sóng người di cư qua Địa Trung Hải “đổ bộ” vào châu Âu đang gây ra tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng, làm nóng trở lại cuộc tranh luận trong Liên minh châu Âu (EU) về việc tiếp nhận và phân bổ người tị nạn. Là quốc gia tuyến đầu, Italia liên tiếp cảnh báo về thách thức lớn với EU, khi số lượng người di cư kéo tới đảo Lampedusa của nước này ngày một lớn. Riêng Đức đến nay đã nhận 1,15 triệu người lánh nạn chiến tranh Ukraine.
Nguồn: AFP/TTXVN
Lượng người di cư trên các tàu thuyền khởi hành từ bờ biển Bắc Phi đến đảo Lampedusa gia tăng nghiêm trọng. Chỉ trong chưa đầy một tuần, từ ngày 11 đến 13/9 vừa qua, khoảng 8.500 người di cư trên 199 tàu đã đến Lampedusa và con số trên còn cao hơn cả dân số đảo này. Nằm giữa Tunisia, Malta và đảo Sicily của Italia, Lampedusa là điểm đầu tiên người di cư thường tìm đến để vào EU. Giới chức Lampedusa cho biết, hòn đảo nhỏ đang quá tải trong việc tiếp nhận người di cư, đồng thời kêu gọi EU và Chính phủ Italia nhanh chóng hỗ trợ, di chuyển bớt người di cư.
Theo Bộ Nội vụ Italia, từ đầu năm đến ngày 14/9 vừa qua, gần 126.000 người di cư đã đến nước này bằng đường biển, gần gấp đôi mức cùng kỳ năm 2022. Xu hướng này nếu duy trì, lượng người di cư đổ về Italia có thể tới gần mức cao kỷ lục khoảng 181.500 người từng được ghi nhận hồi năm 2016.
Trong khi đó, theo tuyên bố của đại diện Cao ủy Liên hợp quốc về người tị nạn (UNHCR), tình hình trên đảo Lampedusa đã trở nên nghiêm trọng sau khi số lượng người di cư và người tị nạn lớn chưa từng có trong những ngày gần đây. UNHCR kêu gọi thiết lập cơ chế khu vực thống nhất về thủ tục cập bến và bố trí lại những người di cư đến Italia bằng đường biển trên khắp EU.
Vấn đề người di cư là thách thức lớn đối với Chính phủ Italia. Khi lên nắm quyền vào tháng 10/2022, chính quyền Thủ tướng Giorgia Meloni cam kết giải quyết và đã nỗ lực cải thiện quan hệ với Tunisia, nơi xuất phát của phần lớn chuyến tàu di cư trái phép. Vào tháng 7, Tunisia và EU đã ký hiệp ước nhằm giúp ngăn chặn dòng người di cư, song không đem lại kết quả đáng kể.
Thủ tướng Giorgia Meloni hối thúc các nước EU phối hợp để đối phó thách thức chung có nguy cơ mất kiểm soát. Áp lực ngày càng tăng buộc Italia phải tìm kiếm sự hỗ trợ của Liên hợp quốc. Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Italia Antonio Tajani cho rằng, cần phải triển khai các biện pháp tức thời và sâu rộng để giải quyết tình trạng di cư bất thường và ngày càng nghiêm trọng.
Khó khăn lớn nhất của châu Âu hiện nay là ngăn chặn người di cư bằng đường biển. Chủ tịch Ủy ban châu Âu (EC) Ursula von der Leyen cho rằng, làn sóng di cư bất hợp pháp là thách thức của toàn châu Âu, nên cần một cách ứng phó chung của toàn khối. Bà kêu gọi các thành viên EU tiếp nhận người di cư để chia sẻ gánh nặng với Italia. Chính phủ Đức đã thông báo kế hoạch nối lại việc tiếp nhận người tị nạn từ Italia, chỉ vài ngày sau khi Berlin tạm đình chỉ hoạt động này.
Theo chương trình tự nguyện tiếp nhận người tị nạn nhằm thể hiện tình đoàn kết của EU, Đức cam kết tiếp nhận 3.500 người tị nạn từ các quốc gia đặc biệt gặp khó khăn ở biên giới phía nam châu Âu, trong đó có Italia. Đến nay, khoảng 1.700 trường hợp (trong đó có hơn 1.000 trường hợp từ Italia) đã được Đức tiếp nhận thông qua “cơ chế đoàn kết tự nguyện” của châu Âu.
Không chỉ là vấn đề riêng của châu Âu, ngăn chặn nạn di cư bất hợp pháp còn là vấn đề của nhiều khu vực trên thế giới. Hoạt động di cư lộn xộn và mất trật tự theo các tuyến đường nguy hiểm mà những kẻ buôn người lợi dụng đang tiếp tục gây ra những hệ lụy lớn, trong đó cái giá đắt nhất chính là mạng sống. Nếu quản lý kém, việc di cư có thể làm gia tăng sự chia rẽ trong xã hội và giữa các cộng đồng.
Tổng Thư ký Liên hợp quốc Antonio Guterres nêu rõ, hơn 80% những người di cư theo cách an toàn và có trật tự là động lực mạnh mẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, di cư trái phép đang là vấn đề cấp bách cần giải quyết và cần sự phối hợp chặt chẽ của các quốc gia, các tổ chức quốc tế và cộng đồng.
Trong thông báo ngày 25-9, Lực lượng tuần duyên Philippines thông báo đã gỡ thành công đoạn phao chắn dài khoảng 300m “để bảo vệ quyền của ngư dân” Philippines tại khu vực.
Thành viên Lực lượng tuần duyên Philippines lặn cắt đoạn phao nổi gần bãi cạn Scarborough – Ảnh: REUTERS
“Rào chắn này gây nguy hiểm cho hàng hải, vi phạm rõ ràng luật pháp quốc tế. Nó cũng cản trở việc tiến hành các hoạt động đánh bắt cá và sinh kế của ngư dân Philippines”, lực lượng bảo vệ bờ biển nước này cho biết, đồng thời gọi bãi cạn Scarborough là “một phần không thể thiếu của lãnh thổ quốc gia Philippines”.
Ngày 26-9, trả lời trên đài phát thanh DWPM và kênh tin tức ANC, người phát ngôn Jay Tarriela của PCG nói rằng bốn tàu tuần duyên Trung Quốc đã có mặt gần đó trước khi Philippines cắt hàng rào. Ông cho biết các tàu Trung Quốc không quá hung hăng sau khi nhìn thấy giới truyền thông trên tàu Philippines.
Tổng thống Ferdinand Marcos Jr của Philippines đã yêu cầu gỡ bỏ phao chắn mà Trung Quốc đặt ở bãi cạn Scarborough vài giờ sau khi lên tiếng chỉ trích Bắc Kinh.
Hôm 24-9, Philippines đăng tải các hình ảnh về “hàng rào nổi” của Trung Quốc nêu trên ở Scarborough, đồng thời khẳng định sẽ bảo vệ quyền lợi ngư dân.
Lực lượng tuần duyên Philippines cho biết phía Trung Quốc đã dọn nốt phần “hàng rào nổi” ở bãi cạn Scarborough tại Biển Đông, sau khi Manila cắt đứt đoạn phao dài khoảng 300m này.
Phát biểu tại cuộc họp báo thường kỳ ngày 25-9, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc Uông Văn Bân khẳng định Trung Quốc có “quyền chủ quyền và tài phán” ở đảo Hoàng Nham, cách Bắc Kinh gọi bãi cạn Scarborough.
Bộ Ngoại giao Trung Quốc khẳng định sẽ sử dụng “tất cả những biện pháp cần thiết theo luật” nhằm ngăn chặn và xua đuổi một con tàu của Philippines ở Biển Đông.
Scarborough cách đảo lớn Luzon của Philippines 230km, đã bị Trung Quốc giành quyền kiểm soát từ năm 2012.
Vụ “hàng rào nổi” là diễn biến mới nhất trong căng thẳng leo thang giữa Philippines và Trung Quốc trên Biển Đông. Mới đây, Manila nói sẽ kiện Bắc Kinh vì phá hoại môi trường ở Biển Đông.
Ngày 24/9, đội tàu hải quân New Zealand gồm tàu hộ vệ tên lửa HMNZS Te Mana và tàu tiếp tế HMNZS Aotearoa đã cập cảng quốc tế TP.HCM.
Tàu hải quân New Zealand cập cảng TP.HCM
Bộ đôi tàu nói trên do Chuẩn Đô đốc James Gilmour, Tư lệnh Liên quân New Zealand dẫn đầu. Đoàn bắt đầu chuyến thăm hữu nghị Việt Nam trong 5 ngày.
Đón đoàn hải quân của New Zealand có đại diện Lữ đoàn 125 – Vùng 2 Hải quân; Cục Đối ngoại – Bộ Quốc phòng; Bộ chỉ huy Bộ đội biên phòng TP.HCM; Sở Ngoại vụ TP.HCM cùng nhiều đơn vị của New Zealand tại TP.HCM.
Chuẩn Đô đốc James Gilmour cho biết, chuyến thăm của hai tàu hải quân New Zealand đến Việt Nam diễn ra sau chuyến thăm thành công của Thượng tướng Nguyễn Tân Cương, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng tới New Zealand vào tháng 7/2023.
Bên cạnh đó, bộ đôi tàu HMNZS Te Mana và HMNZS Aotearoa cập cảng TP.HCM theo một phần của đợt triển khai hải quân lớn nhất của lực lượng Quốc phòng New Zealand tại Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương.
Chuyến thăm lần này là minh chứng cho mối quan hệ hợp tác sâu sắc giữa New Zealand và Việt Nam, góp phần thắt chặt mối quan hệ hợp tác quốc phòng cũng như giữa nhân dân hai nước.
Trong thời gian 5 ngày lưu trú tại TP.HCM, đoàn sĩ quan và thủy thủ sẽ tham gia nhiều hoạt động như: chào xã giao lãnh đạo UBND TP.HCM, Bộ tư lệnh Quân khu 7; Bộ tư lệnh Vùng 2 Hải quân; tham quan cơ sở Bệnh viện dã chiến 175; giao hữu thể thao và các hoạt động cộng đồng. Thủy thủ đoàn sẽ tham gia các hoạt động giao lưu văn hóa, ẩm thực và tham quan một số địa danh tại TP.HCM.
Hai tàu của hải quân New Zealand cũng sẽ tham gia diễn tập sa bàn với Bộ tư lệnh Vùng 2 Hải quân về các quy tắc ứng xử trong các cuộc gặp trên biển.
Sau Việt Nam, bộ đôi tàu HMNZS Te Mana và HMNZS Aotearoa sẽ đến Malaysia tham dự hoạt động diễn tập chung gồm 5 nước.
Được biết, tàu hộ vệ tên lửa HMNZS Te Mana mang số hiệu F111 dài 118 m, rộng 14,8 m, mớn nước 6,2 m, lượng giãn nước 3.660 tấn, có tốc độ tối đa hơn 50 km/giờ, phạm vi hoạt động hơn 11.000 km.
Tàu tiếp tế HMNZS Aotearoa mang số hiệu A11, được đưa vào sử dụng năm 2020, có chiều dài 173 m, chiều rộng 24,5 m, lượng mớn nước 8,5 m, lượng giãn nước 25.000 tấn, tốc độ tối đa 37 km/h và tầm hoạt động gần 12.000 km. Hai tàu được trang bị nhiều vũ khí và thiết bị hiện đại.
Ngày 24/9/2023, Chuẩn Đô đốc Jay Tarriel, Người phát ngôn Lực lượng Cảnh sát biển Phi-líp-pin cho biết, Cơ quan quản lý nghề cá và nguồn lợi thủy sản và Lực lượng Cảnh sát biển Phi-líp-pin đã cùng lên tiếng phản đối mạnh mẽ trước việc Hải cảnh Trung Quốc đã cho lắp đặt hệ thống hàng rào nổi ở khu vực Đông Nam của Bãi cạn Scarborough mà nước này gọi là Bãi Bajo de Masinloc.
Việc phía Trung Quốc lắp đặt hệ thống hàng rào nổi với chiều dài khoảng 300m được cho là nhằm ngăn cản ngư dân Phi-lip-pin vào đánh bắt cá ở trong khu vực Bãi cạn và “cướp đoạt các hoạt động mưu sinh và nguồn lợi thủy sản của ngư dân Phi-lip-pin”.
Hoạt động lắp đặt hàng rào nổi này được 3 tàu vận tải của Cảnh sát biển và một số tàu dân binh Trung Quốc tiến hành và được ngư dân và Cảnh sát biển Phi-líp-pin phát hiện ra vào ngày 22/9/2023.
Đây không phải là lần đầu tiên phía Trung Quốc tiến hành dựng hàng rào trên biển ở khu vực Bãi cạn Scarborough nhằm ngăn cản các hoạt động nghề cá của ngư dân Phi-lip-pin.
Hẳn chúng ta còn nhớ sự kiện Trung Quốc chiếm Bãi cạn Scarborough năm 2012. Vào thời điểm đó, tháng 4/2012, trong quá trình tuần tra vùng biển của mình, lực lượng Cảnh sát biển Phi-lip-pin phát hiện khá nhiều tàu cá Trung Quốc tập trung quanh khu vực Bãi cạn và đang tiến hành đánh bắt, khai thác rất nhiều loại thủy sản được liệt vào danh mục các loài cần bảo vệ như trai tai tượng, san hô, cá mập….Thực hiện quyền chấp pháp của mình, Cảnh sát biển Phi-líp-pin đã cử tàu ra để kiểm tra và bắt giữ các tàu cá Trung Quốc. Tuy nhiên, trong quá trình này, phía Trung Quốc đã cho tàu Cảnh sát biển của mình, lấn lượt về số lượng và quy mô cũng như công suất ra quyết liệt ngăn cản. Tình hình này buộc phía Phi-líp-pin phải cử thêm 01 tàu Hải quân ra hỗ trợ và Trung Quốc đã chớp lấy thời cơ, đẩy cao căng thẳng và đổ lỗi cho Phi-líp-pin là tiến hành các hành động mang tính khiêu khích về mặt quân sự. Khi căng thẳng leo thang, ngoài việc Trung Quốc điều thêm nhiều phương tiện chiến đấu đến thực địa, nước này còn áp dụng nhiều biện pháp trả đũa như hạn chế du khách Trung Quốc đến Phi-lip-pin du lịch, hạn chế việc nhập khẩu chuối và hoa quả từ Phi-líp-pin…Trong bối cảnh đó, Mỹ là người đứng ra làm trung gian hòa giải cho hai bên với việc hai bên sẽ giảm bớt sự hiện diện về mặt quân sự và tàu của lực lượng chấp pháp tại khu vực Bãi cạn Scarborugh. Nghiêm túc thực hiện cam kết, phía Phi-líp-pin cho rút các tàu của mình ra khỏi khu vực và đây chính là cơ hội vàng để Trung Quốc chiếm giữ hoàn toàn Bãi cạn này. Và đây cũng chính là nguyên nhân thúc đẩy phía Phi-lip-pin tiến hành vụ kiện trọng tài Biển Đông chống lại Trung Quốc.
Bãi cạn Scarborough là một rặng san hô vòng gồm nhiều đá ngầm và đá nổi ở khu vực Biển Đông, cách Luzon khoảng 124 hải lý. Năm 2016, trong Phán quyết Trọng tài vụ kiện Biển Đông, liên quan đến vấn đề Bãi cạn Scarborough, Tòa Trọng tài nhấn mạnh “Tòa Trọng tài xem xét quyền đánh cá truyền thống tại bãi Scarborough và kết luận rằng ngư dân từ Philippines, cũng như Trung Quốc và các nước khác, đã đánh cá tại bãi Scarborough từ lâu và có quyền đánh cá truyền thống tại khu vực này. Do bãi cạn Scarborough nổi trên mặt nước lúc thủy triều lên, cấu trúc này có quyền có lãnh hải, vùng nước xung quanh cấu trúc này không tạo thành vùng đặc quyền kinh tế và quyền đánh cá truyền thống không bị mất đi do Công ước. Dù Tòa Trọng tài nhấn mạnh rằng Tòa không quyết định về vấn đề chủ quyền đối với bãi cạn Scarborough, Tòa xác định rằng Trung Quốc đã vi phạm nghĩa vụ tôn trọng quyền đánh cá truyền thống của ngư dân Philippines khi ngăn chặn tiếp cận bãi cạn Scarborough sau tháng 5 năm 2012”.
Lý do Tòa đưa ra phán quyết liên quan đến vấn đề đánh cá của ngư dân Phi-líp-pin tại đây là do sau khi chiếm giữ Bãi cạn Scarborough tháng 5/2012, Trung Quốc đã cho tàu Hải cảnh trực và chăng dây tại lối vào của Bãi cạn khiến ngư dân Phi-lip-pin không thể tiến hành đánh bắt tại khu vực này. Mặc dù Tòa trọng tài ra Phán quyết với nội dung nêu trên, song với chính sách 4 không đối với vụ kiện. Ngư dân Phi-líp-pin không thể vào đánh cá trong khu vực này.
Sau khi Tổng thống Duterte nắm quyền vào năm 2016, với chính sách cải thiện quan hệ với Trung Quốc, ông Duterte có đạt được một thỏa thuận với Trung Quốc, theo đó ngư dân của Phi-lip-pin tiếp tục được vào đánh cá tại khu vực Bãi cạn Scarborough với một số lượng tàu nhất định. Tuy nhiên, điều này trên thực tế hoàn toàn phụ thuộc vào “thiện chí” của Trung Quốc. Khi quan hệ giữa Trung Quốc- Phi-lip-pin tốt, ngư dân Phi-líp-pin phần nào được thoải mái hơn và ngược lại, khi quan hệ xấu đi, Trung Quốc gia tăng các biện pháp xua đuổi, cản trở ngư dân Phi-lip-pin.
Cũng có nhiều thông tin cho rằng, Trung Quốc cũng có thể tiến hành các hoạt động xây dựng, cải tạo tại Bãi cạn Scarborough tương tự như việc nước này đã xây dựng cải tạo trái phép 7 thực thể ở quần đảo Trường Sa của Việt Nam.
Rõ ràng hành động chăng dây ở khu vực Bãi cạn Scarborough không phải là lần đầu, song lần này có một số điểm đáng chú ý sau: (i) việc lắp đặt hàng rào nổi sẽ mang tính bền vững và lâu dài hơn trên thực địa. Điều này đồng nghĩa là khả năng mà ngư dân Phi-líp-pin tiếp cận vùng lòng hồ của Bãi cạn để đánh bắt cá sẽ khó khăn hơn và sẽ mất thời gian hơn; (ii) Trung Quốc đang thử một phương thức mới áp đặt yêu sách trên biển. Lâu nay chúng ta vẫn thường nghĩ là ít nước sẽ đặt các hàng rào ranh giới trên biển như việc xác định ranh giới trên đất liền thông qua hàng rào biên giới hoặc cột mốc. Nay với cách làm này, Trung Quốc vừa có thể thử nghiệm, vừa có thể mở rộng để ngăn cản hoạt động của các nước khác ở một số khu vực ở Biển Đông, đặc biệt là ở khu vực Trường Sa; (iii) Việc làm này cũng là một phương thức mới, không mang tính đối kháng, song có tính răn đe cao trên thực địa. Nếu ngư dân hoặc các lực lượng chức năng Phi-líp-pin tiến hành việc cắt bỏ các hàng rào này dễ bị coi là cớ để Trung Quốc đẩy cao các hoạt động mang tính trấn áp của mình. Trong bối cảnh này, các nước trong và ngoài khu vực Biển Đông cần hết sức cảnh giác, cùng chung nhận thức về mức độ phức tạp và nguy hiểm của các hành động của Trung Quốc để cùng lên tiếng đối phó. Đồng thời, việc chuẩn bị sẵn sàng các biện pháp ứng phó trên thực địa là hết sức quan trọng
Manila và Washington đã bắt đầu thảo luận về việc tăng cường sự hiện diện quân sự của Mỹ ở bờ biển phía đông Philippines, trong nỗ lực được cho là để đối phó với Trung Quốc.
Binh sĩ Mỹ và Philippines trong một cuộc tập trận chung trên đảo Palawan năm 2016.
Quân đội Mỹ hiện có quyền tiếp cận 9 căn cứ quân sự ở Philippines, 7 trong số đó nằm trên đảo Luzon và đảo Palawan.
Các nguồn tin của báo Nikkei Asia mới đây cho biết hai nước đang thảo luận quyền tiếp cận địa điểm mới tại các khu vực khác, bao gồm đảo Samar và đảo Leyte nằm ở phía đông Philippines. Phần phía đông của đảo Mindanao ở miền nam cũng như tỉnh Bicol trên đảo Luzon cũng đang được xem xét. Dù vậy, một trong những nguồn tin lưu ý rằng các cuộc đàm phán hiện mới đang ở giai đoạn đầu.
“Tướng Brawner và tôi có thể đưa ra khuyến nghị với các lãnh đạo cấp cao của chúng tôi về việc xem xét các địa điểm mới nhưng vẫn còn nhiều việc phải làm trước khi chúng tôi có được câu trả lời”, Đô đốc John Aquilino, người đứng đầu Bộ Tư lệnh Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương của quân đội Mỹ, phát biểu trong một cuộc họp báo hôm 14.9, đề cập đến Tư lệnh Lực lượng vũ trang Philippines Romeo Brawner.
Mục tiêu chính của quân đội Mỹ là hỗ trợ ứng phó thảm họa và hỗ trợ nhân đạo, nhưng việc nước này tăng cường hiện diện quân sự ở Philippines cũng giúp họ chuẩn bị đối phó với xung đột tiềm ẩn xung quanh quốc đảo này. Theo Thỏa thuận Hợp tác Quốc phòng Tăng cường (EDCA) được ký năm 2014, Mỹ được phép phát triển địa điểm và cơ sở hạ tầng quân sự cũng như bố trí vật tư và nhiên liệu ở Philippines.
“Chúng tôi liên tục tìm cách củng cố EDCA và sự phối hợp của liên minh chúng tôi, nhưng chúng tôi không có bất cứ kế hoạch nào khác để công bố ngay lúc này”, một phát ngôn viên của Lầu Năm Góc trả lời Nikkei Asia.
Theo tờ báo Nhật Bản, cuộc thảo luận về các địa điểm mới ở Philippines mà lực lượng Mỹ có thể tiếp cận là phản ứng mới nhất trước ảnh hưởng ngày càng gia tăng của Trung Quốc ở khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương.
Mục tiêu chính của quân đội Mỹ là hỗ trợ ứng phó thảm họa và hỗ trợ nhân đạo, nhưng việc nước này tăng cường hiện diện quân sự ở Philippines cũng giúp họ chuẩn bị đối phó với xung đột tiềm ẩn xung quanh quốc đảo này. Theo Thỏa thuận Hợp tác Quốc phòng Tăng cường (EDCA) được ký năm 2014, Mỹ được phép phát triển địa điểm và cơ sở hạ tầng quân sự cũng như bố trí vật tư và nhiên liệu ở Philippines.
“Chúng tôi liên tục tìm cách củng cố EDCA và sự phối hợp của liên minh chúng tôi, nhưng chúng tôi không có bất cứ kế hoạch nào khác để công bố ngay lúc này”, một phát ngôn viên của Lầu Năm Góc trả lời Nikkei Asia.
Theo tờ báo Nhật Bản, cuộc thảo luận về các địa điểm mới ở Philippines mà lực lượng Mỹ có thể tiếp cận là phản ứng mới nhất trước ảnh hưởng ngày càng gia tăng của Trung Quốc ở khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương.
Quân đội Mỹ đang thúc đẩy các sáng kiến dàn quân khắp các hòn đảo xa xôi dọc theo cái gọi là “chuỗi đảo thứ nhất”, nối liền tỉnh Okinawa của Nhật Bản với Đài Loan và Philippines.
Bắc Kinh đang mở rộng khu vực hoạt động ra ngoài “chuỗi đảo thứ nhất”. Quân đội Trung Quốc được cho là có khả năng làm gián đoạn các hoạt động quân sự của Mỹ ở Tây Thái Bình Dương nếu xung đột xảy ra.
Lực lượng phòng vệ Nhật Bản cho biết máy bay cánh cố định và trực thăng của Trung Quốc đã thực hành cất cánh và hạ cánh trên tàu sân bay Sơn Đông 60 lần ở Thái Bình Dương hồi đầu tháng này, đồng thời cung cấp hai bức ảnh về các hoạt động đó làm bằng chứng.
Tổng thống Philippines Ferdinand Marcos Jr. đã nỗ lực khôi phục liên minh 70 năm giữa nước này và Mỹ kể từ khi ông nhậm chức vào tháng 6 năm ngoái. Quan hệ song phương đã nguội lạnh đáng kể dưới thời cựu Tổng thống Rodrigo Duterte.
Sáng 20/9/2023, trong khuôn khổ hoạt động của Tuần lễ cấp cao Đại hội đồng Liên hợp quốc khóa 78, tại New York, gần 70 quốc gia đã ký kết “Hiệp định về Bảo tồn và sử dụng bền vững đa dạng sinh học ở vùng biển nằm ngoài quyền tài phán quốc gia”, còn gọi là Hiệp định về Biển Cả.
Hòn Mun, Nha Trang. Tỉnh Khánh Hòa (Việt Nam) đang thực hiện nhiều giải pháp để bảo vệ và khôi phục hệ sinh thái biển
Đây là Hiệp định thứ ba được đàm phán và ký kết trong khuôn khổ Công ước Luật biển năm 1982 (UNCLOS). Điều đó tái khẳng định vai trò, tầm quan trọng của UNCLOS văn kiện được coi là “hiến pháp” về biển – cơ sở pháp lý để xử lý, giải quyết mọi hoạt động trên biển và đại dương.
Về nội dung, Hiệp định gồm 17 Chương, 76 Điều, 2 Phụ lục với nội dung chính xoay quanh một số vấn đề gồm: (i) Chia sẻ lợi ích nguồn gien biển; (ii) Thiết lập vùng bảo tồn biển; (iii) Đánh giá tác động môi trường; (iv) Xây dựng năng lực và chuyển giao công nghệ; và (v) Vấn đề chung như cơ chế ra quyết định của Hội nghị các quốc gia thành viên, thành lập, vận hành các cơ quan, thể chế để thực hiện văn kiện, giải quyết tranh chấp, cơ chế tài chính…
Trong thực tế, từng có trường hợp khiến cộng đồng quốc tế thất vọng về tính hiệu lực của UNCLOS. Như việc Trung Quốc – một quốc gia thành viên, nhưng cũng là quốc gia thẳng tay gạt bỏ phán quyết ban hành ngày 12/7/2016 của Tòa trọng tài Thường trực (thành lập theo Phụ lục VII của UNCLOS) về vụ kiện Biển Đông của Philippines đối với Trung Quốc, khi nội dung Phán quyết bác bỏ gần như hoàn toàn yêu sách “đường 9 đoạn” mà Bắc Kinh đưa ra.
Tuy nhiên, ngay cả khi thực hiện hành vi thô thiển đó, Trung Quốc cũng không thể không cảm thấy bẽ mặt. Và điều quan trọng hơn, qua hành vi đó, cộng đồng quốc tế, nhất là những quốc gia còn níu giữ chút niềm tin nhỏ nhoi vào một cường quốc tự tôn, vỗ ngực là “trỗi dậy hòa bình”, thấy rõ hơn, Trung Quốc là như thế nào, hữu pháp hay vô pháp, nói và làm có nhất quán… trong vấn đề Biển Đông.
Thế nên, với việc có tới gần 70 quốc gia tham gia ký kết Hiệp định về Biển Cả, cộng đồng quốc tế có lý do để mà hy vọng việc điều chỉnh việc khai thác, chia sẻ lợi ích và bảo tồn nguồn gien biển tại các vùng biển quốc tế sẽ được cải thiện đáng kể, theo hướng công bằng, trách nhiệm hơn.
Nên nhớ rằng, vùng biển nằm ngoài quyền tài phán quốc gia – nghĩa là thuộc đối tượng điều chỉnh của Hiệp định – chiếm hơn 60% diện tích bề mặt của các đại dương, trong đó, vùng đáy nhiều khu vực có hệ sinh thái đặc biệt giàu có, với nhiều loại gen quý hiếm, có giá trị cao về kinh tế, khoa học.
Với các nước nghèo, sự kiện này càng có ý nghĩa hơn khi lâu nay, hầu như chỉ có các nước phát triển và công ty tư nhân sở hữu công nghệ biển và công nghệ sinh học hàng đầu cùng nguồn tài chính dồi dào, mới có khả năng khảo sát, nghiên cứu, phát triển ứng dụng đem lại lợi nhuận. Nói cách khác, trước khi có Hiệp định về Biển Cả, phần lợi từ việc nghiên cứu, ứng dụng nguồn gien trên phạm vi 60% đại dương bao la cơ bản nằm trong tay các quốc gia giàu có; các nước chưa phát triển biết thế, nhưng phận nghèo đành cắn răng chịu thiệt – Một sự bất công ghê gớm!
Có lẽ vì thế, quá trình thương thảo, đàm phán gặp muôn trùng trở ngại trong suốt hai thập kỷ vừa qua. Trở ngại, dù các quốc gia đều thấy rõ tầm quan trọng của Hiệp định này với biển cả chẳng kém tầm quan trọng của Hiệp ước Montreal cấm các sản phẩm có hại cho tầng ozone, và nhờ đó giúp cho tầng ozone tự phục hồi theo thời gian. Còn bà Rena Lee, Chủ tịch Hội nghị liên Chính phủ, nhấn mạnh: việc xây dựng Hiệp định là “một công cuộc to lớn và có ý nghĩa sống còn”.
Trở ngại trong 15 năm đề xuất ý tưởng, vận động, chuẩn bị đã đành; điều đó vẫn xảy ra với quá trình đàm phán chính thức bắt đầu năm 2018, với sự tham gia của hầu hết các nước thành viên LHQ, kể cả các nước không có biển hoặc không phải là thành viên UNCLOS.
Một trong những cấn cá trong quá trình thương thảo, xây dựng, đặc biệt là với các nước phát triển, là việc quy định nhiều khu bảo tồn biển hơn và bắt buộc các chủ thể có dự án hoạt động trên biển khơi, cho dù là đánh bắt hải sản, vận tải hàng hải, khai thác dưới đáy đại dương, trước hết phải thực hiện các nghiên cứu về tác động môi trường.
Lợi ích chung cho toàn cầu thì ai cũng thấy rõ. Nhưng cái “hại” là qui định đó, nếu vào văn bản chính thức, sẽ hạn chế mục tiêu, tham vọng của các công ty tư nhân chiếm ưu thế về công nghệ, các quốc gia giàu có muốn giàu thêm từ nguồn lợi vô giá và đầy tiềm năng này. Thế nên, quá trình xây dựng Hiệp định luôn gắn với vô vàn lời bàn ra bàn vào; những cuộc vận động hành lang; không loại trừ, cả những cái nắm tay dưới gầm bàn của các quốc gia thân hữu cùng lợi ích, bất chấp những cái nhìn ganh tỵ, xót xa của các nước nghèo.
Liên quan vấn đề này, không ít chuyên gia đã dẫn ra những gì Trung Quốc đã và đang làm ở Biển Đông lâu nay, như khảo sát địa chấn; cải tạo các đá, bãi ngầm đang kiểm soát thành các cứ điểm quân sự phục vụ cho âm mưu hiện thực hóa yêu sách “đường 9 đoạn”. Đồng thời với quá trình đó, không ai dám loại trừ khả năng Trung Quốc đang âm thầm làm những gì dưới đáy biển lâu nay.
Dù sao, sau hành trình gian khó 2 thập kỷ, tới nay Hiệp định cũng đã được gần 70 nước ký, sẽ có hiệu lực sau khi được 60 quốc gia phê chuẩn.
Chỉ có điều, thò bút ký là một chuyện. Thực thi như thế nào, nghiêm túc hay không, các quy định có giá trị pháp lý đến đâu, hiểu thế nào về chúng…, là cả một câu chuyện dài phía trước, trong đó, người lạc quan nhất cũng không dám loại trừ toàn bộ những khó khăn phức tạp, tình huống trớ trêu.
Philippines sẽ đệ đơn kiện Trung Quốc lên Tòa án Trọng tài Thường trực (PCA) liên quan các cáo buộc cho rằng các hoạt động của Bắc Kinh đã phá hoại môi trường ở biển Tây Philippines (cách Philippines gọi phần phía đông của Biển Đông).
Thông báo được đưa ra chỉ vài ngày sau khi Cảnh sát biển Philippines (PCG) báo cáo thiệt hại nghiêm trọng do các hoạt động của Trung Quốc gây ra đối với môi trường biển ở rạn san hô Rozul và bãi cạn Escoda (còn gọi là Sa Bin, thuộc cụm Bình Nguyên thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam). Philippines tuyên bố cả 2 khu vực trên thuộc vùng đặc quyền kinh tế của nước này.
Bộ trưởng Tư pháp Philippines Jesus Crispin Remulla cho biết: “Chúng tôi sẽ theo đuổi các vụ kiện chống lại Trung Quốc vì chúng tôi đã có rất nhiều bằng chứng”.
Trong khi cho biết các cuộc thảo luận về vấn đề này đang diễn ra, phía Manila khẳng định việc nộp đơn khiếu nại không liên quan tranh chấp lãnh thổ của Philippines với Trung Quốc. Thay vào đó, quyết định kiện là nhằm bảo vệ môi trường.
Ông Remulla cho biết chính phủ Philippines đã thu thập bằng chứng về các hoạt động được cho là phá hoại của Trung Quốc tại biển Tây Philippines trong nhiều năm.
PCG đã tiến hành các cuộc khảo sát dưới nước sâu rộng về đáy biển ở rạn san hô Rozul và bãi cạn Escoda, tiết lộ rằng hệ sinh thái biển “có vẻ không có sự sống, có rất ít hoặc không có dấu hiệu của sự sống”.
Thiếu tướng hải quân Jay Tarriela, người phát ngôn của PCG Commo nói: “Việc tiếp tục mở rộng các hoạt động đánh bắt trái phép và mang tính hủy diệt bừa bãi của Dân quân Hàng hải Trung Quốc tại Rạn san hô Rozul và Bãi cạn Escoda có thể đã trực tiếp gây ra sự suy thoái và tàn phá môi trường biển tại các thực thể WPS”.
Trước đó, một phần trong phán quyết ngày 12.7.2016 của Tòa Trọng tài về các vấn đề môi trường liên quan đến Trung Quốc ở Biển Đông có nội dung: “Trung Quốc đã gây tổn hại nghiêm trọng đến môi trường rạn san hô”.
Tòa đặc biệt đề cập đến hoạt động cải tạo đất và xây dựng đảo nhân tạo quy mô lớn của Trung Quốc ở Biển Đông.
Tòa phán quyết rằng khi thực hiện các hoạt động như vậy, Trung Quốc đã “vi phạm nghĩa vụ bảo tồn và bảo vệ các hệ sinh thái mỏng manh cũng như môi trường sống của các loài bị cạn kiệt, bị đe dọa hoặc có nguy cơ tuyệt chủng” và “gây ra tác hại không thể khắc phục được đối với môi trường biển”.
Tòa cũng xác định rằng chính phủ Trung Quốc phải chịu trách nhiệm về hoạt động săn trộm dẫn đến sự tàn phá các rạn san hô. Họ cho biết họ đã yêu cầu Trung Quốc cung cấp các nghiên cứu đánh giá môi trường, theo yêu cầu của Điều 206 của Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (UNCLOS).
Vì từ chối tham gia tố tụng trọng tài và không công nhận tính hợp pháp của phán quyết của Tòa nên Trung Quốc đã không tuân thủ.
Ngoài ra, trong một cuộc tuần tra gần đây ở đá Khúc Giác thuộc cụm Bình Nguyên, Không quân Philippines (AFP) đã phát hiện ra điều mà họ tin là bằng chứng về sự phá hủy san hô “quy mô lớn” của các tàu đánh cá Trung Quốc. Các con thuyền này đã bỏ chạy khi lực lượng Philippines đến.
“Khi họ rời đi, chúng tôi cử thợ lặn đi khảo sát dưới nước và. . . chúng tôi thấy rằng không còn san hô nữa. San hô đã bị phá hủy”, tờ The Maritime Executive dẫn lời Phó Đô đốc Alberto Carlos, người đứng đầu Bộ Tư lệnh phía Tây của AFP.
Tổng thống Nga Vladimir Putin sẽ gặp Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình tại Bắc Kinh vào tháng tới.
Ông Vladimir Putin sẽ gặp ông Tập Cận Bình tại Trung Quốc.
Ông Nikolai Patrushev, thư ký Hội đồng An ninh Nga, hôm 19/9 tiết lộ rằng Tổng thống Nga Vladimir Putin sẽ gặp Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình tại Bắc Kinh vào tháng tới.
Cuộc gặp gỡ cấp cao này sẽ diễn ra trong Diễn đàn Hợp tác Quốc tế Vành đai và Con đường diễn ra vào tháng 10. Trước đó, Trung Quốc đã xác nhận có khoảng 90 quốc gia tham dự sự kiện này, trong đó có các nguyên thủ nước ngoài như Tổng thống Serbia Aleksandar Vucic và Tổng thống Argentina Alberto Fernandez.
Trong cuộc gặp tại Moskva với nhà ngoại giao hàng đầu của Trung Quốc Vương Nghị, ông Patrushev nhấn mạnh rằng mối quan hệ giữa Nga và Trung Quốc được xây dựng trên nguyên tắc tôn trọng, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau và hỗ trợ lẫn nhau trên trường toàn cầu. Ông nói những mối quan hệ này “có lợi cho bản thân và không phụ thuộc vào các điều kiện bên ngoài”.
Ông Patrushev cũng khẳng định cam kết của Moskva hỗ trợ Bắc Kinh trong các vấn đề như Đài Loan, Tân Cương, Tây Tạng và Hong Kong. Ông cho rằng các cường quốc phương Tây đang khai thác những chủ đề này để làm suy yếu danh tiếng của Trung Quốc.
Patrushev nói: “Trong bối cảnh chiến dịch do phương Tây tập thể phát động nhằm kiềm chế cả Nga và Trung Quốc, việc tăng cường hơn nữa sự phối hợp và tương tác Nga-Trung trên trường quốc tế có tầm quan trọng đặc biệt”.
Về phần mình, ông Vương nhấn mạnh rằng Bắc Kinh vẫn cam kết hỗ trợ Moskva trong quan hệ đối tác song phương và trong các diễn đàn quốc tế khác nhau. Ông nhấn mạnh rằng Trung Quốc và Nga đang ở thời điểm quan trọng trong quá trình phát triển.
Hợp tác chính trị và kinh tế giữa Nga và Trung Quốc đã có sự tăng trưởng đáng kể trong những năm gần đây, trong bối cảnh căng thẳng gia tăng giữa Moskva và các quốc gia phương Tây, chủ yếu liên quan đến cuộc xung đột ở Ukraine.
Được sinh ra để sẵn sàng nghiền nát bất cứ một lực lượng thù địch nào ngay khi chúng xuất hiện trong tầm mắt. Thứ vũ khí đáng sợ chúng tôi đang nhắc đến chính là tên lửa hành trình chống tàu siêu âm hiện đại hàng đầu thế giới P-800 Yakhont. Hiện tại, lực lượng phòng thủ bờ biển hải quân Việt Nam đã được trang bị tên lửa hiện đại hàng đầu thế giới này. Vậy sức công phá của loại vũ khí này ra sao? Hãy cùng chúng tôi tìm hiểu trong tổng hợp dưới đây.
Tên lửa hành trình chống tàu siêu thanh P-800 Yakhont.
Tên lửa hành trình chống tàu siêu thanh P-800 Yakhont do hãng NPO Mashinostroyeniya Nga nghiên cứu và phát triển. Tên lửa dài Yakhont 8,9 m, đường kính 0,7 m, nặng 3 tấn, sải cánh 1,7 m, mang đầu đạn 200 đến 250 kg. Đây là loại tên lửa hành trình hiện đại có chức năng tự dẫn đường tránh được radar địch. Tốc độ bay siêu thanh 2.600 km một giờ, độ cao tối đa 15 km. Khi cách mục tiêu 400km, tên lửa hạ thấp xuống cách mặt biển chỉ 10 đến 15m và tốc độ tăng lên đến 750m một giây, tương đương với 3.185 km một giờ, rất khó đánh chặn. Một khi tên lửa phóng đi, thời gian tối đa bay đến hủy diệt mục tiêu mất 10 đến 15 phút.
Về hệ thống dẫn đường, sau khi rời bệ phóng, tên lửa P-800 sẽ bay theo chế độ dẫn đường quán tính trình sẵn ở giai đoạn tiếp cận mục tiêu. Đầu tiên dẫn đến radar chủ động trên tên lửa sẽ kết thúc.
Tên lửa Yakhont đã sẵn sàng cho việc xuất khẩu từ năm 1998. Việt Nam chính là khách hàng đầu tiên khi mua 40 tên lửa để trang bị cho hai hệ thống phòng thủ bờ biển.
Tên lửa hành trình chống tàu siêu thanh P-800 Yakhont được thiết kế để tích hợp rộng rãi trên nhiều nền tảng: tàu chiến mặt nước, tàu ngầm, máy bay, nền tảng trên mặt đất. Dù vậy, hiện nay P800 chủ yếu được trang bị trên hệ thống phòng thủ bờ biển trên đất liền K-300p Bastion-P.
Theo nguồn tin Nga, năm 2011 Việt Nam đã tiếp nhận các hệ thống phòng thủ biển K-300p Bastion-P tại Nga. Đây là lá chắn thép bảo vệ vững chắc biển đảo nước ta.
Trang bị cơ bản của hệ thống Bastion-P gồm 4 xe mang phóng tự hành 300 40P, mỗi xe chở hai đạn tên lửa P-800, xe chở đạn dự trữ, hệ thống radar điều khiển hỏa lực Monolit-B, xe chỉ huy cùng các phương tiện hậu cần hỗ trợ kỹ thuật.
Theo nhà sản xuất Nga, Bastion-P có khả năng cơ động cao, hoạt động tốt trong mọi điều kiện thời gian, thời tiết, có khả năng kháng nhiễu mạnh, khai hỏa nhiều đạn tên lửa cùng lúc. Một hệ thống Bastion-P có thể bảo vệ bờ biển dài 600km, phạm vi bao quát mục tiêu 300 km.
Trong chiến đấu, khi nhận lệnh phóng đạn, tên lửa P-800 sẽ rời bệ phóng bằng liều phóng phụ theo cơ chế phóng nguội. Khi đạt tốc độ cao nhất định, động cơ nhiên liệu rắn khởi động, đưa tên lửa vọt lên cao. Đồng thời, van điều hướng luồng phụt tại phần đáy đạn và chóp mũi đạn giúp quả tên lửa xoay theo hướng phóng dự kiến. Khi đạn tên lửa nằm đúng hướng phóng, nón che cửa hút không khí ở chóp mũi sẽ loại bỏ phần động cơ nhiên liệu rắn tiếp tục đưa quả đạn đặc nhiệm tốc độ từ vận hành động cơ phản lực tĩnh T6 đạt tới ngưỡng đó, tổng động cơ nhiên liệu rắn sẽ tách bỏ khỏi quả đạn và động cơ phản lực tĩnh siêu âm T6 dùng nhiên liệu lỏng sẽ kích hoạt, đưa tên lửa đạt vận tốc vượt âm thanh hướng vào mục tiêu.
Việc châu Âu công bố một cuộc điều tra chống trợ cấp đối với ô tô điện giá rẻ đến từ Trung Quốc đã thổi bùng lên căng thẳng giữa hai nước, những đòn đáp trả qua lại được cho là khó tránh khỏi.
Các nhà sản xuất ô tô Trung Quốc như BYD đang thâm nhập vào phân khúc thị trường đại chúng tại châu Âu.
EU “đánh phủ đầu” Chủ tịch Ủy Ban Châu Âu (EC) Ursula von der Leyen ngày 14/9 cho biết khối này quyết định mở một cuộc điều tra chống trợ cấp đối với ô tô điện giá rẻ đến từ Trung Quốc. Bà Leyen cáo buộc Bắc Kinh giữ giá ô tô “thấp một cách giả tạo bằng các khoản trợ cấp khổng lồ của nhà nước”.
Giá thành rẻ được xem là “con át chủ bài” của xe điện Trung Quốc. Theo công ty nghiên cứu Jato Dynamics, giá ô tô Trung Quốc rẻ hơn khoảng 30% so với các sản phẩm có cùng chất lượng ở châu Âu và Mỹ.
Các nhà sản xuất Trung Quốc phải trả thuế nhập khẩu 10% để xuất khẩu xe sang EU, thấp hơn nhiều so với mức 27,5% mà Mỹ yêu cầu.
Cuộc điều tra kéo dài nhiều tháng có thể dẫn đến mức thuế cao hơn đối ô tô nhập khẩu của Trung Quốc, nhằm mục đích tạo thêm thời gian cho các nhà sản xuất ô tô truyền thống của châu Âu thích ứng với quá trình chuyển đổi xanh trong bối cảnh các mẫu ô tô điện của Trung Quốc đe dọa “xâm chiếm” thị trường này.
Động thái này diễn ra trong bối cảnh EU đang tìm cách coi Bắc Kinh là đối thủ về mặt kinh tế và địa chính trị, nhưng cũng là đối tác thương mại quan trọng của nhiều quốc gia thành viên và là một phần quan trọng trong chuỗi cung ứng công nghệ xanh của mình.
Cuộc điều tra được mở ra sau khi Pháp yêu cầu Bruxelles hành động mạnh mẽ hơn để bảo vệ ngành công nghiệp châu Âu trước các mối đe dọa ngày càng tăng đến từ Trung Quốc và Mỹ.
Ủy ban châu Âu cho biết thị phần xe điện của Trung Quốc ở châu Âu đã tăng lên 8% và có thể đạt 15% vào năm 2025.
Theo dữ liệu từ Hiệp hội xe chở khách Trung Quốc, các công ty nước này đã xuất khẩu gần 350.000 xe điện sang 9 nước châu Âu trong nửa đầu năm nay, nhiều hơn lượng xuất khẩu của cả năm 2022. Và trong 5 năm qua, lượng ô tô nhập khẩu từ Trung Quốc của EU đã tăng gấp 4 lần.
Theo ước tính gần đây của UBS, đến năm 2030, các nhà sản xuất ô tô Trung Quốc có thể chứng kiến thị phần của họ trên thị trường toàn cầu tăng gấp đôi từ 17% lên 33%, trong đó các công ty châu Âu bị mất thị phần lớn nhất.
Chẳng ngại xung đột Một ngày sau thông báo của bà von der Leyen, Bộ Thương Mại Trung Quốc đã tố cáo “chủ nghĩa bảo hộ trắng trợn” của EU và cho biết các biện pháp này “sẽ phá vỡ nghiêm trọng ngành công nghiệp ô tô và chuỗi cung ứng toàn cầu, gồm cả EU, đồng thời sẽ có tác động tiêu cực đến quan hệ kinh tế và thương mại Trung Quốc – EU”.
Bộ Thương mại Trung Quốc cảnh báo cuộc điều tra nói trên sẽ tác động “tiêu cực” đến quan hệ kinh tế và thương mại giữa hai bên. “Trung Quốc tin rằng cuộc điều tra mà EU đề xuất trên thực tế là để bảo vệ ngành công nghiệp của chính họ dưới danh nghĩa cạnh tranh công bằng”, Bộ Thương mại Trung Quốc nêu rõ.
Dù vậy, nhiều lãnh đạo của EU khẳng định rằng kinh tế của khối này có thể ”đứng vững trước bất kỳ hành vi trả đũa nào từ phía Trung Quốc”.
“Chúng tôi không phải sợ bất kỳ quốc gia nào. Chúng tôi là EU, chúng tôi là một trong những lục địa kinh tế hùng mạnh nhất”, Bộ trưởng Tài chính Pháp Bruno Le Maire tuyên bố.
“Chúng tôi chỉ muốn mọi người tuân theo các quy tắc thương mại giống nhau, thế thôi. Không có gì chống lại Trung Quốc. Quyết định này đã được đưa ra để bảo vệ lợi ích của nền kinh tế châu Âu”, ông Bruno Le Maire nhấn mạnh thêm.
Đức, một trong những nhà sản xuất ô tô lớn nhất thế giới, thì có phần lo ngại trước các mối đe dọa từ Trung Quốc vì các thương hiệu lớn của nước này có mặt trên thị trường Trung Quốc nhiều hơn các nhà sản xuất Pháp.
Dù vậy, Bộ trưởng Tài chính Đức Christian Lindner vẫn ủng hộ cuộc điều tra của EU. “Thương mại thế giới dựa trên các quy tắc và tất nhiên chúng cũng áp dụng cho xe điện”, ông Lindner nhấn mạnh.
Các hãng xe Đức đã có được vị thế vững chắc trên thị trường xe hơi Trung Quốc nhưng gần đây họ cũng phải chịu áp lực từ các mẫu xe điện do thương hiệu Trung Quốc sản xuất.
Tập đoàn Trung Quốc có kế hoạch xây dựng một trung tâm logistics khổng lồ ở Viễn Đông, Nga.
Trung tâm logistics khổng lồ dự kiến được phía Trung Quốc xây ở Amur, Viễn Đông, Nga.
Tập đoàn Phát triển Công nghiệp Xuanyuan của Trung Quốc có kế hoạch xây dựng một trung tâm logistics khổng lồ ở Vùng Amur, Viễn Đông, Nga, trong bối cảnh kim ngạch vận chuyển hàng hóa giữa hai nước đã tăng hơn gấp đôi trong năm qua – ông Hailong Xue, Giám đốc điều hành tập đoàn nói với RT.
Dự án này là một trong nhiều thỏa thuận mà tập đoàn công nghiệp Trung Quốc đã giành được với các nhà đầu tư Nga bên lề Diễn đàn Kinh tế Phương Đông ở Vladivostok, và sẽ mang lại cơ hội bình đẳng cho các công ty Nga và Trung Quốc tham gia vào dự án.
Trung tâm này sẽ được đặt giữa thành phố Đồng Giang thuộc tỉnh Hắc Long Giang của Trung Quốc và thị trấn Nizhneleninskoye của Nga. Trung tâm được thiết kế để tạo điều kiện thuận lợi cho việc vận chuyển hàng hóa giữa Nga và Trung Quốc.
“Vị trí của trung tâm này rất quan trọng vì nó sẽ nằm ngay giữa biên giới của chúng ta. Có một khoảng cách hẹp giữa biên giới của chúng ta khiến cho việc vận chuyển hàng hóa gặp nhiều khó khăn. Tuy nhiên, với dự án này, chúng tôi ước tính vận tải hàng hóa sẽ đạt 10 triệu tấn mỗi năm” – Hailong nói. Ông kỳ vọng lưu lượng hàng hóa giữa Nga và Trung Quốc sẽ tăng gấp 4 lần trong vài năm tới.
Theo CEO Tập đoàn Yuanyuan, dự án dự kiến xây dựng một nhà ga để lưu trữ và vận chuyển hàng hóa nguy hiểm và không nguy hiểm, như khí tự nhiên hóa lỏng (LNG), khí dầu mỏ hóa lỏng (LPG), nhiên liệu hàng không, heli và các hàng hóa công nghệ khác.
CEO Hailong tiết lộ, chi phí ước tính của dự án sẽ vào khoảng 600 đến 700 triệu USD, dự kiến khai trương nhà ga hàng hóa vào năm 2027.
Việc Thủ tướng Phạm Minh Chính dự Hội chợ và Hội nghị thượng đỉnh Thương mại-Đầu tư Trung Quốc-ASEAN lần thứ 20 thể hiện sự coi trọng đối với quan hệ hữu nghị.
Nhận lời mời của Chính phủ nước CHDCND Trung Hoa, từ ngày 16-17/9, Thủ tướng Phạm Minh Chính dẫn đầu đoàn đại biểu Việt Nam sẽ dự Hội chợ Trung Quốc-ASEAN (CAEXPO) và Hội nghị thượng đỉnh Thương mại-Đầu tư Trung Quốc – ASEAN (CABIS) lần thứ 20 tại thành phố Nam Ninh, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc. CAEXPO và CABIS lần thứ 20 năm nay có chủ đề “Cùng xây dựng ngôi nhà chung, cộng đồng chung vận mệnh hướng đến tương lai – Thúc đẩy sáng kiến Vành đai và Con đường phát triển chất lượng cao và xây dựng Trung tâm tăng trưởng kinh tế”, nằm trong chuỗi sự kiện kỷ niệm 20 năm thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược Trung Quốc-ASEAN. Đoàn doanh nghiệp Việt Nam tham gia Hội chợ tiếp tục có quy mô lớn nhất ASEAN với khoảng 120 doanh nghiệp, cùng 250 gian hàng trên diện tích 5.000m2, gồm nhiều mặt phong phú và đa dạng thuộc các lĩnh vực nông sản, thủy sản, thực phẩm chế biến, giày dép, gia dụng và may mặc, đồ gỗ và đồ thủ công mỹ nghệ.
Hội chợ CAEXPO và Hội nghị CABIS được Trung Quốc và ASEAN đồng tổ chức hàng năm tại Nam Ninh, Quảng Tây, là một trong 10 hội chợ triển lãm hàng đầu của Trung Quốc. Trong 19 kỳ hội chợ, Việt Nam luôn có lãnh đạo Chính phủ tham dự và là nước có số lượng gian hàng, doanh nghiệp tham gia nhiều nhất trong ASEAN.
Việc Thủ tướng Phạm Minh Chính dự CAEXPO và CABIS lần thứ 20 thể hiện sự coi trọng của cả hai nước đối với quan hệ hữu nghị Việt Nam-Trung Quốc, quan hệ hợp tác ASEAN-Trung Quốc và quan hệ giữa các địa phương, doanh nghiệp Việt Nam với tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc.
Sự tham dự của Chính phủ Việt Nam còn thể hiện sự tin cậy chính trị cao độ, tinh thần “đồng chí, anh em”; khẳng định đường lối đối ngoại của Đại hội XIII, độc lập, tự chủ, vì hòa bình, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại; coi trọng quan hệ với Trung Quốc, hợp tác nhiều mặt, đẩy mạnh hợp tác kinh tế thương mại, nhất là thương mại hàng hóa biên giới, hoạt động kinh tế cửa khẩu thông suốt, giao lưu địa phương, nhân dân… đưa quan hệ song phương tiếp tục phát triển lành mạnh, ổn định, thực chất, hiệu quả trong thời gian tới.
Dự kiến, Thủ tướng Phạm Minh Chính sẽ tham dự lễ khai mạc hội chợ CAEXPO và Hội nghị CABIS lần thứ 20, thăm các gian hàng của Việt Nam; hội kiến Thủ tướng Quốc Vụ viện Trung Quốc Lý Cường, tiếp xúc song phương với trưởng đoàn các nước, tiếp một số tập đoàn, doanh nghiệp lớn của Trung Quốc và tham gia một số hoạt động đối ngoại khác. Tại Hội nghị Cấp cao ASEAN-Trung Quốc lần thứ 26 diễn ra hôm 6/9 tại Jakarta, Indonesia, các lãnh đạo ASEAN và Trung Quốc vui mừng ghi nhận kim ngạch thương mại hai chiều đạt mức kỷ lục mới 722 tỷ USD. Trung Quốc trở thành đối tác thương mại lớn nhất của ASEAN liên tục trong 14 năm.
Hoan nghênh tiến triển đàm phán nâng cấp Khu vực mậu dịch tự do ASEAN-Trung Quốc, hai bên nhất trí tiếp tục đẩy mạnh hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư, ổn định chuỗi cung ứng, hỗ trợ tiếp cận thị trường, đồng thời mở rộng hợp tác về chuyển đổi số, kinh tế số, ứng phó biến đổi khí hậu, chuyển đổi năng lượng, phát triển xanh và bền vững…
Phát biểu tại hội nghị này, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính nhấn mạnh quan hệ tương hỗ giữa Trung Quốc phát triển và Cộng đồng ASEAN đoàn kết, thống nhất, phát huy vai trò trung tâm ở khu vực. Đây là nền tảng vững chắc cho quan hệ Đối tác Chiến lược toàn diện phát triển vững mạnh. Thủ tướng mong muốn, Trung Quốc-ASEAN không chỉ là đối tác kinh tế-thương mại lớn nhất của nhau, mà còn là một trong những đối tác chiến lược toàn diện quan trọng nhất của nhau vì hòa bình, hợp tác và phát triển.
Thủ tướng đề nghị, là những đối tác thương mại hàng đầu của nhau, ASEAN và Trung Quốc cần phối hợp chặt chẽ, chung tay đưa khu vực trở thành tâm điểm tăng trưởng kinh tế. Cần tận dụng ưu thế gần gũi địa lý, nâng cao chất lượng hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư, duy trì giao thương thông suốt, đẩy mạnh kết nối, bảo đảm chuỗi sản xuất và cung ứng, mở rộng hợp tác phát triển kinh tế số, kinh tế xanh. Về hợp tác kinh tế, thương mại Việt-Trung, hai bên còn có nhiều điều kiện tốt để tiếp tục tăng cường. 7 tháng đầu năm 2023, tổng kim ngạch thương mại Việt Nam-Trung Quốc đạt 89,1 tỷ USD. Xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc đã lấy lại đà tăng, nhập siêu giảm đáng kể.
Theo Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư Việt Nam) trong nửa đầu năm 2023, các doanh nghiệp Trung Quốc đã đầu tư tổng cộng 1,95 tỷ USD vào Việt Nam, tăng 53,5% so với cùng kỳ năm 2022. Trong giai đoạn này, Trung Quốc xếp ở vị trí thứ 3 trong số các nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và đầu tư của Trung Quốc bao trùm trên nhiều lĩnh vực như dệt may, chế tạo máy, điện tử và năng lượng mới.
Ngày 13/9, tại Campuchia diễn ra Lễ khai mạc diễn tập huấn luyện thực địa đa phương về rà phá bom mìn, với sự góp mặt của 14 quốc gia thuộc 4 châu lục.
Cuộc diễn tập đa phương mang tên “Tổ quốc tươi đẹp – 2023” được khai mạc tại Trung tâm Huấn luyện Lực lượng gìn giữ hòa bình đa quốc gia của Campuchia ở tỉnh Kampong Speu.
Đây là cuộc diễn tập đa phương đầu tiên trong khuôn khổ cơ chế Nhóm chuyên gia thuộc Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN mở rộng (ADMM+) về hành động bom mìn nhân đạo (HMA). Ngoài Campuchia và Trung Quốc là hai nước đồng chủ trì, cuộc diễn tập còn có sự tham gia của đại diện 12 nước, gồm Australia, Brunei, Ấn Độ, Indonesia, Nhật Bản, Hàn Quốc, Philippines, Nga, Singapore, Mỹ và Việt Nam.
Trong 10 ngày diễn tập từ ngày 13 đến ngày 22 tháng 9, các nước tham gia sẽ những hoạt động chung về tham quan, tập huấn rà phá bom mìn và vật liệu nổ trên thực địa, diễn tập tổng hợp rà phá bom mìn đa quốc gia, tập huấn công tác y tế và diễn tập thực hành triển khai cấp cứu y tế, tổ chức diễn đàn giới thiệu kinh nghiệm, công nghệ và kết quả rà phá bom mìn.
Phát biểu tại lễ khai mạc, Đại tướng Sem Sovanny, Tổng Giám đốc Trung tâm Lực lượng Gìn giữ Hòa bình Quốc gia Campuchia đánh giá, việc có đến 14 quốc gia tham gia diễn tập cho thấy mối quan tâm của các nước về trao đổi kinh nghiệm, thúc đẩy hợp tác khu vực và quốc tế trong vấn đề rà phá bom mìn, giải quyết hậu quả của tình trạng vật liệu nổ sót lại sau chiến tranh, xung đột.
Cuộc diễn tập cũng được kỳ vọng sẽ đóng góp quan trọng vào mục tiêu của Chính phủ Campuchia hoàn thành chiến lược quốc gia về xóa sạch bom, mìn, vật liệu nổ vào năm 2025, đảm bảo môi trường, đất đai an toàn cho người dân canh tác, khai thác tài nguyên, phát triển các nguồn lợi từ nông, lâm, ngư nghiệp và du lịch.