Author Archives: East Sea

Nhìn lại quá trình 50 năm Trung Quốc xâm chiếm Biển Đông

Năm 1974, các tay súng Trung Quốc đã tấn công và đánh bại một tiền đồn nhỏ của quân đội Nam Việt Nam tại Hoàng Sa – một quần đảo gồm các rạn san hô, đảo san hô và đảo nhỏ ở Biển Đông – đặt nhóm đảo này nằm dưới sự kiểm soát của Trung Quốc. Sự kiện này gần như hoàn toàn không được chú ý trong thế giới rộng lớn lúc đó, khi mà “bộ phim” Chiến tranh Việt Nam vừa mới kết thúc. Đây là bước đầu tiên Trung Quốc kiểm soát Biển Đông.

Cho đến năm 1987, Trung Quốc chưa hề có mặt trên bất cứ cấu trúc nào tại Trường Sa, và họ nhận thấy đây là một bất lợi. Tranh thủ tình hình quốc tế có lợi và Việt Nam đang ở những năm đầu đổi mới, kinh tế xã hội đang ở thế sức cùng lực kiệt, từ đầu năm 1988, Trung Quốc đã ráo riết cho quân lên chiếm một số cấu trúc địa lý thuộc Trường Sa, bao gồm: Chữ Thập, Châu Viên, Tư Nghĩa, Ga Ven. Ngày 14/3/1988, Trung Quốc xua quân tấn công các chiến sĩ của Việt Nam tại khu vực đảo Gạc Ma, Trường Sa, ngăn cản các tàu của lực lượng chữ thập đỏ ra cứu các nạn nhân. Dư luận quốc tế cực kì thờ ơ về sự kiện này, các nước ASEAN bàng quan cho rằng đây là chuyện riêng giữa Việt Nam và Trung Quốc, kể cả Malaysia và Philippines là những quốc gia trực tiếp có lợi ích tại Trường Sa. Liên Xô đang đêm trước của tan rã còn Mỹ lúc đó cũng không có phản ứng đáng kể.

Năm 1989, Quân đội Giải phóng Nhân dân tiến vào Quảng trường Thiên An Môn và chấm dứt các cuộc biểu tình dân chủ do sinh viên lãnh đạo và hàng trăm người chết. Thông điệp địa chính trị là không thể nhầm lẫn: kỳ vọng của phương Tây rằng Trung Quốc đang chuyển sang chế độ đổi mới chính trị là hoàn toàn ảo tưởng.

Năm 1995, Philippines phát hiện ra rằng Trung Quốc đã chiếm đóng và quân sự hóa một đảo san hô là Vành Khăn (Mischief Reef) trong vùng đặc quyền kinh tế của Philippines và trong lãnh hải do Manila tuyên bố chủ quyền. Chiếm thêm bãi Vành Khăn từ tay Phillipines, đến cuối năm 1995, Trung Quốc đã có tổng cộng bảy cấu trúc ở Trường Sa: Gạc Ma, Chữ Thập, Châu Viên, Tư Nghĩa, Ga Ven, Xu Bi và Vành Khăn. Những hành vi này đặt trong bối cảnh Trung Quốc đã xuất bản các bản đồ chính thức từ lâu cho thấy một ranh giới bao trùm gần như toàn bộ Biển Đông – đường chín đoạn.

Đảo Gạc Ma

Kể từ năm 2014 đến nay, lợi dụng thế giới đang tập trung vào sự kiện giàn khoan Hải Dương 981, Trung Quốc đã âm thầm tiến hành bồi lấp các cấu trúc tại Trường Sa, tổng diện tích bồi lấp lên tới hàng nghìn ha. Đến nay, tất cả các cấu trúc này đều đã được xây dựng và trang bị các phương tiện quân sự hiện đại, đóng vai trò như các “chiến hạm nổi”, “cứ điểm quân sự” tại khu vực biển này. Thực tế là không có một quốc gia nào có thể ngăn cản được việc Trung Quốc bồi lấp các cấu trúc tại Biển Đông, trong đó có Trường Sa. Và cùng với việc bồi lấp này, Trung Quốc đã biến bảy cấu trúc thành các căn cứ quân sự quan trọng để nắm quyền chi phối, kiểm soát khu vực Biển Đông bằng sức mạnh vũ lực.

Từ tháng 7/2019, Trung Quốc cử đội tàu khảo sát Hải Dương 8 và hàng trăm lượt tàu hộ tống khác xâm phạm nghiêm trọng vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam ở bãi Tư Chính và suốt dọc bờ biển từ Bình Định xuống Khánh Hòa bất chấp mọi phản ứng của Việt Nam và quốc tế.

Có thể nói, ý đồ và dã tâm của Trung Quốc là quá rõ ràng. Quá trình xâm chiếm Biển Đông từ những năm 1970 đến nay có tính xuyên suốt, nhất quán, không ngừng nghỉ. Chỉ cần điều kiện quốc tế, trong nước và tình hình Việt Nam có lợi cho Trung Quốc là Trung Quốc lấn tới, sử dụng các biện pháp khác nhau chiếm Biển Đông, kể cả bằng vũ lực quân sự. Trong tương lai gần, Trung Quốc càng ngày càng mạnh và “nhe nanh múa vuốt”, hoàn toàn có thể lặp lại kịch bản một khi điều kiện có lợi, Trung Quốc có thể phát động tấn công Trường Sa và chiếm các cấu trúc mà Việt Nam đang kiểm soát./.

BBT

 

Loading

Views: 0

Biển Đông và các giá trị chiến lược với Hoa Kỳ

Trong những năm gần đây, các nhà hoạch định quân sự của Hoa Kỳ đã chuyển trọng tâm của họ từ chống khủng bố, xung đột cường độ thấp sang các mối đe dọa cường độ cao và từ cường quốc khác. Kịch bản có khả năng nhất cho một cuộc giao chiến quân sự lớn chống lại một kẻ thù lớn sẽ là kịch bản chống lại Trung Quốc, trong đó tập trung vào Biển Đông. Chắc chắn có những tình huống khác liên quan đến những thách thức khác, nhưng nguy cơ đối đầu với Trung Quốc là điều hợp lý và nguy hiểm nhất. Bất kỳ khẳng định nào như vậy đều phải dựa trên sự hiểu biết rằng các lợi ích quốc gia quan trọng của Hoa Kỳ, bao gồm cả lợi ích kinh tế và an ninh, đang bị đe dọa và có nguy cơ bị đe dọa. Biển Đông là một vấn đề chiến lược ưu tiên hàng đầu đối với Hoa Kỳ. Bài viết này trước hết sẽ đánh giá các lợi ích của Mỹ. Thứ hai là sẽ phân tích bối cảnh chiến lược trong và xung quanh Biển Đông. Thứ ba sẽ đánh giá các chính sách/chiến lược hiện đang được Hoa Kỳ sử dụng trong khu vực này cũng như các lựa chọn hợp lý khác.

DÒNG CHẢY LỊCH SỬ

Những phát triển hiện tại ở Biển Đông phải được đặt trong bối cảnh lịch sử gần đây. Hoa Kỳ nổi lên từ Thế chiến II với tư cách là một cường quốc thường trú tại Đông Á. Ngoài các lãnh thổ đảo xa (trước đây là Nhật Bản chiếm đóng) ở Nam Thái Bình Dương, Hoa Kỳ có một đơn vị đồn trú quân sự đáng kể ở Nhật Bản và quan hệ chặt chẽ với Hàn Quốc và Philippines – một thuộc địa cũ. Chiến tranh Triều Tiên đã tạo ra các hiệp ước quốc phòng chính thức với mỗi quốc gia này cộng với sự hiện diện quân sự mới, thường trực ở Hàn Quốc. Thách thức chính đối với ưu thế khu vực của Mỹ đến từ Trung Quốc của Mao Trạch Đông – đầu tiên là qua Chiến tranh Triều Tiên và sau đó là qua các cuộc nổi dậy của lực lượng cộng sản trên khắp Đông Nam Á – lên đến đỉnh điểm trong Chiến tranh Việt Nam (1963-75). Mặc dù cuối cùng không thành công ở Việt Nam, Mỹ vẫn nổi trội về vai trò chiến lược có lợi thế đáng ngạc nhiên ở Đông Nam Á với các liên minh còn nguyên vẹn gồm Thái Lan và Philippines và quan hệ hữu nghị với Singapore, Malaysia và Indonesia. Đến cuối những năm 1970, các cuộc nổi dậy của lực lượng cộng sản bên ngoài Đông Dương đã bị khống chế một cách hiệu quả. Đến giữa thập niên 1990, quan hệ với Việt Nam đã bắt đầu cải thiện nhanh chóng. Hạm đội 7 của Hoa Kỳ đã tuần tra các tuyến đường biển khu vực, bao gồm cả Biển Đông, không bị cản trở – bao gồm cả quyền tiếp cận các cảng đã được thống nhất trên khắp khu vực.

Sự kết thúc của Chiến tranh Lạnh đã đặt Đông Á và Tây Thái Bình Dương vào sự yên tĩnh chiến lược. Các nước trong khu vực ưu tiên tăng trưởng kinh tế và hiện đại hóa. Các đảm bảo an ninh được cung cấp bởi sự hiện diện quân sự của Hoa Kỳ cùng với sự ra đời của các tổ chức khu vực, đặc biệt là ASEAN và Ngân hàng Phát triển Châu Á, đã nuôi dưỡng sự tăng trưởng đó. Trung Quốc thời hậu Mao Trạch Đông, với sự xuất hiện của Đặng Tiểu Bình với tư cách là nhà lãnh đạo tối cao, đã trở thành một động lực mang tính xây dựng cho khu vực nhờ tốc độ phát triển kinh tế được thúc đẩy bằng cải cách mở cửa của Trung Hoa với khu vực và thế giới. Bối cảnh chiến lược của Tây Thái Bình Dương và Đông Nam Á vào đầu những năm 1990 là vô cùng lành tính với sự lạc quan tối đa của nó.

Tuy nhiên, những dấu hiệu cảnh báo đã xuất hiện cho những ai quan tâm đến khu vực. Năm 1974, các tay súng Trung Quốc đã tấn công và đánh bại một tiền đồn nhỏ của quân đội Nam Việt Nam tại Hoàng Sa – một quần đảo gồm các rạn san hô, đảo san hô và đảo nhỏ ở Biển Đông. Nhóm đảo này nằm dưới sự kiểm soát của Trung Quốc – một sự kiện gần như hoàn toàn không được chú ý trong thế giới rộng lớn lúc đó, khi mà “bộ phim” đánh dấu sự kết thúc của Chiến tranh Việt Nam vừa diễn ra. Tuy nhiên, Bắc Kinh đã thực hiện bước đầu tiên để kiểm soát Biển Đông. Năm 1989, Quân đội Giải phóng Nhân dân tiến vào Quảng trường Thiên An Môn và chấm dứt các cuộc biểu tình dân chủ do sinh viên lãnh đạo và hàng trăm người chết. Thông điệp địa chính trị là không thể nhầm lẫn: kỳ vọng của phương Tây rằng Trung Quốc đang chuyển sang chế độ dân chủ chính trị là hoàn toàn ảo tưởng. Năm 1995, Philippines phát hiện ra rằng Trung Quốc đã chiếm đóng và quân sự hóa một đảo san hô (Mischief Reef) trong vùng đặc quyền kinh tế của Philippines và trong lãnh hải do Manila tuyên bố chủ quyền. Những hành vi này đặt trong bối cảnh Trung Quốc đã xuất bản các bản đồ chính thức từ lâu cho thấy một ranh giới bao trùm gần như toàn bộ Biển Đông – đường chín đoạn.

Khai niệm đó đã ít được chú ý ở Hoa Kỳ – hoặc ở Châu Á – trong năm thập kỷ đầu tiên của lịch sử CHND Trung Hoa. Tuy nhiên, có một số lý do để kết luận rằng đường chín đoạn này là một bất thường về mặt địa lý; đó cũng là một dấu hiệu chính thức cho yêu sách của Bắc Kinh, rằng lãnh thổ có chủ quyền của Trung Quốc bao gồm Biển Đông. Yêu sách đó vẫn bị che mờ trong một màn sương mù mơ hồ được tính toán cho đến năm 2010 khi Ngoại trưởng Clinton đề cập đến tình trạng Biển Đông và các tuyến đường biển của nó tại một cuộc họp của Diễn đàn an ninh khu vực (ARF) tại Hà Nội. Trong một cuộc họp có sự tham dự của các bộ trưởng ngoại giao của 26 quốc gia thuộc khu vực rộng lớn hơn, bà Clinton chỉ khẳng định rằng Biển Đông phải chịu nhiều yêu sách lãnh thổ và cần thiết lập một cơ chế đa quốc gia để tìm giải pháp ngoại giao hòa bình. Bà cũng quan sát thấy rằng các tuyến đường biển qua Biển Đông tạo thành một chuỗi toàn cầu, không phải chịu các yêu sách chủ quyền của bất kỳ quốc gia nào. Phản ứng của Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc là rất quyết liệt – và tham vọng. Ngay sau khi ARF đưa ra tuyên bố chung, một phát ngôn viên chính thức của Bộ Quốc phòng Trung Quốc đã khẳng định chủ quyền không thể chối cãi của Trung Quốc trên Biển Đông. Hiện tại, Chủ tịch Tập Cận Bình thường xuyên nhắc đến việc Trung Quốc sở hữu Biển Đông “kể từ thời cổ đại” – một khẳng định thiếu bất kỳ giá trị nào về mặt lịch sử hoặc pháp lý.

Cơn bão ngoại giao tại ARF diễn ra khi sự chú ý về an ninh của Hoa Kỳ còn đang bận tâm đến các hoạt động quân sự diễn ra ở Afghanistan và Iraq cũng như chiến dịch chống khủng bố toàn cầu với Osama bin Laden còn lớn. Rất ít người ở Washington có khuynh hướng coi Biển Đông là ưu tiên chiến lược nhằm thu hút các lợi ích quốc gia quan trọng của Hoa Kỳ. Tuy nhiên, nó đã – và là – tất cả những thứ đó.

LỢI ÍCH QUỐC GIA

Lợi ích của Hoa Kỳ ở Biển Đông được chia thành ba loại chính bao gồm: (1) Lợi ích kinh tế gắn liền với đường biển; (2) Quan hệ quốc phòng với các đồng minh và các đối tác an ninh khác; và (3) Ý nghĩa đối với sự cân bằng quyền lực và ảnh hưởng toàn cầu. Trong mỗi đấu trường này, một nỗ lực thành công của Trung Quốc nhằm giành quyền kiểm soát Biển Đông sẽ có tác động sâu sắc.

Đường biển

Các tuyến đường biển đi qua Biển Đông là tuyến đường thủy bận rộn nhất, quan trọng bậc nhất trên thế giới. Trong năm 2016, tuyến hàng hải này đã thực hiện đầy đủ một phần ba vận chuyển toàn cầu với giá trị ước tính là 3,4 nghìn tỷ đô la. Con số đó bao gồm gần 40% tổng thương mại của Trung Quốc và 90% nhập khẩu xăng dầu của Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc – và gần 6% tổng thương mại của Hoa Kỳ. Những tuyến đường biển này còn là một huyết mạch quân sự quan trọng khi Hạm đội 7 của Hoa Kỳ di chuyển thường xuyên giữa Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương (bao gồm cả Vịnh Bengal).

Hợp tác quốc phòng

Mỹ có các liên minh quốc phòng/an ninh chính thức với năm quốc gia châu Á: Nhật Bản, Hàn Quốc, Philippines, Thái Lan và Úc. Ngoài ra, Hoa Kỳ đã khẳng định một số trách nhiệm đối với quốc phòng Đài Loan và có quan hệ an ninh chặt chẽ với Singapore và New Zealand. Ngoài ra, có nhiều thỏa thuận hợp tác an ninh chính thức với Việt Nam, Indonesia và Malaysia. Tập trận Hổ mang vàng, được tổ chức bởi Thái Lan và dẫn đầu bởi Hoa Kỳ, là cuộc tập trận quân sự đa phương hàng năm lớn nhất ở châu Á. Tóm lại, Hoa Kỳ đã xây dựng và duy trì một mạng lưới liên kết và nghĩa vụ an ninh dày đặc trên khắp Đông và Đông Nam Á – tất cả đều được duy trì nhờ liên lạc thường xuyên với Hạm đội 7 khi nó đi qua khu vực qua Biển Đông.

Sự cân bằng sức mạnh

Thành phần quan trọng nhất và ít hữu hình nhất ở Biển Đông liên quan đến việc duy trì (hoặc không) một trật tự dựa trên các quy tắc của khu vực được hỗ trợ bởi sức mạnh của Hoa Kỳ. Trật tự này bao hàm một số nguyên tắc chính trị nền tảng nhất định – như tôn trọng luật pháp quốc tế, giữ gìn độc lập chủ quyền thực sự của các quốc gia trong khu vực, từ chối mở rộng lãnh thổ đơn phương bất hợp pháp và chấp nhận vô điều kiện các tuyến đường biển như một thông lệ toàn cầu. Các giá trị bảo tồn – như bảo vệ môi trường sống biển chống lại khai thác bừa bãi, những giải thích pháp lý khác – cũng rất cần thiết. Khái niệm về trật tự khu vực này liên kết chặt chẽ với một nhóm lợi ích, giá trị và thể chế rộng lớn hơn được thể hiện trong hệ thống quốc tế sau Thế chiến II – một hệ thống phản ánh các giá trị của Hoa Kỳ, vai trò lãnh đạo của Hoa Kỳ và phù hợp với lợi ích của Hoa Kỳ.

Nếu Trung Quốc thành công trong việc thay thế sức mạnh của Hoa Kỳ ở Tây Thái Bình Dương, việc mở rộng lãnh thổ của Trung Quốc ở Biển Đông trở thành vĩnh viễn và được thừa nhận, địa chính trị toàn cầu sẽ bước vào một kỷ nguyên mới và rất khác. Đông Nam Á chắc chắn sẽ trở thành phiên thuộc và tuân thủ theo ý chí của Trung Quốc. Australia sẽ bị cô lập với một tương lai không chắc chắn. Nhật Bản và Hàn Quốc sẽ phải đối mặt một thực tế mới đầy nguy hiểm với Trung Quốc trong việc kiểm soát những đường biển huyết mạch của cả hai nước. Sự tín nhiệm của các đồng minh và đối tác vào sự hỗ trợ an ninh của Mỹ sẽ bị giảm sút. Ấn Độ sẽ mất quyền tự do tiếp cận vào Biển Đông và phần lớn Đông Nam Á. Châu Âu muốn tiếp cận châu Á sẽ phải thông qua Bắc Kinh. Tất cả điều này sẽ xảy ra tại nơi đang ngày càng trở thành trung tâm sôi động của nền kinh tế thế giới. Thông điệp sẽ rõ ràng: thời đại của sự lãnh đạo và chiếm ưu thế quốc tế của Mỹ đã qua và một quyền lực ưu việt mới sẽ thay thế nó.

Điều này nghe có vẻ cường điệu hoặc quá xa lạ – không hề. Hoa Kỳ và rộng hơn là phương Tây có thể sống với triển vọng như vậy. Tuy nhiên, đối với nước Mỹ, thế giới mới này sẽ vô cùng thất vọng và thậm chí là xa lạ. Tóm lại, Biển Đông là đấu trường trực tiếp, nơi hai mô hình địa chính trị có tính thay thế đang tranh giành quyền lực tối cao. Kết quả của cuộc đấu đó sẽ ảnh hưởng sâu sắc, nếu không muốn nói là định hình thế giới thế kỷ 21.

Marvin Ott/ Trung tâm nghiên cứu Winson – Hoa Kỳ

Marvin Ott là Giáo sư thỉnh giảng, Đại học Johns Hopkins; Nguyên Giáo sư Chính sách An ninh Quốc gia, Đại học Chiến tranh Quốc gia và Phó Giám đốc thuộc Ủy ban Tình báo Thượng viện

Các quan điểm thể hiện là của riêng tác giả và không đại diện cho các quan điểm của Chính phủ Hoa Kỳ.

Loading

Views: 0

Bài 3: Chúng ta có thể giữ được Biển Đông một cách hòa bình

Loading

Views: 0

Bài 2: Không gian sinh tồn của dân tộc đang bị thách thức

Cuối thế kỷ này dân số nước ta lên khoảng 140 triệu người, con cháu chúng ta sống ở đâu nếu không tiến ra biển.

 Xin giới thiệu góc nhìn của Nguyên Đại sứ Việt Nam tại Brunei, Viện trưởng Viện Biển Đông, Học viện Ngoại giao Nguyễn Trường Giang nói tại CLB Cafe Số gần đây về sách lược người Việt Nam cần thực hiện để bảo vệ chủ quyền Biển Đông.Đầu tiên, cần phải nhận diện được thách thức của mình. Người Việt Nam có một điểm yếu, đó là có thể nhận diện được tất cả mọi thứ, trừ bản thân mình. Nếu chúng ta không sợ chiến tranh và chuẩn bị kỹ cho chiến tranh thì chúng ta sẽ có hòa bình. Còn nếu chúng ta sợ hãi thì lập tức chiến tranh sẽ đến, chúng ta mất hòa bình và mất cả chủ quyền lãnh thổ. Đây là vấn đề căn bản của mọi binh pháp trên thế giới.

Qua bức tranh thực trạng Biển Đông như tôi đã nói phần 1, có thể thấy mục tiêu lâu dài của Trung Quốc là độc chiếm Biển Đông, tức là chiếm toàn bộ các đảo trong vùng biển này (bao gồm 4 quần đảo Tây Sa, Nam Sa, Đông Sa, Trung Sa theo cách gọi của Trung Quốc).

Trung Quốc cũng muốn chiếm chủ quyền với khoảng 80% diện tích Biển Đông và toàn bộ tài nguyên trong khu vực biển này. Bên cạnh đó là quyền kiểm soát với vùng trời, vùng biển và đáy biển. Điều này mang đến thách thức nghiêm trọng đối với chủ quyền của Việt Nam tại Biển Đông.

Trong 6 thập kỷ qua, có thể thấy rõ các biện pháp và kế sách mà Trung Quốc đã áp dụng để triển khai mục tiêu này. Nước này đã dùng đến mọi biện pháp, từ kinh tế, chính trị, ngoại giao cho đến tâm lý và cả thông tin tuyên truyền.

Do vậy, có thể thấy thông tin tuyên truyền là một trong những mặt trận rất quan trọng. Có những thời điểm, mặt trận tuyên truyền còn quan trọng hơn cả mặt trận quân sự, ngoại giao hay pháp lý.

Các kế sách của Trung Quốc trên Biển Đông 

Người Trung Quốc ngày nay học tập nhiều từ binh pháp Tôn Tử, nhưng cũng có rất nhiều cải tiến đối với loại binh pháp này. Người Trung Quốc biến các loại mưu kế trở thành một bộ môn khoa học và đưa vào các nội hàm mới cho những mưu kế này.

Các ví dụ có thể kể đến là kế sách “tằm ăn dâu”, “biến không thành có”, “gác tranh chấp cùng khai thác”, “cây gậy và củ cà rốt”,…

Trong đó, một trong những kế sách thâm độc nhất của Trung Quốc là chiến thuật “vùng xám”, tức dân sự hoá các hoạt động quân sự và bán quân sự, không sử dụng hải quân cũng như các hoạt động có cường độ quá mạnh hay vượt qua một giới hạn đỏ nào đó. Mục đích của điều này là không để tạo ra những phản ứng quá quyết liệt từ các nước khác.

Nhìn vào quá khứ, dự đoán tương lai 

Trong bức tranh về thực trạng ở Biển Đông, chúng ta có thể dựa vào những gì đã xảy ra trong quá khứ để nhìn nhận và dự đoán tương lai.

Về trung hạn, Trung Quốc có thể sẽ tiếp tục đưa dàn khoan vào thềm lục địa Việt Nam. Khả năng thứ 2 là Trung Quốc sẽ tạo ra một vùng nhận diện phòng không trên Biển Đông. Trung Quốc cũng có thể sẽ tiến hành chiếm giữ một số bãi đá ngầm mà chưa có quốc gia nào chiếm đóng.

Dù rất hãn hữu, thế nhưng không loại trừ khả năng Trung Quốc sẽ đánh chiếm Trường Sa. Tuy nhiên điều này chỉ có thể xảy ra nếu họ có một thời cơ thích hợp. Người Trung Quốc thường chỉ hành động khi có thiên thời, địa lợi, nhân hòa và tính toán được rất kỹ cái giá phải trả. Đây chính là điểm để Việt Nam hoạch định các kế sách đối phó.

Nếu Việt Nam có thể làm cho Trung Quốc không có được thiên thời, địa lợi, nhân hòa hoặc trong trường hợp có chiến tranh, nước này sẽ phải trả một cái giá rất đắt thì họ sẽ không dám đánh chiếm Trường Sa nữa.

Trong 2 năm tới trước Đại hội, việc quân sự hoá Biển Đông sẽ được Trung Quốc thực hiện ráo riết hơn. Trung Quốc có thể đưa những lực lượng quân sự đông hơn ra chiếm đóng tại Trường Sa. Nước này cũng có thể vẽ ra lãnh hải của những hòn đảo mà hiện tại họ đang chiếm đóng, cũng như vùng nội thuỷ của các đảo này. Đây là những cảnh báo mà chúng ta cần phải lưu ý.

Trung Quốc sẽ sớm thông qua Luật An toàn giao thông hàng hải sửa đổi. Từ dự thảo của bộ luật này, có thể thấy Trung Quốc có khả năng dựa vào đây để lập các vùng an toàn hàng hải trên biển. Điều gì sẽ xảy ra nếu vùng an toàn bao chùm lên các nhà giàn DK1 của Việt Nam. Bên cạnh đó,  tàu thuyền sẽ phải xin phép khi tiến vào vùng biển Trường Sa. Điều này cũng có nghĩa là các đảo của Việt Nam sẽ bị phong toả.

Năm 2016, 2017, trên các phương tiện thông tin đại chúng của Trung Quốc đưa ra một dự báo cho thấy, Trung Quốc có thể đưa những nhà máy điện hạt nhân nổi ra Biển Đông.

Nếu như các nhà máy điện hạt nhân nổi được triển khai tại Biển Đông, nó sẽ mang lại rất nhiều thách thức về chủ quyền, môi trường, kinh tế, tài nguyên và  đối với mạng sống của hàng trăm triệu người…

Trung Quốc đưa dàn khoan HD 981 vào vùng biển của Việt Nam năm 2014
Đánh giá về tình hình hiện nay, có thể thấy vấn đề Biển Đông đang ngày càng phức tạp và diễn biến khó lường. Chủ quyền biển đảo Việt Nam đang bị thách thức nghiêm trọng và thách thức này sẽ còn nghiêm trọng hơn nữa trong tương lai.

Các thách thức mà Việt Nam sẽ phải đối mặt là về chủ quyền, kinh tế biển, an ninh quốc phòng, môi trường phát triển và thách thức đối với không gian sinh tồn của dân tộc. Cuối thế kỷ 21, Việt Nam sẽ có quy mô dân số khoảng 140 triệu người. Lúc này chúng ta cần phải tiến ra biển, biển là niềm hy vọng và là không gian sinh tồn của những thế hệ sau này.

Hiện nay chúng ta đang phải đối mặt với một kiểu xâm lược như vậy: tiến dần dần. Vì thế, tôi muốn nhấn mạnh về thách thức không gian sinh tồn của dân tộc .

Cuối thế kỷ này dân số nước ta lên khoảng 140 triệu người, con cháu chúng ta sống ở đâu nếu không tiến ra biển. Lúc đấy là chúng ta cần có thành phố biển, có làng mạc biển, có nông nghiệp biển, có công nghiệp biển, có cảng biển, có sân bay trên biển. Biển là niềm hi vọng, là không gian sinh tồn của những thế hệ sau này.

Và tôi muốn nhấn mạnh điểm này: không gian sinh tồn của dân tộc mình đang bị thách thức.

(Còn nữa)

Tư Giang lược ghi

Loading

Views: 0

Bài 1: Mưu đồ chiến lược của Trung Quốc ở Biển Đông

Biển Đông được xác định là con đường sinh mệnh của nền kinh tế Trung Quốc, giúp kết nối Trung Quốc với 125 nước và vận chuyển 3/4 lượng dầu nhập khẩu vào nước này.

 Xin giới thiệu góc nhìn của Nguyên Đại sứ Việt Nam tại Brunei, nguyên Viện trưởng Viện Biển Đông, Học viện Ngoại giao Nguyễn Trường Giang nói tại CLB Cafe Số gần đây về mưu đồ chiến lược của Trung Quốc tại Biển Đông.Thứ nhất, lợi ích của Biển Đông là về vấn đề kinh tế, đầu bảng là tài nguyên dầu khí, sau đó là băng cháy. Khu vực Đông Nam Á có lượng băng cháy cực lớn. Đây là nguồn năng lượng của tương lai, có thể sử dụng trong nhiều thế kỷ, theo tính toán sơ bộ là khoảng 800 năm tới.

Việt Nam là một trong những quốc gia sở hữu lượng băng cháy tương đối lớn. Chúng ta có khoảng 2.400 tỷ mét khối băng cháy, là quốc gia có thứ hạng ở Châu Á về loại tài nguyên này. Đây là nguồn năng lượng tuyệt vời. Do đó, Trung Quốc nhìn vào nguồn băng cháy như một loại tài nguyên thay thế cho dầu khí đang dần trở nên cạn kiệt.

Thứ hai, Biển Đông được xác định là một trong 4 khu vực đánh cá chủ yếu của ngư dân Trung Quốc.

Thứ ba, Biển Đông cũng được xác định là con đường sinh mệnh của nền kinh tế Trung Quốc. Trong số 27 tuyến vận tải của Trung Quốc, 17 trong số đó nằm ở Biển Đông. Biển Đông giúp kết nối Trung Quốc với 125 nước và vận chuyển 3/4 lượng dầu nhập khẩu vào nước này.

Đại sứ Nguyễn Trường Giang

Về an ninh quốc phòng, đây là một bức trường thành tự nhiên trên biển. Biển Đông như một vành đai quân sự, phòng thủ, là rào cản an ninh để ngăn chặn những rủi ro và uy hiếp từ bên ngoài.

Về mặt địa chiến lược, Trung Quốc xác định Biển Đông như sân sau, nơi tập dượt của hải quân Trung Quốc để tiến ra thế giới bên ngoài.

Biển Hoa Đông ở phía đông Trung Quốc quá nông, lại có một đối thủ khó nhằn là Nhật Bản án ngữ phía ngoài. Còn đối với Biển Đông, vùng biển này rộng 3,4 triệu km2, độ sâu trung bình là 1.400 mét và có rất nhiều rãnh sâu. Đây là địa điểm tuyệt vời cho sự hoạt động của các loại tàu ngầm.

Muốn thành bá chủ toàn cầu, Trung Quốc phải trở thành cường quốc trên biển. Điều này chỉ có thể thực hiện được ở Biển Đông, vùng biển mà xung quanh đó toàn các quốc gia nhỏ bé. Về mặt địa chiến lược, đây là cửa ngõ duy nhất, là bàn đạp để Trung Quốc đi ra thế giới bên ngoài. Do vậy, trong cái nhìn đại chiến lược của người Trung Quốc, Biển Đông có lợi ích sống còn.

Trung Quốc sắp đặt Biển Đông trong chiến lược an ninh – phát triển như thế nào?

Từ các văn kiện Đại hội Đảng, chương trình nghị sự của chính phủ và thông tin chính thức từ phía Trung Quốc, nước này xác định Biển Đông là một phần quan trọng, cũng là điểm khởi đầu cho con đường tơ lụa trên biển. Con đường này là trọng tâm của sáng kiến Vành đai – Con đường. Sáng kiến này là một phần của giấc mơ chấn hưng Trung Quốc.

Biển Đông là một phần của chiến lược biến Trung Quốc thành một cường quốc biển. Một quốc gia muốn tiến vào vị trí trung tâm quyền lực chính trị của thế giới thì không thể không trở thành một cường quốc biển.

Chính giới Trung Quốc đã lồng ghép vấn đề Biển Đông vào mục tiêu trăm năm, coi đó là việc triển khai thực hiện giấc mộng Trung Hoa. Nước này thậm chí còn đưa vấn đề chủ quyền và lợi ích trên biển thành một trong những lợi ích cốt lõi của Trung Quốc, tương tự như vấn đề Đài Loan, Tân Cương và Tây Tạng. Tần suất Trung Quốc đưa ra lời khẳng định các đảo ở Biển Đông thuộc về mình từ ngàn đời đang không ngừng tăng lên.

Nguyên thủ các quốc gia trên thế giới thường ít nói về vấn đề chủ quyền. Thay vào đó, họ thường để cho những cơ quan có thẩm quyền lên tiếng. Tuy nhiên, liên tiếp trong năm 2016, Chủ tịch Trung Quốc đã 3 lần phát biểu câu chuyện này ở nước ngoài, điều trước đây chưa từng có đã thể hiện sự quan tâm đến mức tối đa của Trung Quốc đối với vấn đề Biển Đông.

Bên cạnh đó, cơ quan truyền thông nhà nước Trung Quốc liên tục khẳng định rằng nước này không có gene xâm lược, không xâm phạm vào lợi ích của các nước khác, thế nhưng Trung Quốc sẽ không bao giờ từ bỏ quyền lợi của mình.

Tàu cảnh sát biển Trung Quốc. Ảnh: Reuters

Năm 2021, Trung Quốc sẽ diễn ra sự kiện kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng. Cùng với các sự kiện lớn này, Trung Quốc sẽ tiến hành nhiều hành động lớn, tình hình Biển Đông vì thế cũng sẽ liên quan đến câu chuyện này.

Trung Quốc không đem lợi ích cốt lõi ra trao đổi, không có chuyện nhân nhượng, thỏa thuận và từ bỏ tham vọng Biển Đông. Đây là một thông điệp rất rõ ràng.

Chủ tịch Trung Quốc từng có một câu nói mà chúng ta cần phải lưu ý: “Quân đội Trung Quốc triệu tập là có, đến là có thể đánh và đánh là có thể thắng, để bảo vệ chủ quyền và các quyền liên quan ở Biển Đông”.

Vậy vài chục năm nữa Biển Đông sẽ như thế nào? Biển Đông đại khái sẽ thế này, lúc nóng, lúc lạnh, lúc căng thẳng lúc hòa hoãn. Tất nhiên, chúng ta cần có những nhìn nhận đúng đắn, có những động thái kiên quyết đối với vấn đề này.

Truyền thông Trung Quốc

Báo chí Trung Quốc nói, những nước như Việt Nam, Phillipines, Brunei, Malaysia… là những kẻ đang cướp đảo, cướp biển, cuớp tài nguyên của Trung Quốc, do đó chúng ta phải thu hồi. Điều này được thực hiện bằng chiến lược ngoại giao đi trước, hải quân đi sau, văn công vũ vệ (tiến công bằng văn, bảo vệ bằng vũ lực).

Có những tờ báo liệt kê 6 cuộc chiến tranh mà Trung Quốc phải đánh, một trong số đó là cuộc chiến trên Biển Đông để thu hồi những đảo bị các nước chiếm đóng trái phép. Truyền thông Trung Quốc là một dấu hiệu giúp Việt Nam có thể dự báo trước.

Trung Quốc đang làm gì từ năm 1949 đến nay?

1. Đưa ra các yêu sách chủ quyền và yêu sách trên biển.

2. Thực hiện những biện pháp hành chính. Thể hiện Biển Đông và Hoàng Sa, Trường Sa trên bản đồ, đặt tên cho các đảo, quy thuộc sát nhập Hoàng Sa, Trường Sa và vùng biển vào lãnh thổ Trung Quốc và các đơn vị hành chính thuộc Trung Quốc.

3. Áp đặt nội luật của Trung Quốc vào khu vực Biển Đông, coi Biển Đông thành khu vực của mình.

4. Các hoạt động kiểm soát, khống chế và làm chủ Biển Đông trên thực địa. Bao gồm việc từng bước thay đổi nguyên trạng của Biển Đông, tạo ra một cục diện quân sự thuận lợi cho Trung Quốc, dần dần khống chế, kiểm soát Biển Đông, tiến tới mục tiêu lâu dài là độc chiếm toàn diện Biển Đông.

5. Sử dụng vũ lực. Từ năm 1956 đến nay, tất cả các bước tiến của Trung Quốc trên Biển Đông đều là nhờ vũ lực. Trung Quốc liệu có tiếp tục sử dụng vũ lực nữa hay không? Nếu không trả lời được câu hỏi này thì cực kỳ nguy hiểm.

(Còn nữa)

Tư Giang lược ghi

Loading

Views: 0

Lộ diện bộ ba răn đe chiến lược mới của thế kỷ 21

Khi thế kỷ 21 mở ra với nhiều biến động, một dạng bộ ba răn đe chiến lược mới đang hiện hình rõ ràng. Minh chứng gần đây nhất chính là vụ tấn công tinh vi nhằm vào các cơ sở lọc dầu trọng yếu của Saudi Arabia.

Hàng thập kỷ nay, các quốc gia vẫn nghĩ về bộ ba răn đe chiến lược là sự kết hợp của ba hệ thống vũ khí hạt nhân: tên lửa đạn đạo liên lục địa đặt trên đất liền; máy bay ném bom chiến lược tầm xa như (B-52, B-1 và Tu-160); và tàu ngầm trang bị tên lửa hạt nhân.

Cùng với nhau, các hệ thống này có thể ngăn chặn kẻ thù từ cuộc tấn công đầu tiên, cung cấp một nền tảng mạnh mẽ tạo thành sức mạnh quân sự quốc gia. Chế tạo ra bộ ba răn đe chiến lược này là quá trình vô cùng tốn kém, đòi hỏi công nghệ tối tân cũng như cần đến lực lượng chuyên gia tay nghề cực cao.

Tuy nhiên, theo nhận định của tạp chí Time, khi thế kỷ 21 nhiều biến động mở ra, một dạng bộ ba răn đe chiến lược mới đang hiện hình rõ ràng. Minh chứng gần đây nhất chính là vụ tấn công tinh vi nhằm vào các cơ sở lọc dầu trọng yếu của Saudi Arabia – làm giảm 5% nguồn cung dầu mỏ hàng ngày trên toàn cầu – chỉ bằng thiết bị bay không người lái giá rẻ, đồng thời sử dụng công nghệ Google Earth để định vị tấn công mà các hệ thống phòng thủ hiện đại phải “bó tay”.

Bộ ba chiến lược mới sẽ bao gồm thiết bị không người lái (trên không, trên mặt đất và trong lòng biển), tấn công mạng cùng các lực lượng đặc nhiệm. Tất cả các yếu tố trên đều không đắt đỏ, dễ dàng đưa vào triển khai, ngay cả đối với những nước không mạnh.

Năng lực gây thiệt hại lớn của hệ thống trên – cả chế độ độc lập lẫn hiệp đồng tác chiến – đang tăng lên. Tấn công mạng có thể gây tê liệt mạng lưới điện của một quốc gia, hệ thống dẫn nước, các thị trường tài chính và mạng lưới giao thông. Các thiết bị không người lái – khả năng trực chiến trong thời gian dài – có thể được sử dụng để tấn công tại những vùng chiến sự quan trọng với độ chính xác cao.

Trong khi đó, các lực lượng đặc nhiệm, giống như đặc nhiệm SEAL của Hải quân Mỹ, sẽ là người kích hoạt tấn công mạng và máy bay không người lái bằng cách cấy ổ đĩa hoặc cài mã vào những hệ thống quan trọng này. Sau đó, họ sẽ cung cấp mục tiêu cho các vũ khí dẫn đường có độ chính xác cao gắn trên thiết bị bay không người lái, hoặc những hệ thống tấn công di động ở gần biên giới.

Tất nhiên, không chỉ các nước nhỏ như Triều Tiên và Iran đang khai thác bộ ba mới này, Mỹ và Nga đã bắt tay vào nghiên cứu từ lâu. Có lẽ đáng lo ngại nhất, việc sở hữu những dạng thiết bị trên cũng không nằm ngoài tầm với của bọn tội phạm như khủng bố và buôn ma túy.

Hiện tại, các quốc gia chưa đặc biệt chuẩn bị sẵn sàng để phòng thủ trước những hệ thống như trên. Nền quốc phòng Mỹ cần triển khai một mạng lưới tinh vi và nguy hiểm hơn những cái đang sở hữu. Cụ thể là một lực lượng an ninh mạng mới, sản xuất thêm thiết bị không người lái tàng hình, nâng cao khả năng phát hiện thiết bị của kẻ thù; cùng các lực lượng đặc nhiệm tinh nhuệ hơn.

Vụ tấn công nhằm vào các cơ sở lọc dầu của Saudi Arabia là bài học không thể bỏ qua. Riyadh đã chi hàng tỷ USD cho hệ thống phòng không hiện đại và hệ thống cảnh báo sớm. Tuy nhiên, chỉ cần vài quả tên lửa hành trình và máy bay không người lái là kẻ thù có thể xâm nhập không phận Saudi Arabia và gây thiệt hại nặng nề cho nhà máy lọc dầu lớn nhất thế giới.

Theo kênh CNN, điều đó cho thấy những bất cập nghiêm trọng tại nơi Saudi Arabia đặt các hệ thống phòng không và cảnh báo sớm cũng như điểm yếu của các hệ thống này. Tuy nhiên, điều đó cũng cho thấy một vấn đề lớn hơn: kỷ nguyên chiến tranh bằng máy bay không người lái là một thách thức lớn với các chính phủ toàn thế giới./.

Hoàng Trang (TTXVN)

 

Loading

Views: 0

25 năm Việt Nam phê chuẩn UNCLOS: Kỳ vọng vào trật tự pháp lý công bằng trên biển

Việc Việt Nam tích cực tham gia và thực thi Công ước của Liên Hợp Quốc về luật Biển năm 1982 (UNCLOS) thể hiện thiện chí, sự coi trọng và kỳ vọng của Việt Nam vào trật tự pháp lý công bằng về biển.
Việc Việt Nam tích cực tham gia và thực thi UNCLOS thể hiện thiện chí, sự coi trọng và kỳ vọng của Việt Nam vào trật tự pháp lý công bằng về biển

Ảnh TTXVN
Năm 2019 đánh dấu 25 năm ngày Công ước của Liên Hợp Quốc về luật Biển năm 1982 (UNCLOS) chính thức có hiệu lực và 25 năm Việt Nam phê chuẩn UNCLOS. Việc Việt Nam tích cực tham gia và thực thi UNCLOS thể hiện thiện chí, sự coi trọng và kỳ vọng của Việt Nam vào trật tự pháp lý công bằng về biển.
Nghị quyết ngày 23.6.1994 của Quốc hội về việc phê chuẩn UNCLOS nêu rõ: “Bằng việc phê chuẩn Công ước của Liên Hợp Quốc về luật Biển 1982, nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam biểu thị quyết tâm cùng cộng đồng quốc tế xây dựng một trật tự pháp lý công bằng, khuyến khích sự phát triển và hợp tác trên biển”.

Khuôn khổ pháp lý toàn diện về biển và đại dương

UNCLOS bao gồm các quy định toàn diện xác lập các vùng biển, điều chỉnh mọi hoạt động trên biển và đại dương ở cấp độ quốc gia, khu vực và toàn cầu. UNCLOS có giá trị cao hơn so với các công ước và hiệp định/thỏa thuận quốc tế khác, và các nguồn khác của luật quốc tế, trong đó có luật tập quán quốc tế về biển.
UNCLOS nêu rõ: hiệp định/thỏa thuận giữa hai hay nhiều quốc gia thành viên UNCLOS về bất kỳ vấn đề nào được quy định tại UNCLOS thì phải phù hợp với UNCLOS; chỉ có các quyền, nghĩa vụ hình thành từ các quy tắc của pháp luật quốc tế không trái với UNCLOS là được công nhận và áp dụng bởi toà án hay toà trọng tài có thẩm quyền theo Phần 14 Công ước.
Việc giải thích theo hướng UNCLOS không phải là khuôn khổ pháp lý duy nhất và còn có các khuôn khổ khác như luật tập quán quốc tế hình thành trước UNCLOS điều chỉnh các vấn đề về biển là đi ngược lại với mục tiêu của UNCLOS, nhằm hạ thấp giá trị của UNCLOS. Do có tầm quan trọng chiến lược, tính thống nhất, toàn vẹn của UNCLOS cần tiếp tục được duy trì.

Quy chế pháp lý của các vùng biển, quyền và nghĩa vụ của các quốc gia

UNCLOS là cơ sở để xác lập phạm vi các vùng biển thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia ven biển, kể cả quốc gia quần đảo (gồm nội thuỷ, vùng nước quần đảo của quốc gia quần đảo, lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa); các vùng biển ngoài phạm vi tài phán quốc gia (gồm biển cả hay còn gọi là biển quốc tế, vùng đáy biển quốc tế và tài nguyên khoáng sản ở đó là di sản chung của nhân loại).
UNCLOS còn quy định cụ thể quyền và nghĩa vụ của các quốc gia. Theo UNCLOS, mọi hoạt động liên quan đến thăm dò, khai thác tài nguyên thiên nhiên tại vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của quốc gia ven biển phải được phép của quốc gia đó; mọi hoạt động không được cấp phép đều là bất hợp pháp, vi phạm một cách rõ ràng các quy định của Công ước.
Điều 121 UNCLOS quy định tiêu chí xác định “đảo” là vùng đất tự nhiên có nước bao bọc và luôn ở trên mặt nước khi thuỷ triều lên; các đảo có khả năng duy trì điều kiện cho con người đến ở và có đời sống kinh tế riêng thì sẽ có đầy đủ các vùng lãnh hải, tiếp giáp, đặc quyền kinh tế và thềm lục địa như lãnh thổ đất liền.
Các đảo không đáp ứng 2 điều kiện nêu trên thì chỉ có lãnh hải 12 hải lý, không vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Các bãi cạn lúc nổi, lúc chìm nói chung không có lãnh hải riêng (và do đó cũng không có vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa) và sự có mặt của chúng không ảnh hưởng đến việc xác định ranh giới lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa.
Căn cứ quy chế đảo tại UNCLOS, trong một vụ gần đây, Tòa trọng tài theo Phụ lục VII UNCLOS đã kết luận, không một cấu trúc địa lý nào tại quần đảo Trường Sa có khả năng tạo ra vùng biển đặc quyền kinh tế, thềm lục địa; các đảo của quần đảo Trường Sa không thể cùng nhau tạo ra các vùng biển như một thực thể thống nhất.

Thiết lập các cơ quan, cơ chế để bảo đảm thực thi Công ước

Để bảo đảm thực thi Công ước đầy đủ và nhất quán, UNCLOS thành lập các cơ quan, cơ chế với vai trò và chức năng khác nhau, có tính chất bổ sung cho nhau. UNCLOS cũng quy định cơ chế giải quyết tranh chấp trong việc giải thích và áp dụng Công ước (Phần XV), bao gồm các tiến trình ngoại giao và pháp lý. Khi có tranh chấp, các quốc gia thành viên có nghĩa vụ nhanh chóng trao đổi quan điểm về giải quyết tranh chấp thông qua đàm phán hoặc các biện pháp hòa bình khác.
Nếu việc trao đổi, đàm phán trong một thời gian hợp lý không đạt được giải pháp, các bên có thể thỏa thuận đưa tranh chấp ra giải quyết tại cơ quan tài phán quốc tế để có phán quyết ràng buộc, đó là Tòa án Công lý quốc tế (ICJ), Tòa án luật Biển quốc tế (ITLOS – được thành lập theo Phụ lục VI của UNCLOS) hoặc Tòa trọng tài (theo Phụ lục VII UNCLOS), Tòa trọng tài đặc biệt (theo Phụ lục VIII UNCLOS).
Tranh chấp nếu không được giải quyết thông qua trao đổi, đàm phán trong thời gian hợp lý thì có thể đưa ra cơ chế bắt buộc – Tòa trọng tài theo Phụ lục VII UNCLOS (với những điều kiện nhất định), hoặc đưa ra Uỷ ban hòa giải (được thành lập theo Phụ lục V của UNCLOS), trên cơ sở các khuyến nghị của Uỷ ban hòa giải tuy không có giá trị ràng buộc pháp lý, các bên tranh chấp có nghĩa vụ phải đàm phán để đạt giải pháp giải quyết tranh chấp, và nếu không đàm phán được, các bên có nghĩa vụ giải quyết thông qua cơ quan tài phán.
Phán quyết của các cơ quan tài phán theo quy định của UNCLOS góp phần giải thích đúng đắn các quy định của UNCLOS, làm rõ một số vấn đề còn chưa rõ hoặc gây tranh cãi, hoặc yêu sách và hành động trái với quy định của UNCLOS. Hiệu quả thực thi UNCLOS, cũng giống như việc thực thi các điều ước quốc tế khác, trên thực tế không chỉ thể hiện ở quan điểm của quốc gia tại các diễn đàn khu vực và quốc tế thảo luận về biển mà phụ thuộc vào hành động của mỗi quốc gia thành viên trong việc sử dụng biển, đại dương và các tài nguyên biển, đòi hỏi thiện chí và quan tâm đúng mức của mỗi quốc gia.
Là quốc gia ven biển, thành viên của UNCLOS, Việt Nam đã và đang nỗ lực kiên trì giải quyết một cách hòa bình các vấn đề Biển Đông, phù hợp với luật pháp quốc tế trong đó có UNCLOS.
Việt Nam đồng thời đã và đang thực thi đầy đủ UNCLOS kể từ khi chấp nhận sự ràng buộc của UNCLOS và trở thành một quốc gia thành viên của UNCLOS 25 năm trước, nỗ lực thực hiện bảo tồn biển và đại dương và các nguồn lợi biển một cách bền vững, phù hợp với các tiêu chí của Mục tiêu phát triển bền vững số 14 về bảo tồn và sử dụng bền vững biển, đại dương và tài nguyên biển (SDG14) thuộc Chương trình nghị sự 2030 của Liên Hiệp Quốc. Việt Nam cần tiếp tục nỗ lực cùng với các nước thành viên khác thúc đẩy tôn trọng UNCLOS, đồng thời bảo vệ tính toàn vẹn và giá trị pháp lý của khuôn khổ pháp lý toàn cầu này./.
TS Lê Thị Tuyết Mai
(*)TS Lê Thị Tuyết Mai là Ủy viên Ban Chấp hành Hội Luật quốc tế Việt Nam, Chi hội trưởng Chi hội Luật gia Bộ Ngoại giao, Vụ trưởng Vụ Luật pháp và Điều ước quốc tế, Bộ Ngoại giao. Bài viết này thể hiện quan điểm của tác giả, không nhất thiết thể hiện quan điểm của cơ quan nơi tác giả làm việc.

Loading

Views: 0

Châu Âu “quyết tâm can dự” vào châu Á-Thái Bình Dương và Biển Đông?

Theo giới phân tích, các nước lớn ở châu Âu đang tìm cách tăng cường sự hiện diện của họ ở châu Á-Thái Bình Dương bằng các chiến dịch tự do hàng hải trong bối cảnh lo ngại căng thẳng gia tăng ở Biển Đông.

Ông Frans-Paul van der Putten, thuộc Viện nghiên cứu Clingendael ở Hà Lan, nói: “Một vài năm trước, các nước châu Âu tỏ ra không mấy quan tâm đến các vấn đề an ninh ở khu vực Đông Á, nhưng trong hoàn cảnh hiện tại, điều đó đang thay đổi. Việc điều tàu chiến đến Biển Đông có thể cung cấp cho các chính phủ châu Âu nhiều đòn bẩy hơn khi nói đến việc đối phó với Mỹ và Trung Quốc trong các vấn đề địa chính trị ở gần họ. Từ lâu, châu Âu đã quen với việc nằm giữa hai cường quốc Mỹ và Nga, nhưng mối quan hệ Mỹ-Trung ngày càng xác định vị trí địa chính trị của châu Âu. Điều này tạo ra những tình huống khó xử cho các chính phủ châu Âu, vốn đang chịu áp lực phải chọn bên”.

Đánh giá của ông Van der Putten được đưa ra sau khi Anh, Pháp và Đức cho biết trong một tuyên bố chung hồi tháng trước rằng họ “lo ngại về tình hình ở Biển Đông, có thể dẫn đến bất ổn an ninh và căng thẳng khu vực”. Họ cũng kêu gọi tất cả các bên liên quan đến tranh chấp lãnh hải ở Biển Đông “thực hiện các bước đi và biện pháp để giảm căng thẳng, đóng góp vào việc duy trì và thúc đẩy hòa bình, an ninh, ổn định, an toàn ở khu vực”.

Trung Quốc, nước tuyên bố chủ quyền phần lớn ở Biển Đông, đang tham gia nhiều tranh chấp với các nước láng giềng, bao gồm Malaysia, Việt Nam, Philippines và Brunei. Trong khi Mỹ không phải là một bên yêu sách, nhưng nước này coi khu vực này là một phần trong chiến lược Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương nhằm kiềm chế sự bành trướng quân sự của Trung Quốc ở Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương.

Trong một động thái biểu dương sức mạnh và đoàn kết, Mỹ và Anh đã tiến hành một cuộc tập trận hải quân chung ở Biển Đông hồi tháng 2 năm nay, trong khi Pháp đưa tàu tấn công Dixmude và một tàu khu trục đến gần quần đảo Trường Sa tranh chấp hồi năm ngoái. Anh rất muốn khẳng định quyền tự do hàng hải ở các vùng biển quốc tế và cùng với các đồng minh Mỹ và Úc đã thẳng thắn bảo vệ các hành động như vậy trước một Trung Quốc ngày càng hiếu chiến. Năm ngoái, Anh đã lên kế hoạch điều một tàu sân bay mới HMS Queen Elizabeth đến khu vực châu Á-Thái Bình Dương trong lần triển khai hoạt động đầu tiên, dự kiến vào năm 2021.

Phát biểu tại London hồi tuần trước, Thiếu tướng Su Guanghui – tùy viên quân sự Trung Quốc tại Anh – nói: “Nếu Mỹ và Anh bắt tay nhau hoặc vi phạm chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Trung Quốc, đó sẽ là hành động thù địch”. Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Việt Nam, bà Lê Thị Thúy Hằng, nói hồi tuần trước rằng Hà Nội hoan nghênh mọi hoạt động đảm bảo tự do hàng hải và hàng không.

Bất chấp sự hợp tác quân sự, Mỹ và châu Âu có những khác biệt trên mặt trận kinh tế và chính trị. Ngày 12/9 vừa qua, thông báo của Ngân hàng Trung ương châu Âu về gói cắt giảm lãi suất và kích thích kinh tế trong 3 năm đã vấp phải sự giận dữ của Tổng thống Mỹ Donald Trump trên Twitter. Ông nói: “Họ đang cố gắng giảm giá đồng Euro so với đồng USD rất mạnh, làm tổn thương đến xuất khẩu của Mỹ”. Tháng trước, Trump đã chỉ trích chính phủ Pháp về thuế dịch vụ kỹ thuật số mà theo ông là nhằm vào các công ty công nghệ của Mỹ và tuyên bố sẽ trả đũa bằng cách đánh thuế vào rượu vang Pháp.

Chủ tịch Hội đồng châu Âu Donald Tusk nói EU sẽ “đáp trả tương đương” nếu Mỹ áp đặt bất kỳ hình phạt nào như vậy. EU cũng bị lôi kéo vào một cuộc tranh chấp gay gắt với Trung Quốc về những gì họ coi là đối xử không công bằng với các doanh nghiệp EU hoạt động ở nền kinh tế lớn thứ hai thế giới. Trong một báo cáo hồi đầu năm, Ủy ban châu Âu (EC) đã kêu gọi các nhà lãnh đạo EU chấp thuận một kế hoạch hành động 10 điểm gán mác cho Trung Quốc là “đối thủ cạnh tranh có hệ thống”.

Căng thẳng giữa Bắc Kinh và Berlin đã leo thang sau khi Ngoại trưởng Đức Heiko Maas gặp nhà hoạt động dân chủ Hong Kong Hoàng Chi Phong ở thủ đô của nước Đức hồi đầu tuần trước. Bộ Ngoại giao Trung Quốc nói rằng họ “thực sự không hài lòng” và đồng thời triệu tập Đại sứ Đức tại Bắc Kinh để phản đối. Bà Sarah Raine, chuyên gia tư vấn cấp cao về địa chính trị và chiến lược thuộc Viện nghiên cứu chiến lược quốc tế ở London, cho biết không ngạc nhiên khi EU muốn can dự vào các tranh chấp Biển Đông và mở rộng ảnh hưởng của mình ở khu vực này. Bà nói: “Đây là một kết quả thực tế ở châu Á, EU đã chán việc bị đối xử còn thấp hơn cả một đối tác thương mại và không liên quan đến các vấn đề chiến lược lớn của châu lục, thậm chí ngay cả họ có lợi ích thực sự ở trong đó”.

“Để can dự sâu hơn vào các diễn biến ở Biển Đông, các quốc gia lãnh đạo EU nên hợp tác để ủng hộ các giải pháp đa phương cho các vấn đề đa phương thông qua các đối tác đa phương – dưới hình thức ASEAN [Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á – tất cả trong khuôn khổ luật pháp quốc tế”. Theo ông Siemon Wezeman, nhà nghiên cứu cao cấp thuộc chương trình chuyển giao vũ khí và chi tiêu quân sự SIPRI ở Thụy Điển, EU đang cố gắng tăng ảnh hưởng đối với Trung Quốc và Mỹ bằng cách cho họ thấy rằng EU cũng là một bên quan trọng trong các vùng biển tranh chấp. Ông Wezeman nói: “EU không phải Trung Quốc, và tất nhiên không phải nước Mỹ của Trump. Họ muốn chứng tỏ họ vẫn ở đó. Ba nước ký tuyên bố chung (Anh, Pháp và Đức) có lợi ích đặc biệt ở khu vực này. Họ có những lợi ích thương mại… Nếu có bất kỳ sự cố nào ở Biển Đông, các ngành công nghiệp châu Âu sẽ bị ảnh hưởng”./.

Theo SMCP

Loading

Views: 0

Chiến tranh pháp lý của Trung Quốc, tranh chấp tài nguyên và luật biển

Học thuyết “Tam chiến” của Trung Quốc vạch ra bộ ba phương pháp tấn công: chiến tranh thông tin, chiến tranh tâm lý và chiến tranh pháp lý. Trong số này, chức năng của chiến tranh pháp lý là nhằm “thúc đẩy tính hiệu quả của các cơ chế và quy trình pháp lý hiện hành để hạn chế hành vi đối địch, đối phó trong các hoàn cảnh bất lợi, đảo ngược các án lệ, và tối đa hóa lợi thế trong các tình huống liên quan đến các lợi ích cốt lõi của Trung Quốc”.

Trung Quốc đang lớn giọng khẳng định đặc quyền hàng hải trên Biển Đông trong cái gọi là “đường 9 đoạn” dường như được xuất hiện trên các bản đồ chính thức của nước này. Nguồn gốc chính xác của đường ranh giới này hiện vẫn rất mơ hồ. “Đường 9 đoạn” không xuất hiện trên các bản đồ của chính phủ trước năm 1947 hay trên các bản đồ mang tính cá nhân được vẽ trước năm 1933. Đến năm 2013, các học giả nổi tiếng của Trung Quốc thừa nhận rằng Trung Quốc chưa bao giờ công khai khẳng định tầm quan trọng pháp lý của đường ranh giới này.Việc Trung Quốc trong thời gian gần đây khẳng định quyền tài phán với các tài nguyên trong “đường 9 đoạn” đã làm leo thang căng thẳng không chỉ trong lĩnh vực dầu mỏ mà còn với nguồn cá đang được khai thác cạn kiệt vốn “rất quan trọng với an ninh lương thực của cư dân ven biển vốn lên tới hàng trăm triệu người”. Tuy nhiên, lập luận pháp lý của Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông nên được xem xét cả trong bối cảnh lịch sử của họ cũng như dưới học thuyết của Trung Quốc về chiến tranh thông tin.

Luật pháp đóng vai trò quan trọng trong cuộc tranh cãi về “đường 9 đoạn” bởi đường ranh giới này cắt sâu vào Vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) 200 hải lý của nhiều nước ven biển gồm Việt Nam và Philippines theo Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển (UNCLOS). Một điều trớ trêu đó là trong các cuộc đàm phán trường kỳ để tiến tới UNCLOS, Trung Quốc từng là nhân tố chính ủng hộ khái niệm EEZ, đứng về phía các nước đang phát triển chống lại Nga và Mỹ.

Việc xem xét lại các vấn đề từng là mối quan ngại cơ bản của Trung Quốc trong các cuộc đàm phán về UNCLOS là rất hữu ích. Các vấn đề này được ghi trong các tài liệu làm việc của Trung Quốc gửi lên Ủy ban Đáy biển Liên hợp quốc hồi đầu những năm 70 của thế kỷ XX và trong các bài phát biểu của Trung Quốc trong tiến trình đàm phán.

Trung Quốc chủ trương ủng hộ 5 luận điểm chính: Thứ nhất, không có chiều rộng tối đa cố định với vùng lãnh hải. Thứ hai, các tàu chiến không có quyền đi lại vô hại tất yếu qua lãnh hải và các eo biển. Thứ ba, eo biển Quỳnh Châu và vịnh Bột Hải của Trung Quốc là “nội thủy” của Trung Quốc. Thứ tư, các tranh chấp trên biển nên chỉ được giải quyết thông qua tham vấn và UNCLOS không nên đưa ra quy định về việc giải quyết pháp lý đối với các tranh chấp như vậy. Thứ năm, một quốc gia lục địa có chủ quyền với quần đảo xa bờ có thể vẽ đường cơ sở thẳng quanh nó và sử dụng đường cơ sở này để đo đạc lãnh hải của họ.

Đáng chú ý, mặc dù Trung Quốc công khai tuyên bố vị thế đặc biệt ở một số vùng biển, nhưng họ chưa bao giờ làm vậy ở Biển Đông. Trung Quốc vẫn duy trì quan điểm của họ về eo biển Quỳnh Châu và vịnh Bột Hải trong các cuộc đàm phán, cũng như quan điểm về các tàu chiến và quyền đi lại vô hại. Tuy nhiên, Bắc Kinh đã từ bỏ quan điểm về chiều rộng của vùng lãnh hải và về “các quần đảo xa bờ”. Thực tế này cho thấy việc Trung Quốc cho rằng họ có “các quyền đặc biệt trong lịch sử” trong “đường 9 đoạn” là kết quả của tuyên bố pháp lý mới.

Trung Quốc đã hứng chịu đòn giáng sau khi Tòa trọng tài ở La Hay đưa ra phán quyết có lợi cho các nước ven biển trong vụ kiện của Philippines chống lại Trung Quốc. Kể từ đó, chính phủ Trung Quốc đã xoay trục trở lại lập trường cũ về “quần đảo xa bờ” từng bị phủ nhận trong các cuộc đàm phán về UNCLOS. Trung Quốc giờ đây khẳng định rằng họ có thể tập hợp nhiều thực thể khác nhau trên biển thành “các quần đảo” và “bao bọc” chúng trong các đường cơ sở thẳng và xác lập EEZ từ các thực thể này.

Lập luận này vừa mang tính theo chủ nghĩa xét lại và vừa không thuyết phục về mặt pháp lý. Tuy nhiên, bên cạnh việc xác lập các EEZ, việc cải tạo các thực thể thành đảo hay quần đảo cho phép Trung Quốc khẳng định rằng các tàu chiến Mỹ bị hạn chế tiến gần các thực thể đó. Mỹ khăng khăng rằng các thực thể đó không tạo thành lãnh hải và rằng họ đang thực thi chiến dịch tự do hàng hải vốn được chấp nhận trong EEZ hay ở hải phận quốc tế. Tuy nhiên, tại sao Trung Quốc lại bận tâm đưa ra những lập luận như vậy?

Trung Quốc đánh giá cao sức mạnh của pháp quyền. Học thuyết “Tam chiến” của Trung Quốc vạch ra bộ ba phương pháp tấn công không tiếp xúc để đạt được các mục tiêu quốc gia của Trung Quốc: chiến tranh thông tin, chiến tranh tâm lý và chiến tranh pháp lý. Trong số này, chức năng của chiến tranh pháp lý được nhà bình luận Doug Livermore lý giải là nhằm “thúc đẩy tính hiệu quả của các cơ chế và quy trình pháp lý hiện hành để hạn chế hành vi đối địch, đối phó trong các hoàn cảnh bất lợi, đảo ngược các án lệ, và tối đa hóa lợi thế trong các tình huống liên quan đến các lợi ích cốt lõi của Trung Quốc”.

Nhiệm vụ của “tam chiến” là nhằm củng cố tính hợp pháp của Đảng Cộng sản Trung Quốc (CCP) cả trong và ngoài nước. Việc tranh cãi về các tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc ở Biển Đông bị coi là âm mưu nhằm xói mòn tính hợp pháp của CCP. CCP cho rằng họ đang bị bao vây bởi các mối đe dọa trong và ngoài nước, và coi lập luận pháp lý chống lại họ là một hình thức xung đột chiến lược.

Trung Quốc cũng hiểu rằng việc tận dụng và khai thác những gì giành được từ vũ lực đòi hỏi sự củng cố thông qua luật pháp. Chiến tranh pháp lý của Trung Quốc không chỉ đơn giản là cách thức giải quyết vấn đề “cướp đất” trên biển. Nó chính là một phần của chiến lược “cướp đất”.

Douglas Guilfoyle là Phó Giáo sư Luật Quốc tế và An ninh tại Đại học New South Wales (UNSW), Canberra, nơi ông là trưởng Nhóm Nghiên cứu An ninh Hàng hải.

Bài viết này được trích ra từ “Luật pháp và an ninh hàng hải: Hiểu về cuộc chiến pháp lý ở Biển Đông” (The Rule of Law and Maritime Security:Understanding Lawfare in South China Sea) của tác giả Douglas Guilfoyle, được đăng gần đây trên International Affairs. Bài viết được đăng trên trang East Asia Forum.

Loading

Views: 0

Năng lượng và hiệu quả: Hợp tác Nga – Việt trên đà phát triển

Nga có lợi khi thể hiện tiềm năng và kinh nghiệm hòa giải ở Đông Nam Á

Sự gia tăng hiện diện của Nga tại phía Đông, đặc biệt là ở khu vực Đông Nam Á không phải là sự phô diễn đối với phương Tây sau sự kiện năm 2014, mà là nhu cầu cần thiết nhằm đẩy mạnh hội nhập với các nước trong khu vực này, thậm chí đây còn là nhu cầu của thời đại. Mặc dù cách đây không lâu Nga dường như có ý định trông chờ cho quan hệ phức tạp với EU và Mỹ tại châu Á qua đi, để sau đó quay trở lại hướng này.

Việt Nam – đối tác chiến lược của chúng ta là một trong những ví dụ điển hình và rõ nét về việc Nga củng cố sự hiện diện tại châu Á. Nga cùng với Việt Nam đang phối hợp triển khai nhiều hướng hợp tác kinh tế, gồm cả hợp tác hiệu quả trong lĩnh vực khai thác dầu khí.

Đương nhiên, châu Á cũng có những vấn đề lớn của riêng mình, có hệ thống những kiềm chế và đối trọng quốc tế, có cạnh tranh đặc biệt của mình, chưa kể tới tình hình tranh chấp lãnh thổ căng thẳng tại Biển Đông – cụ thể là các bãi đá ngầm.

Do đó, việc thiết lập quan hệ hợp tác Nga – Việt trong giai đoạn lịch sử mới không hề đơn giản. Tuy nhiên, các nhiệm vụ, vấn đề trước mắt sẽ được giải quyết dần dần, và hiện nay có thể nói rằng, cùng với sự hỗ trợ của đối tác tin cậy Việt Nam, Nga sẽ tìm được vị trí xứng đáng trong bản đồ năng lượng khu vực Đông Nam Á, đồng thời hỗ trợ hiệu quả cho các đối tác tin cậy của mình tại đây.

Một trong những minh chứng thuyết phục nhất cho các thành tựu này là lời cảm ơn chính thức của Tổng thống Nga V.Putin dành cho Giám đốc công ty Rosneft Việt Nam B.V. Hoàng Vũ Nam vì những đóng góp trong phát triển tổ hợp nhiên liệu – năng lượng. Công ty con của Rosneft đã thực hiện khoan công nghệ cao trên thềm lục địa Việt Nam, tạo điều kiện đưa việc cung cấp nguyên liệu thiên nhiên lên tầm cao mới, góp phần thúc đẩy ổn định và an ninh khu vực nói chung.

Bởi vậy, lãnh đạo cấp cao của Nga ghi nhận việc hợp tác không chỉ đơn thuần là giải quyết nhiệm vụ kinh tế, mà rộng hơn là nhiệm vụ chính trị chiến lược. Từ năm 2016, giếng khoan thăm dò đầu tiên được thực hiện trên thềm lục địa Việt Nam, và chỉ sau một thời gian ngắn, công trình này đã chuyển sang hoạt động quy mô công nghiệp.

Đồng thời, giới truyền thông Nga cũng nhận định, Nga đang tập trung đẩy mạnh hợp tác kinh tế, hội nhập đa phương và giảm đối đầu. Chính định hướng này góp phần củng cố lòng tin, mang lại hiệu quả kinh tế cho nhau. Điều này đã được thảo luận tại Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN tại Bangkok gần đây, trong đó bao gồm vấn đề Biển Đông.

Lợi thế cho sự hiện diện của Nga tại khu vực đó là Nga không phải là một bên tranh chấp trong các vấn đề nội bộ khu vực như ở Biển Đông. Do đó, Nga không chỉ có vai trò kinh tế mà còn giữ vai trò hòa giải. Theo đó, không nên coi Nga là cường quốc ngoài khu vực, bởi phần lớn diện tích lãnh thổ của chúng ta nằm ở châu Á.

Ngoài ra, nếu xem xét kỹ tình hình khu vực giàn khoan thềm lục địa, thì Nga là nhân tố duy nhất đảm bảo duy trì cân bằng lực lượng khu vực, không để căng thẳng chính trị leo thang và quân sự hóa, gồm cả duy trì giao thông vận tải tại khu vực Biển Đông và tự do hàng hải. Việc các tàu thuyền bị đốt cháy, may chưa phải là tàu quân sự, là dấu hiệu bạo lực gây bất ổn khu vực Biển Đông. Trong khi đó, Việt Nam đang có đóng góp lớn trong việc duy trì ổn định.

Nói đơn giản hơn, Nga không nên né tránh việc đánh giá các xung đột lãnh thổ khu vực, mà thậm chí còn có thể củng cố uy tín địa chính trị khi thể hiện kinh nghiệm và tiềm năng hòa giải của mình tại đây. Rõ ràng, việc tìm kiếm  cân bằng khu vực là quan trọng đối với Trung Quốc. Nếu thiếu đối trọng này, yếu tố hải quân Mỹ sẽ trở thành vấn đề lớn đối với Bắc Kinh.

Cần phải hiểu, nếu không giải quyết các vấn đề lãnh thổ nêu trên giữa các bên liên quan, thì về nguyên tắc sẽ không đạt được bất cứ sự phát triển kinh tế nào. Sớm hay muộn, một nền kinh tế như vậy sẽ rơi vào bế tắc. Do đó, thỏa hiệp với nhau là cách duy nhất thoát khỏi tình hình hiện nay, một tình hình mà có thể dẫn tới chiến tranh thế giới tại châu Á.

Theo quan điểm của mình, Nga luôn tuân thủ nghiêm ngặt nguyên tắc pháp luật quốc tế, Công ước LHQ về Luật biển năm 1982, Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông và toàn bộ điều lệ trong các văn bản liên quan, cũng như hỗ trợ thúc đẩy quá trình soạn thảo Bộ Quy tắc ứng xử có giá trị pháp lý bắt buộc tại Biển Đông.

Nga hiểu rằng các văn bản pháp lý, đáng tiếc, không phải lúc nào cũng giải quyết tình hình thực tế. Chính vì vậy, các văn bản cần được hoàn thiện bởi quốc gia uy tín, có thể kiểm soát việc tuân thủ và thực hiện. Rõ ràng, Nga có phẩm chất này. Có nghĩa là Nga có thể củng cố vai trò và uy tín tại khu vực khi xây dựng hình thức hợp tác cụ thể với Việt Nam, nếu không, các sự cố sẽ xảy ra thường xuyên hơn đối với các công ty khai thác Nga – Việt tren Biển Đông như những gì xảy ra với Rosneft cách đây không lâu.

Các nhà tự do cấp tiến, bao gồm cả ở Nga cố gắng thuyết phục cộng đồng về việc kinh tế phải đi trước chính trị. Tuy nhiên, thực tế thì không vậy. Bởi vì nếu không giải quyết các vấn đề chính trị thì kinh tế không thể phát triển tối đa. Và nếu chúng ta nói về việc thúc đẩy hợp tác giữa Nga – Việt, sự hiện diện của Nga tại châu Á nói chung thì cần phải xóa bỏ những cản trở không thể tránh khỏi trong công cuộc này.

Hy vọng rằng, với các đối tác lâu năm như Việt Nam và các thành viên khác trong khu vực kinh tế đang phát triển châu Á, các vấn đề hiện tại sẽ được giải quyết trên cơ sở cùng có lợi./.

          Grigory Trofimchuk – chuyên gia trong lĩnh vực chính sách đối nội – đối ngoại, quốc phòng và an ninh; hiện là Chủ tịch Hội đồng chuyên gia thuộc Quỹ hỗ trợ nghiên cứu khoa học “Ý tưởng Á – Âu” (Nga).

          Bài viết trên được đăng trên báo điện tử của hãng thông tấn Realist của Nga ngày 12/8/2019.

Loading

Views: 0